The final controversy I wish to bring together with the other historical arguments over the symbol of Rome within Advent history is the book of Joel. That controversy took place after September 11, 2001, and without considering the circumstances of that period a few subtle points might very well be missed. To place those circumstances into context requires a consideration of the Millerite history. On August 11, 1840 the time prophecy of Revelation chapter nine, verse fifteen was fulfilled.

Cuộc tranh luận cuối cùng mà tôi muốn nêu cùng với các lập luận lịch sử khác về biểu tượng của La Mã trong lịch sử Phục Lâm là sách Giô-ên. Cuộc tranh luận đó diễn ra sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, và nếu không xét đến bối cảnh của giai đoạn ấy thì một vài điểm tinh tế rất có thể sẽ bị bỏ sót. Để đặt những hoàn cảnh đó vào bối cảnh, cần xem xét đến lịch sử Phong trào Miller. Vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, lời tiên tri thời gian trong Khải Huyền chương 9, câu 15 đã được ứng nghiệm.

And the four angels were loosed, which were prepared for an hour, and a day, and a month, and a year, for to slay the third part of men. Revelation 9:15.

Và bốn thiên sứ đã được thả ra, là những vị đã được chuẩn bị cho một giờ, một ngày, một tháng và một năm, để giết một phần ba loài người. Khải Huyền 9:15.

The verse identifies the “hour, and a day, and a month, and a year,” as equating to three hundred ninety-one years and fifteen days. The four angels represented when Islam rose to power and brought warfare against Rome, beginning on July 27, 1449. The starting point was determined by employing the ending point of another time prophecy of one hundred and fifty years. The first time prophecy of one hundred and fifty years was set forth in the history of the first woe, which is also the fifth trumpet of Revelation chapter nine. When the one-hundred-and-fifty-year prophecy concluded on July 27, 1449, the time prophecy we are now considering began, and three hundred and ninety-one years and fifteen days later the prophecy ended on August 11, 1840.

Câu này xác định “một giờ, một ngày, một tháng và một năm” là tương đương với ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày. Bốn thiên sứ biểu trưng cho khi Hồi giáo trỗi dậy nắm quyền và đem chiến tranh chống lại La Mã, khởi đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1449. Điểm khởi đầu được xác định bằng cách dùng điểm kết thúc của một lời tiên tri thời gian khác kéo dài một trăm năm mươi năm. Lời tiên tri thời gian thứ nhất, dài một trăm năm mươi năm, đã được nêu ra trong lịch sử của tai họa thứ nhất, cũng là tiếng kèn thứ năm trong Khải Huyền chương chín. Khi lời tiên tri một trăm năm mươi năm ấy kết thúc vào ngày 27 tháng 7 năm 1449, lời tiên tri thời gian mà chúng ta đang xét đến bắt đầu, và ba trăm chín mươi mốt năm mười lăm ngày sau đó, lời tiên tri ấy kết thúc vào ngày 11 tháng 8 năm 1840.

William Miller had understood the powers of Revelation nine to represent Islam, and prior to the date of August 11, 1840, a Millerite named Josiah Litch set forth a prediction based upon the prophecy identifying that in 1840, the Ottoman Supremacy would cease. Ten days before August 11, 1840, Litch fine-tuned and updated his prediction to identify not simply the year the prophecy would be fulfilled, but the very year, day and month. Sister White comments on the effect of Litch’s prediction upon the religious world of the Millerites when the event was fulfilled.

William Miller đã hiểu rằng những quyền lực trong Khải Huyền đoạn 9 tượng trưng cho Hồi giáo, và trước ngày 11 tháng 8 năm 1840, một Millerite tên Josiah Litch đã đưa ra một lời tiên đoán dựa trên lời tiên tri, xác định rằng vào năm 1840, quyền bá chủ của Đế quốc Ottoman sẽ chấm dứt. Mười ngày trước ngày 11 tháng 8 năm 1840, Litch đã điều chỉnh và cập nhật lời tiên đoán của mình để xác định không chỉ năm lời tiên tri sẽ ứng nghiệm, mà còn cả ngày, tháng và năm cụ thể. Bà White bình luận về tác động của lời tiên đoán của Litch đối với giới tôn giáo của những người Millerite khi sự kiện ấy được ứng nghiệm.

In the year 1840 another remarkable fulfillment of prophecy excited widespread interest. two years before, Josiah Litch, one of the leading ministers preaching the second advent, published an exposition of Revelation 9, predicting the fall of the Ottoman Empire. According to his calculations, this power was to be overthrown . . . on the 11th of August, 1840, when the Ottoman power in Constantinople may be expected to be broken. And this, I believe, will be found to be the case.’

"Vào năm 1840, một sự ứng nghiệm đáng chú ý khác của lời tiên tri đã khơi dậy sự quan tâm rộng rãi. Hai năm trước đó, Josiah Litch, một trong những mục sư hàng đầu rao giảng về sự tái lâm, đã xuất bản một bản luận giải về Khải Huyền chương 9, dự đoán sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman. Theo tính toán của ông, quyền lực này sẽ bị lật đổ . . . vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, khi quyền lực Ottoman tại Constantinople được kỳ vọng sẽ bị phá vỡ. Và điều này, tôi tin rằng, sẽ tỏ ra là đúng.'"

“At the very time specified, Turkey, through her ambassadors, accepted the protection of the allied powers of Europe, and thus placed herself under the control of Christian nations. The event exactly fulfilled the prediction. When it became known, multitudes were convinced of the correctness of the principles of prophetic interpretation adopted by Miller and his associates, and a wonderful impetus was given to the advent movement. Men of learning and position united with Miller, both in preaching and in publishing his views, and from 1840 to 1844 the work rapidly extended.” The Great Controversy, 334, 335.

Đúng vào thời điểm đã định, Thổ Nhĩ Kỳ, thông qua các đại sứ của mình, đã chấp nhận sự bảo hộ của các cường quốc đồng minh ở châu Âu, và như thế tự đặt mình dưới sự kiểm soát của các quốc gia Kitô giáo. Sự kiện ấy đã ứng nghiệm chính xác lời tiên đoán. Khi việc đó được biết đến, đông đảo người đã tin chắc về tính đúng đắn của các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri do Miller và các cộng sự của ông áp dụng, và phong trào chờ đợi sự tái lâm nhận được một động lực kỳ diệu. Những người có học thức và địa vị đã hợp tác với Miller, cả trong việc rao giảng lẫn việc xuất bản các quan điểm của ông, và từ năm 1840 đến năm 1844, công việc ấy nhanh chóng được mở rộng. Cuộc Tranh Luận Vĩ Đại, 334, 335.

Her endorsement of this event has through the years been attacked repeatedly through a variety of ways by Laodicean Seventh-day Adventists. As with the seven times and “the daily”, to attack this truth is to rejected the foundations as represented upon the two sacred tables, and also the authority of the Spirit of Prophecy. The reason Satan has worked to destroy confidence in this history is multifaceted.

Sự xác nhận của bà về sự kiện này, qua nhiều năm, đã liên tục bị những người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy theo Laodicea tấn công bằng nhiều cách khác nhau. Cũng như với bảy thời kỳ và “the daily”, việc tấn công lẽ thật này là chối bỏ những nền tảng được trình bày trên hai bảng thánh, đồng thời chối bỏ cả thẩm quyền của Thần Linh của lời tiên tri. Lý do Sa-tan đã ra sức phá hủy sự tin tưởng vào lịch sử này là có nhiều mặt.

Litch’s prediction employed “the principles of prophetic interpretation adopted by Miller.” Miller was given insight to the element of prophetic time, and any who doubt that Miller’s message was based upon prophetic time, only needs to review the 1843 and 1850 pioneer charts to confirm that this was true. Before August 11, 1840, those opposing Miller’s prediction of the return of Christ would argue that prophetic time could not be employed to understand when Christ would return. They often used the Bible’s statement about not knowing the day nor hour, to resist his message and work.

Lời dự đoán của Litch đã sử dụng “các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri do Miller áp dụng.” Miller đã được ban cho sự hiểu biết về yếu tố thời gian tiên tri, và ai nghi ngờ rằng sứ điệp của Miller dựa trên thời gian tiên tri thì chỉ cần xem lại các biểu đồ tiên phong năm 1843 và 1850 để xác nhận điều này. Trước ngày 11 tháng 8 năm 1840, những người phản đối lời dự đoán của Miller về sự tái lâm của Đấng Christ lập luận rằng không thể sử dụng thời gian tiên tri để biết khi nào Đấng Christ sẽ trở lại. Họ thường dùng lời Kinh Thánh nói rằng không ai biết ngày hay giờ để chống lại sứ điệp và công việc của ông.

But of that day and hour knoweth no man, no, not the angels of heaven, but my Father only. But as the days of Noe were, so shall also the coming of the Son of man be. For as in the days that were before the flood they were eating and drinking, marrying and giving in marriage, until the day that Noe entered into the ark, And knew not until the flood came, and took them all away; so shall also the coming of the Son of man be. Then shall two be in the field; the one shall be taken, and the other left. Matthew 24:36–40.

Nhưng về ngày ấy và giờ ấy, thì không ai biết được; ngay cả các thiên sứ trên trời cũng không, chỉ một mình Cha tôi mà thôi. Nhưng như các ngày của Nô-ê thể nào, thì sự đến của Con Người cũng sẽ thể ấy. Vì như trong những ngày trước nạn hồng thủy, người ta cứ ăn uống, cưới gả, cho đến ngày Nô-ê vào con tàu; và họ không hề biết gì cho đến khi nước lụt đến cuốn đi hết thảy; sự đến của Con Người cũng sẽ như vậy. Bấy giờ sẽ có hai người ở ngoài đồng; một người được đem đi, còn người kia bị để lại. Ma-thi-ơ 24:36-40.

In spite of this passage the Millerites found too much biblical evidence to support their predictions and carried on and operated upon a principle later identified by Sister White.

Bất chấp đoạn văn này, những người Millerite đã tìm thấy quá nhiều bằng chứng Kinh Thánh để ủng hộ các dự đoán của họ và tiếp tục hoạt động dựa trên một nguyên tắc về sau được Bà White chỉ ra.

“‘No man knoweth the day nor the hour’ was the argument most often brought forward by rejecters of the advent faith. The scripture is: ‘Of that day and hour knoweth no man, no not the angels of heaven, but My Father only.’ Matthew 24:36. A clear and harmonious explanation of this text was given by those who were looking for the Lord, and the wrong use made of it by their opponents was clearly shown. The words were spoken by Christ in that memorable conversation with His disciples upon Olivet after He had for the last time departed from the temple. The disciples had asked the question: ‘What shall be the sign of Thy coming, and of the end of the world?’ Jesus gave them signs, and said: ‘When ye shall see all these things, know that it is near, even at the doors.’ Verses 3, 33. One saying of the Saviour must not be made to destroy another. Though no man knoweth the day nor the hour of His coming, we are instructed and required to know when it is near. We are further taught that to disregard His warning, and refuse or neglect to know when His advent is near, will be as fatal for us as it was for those who lived in the days of Noah not to know when the flood was coming. And the parable in the same chapter, contrasting the faithful and the unfaithful servant, and giving the doom of him who said in his heart, ‘My Lord delayeth His coming,’ shows in what light Christ will regard and reward those whom He finds watching, and teaching His coming, and those denying it. ‘Watch therefore,’ He says. ‘Blessed is that servant, whom his Lord when He cometh shall find so doing.’ Verses 42, 46. ‘If therefore thou shalt not watch, I will come on thee as a thief, and thou shalt not know what hour I will come upon thee.’ Revelation 3:3.” The Great Controversy, 370.

"'Không người nào biết ngày hay giờ' là lập luận thường được những người bác bỏ đức tin về Sự Tái Lâm nêu ra nhất. Kinh Thánh chép: 'Còn về ngày và giờ đó, chẳng ai biết, dầu các thiên sứ trên trời cũng không, chỉ một mình Cha Ta mà thôi.' Ma-thi-ơ 24:36. Những người trông đợi Chúa đã đưa ra một lời giải thích rõ ràng và hài hòa về câu này, và việc các đối thủ sử dụng sai câu ấy đã được chỉ ra một cách rõ ràng. Những lời ấy do Chúa Giê-xu phán trong cuộc trò chuyện đáng ghi nhớ với các môn đồ trên núi Ô-liu, sau khi Ngài rời đền thờ lần cuối cùng. Các môn đồ đã hỏi: 'Dấu hiệu nào về sự Ngài đến và về tận thế?' Chúa Giê-xu đã ban cho họ các dấu hiệu, và phán: 'Khi các ngươi thấy hết mọi điều ấy, hãy biết rằng Ngài ở gần, đang ở trước cửa.' Các câu 3, 33. Không được dùng một lời phán của Cứu Chúa để bác bỏ lời khác. Dẫu không ai biết ngày hay giờ Ngài đến, chúng ta được chỉ dạy và được yêu cầu phải biết khi nào sự Ngài đến đã gần. Chúng ta còn được dạy rằng khinh thường lời cảnh báo của Ngài, và từ chối hay lơ là không biết khi kỳ tái lâm của Ngài gần đến, sẽ tai hại cho chúng ta như đối với những người sống trong thời Nô-ê không biết khi trận lụt sắp tới. Và dụ ngôn trong cùng chương ấy, đối chiếu người tôi tớ trung tín với kẻ bất trung, và tuyên án kẻ đã nói trong lòng rằng, 'Chủ ta trì hoãn đến,' cho thấy Đấng Christ sẽ nhìn nhận và thưởng phạt thế nào đối với những người Ngài thấy đang tỉnh thức và rao giảng về sự Ngài đến, và đối với những kẻ chối bỏ điều ấy. 'Vậy hãy tỉnh thức,' Ngài phán. 'Phước cho tôi tớ ấy, khi chủ mình đến thấy đang làm như vậy.' Các câu 42, 46. 'Vậy nếu ngươi không tỉnh thức, Ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi chẳng biết giờ nào Ta sẽ đến trên ngươi.' Khải Huyền 3:3." Đại Tranh Chiến, 370.

When Litch’s prediction was fulfilled men “of learning and position united with Miller, both in preaching and in publishing his views, and from 1840 to 1844 the work rapidly extended.” Miller’s message was empowered when his rules of prophetic interpretation were confirmed as valid rules. In response to the fulfillment of the time prophecy, not only was Miller’s rule confirmed, and many then joined the Millerite movement, but just as prophetically significant was that it was the primary rule of Miller’s rules that had been confirmed. Also, the fact that the confirmation was accomplished by the application of a prophecy of the second of three woes, which are also the fifth, sixth and seventh trumpet.

Khi lời dự đoán của Litch được ứng nghiệm, những người “có học thức và địa vị đã hiệp cùng Miller, cả trong việc giảng đạo lẫn trong việc xuất bản các quan điểm của ông, và từ năm 1840 đến 1844 công cuộc ấy nhanh chóng được mở rộng.” Sứ điệp của Miller được tiếp thêm sức mạnh khi các quy tắc giải nghĩa lời tiên tri của ông được xác nhận là đúng đắn. Trước sự ứng nghiệm của lời tiên tri về thời kỳ, không chỉ một quy tắc của Miller được xác nhận và nhiều người khi ấy đã gia nhập phong trào Millerite, mà điều có ý nghĩa mang tính tiên tri không kém là chính quy tắc chủ yếu trong các quy tắc của Miller đã được xác nhận. Cũng đáng chú ý là việc xác nhận ấy được thực hiện thông qua việc áp dụng một lời tiên tri về điều khốn nạn thứ hai trong ba điều khốn nạn, là ba kèn thứ năm, thứ sáu và thứ bảy.

The empowerment of Miller’s message became one of the most significant waymarks of the Millerite reform movement. It had been typified by Jesus’ baptism. It marked that the final testing process of the former covenant people (the Protestants) had begun. It became the focus of Satan’s attack against the overall Millerite movement and message.

Việc sứ điệp của Miller được thêm quyền năng đã trở thành một trong những cột mốc quan trọng nhất của phong trào cải cách Millerite. Điều ấy đã được tiêu biểu bởi phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su. Nó đánh dấu rằng tiến trình thử thách cuối cùng của dân giao ước trước kia (những người Tin Lành) đã bắt đầu. Nó trở thành trọng tâm cuộc tấn công của Sa-tan nhằm vào toàn bộ phong trào và sứ điệp Millerite.

“Any question that Satan can arouse in the mind to create doubt in regard to the grand history of the past travels of the people of God will please his satanic majesty and is an offense to God. The tidings of the Lord’s soon coming in power and great glory to our world is truth, and in 1840 many voices were raised in its proclamation.” Manuscript Releases, volume 9, 134.

“Bất kỳ câu hỏi nào mà Sa-tan có thể khơi dậy trong tâm trí để gieo hoài nghi về lịch sử vĩ đại các cuộc hành trình xưa của dân Đức Chúa Trời đều sẽ làm vừa lòng Sa-tan và là một sự xúc phạm đối với Đức Chúa Trời. Tin về việc Chúa sắp ngự đến thế giới chúng ta trong quyền năng và vinh quang lớn lao là lẽ thật, và vào năm 1840, nhiều tiếng nói đã cất lên để công bố điều ấy.” Manuscript Releases, tập 9, trang 134.

On September 11, 2001 the third woe arrived into prophetic history. The event confirmed the primary rule of prophetic interpretation adopted by the movement of the third angel that began in 1989. The first truth opened up to the messenger of that reform movement was opened up in 1989, and it was not the last six verses of Daniel eleven. It was the truth that all the reform movements run parallel to each other and are to be brought together line upon line in order to identify the characteristics of the movement of the one hundred and forty-four thousand which is the movement of the third angel. The first public presentation I ever gave was at a camp meeting in 1994, or perhaps 1995. The presentation was not on the last six verses of Daniel eleven, it was on the reform lines running parallel to each other.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khốn nạn thứ ba đã đến trong lịch sử tiên tri. Sự kiện ấy xác nhận quy tắc chủ chốt trong việc giải nghĩa lời tiên tri, được phong trào thiên sứ thứ ba, bắt đầu năm 1989, chấp nhận. Lẽ thật đầu tiên được mở ra cho sứ giả của phong trào cải cách ấy vào năm 1989, và đó không phải là sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn 11. Đó là lẽ thật rằng mọi phong trào cải cách đều chạy song song với nhau và cần được ghép lại theo nguyên tắc dòng trên dòng để nhận diện các đặc điểm của phong trào một trăm bốn mươi bốn nghìn, chính là phong trào thiên sứ thứ ba. Bài trình bày công khai đầu tiên tôi từng thực hiện là tại một trại nhóm vào năm 1994, hoặc có lẽ năm 1995. Bài trình bày đó không phải về sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn 11, mà là về các đường lối cải cách chạy song song với nhau.

When the prophecy of Islam of the third woe was fulfilled on September 11, 2001, it paralleled August 11, 1840. In 1840 a prophecy of the first and second woes confirmed the message of the Millerites, and on September 11, 2001 a prophecy of the third woe confirmed the message of Future for America. The recognition of that fact brought a multitude into the movement, where it had previously been primarily one individual. The message of the movement and the messenger then became under attack, just as the history of 1840 had become the focus of satanic attack through the decades that followed.

Khi lời tiên tri về Hồi giáo liên quan đến tai họa thứ ba được ứng nghiệm vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, điều đó tương ứng với ngày 11 tháng 8 năm 1840. Năm 1840, một lời tiên tri về tai họa thứ nhất và thứ hai đã xác nhận sứ điệp của những người theo Miller, và vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, một lời tiên tri về tai họa thứ ba đã xác nhận sứ điệp của Future for America. Sự nhìn nhận thực tế ấy đã đưa một đoàn người đông đảo vào phong trào, vốn trước đó chủ yếu xoay quanh một cá nhân. Sứ điệp của phong trào và sứ giả của nó sau đó bị công kích, cũng như lịch sử năm 1840 đã trở thành trọng tâm của các cuộc tấn công của Sa-tan trong những thập kỷ tiếp theo.

Those who joined the movement of Future for America adopted the rules of prophetic interpretation assembled by the messenger of that history. One of those rules, perhaps the most significant of those rules was and is a triple application of prophecy. The messenger had come to understand that certain prophetic truths were illustrated upon three specific fulfillments. Believing that the Millerite history was repeated in the history of the one hundred and forty-four thousand it was seen that August 11, 1840 typified September 11, 2001, and that the other sacred reform lines also possessed that very same waymark.

Những người gia nhập phong trào Future for America đã áp dụng các quy tắc giải thích lời tiên tri do vị sứ giả của lịch sử ấy hệ thống hóa. Một trong những quy tắc đó, có lẽ quan trọng nhất, là và vẫn là nguyên tắc “áp dụng ba lần” của lời tiên tri. Vị sứ giả đã hiểu rằng một số chân lý tiên tri được minh họa qua ba sự ứng nghiệm cụ thể. Tin rằng lịch sử Millerite được lặp lại trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn ngàn, người ta thấy rằng ngày 11 tháng 8 năm 1840 tiên trưng cho ngày 11 tháng 9 năm 2001, và rằng các dòng cải cách thiêng liêng khác cũng có chính dấu mốc ấy.

The evidence of the repetition of every sacred reform line in the line of the third angel was then opened up by the Lion of the tribe of Judah. It was seen that just as the Millerite history fulfilled the parable of the ten virgins to the very letter, so too did the history of Future for America.

Sau đó, Sư tử của chi phái Giu-đa đã bày tỏ bằng chứng rằng mọi dòng cải cách thánh đều được lặp lại trong dòng của thiên sứ thứ ba. Người ta thấy rằng, cũng như lịch sử Millerite đã ứng nghiệm dụ ngôn mười trinh nữ đúng từng chữ, thì lịch sử của Future for America cũng vậy.

“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.

Tôi thường được nhắc đến dụ ngôn mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan, và năm người dại. Dụ ngôn này đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, vì nó có sự áp dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc thời gian chấm dứt. Review and Herald, ngày 19 tháng 8 năm 1890.

The seven thunders of Revelation ten were recognized to identify that the experience of the Millerites from August 11, 1840 to October 22, 1844, and also the history of September 11, 2001 unto the soon-coming Sunday law.

Bảy tiếng sấm trong Khải Huyền đoạn 10 được hiểu là chỉ ra kinh nghiệm của những người Millerite từ ngày 11 tháng 8 năm 1840 đến ngày 22 tháng 10 năm 1844, và cũng chỉ ra lịch sử từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 cho đến luật Chủ nhật sắp đến.

“The special light given to John which was expressed in the seven thunders was a delineation of events which would transpire under the first and second angels’ messages. . . .

“Ánh sáng đặc biệt đã được ban cho Giăng, được bày tỏ trong bảy tiếng sấm, là sự phác họa những biến cố sẽ xảy ra dưới các sứ điệp của vị thiên sứ thứ nhất và thứ hai....”

“After these seven thunders uttered their voices, the injunction comes to John as to Daniel in regard to the little book: ‘Seal up those things which the seven thunders uttered.’ These relate to future events which will be disclosed in their order.” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 971.

Sau khi bảy tiếng sấm này đã cất tiếng, một mệnh lệnh được ban cho Giăng, giống như đã từng được ban cho Đa-ni-ên, liên quan đến quyển sách nhỏ: “Hãy niêm phong những điều mà bảy tiếng sấm đã phán ra.” Những điều này liên quan đến các sự kiện tương lai sẽ được bày tỏ theo trình tự của chúng. The Seventh-day Adventist Bible Commentary, tập 7, trang 971.

It was recognized that Sister White directly said that the movement of the third angel runs parallel with the movement of the first and second angels.

Đã được ghi nhận rằng Bà White đã trực tiếp nói rằng phong trào của thiên sứ thứ ba song hành với phong trào của thiên sứ thứ nhất và thứ hai.

“God has given the messages of Revelation 14 their place in the line of prophecy, and their work is not to cease till the close of this earth’s history. The first and second angel’s messages are still truth for this time, and are to run parallel with this which follows. The third angel proclaims his warning with a loud voice. ‘After these things,’ said John, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power, and the earth was lightened with his glory.’ In this illumination, the light of all the three messages is combined.” The 1888 Materials, 803, 804.

Đức Chúa Trời đã dành cho các sứ điệp trong Khải Huyền 14 chỗ đứng trong dòng tiên tri, và công việc của chúng sẽ không chấm dứt cho đến khi lịch sử của trái đất này kết thúc. Các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai vẫn là lẽ thật cho thời này, và sẽ song hành với sứ điệp theo sau. Thiên sứ thứ ba công bố lời cảnh báo của mình bằng tiếng lớn. "Sau những điều ấy," Giăng nói, "tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn, và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của ngài." Trong sự chiếu sáng này, ánh sáng của cả ba sứ điệp được kết hợp lại. Các Tài liệu 1888, 803, 804.

The movement of the first and second angels runs parallel with the movement of the third angel. The prophecy that empowered the movement of the first and second angel, was empowered by a fulfillment of a time prophecy of the first and second woe, and the empowerment of the movement of the third angel was empowered by a fulfillment of a prophecy of the third woe.

Phong trào của thiên sứ thứ nhất và thứ hai diễn ra song song với phong trào của thiên sứ thứ ba. Lời tiên tri đã trao quyền năng cho phong trào của thiên sứ thứ nhất và thứ hai được củng cố bởi sự ứng nghiệm của một lời tiên tri về thời kỳ liên quan đến tai ương thứ nhất và thứ hai, và việc trao quyền năng cho phong trào của thiên sứ thứ ba cũng được củng cố bởi sự ứng nghiệm của một lời tiên tri về tai ương thứ ba.

As with August 11, 1840, when the message of Future for America was confirmed “multitudes were convinced of the correctness of the principles of prophetic interpretation adopted” by Future for America, and “a wonderful impetus was given to the advent movement.” “Men of learning and position united” with Future for America, “both in preaching and in publishing” the prophetic message of Future for America. The specific rule of Future for America which clearly confirmed September 11, 2001 as a fulfillment of prophecy was a “triple application of prophecy.”

Cũng như vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, khi thông điệp của Future for America được xác nhận, "rất đông người đã bị thuyết phục về tính đúng đắn của các nguyên tắc giải nghĩa lời tiên tri đã được áp dụng" bởi Future for America, và "một động lực tuyệt vời đã được trao cho phong trào chờ đợi Sự Tái Lâm." "Những người có học thức và địa vị đã hiệp nhất" với Future for America, "cả trong việc giảng đạo lẫn việc xuất bản" thông điệp tiên tri của Future for America. Nguyên tắc cụ thể của Future for America, vốn đã xác nhận rõ ràng ngày 11 tháng 9 năm 2001 như một sự ứng nghiệm của lời tiên tri, là "sự áp dụng ba lần của lời tiên tri."

When we accept the foundational view of Islam of the first and second woes, as represented on both sacred charts, in conjunction with the written testimony of those who taught the message, we recognize specific prophetic characteristics associated with the first woe, and the second woe. The Bible repeatedly teaches, in a variety of ways, that truth is established upon the testimony of two. The prophetic characteristics of the first woe, combined with the prophetic characteristics of the second woe, establishes the prophetic characteristics of the third woe. The triple application of Islam is so specific in identifying the arrival of the third woe on September 11, 2001, that it is impossible not to see, though most choose to close their eyes to the evidence.

Khi chúng ta chấp nhận quan điểm nền tảng về Hồi giáo trong hai tai họa thứ nhất và thứ hai, như được trình bày trên cả hai biểu đồ thánh, cùng với lời chứng bằng văn bản của những người đã rao giảng sứ điệp, chúng ta nhận ra những đặc điểm tiên tri cụ thể gắn liền với tai họa thứ nhất và tai họa thứ hai. Kinh Thánh nhiều lần dạy, bằng nhiều cách, rằng lẽ thật được xác lập dựa trên lời chứng của hai. Các đặc điểm tiên tri của tai họa thứ nhất, khi kết hợp với các đặc điểm tiên tri của tai họa thứ hai, xác lập các đặc điểm tiên tri của tai họa thứ ba. Sự áp dụng ba lần của Hồi giáo cụ thể đến mức trong việc xác định sự xuất hiện của tai họa thứ ba vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, đến nỗi không thể không thấy, dù đa số chọn nhắm mắt trước bằng chứng.

The triple application of prophecy firmly established that the third woe arrived on September 11, 2001. It was then seen that the rule had been directly associated with the second angel’s message, which in the time of the Millerites and also in the time of the one hundred and forty-four thousand is the period when the Holy Spirit is poured out. Both histories are a fulfillment of the parable of the ten virgins, and in the parable the message of the Midnight Cry is where the distinction between the wise and foolish is manifested, and it is where the message of the second angel is empowered.

Sự áp dụng ba lần của lời tiên tri đã xác lập vững chắc rằng tai họa thứ ba đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Lúc ấy người ta thấy rằng quy tắc ấy đã được liên kết trực tiếp với sứ điệp của thiên sứ thứ hai, mà trong thời của những người Millerite và cũng trong thời của một trăm bốn mươi bốn nghìn là giai đoạn khi Đức Thánh Linh được tuôn đổ. Cả hai giai đoạn lịch sử ấy là sự ứng nghiệm của dụ ngôn mười trinh nữ, và trong dụ ngôn, sứ điệp về tiếng kêu nửa đêm là nơi sự phân biệt giữa kẻ khôn và kẻ dại được bày tỏ, và cũng là nơi sứ điệp của thiên sứ thứ hai được thêm quyền năng.

Near the close of the second angel’s message, I saw a great light from heaven shining upon the people of God. The rays of this light seemed bright as the sun. And I heard the voices of angels crying, ‘Behold, the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him!’

"Gần cuối sứ điệp của thiên sứ thứ hai, tôi thấy một luồng ánh sáng lớn từ trời chiếu rọi trên dân của Đức Chúa Trời. Những tia của luồng sáng ấy rực rỡ như mặt trời. Và tôi nghe tiếng các thiên sứ kêu lên: 'Kìa, Chàng Rể đến; hãy ra đón Ngài!'"

“This was the midnight cry, which was to give power to the second angel’s message. Angels were sent from heaven to arouse the discouraged saints and prepare them for the great work before them. The most talented men were not the first to receive this message. Angels were sent to the humble, devoted ones, and constrained them to raise the cry, ‘Behold, the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him!’” Early Writings, 238.

"Đó là tiếng kêu nửa đêm, được định để ban sức mạnh cho sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Các thiên sứ được sai từ trời đến để khơi dậy những thánh đồ nản lòng và chuẩn bị họ cho công việc lớn lao đang ở trước mặt họ. Những người tài năng nhất không phải là những người đầu tiên nhận sứ điệp này. Các thiên sứ được sai đến với những người khiêm nhường, tận hiến, và thôi thúc họ cất tiếng kêu: 'Kìa, Chàng Rể đến; hãy đi ra để nghênh tiếp Ngài!'" Early Writings, 238.

In the history of the first and second angels, the outpouring of the Holy Spirit is accomplished by the Midnight Cry joining the second angels’ message. This is repeated in the history of the third angel.

Trong lịch sử của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh được thực hiện khi Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm kết hợp với sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Điều này được lặp lại trong lịch sử của thiên sứ thứ ba.

“Angels were sent to aid the mighty angel from heaven, and I heard voices which seemed to sound everywhere, Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues; for her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities. This message seemed to be an addition to the third message, and joined it, as the midnight cry joined the second angel’s message in 1844. The glory of God rested upon the patient, waiting saints, and they fearlessly gave the last solemn warning, proclaiming the fall of Babylon, and calling upon God’s people to come out of her; that they might escape her fearful doom.” Spiritual Gifts, volume 1, 195.

Những thiên sứ đã được sai đến để trợ giúp thiên sứ quyền năng từ trời, và tôi nghe những tiếng nói dường như vang khắp nơi: Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi chớ dự phần vào các tội lỗi của nó, và chớ nhận lấy các tai vạ của nó; vì các tội lỗi của nó đã chất lên đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ lại các sự gian ác của nó. Sứ điệp này dường như là một phần bổ sung cho sứ điệp thứ ba và hiệp với nó, như tiếng kêu lúc nửa đêm đã hiệp cùng sứ điệp của thiên sứ thứ hai vào năm 1844. Vinh quang của Đức Chúa Trời ngự trên những thánh đồ kiên nhẫn chờ đợi, và họ không sợ hãi rao ra lời cảnh cáo trọng thể sau cùng, công bố sự sụp đổ của Ba-by-lôn, và kêu gọi dân của Đức Chúa Trời ra khỏi nó, để họ có thể thoát khỏi án phạt kinh khiếp của nó. Ân Tứ Thuộc Linh, tập 1, trang 195.

In terms of a triple application of prophecy, the second angel’s message represents a triple application of prophecy, for the message in either history is Babylon twice fallen.

Xét về phương diện áp dụng ba lần của lời tiên tri, sứ điệp của thiên sứ thứ hai đại diện cho một sự áp dụng ba lần của lời tiên tri, vì sứ điệp trong mỗi giai đoạn lịch sử đều là “Ba-by-lôn đã đổ, đã đổ.”

And there followed another angel, saying, Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication. Revelation 14:8.

Lại có một thiên sứ khác theo sau, nói rằng: “Ba-by-lôn, thành lớn kia, đã sụp đổ, đã sụp đổ, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu cơn thịnh nộ của sự tà dâm nó.” Khải Huyền 14:8.

The mighty angel of Revelation ten descended with the fulfillment of a prophecy of the first and second woe on August 11, 1840, and in so doing it typified the descent of the mighty angel of Revelation chapter eighteen on September 11, 2001. That angel who lightens the earth with His glory then made a proclamation.

Thiên sứ quyền năng của Khải Huyền đoạn mười đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, cùng với sự ứng nghiệm của một lời tiên tri về tai họa thứ nhất và thứ nhì; và qua đó, đã tiêu biểu cho sự giáng xuống của thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười tám vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Vị thiên sứ ấy, Đấng làm cho đất sáng rực bởi vinh quang của Ngài, bấy giờ đã đưa ra một lời tuyên bố.

And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. Revelation 18:2.

Người kêu lớn tiếng, rằng: Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ, nhà giam của mọi tà linh ô uế, và lồng của mọi loài chim dơ bẩn và đáng ghét. Khải Huyền 18:2.

The message of the second angel of chapter fourteen, and of the mighty angel of chapter eighteen is identifying that Babylon has twice fallen, and the message is identifying Babylon of the last days. It identifies Babylon of the last days, for the two times Babylon previously fell in the time of Nimrod, and in the time of Nebuchadnezzar unto Belshazzar establishes the prophetic characteristics of the fall of the whore of Revelation seventeen who has written on her forehead, “Babylon the Great.” To identify that fall of Babylon in the last days requires the two witnesses of the two previous falls of Babylon, for the message of the last days is Babylon is fallen, is fallen. When the mighty angel descended when the great buildings of New York City were brought down by a touch of God, by His proclamation He identifies the rule of a triple application of prophecy. The triple application of prophecy that established September 11, 2001 as a fulfillment of God’s prophetic word was the triple application of the three woes.

Sứ điệp của thiên sứ thứ hai trong chương mười bốn và của thiên sứ đầy quyền năng trong chương mười tám cho biết rằng Ba-by-lôn đã hai lần sụp đổ, và sứ điệp ấy đang xác định Ba-by-lôn của những ngày sau rốt. Nó xác định Ba-by-lôn của những ngày sau rốt, vì hai lần Ba-by-lôn trước đây đã sụp đổ—vào thời Nim-rốt, và vào thời Nê-bu-cát-nết-sa cho đến Bên-xát-sa—đã thiết lập những đặc điểm tiên tri về sự sụp đổ của đại dâm phụ trong Khải Huyền mười bảy, trên trán có ghi: “Ba-by-lôn Vĩ Đại.” Để nhận diện sự sụp đổ ấy của Ba-by-lôn trong những ngày sau rốt cần có hai chứng nhân là hai lần sụp đổ trước của Ba-by-lôn, vì sứ điệp của thời kỳ cuối cùng là: “Ba-by-lôn đã đổ, đã đổ rồi.” Khi các tòa nhà lớn ở Thành phố New York bị đánh sập bởi một sự chạm của Đức Chúa Trời, thiên sứ đầy quyền năng đã giáng xuống; và qua lời tuyên bố của Ngài, Ngài chỉ ra nguyên tắc áp dụng ba lần của lời tiên tri. Sự áp dụng ba lần của lời tiên tri, điều đã xác lập ngày 11 tháng 9 năm 2001 như một sự ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Trời, chính là sự áp dụng ba lần của ba lời “khốn thay”.

At that fulfillment many joined the movement of Future for America, and they were convinced of the principles of prophetic interpretation that had been employed by Future for America. August 11, 1840 repeated, and in so doing the repetition did not confirm the primary rule of Miller, that being that a day represents a year in Bible prophecy, for the primary rule of Future for America was that the Millerite history of the first and second angels’ messages is repeated in the history of the movement of the third angel.

Khi điều ấy ứng nghiệm, nhiều người đã gia nhập phong trào Future for America, và họ tin chắc vào các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri mà Future for America đã áp dụng. Ngày 11 tháng 8 năm 1840 đã được lặp lại, và việc lặp lại ấy đã không xác nhận quy tắc chủ yếu của Miller, tức là một ngày tượng trưng cho một năm trong lời tiên tri Kinh Thánh, vì quy tắc chủ yếu của Future for America là lịch sử Millerite về sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai được lặp lại trong lịch sử của phong trào thiên sứ thứ ba.

It seems self-evident that if the year 1840 became a specific attack of his satanic majesty, as Sister White identifies Satan, then the history of September 11, 2001 would also be subject to a similar attack. Thus, we find conspiracy theories identifying the role of the globalist, or the Jesuits, or the CIA, or the Bushes or some combination of those powers. Those theories, though containing some elements of truth are designed to refute the idea that it was a touch from God that brought down the great buildings of New York City, thus marking the arrival of the third woe into the history of the movement of the one hundred and forty-four thousand.

Có vẻ hiển nhiên rằng, nếu năm 1840 đã trở thành mục tiêu của một cuộc tấn công cụ thể bởi Sa-tan, như cách Bà White xác định, thì lịch sử của sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 cũng sẽ chịu một cuộc tấn công tương tự. Vì thế, chúng ta gặp các thuyết âm mưu quy vai trò cho những người theo chủ nghĩa toàn cầu, hoặc Dòng Tên, hoặc CIA, hoặc gia đình Bush, hoặc một sự kết hợp nào đó của những thế lực ấy. Những thuyết đó, dù có chứa một vài yếu tố đúng, nhằm bác bỏ ý tưởng cho rằng chính sự chạm tay của Đức Chúa Trời đã làm đổ sập những tòa nhà lớn ở Thành phố New York, qua đó đánh dấu sự xuất hiện của tai vạ thứ ba trong lịch sử của phong trào một trăm bốn mươi bốn ngàn.

“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.

"Giờ đây lại có tin rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị quét sạch bởi một cơn sóng thần? Điều đó tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn mọc lên ở đó, tầng này chồng tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh hoàng nào sẽ diễn ra khi Chúa trỗi dậy để làm rung chuyển dữ dội trái đất! Bấy giờ những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp đến trên đất. Nhưng tôi không có ánh sáng cụ thể nào về điều gì sẽ xảy ra cho New York, chỉ biết rằng một ngày nào đó những tòa nhà lớn ở đó sẽ bị lật đổ bởi sự xoay chuyển và đảo lộn của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt hiện diện trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, một chạm của quyền năng vĩ đại của Ngài, là những công trình đồ sộ này sẽ đổ sụp. Những cảnh tượng sẽ diễn ra, sự kinh khiếp của chúng vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta." Review and Herald, ngày 5 tháng 7, 1906.

The conspiracy theories, whether containing no truth or partial truths all undermine the truth that it was God’s providential activity that brought about the events of that date. Those various conspiracy theories are Satan’s attack from the outside of the movement against the truth, but he also worked to undermine the truth from within the movement. One of those internal attacks is based upon a rejection of Rome as the subject of the book of Joel.

Những thuyết âm mưu, dù hoàn toàn không có sự thật hay chỉ chứa đựng một phần sự thật, đều làm suy yếu lẽ thật rằng chính hoạt động quan phòng của Đức Chúa Trời đã đưa đến những sự kiện của ngày ấy. Những thuyết âm mưu khác nhau ấy là sự tấn công của Sa-tan từ bên ngoài phong trào chống lại lẽ thật, nhưng hắn cũng đã hành động để phá hoại lẽ thật từ bên trong phong trào. Một trong những cuộc tấn công từ bên trong ấy dựa trên việc bác bỏ rằng La Mã là đối tượng mà sách Giô-ên đề cập đến.

We will consider that controversy in the next article.

Chúng ta sẽ xem xét cuộc tranh cãi đó trong bài viết tiếp theo.

The word of the Lord that came to Joel the son of Pethuel. Hear this, ye old men, and give ear, all ye inhabitants of the land. Hath this been in your days, or even in the days of your fathers? Tell ye your children of it, and let your children tell their children, and their children another generation. That which the palmerworm hath left hath the locust eaten; and that which the locust hath left hath the cankerworm eaten; and that which the cankerworm hath left hath the caterpiller eaten. Awake, ye drunkards, and weep; and howl, all ye drinkers of wine, because of the new wine; for it is cut off from your mouth. For a nation is come up upon my land, strong, and without number, whose teeth are the teeth of a lion, and he hath the cheek teeth of a great lion. Joel 1:1–6.

Lời của Chúa đến với Joel, con của Pethuel. Hỡi các bô lão, hãy nghe điều này; hỡi mọi cư dân trong xứ, hãy lắng tai nghe. Điều ấy đã từng xảy ra trong đời các ngươi, hay ngay cả trong đời cha các ngươi chăng? Hãy kể điều ấy cho con cái các ngươi, để con cái các ngươi kể cho con cái chúng, và con cái chúng lại kể cho một thế hệ khác. Điều gì sâu trụi còn sót lại thì châu chấu đã ăn; điều gì châu chấu còn sót lại thì sâu đo đã ăn; điều gì sâu đo còn sót lại thì sâu bướm đã ăn. Hỡi những kẻ say, hãy tỉnh dậy và khóc lóc; hỡi mọi kẻ uống rượu, hãy gào than vì rượu mới, vì nó đã bị cất khỏi miệng các ngươi. Vì có một dân đã tràn vào đất ta, mạnh mẽ và vô số; răng của nó là răng sư tử, và nó có cả răng hàm của sư tử lớn. Joel 1:1-6.