We have been forewarned that “old controversies” would be revived in the last days.

Chúng ta đã được cảnh báo trước rằng các "tranh cãi cũ" sẽ bùng phát trở lại trong những ngày cuối cùng.

“In history and prophecy the Word of God portrays the long continued conflict between truth and error. That conflict is yet in progress. Those things which have been, will be repeated. Old controversies will be revived, and new theories will be continually arising.” Selected Messages, book 2, 109.

"Trong lịch sử và lời tiên tri, Lời Đức Chúa Trời khắc họa cuộc xung đột lâu dài giữa lẽ thật và sai lầm. Cuộc xung đột ấy vẫn còn đang tiếp diễn. Những điều đã xảy ra sẽ được lặp lại. Những cuộc tranh luận xưa sẽ được khơi dậy, và các học thuyết mới sẽ liên tục nảy sinh." Selected Messages, quyển 2, 109.

Invariably those old controversies were a satanic attempt to undermine the role of Modern Rome, for it is papal Rome of the last days who establishes the vision. There are several examples of this fact in the history of Adventism. The first was the controversy between the Protestants and the Millerites as represented upon the 1843 pioneer chart. The only reference on the sacred 1843 pioneer chart, which “was directed by the Lord and should not be altered,” that was not a direct reference to a prophetic truth of God’s word, was the representation of the controversy of the Millerites with the Protestants of that period. The Protestants identified the “robbers of thy people” of Daniel chapter eleven, verse fourteen as Antiochus Epiphanes, while the Millerites knew it was Rome.

Những cuộc tranh cãi xưa ấy luôn luôn là một mưu toan của Sa-tan nhằm làm suy yếu vai trò của Rôma Hiện Đại, vì chính Rôma Giáo hoàng trong những ngày sau rốt thiết lập khải tượng. Có vài ví dụ về thực tế này trong lịch sử Phục Lâm. Ví dụ đầu tiên là cuộc tranh luận giữa những người Kháng Cách và những người theo Miller như được thể hiện trên biểu đồ tiên phong năm 1843. Điểm dẫn chiếu duy nhất trên biểu đồ tiên phong năm 1843 thiêng liêng, vốn “đã được Chúa hướng dẫn và không nên bị sửa đổi,” mà không phải là một dẫn chiếu trực tiếp đến lẽ thật tiên tri của lời Đức Chúa Trời, chính là sự trình bày cuộc tranh luận giữa những người theo Miller với những người Kháng Cách của thời kỳ ấy. Những người Kháng Cách xác định ‘bọn cướp dân ngươi’ trong Đa-ni-ên chương mười một, câu mười bốn là Antiôkhô Êpiphanê, còn những người theo Miller biết đó là Rôma.

“164 Death of Antiochus Epiphanes, who of course, stood not up against the Prince of Princes, as he had been 164 yrs. dead before the Prince of Princes was born.” 1843 Pioneer Chart.

"164 Cái chết của Antiochus Epiphanes, người, dĩ nhiên, đã không đứng lên chống lại hoàng tử của các hoàng tử, vì ông đã chết 164 năm trước khi hoàng tử của các hoàng tử ra đời." Biểu đồ Tiên phong 1843.

Thereafter there was the controversy between James White and Uriah Smith over the correct identification of the “king of the north” in Daniel chapter eleven. James was correct in identifying the “king of the north” in the final verses of Daniel eleven as papal Rome, or as I call it modern Rome. Smith argued the “king of the north” of Daniel chapter eleven, verse thirty-six was atheistic France.

Sau đó đã có cuộc tranh luận giữa James White và Uriah Smith về việc xác định đúng “vua phương bắc” trong Đa-ni-ên đoạn 11. James đã đúng khi xác định “vua phương bắc” trong những câu cuối của Đa-ni-ên đoạn 11 là La Mã giáo hoàng, hay như tôi gọi là La Mã hiện đại. Smith cho rằng “vua phương bắc” ở Đa-ni-ên đoạn 11, câu 36 là nước Pháp vô thần.

“VERSE 36. And the king shall do according to his will; and he shall exalt himself, and magnify himself above every god, and shall speak marvelous things against the God of gods, and shall prosper till the indignation be accomplished; for that that is determined shall be done.

CÂU 36. Vua sẽ làm theo ý mình; người sẽ tự tôn mình và tự đề cao mình trên mọi thần, sẽ nói những điều lạ lùng nghịch cùng Đức Chúa Trời của các thần, và sẽ thịnh đạt cho đến khi cơn phẫn nộ được hoàn tất; vì điều đã định ắt sẽ xảy ra.

“The king here introduced cannot denote the same power which was last noticed; namely, the papal power; for the specifications will not hold good if applied to that power.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 292.

Vị vua được nêu ra ở đây không thể chỉ về cùng một quyền lực vừa được nhắc đến sau cùng; tức là quyền lực giáo hoàng; vì các đặc điểm nêu ra sẽ không đứng vững nếu áp dụng cho quyền lực đó. Uriah Smith, Daniel and Revelation, 292.

Smith inserted his own “private interpretation” when he stated, “The king here introduced cannot denote the same power which was last noticed; namely, the papal power; for the specifications will not hold good if applied to that power.” God’s word never fails, and it is grammatically incorrect to use a human proposition to deny the clear grammatical structure of the passage. The verse says “and the king” which demands that the king being identified is the same king represented in the previous passage. There is no evidence of a new king, and Smith affirms the “same power which was last noticed” was the “papal power.” He acknowledges in his book that from verse thirty-one through verse thirty-five is the papal power, and with no grammatical evidence identifying a new king in verse thirty-six, he simply argues that the verses following verse thirty-five do not represent the prophetic characteristics of the papal power. He therefore inserts his opinion about France.

Smith đã đưa “sự diễn giải riêng” của mình vào khi ông nói: “Vị vua được giới thiệu ở đây không thể chỉ về cùng một quyền lực đã được nhắc đến trước đó; tức là quyền lực giáo hoàng; vì các mô tả sẽ không phù hợp nếu áp dụng cho quyền lực ấy.” Lời của Đức Chúa Trời không bao giờ thất bại, và thật sai về mặt ngữ pháp khi dùng một lập luận của con người để phủ nhận cấu trúc ngữ pháp rõ ràng của đoạn văn. Câu ấy nói “và vua”, điều này đòi hỏi rằng vị vua được xác định chính là vị vua đã được nói đến trong đoạn trước. Không có bằng chứng nào về một vị vua mới, và Smith khẳng định “cùng quyền lực đã được nhắc đến trước đó” là “quyền lực giáo hoàng”. Ông thừa nhận trong sách của mình rằng từ câu ba mươi mốt đến câu ba mươi lăm là quyền lực giáo hoàng, và khi không có bằng chứng ngữ pháp nào xác định một vị vua mới ở câu ba mươi sáu, ông chỉ đơn giản cho rằng các câu sau câu ba mươi lăm không thể hiện các đặc điểm tiên tri của quyền lực giáo hoàng. Vì thế, ông đưa ý kiến của mình về nước Pháp vào.

When Smith addresses verse forty, the faulty prophetic platform he has erected with his private interpretation forces him to identify a three way war, that by his conjectures identifies the king of the south as Egypt, who in the verse “pushes” against France, and Turkey he identifies as the king of the north who also comes against France. That added human interpretation builds a prophetic model that has Smith identifying a literal Armageddon, where Turkey marches to Jerusalem, marking the close of human probation as Michael stands up. Many books in Adventism’s history have been written correctly identifying the fallacy of such an application.

Khi Smith bàn đến câu bốn mươi, nền tảng tiên tri sai lạc mà ông đã dựng lên bằng cách giải thích riêng buộc ông phải xác định một cuộc chiến ba bên; theo những phỏng đoán của ông, “vua phương nam” là Ai Cập, trong câu ấy “tấn công” Pháp, và Thổ Nhĩ Kỳ được ông xác định là “vua phương bắc” cũng kéo đến chống lại Pháp. Sự diễn giải do con người thêm vào đó tạo nên một mô hình tiên tri khiến Smith coi Armageddon theo nghĩa đen, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ hành quân đến Giê-ru-sa-lem, đánh dấu sự kết thúc thời kỳ ân điển của nhân loại khi Mi-ca-ên đứng dậy. Nhiều sách trong lịch sử Phục Lâm đã được viết, đúng đắn chỉ ra tính ngụy biện của cách áp dụng như vậy.

It is not the purpose of this article to address the fruits of Uriah Smith’s private interpretation, but simply to identify the controversy that ensued when he began to promote his private interpretation, for as James White opposed his fallacious view it became another line of controversy in Adventism where the correct identification of Rome was attacked by a false application.

Mục đích của bài viết này không phải để bàn đến những hệ quả từ cách diễn giải riêng của Uriah Smith, mà chỉ nhằm nêu rõ cuộc tranh cãi đã nảy sinh khi ông bắt đầu cổ vũ cách diễn giải ấy, vì khi James White phản đối quan điểm sai lầm của ông, điều đó đã trở thành một hướng tranh cãi khác trong phong trào Phục Lâm, trong đó sự nhận diện đúng về Rôma bị công kích bởi một sự áp dụng sai lầm.

There was also the long-drawn-out controversy over “the daily” in the book of Daniel, when Laodicean Adventism adopted the apostate Protestant view identifying “the daily” in the book of Daniel as Christ’s sanctuary ministry, in contradiction to the established foundational truth that “the daily” was a symbol of pagan Rome.

Cũng đã có cuộc tranh cãi kéo dài dai dẳng về “the daily” trong sách Daniel, khi Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea chấp nhận quan điểm Tin Lành bội giáo coi “the daily” trong sách Daniel là chức vụ tại đền thánh của Đấng Christ, trái ngược với lẽ thật nền tảng đã được xác lập rằng “the daily” là biểu tượng của La Mã ngoại giáo.

“Then I saw in relation to the ‘daily’ (Daniel 8:12) that the word ‘sacrifice’ was supplied by man’s wisdom, and does not belong to the text, and that the Lord gave the correct view of it to those who gave the judgment hour cry. When union existed, before 1844, nearly all were united on the correct view of the ‘daily’; but in the confusion since 1844, other views have been embraced, and darkness and confusion have followed. Time has not been a test since 1844, and it will never again be a test.” Early Writings, 74.

Rồi tôi thấy, liên quan đến 'daily' (Daniel 8:12), rằng từ 'sacrifice' đã được thêm vào bởi sự khôn ngoan của loài người và không thuộc về bản văn, và rằng Chúa đã ban quan điểm đúng đắn về điều ấy cho những người đã cất lên tiếng kêu về giờ phán xét. Khi có sự hiệp nhất, trước năm 1844, hầu như mọi người đều đồng lòng về quan điểm đúng đắn liên quan đến 'daily'; nhưng trong sự hỗn loạn kể từ 1844, những quan điểm khác đã được chấp nhận, và bóng tối và hỗn loạn đã theo sau. Thời gian đã không còn là một phép thử kể từ năm 1844, và sẽ chẳng bao giờ lại là một phép thử nữa. Early Writings, 74.

At the time of the end, in 1989, when the last six verses of Daniel eleven were unsealed, the king of the north was then recognized to be papal Rome, just as James White previously identified in his controversy with Uriah Smith. White had applied the methodology of “line upon line” as he addressed Smith’s fallacy. White argued if the last power represented in Daniel two, and the last power represented in Daniel seven, and the last power represented in Daniel eight were all Rome, then upon three lines of witnesses the power who comes to his end in Daniel eleven is Rome, not Smith’s claim that it is Turkey.

Vào thời kỳ cuối cùng, năm 1989, khi sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn mười một được mở ấn, “vua phương bắc” khi ấy được nhận ra là La Mã giáo hoàng, đúng như James White trước đó đã xác định trong cuộc tranh luận của ông với Uriah Smith. White đã áp dụng phương pháp “dòng trên dòng” khi ông đối chất với luận điểm sai lầm của Smith. White lập luận rằng nếu quyền lực sau cùng được đại diện trong Đa-ni-ên đoạn hai, và quyền lực sau cùng được đại diện trong Đa-ni-ên đoạn bảy, và quyền lực sau cùng được đại diện trong Đa-ni-ên đoạn tám đều là La Mã, thì dựa trên ba dòng làm chứng ấy, quyền lực đi đến kết cuộc trong Đa-ni-ên đoạn mười một là La Mã, chứ không phải như Smith cho rằng đó là Thổ Nhĩ Kỳ.

The prophetic movement of the third angel which began in 1989, was confronted shortly after September 11, 2001 with a controversy over Joel chapter one. Within the first five verses, two witnesses, first of generations, then of insects identify a progressive destruction brought upon Adventism by Rome. The “drunkards” in prophecy according to Isaiah are the “scornful men which rule Jerusalem.” They awake in the fourth and final generation. The progressive destruction is a spiritual destruction for it is addressing Jerusalem of the last days, and from the rebellion of 1863 onward the Laodicean Seventh-day Adventists progressively imbibed in the doctrines of Rome.

Phong trào tiên tri của thiên sứ thứ ba bắt đầu vào năm 1989 đã, chẳng bao lâu sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, đối diện với một cuộc tranh cãi về chương một sách Giô-ên. Trong năm câu đầu tiên, hai nhân chứng, trước hết là các thế hệ, rồi đến các loài côn trùng, xác định một sự hủy hoại dần dần do La Mã giáng trên phong trào Phục Lâm. Theo Ê-sai, những “kẻ say rượu” trong lời tiên tri chính là “những kẻ chế nhạo cai trị Giê-ru-sa-lem.” Họ thức tỉnh trong thế hệ thứ tư và cuối cùng. Sự hủy hoại mang tính tiến trình ấy là sự hủy hoại thuộc linh, vì nó đang nói đến Giê-ru-sa-lem trong những ngày sau rốt; và kể từ cuộc phản loạn năm 1863 trở đi, những người Cơ Đốc Phục Lâm trong tình trạng La-ô-đi-xê đã dần dần thấm nhiễm các giáo lý của La Mã.

The word of the Lord that came to Joel the son of Pethuel. Hear this, ye old men, and give ear, all ye inhabitants of the land. Hath this been in your days, or even in the days of your fathers? Tell ye your children of it, and let your children tell their children, and their children another generation. That which the palmerworm hath left hath the locust eaten; and that which the locust hath left hath the cankerworm eaten; and that which the cankerworm hath left hath the caterpillar eaten. Awake, ye drunkards, and weep; and howl, all ye drinkers of wine, because of the new wine, for it is cut off from your mouth. Joel 1:1–5.

Lời của Đức Giê-hô-va đã đến cùng Giô-ên, con trai của Pê-thu-ên. Hỡi các bô lão, hãy nghe điều này; hỡi hết thảy dân cư trong xứ, hãy lắng tai. Điều ấy đã từng xảy ra trong những ngày của các ngươi, hay trong những ngày của tổ phụ các ngươi chăng? Hãy kể lại điều đó cho con cái các ngươi; để con cái các ngươi kể lại cho con cái của chúng, và con cái của chúng cho một thế hệ khác. Cái gì sâu cắn còn để lại thì châu chấu đã ăn; cái gì châu chấu còn để lại thì sâu đo đã ăn; cái gì sâu đo còn để lại thì sâu bướm đã ăn. Hỡi những kẻ say rượu, hãy tỉnh dậy và khóc lóc; hỡi hết thảy những kẻ uống rượu, hãy kêu la vì rượu mới, vì nó đã bị cắt khỏi miệng các ngươi. Giô-ên 1:1-5.

After the great buildings of New York City came down, it was understood that the latter rain then began to “sprinkle”, and that the controversy of Habakkuk chapter two, that was fulfilled in Millerite history, was once again under way. The controversy was over correct prophetic methodology.

Sau khi những tòa nhà lớn của Thành phố New York sụp đổ, người ta hiểu rằng mưa muộn khi ấy đã bắt đầu "lất phất", và rằng cuộc tranh luận về chương hai sách Habacúc, vốn đã được ứng nghiệm trong lịch sử phong trào Miller, lại một lần nữa nổ ra. Cuộc tranh luận xoay quanh phương pháp luận tiên tri đúng đắn.

I will stand upon my watch, and set me upon the tower, and will watch to see what he will say unto me, and what I shall answer when I am reproved. And the Lord answered me, and said, Write the vision, and make it plain upon tables, that he may run that readeth it. For the vision is yet for an appointed time, but at the end it shall speak, and not lie: though it tarry, wait for it; because it will surely come, it will not tarry. Behold, his soul which is lifted up is not upright in him: but the just shall live by his faith. Yea also, because he transgresseth by wine, he is a proud man, neither keepeth at home, who enlargeth his desire as hell, and is as death, and cannot be satisfied, but gathereth unto him all nations, and heapeth unto him all people. Habakkuk 2:1–5.

Tôi sẽ đứng nơi trạm gác của mình, và đứng trên tháp canh; tôi sẽ dõi xem Ngài sẽ phán gì với tôi, và tôi sẽ đáp thế nào khi bị quở trách. Chúa đáp lại tôi và phán: Hãy chép khải tượng, và ghi rõ ràng trên bảng, để ai đọc có thể chạy. Vì khải tượng còn chờ đến kỳ đã định; đến lúc cuối cùng, nó sẽ lên tiếng, không dối trá. Dẫu nó chậm trễ, hãy đợi nó; vì chắc chắn nó sẽ đến, không trì hoãn. Kìa, linh hồn của kẻ tự cao không ngay thẳng nơi người ấy; nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin mình. Hơn nữa, vì rượu khiến kẻ ấy phạm tội, kẻ ấy là người kiêu căng, chẳng ở yên tại nhà; kẻ ấy nới rộng lòng tham như âm phủ, giống như sự chết, chẳng hề được thỏa; nhưng thu góp cho mình mọi nước, và chất chứa về mình hết thảy các dân. Ha-ba-cúc 2:1-5.

The testing of Habakkuk two typified the testing of the movement of the one hundred and forty-four thousand which began when the mighty angel of Revelation chapter eighteen descended on September 11, 2001. Then a controversy began between those who stood upon the foundations of Adventism represented upon the 1843 pioneer chart, and those who in Habakkuk transgress “by wine” and who were the “drunkards” of Joel who then “awoke,” only to have the “new wine” cut off from their “mouth.”

Sự thử thách trong Ha-ba-cúc đoạn hai tiêu biểu cho sự thử thách của phong trào nhóm một trăm bốn mươi bốn nghìn, vốn khởi đầu khi thiên sứ có quyền lớn của Khải Huyền đoạn mười tám giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Bấy giờ một cuộc tranh luận nảy sinh giữa những người đứng vững trên các nền tảng của Phục Lâm được thể hiện trên biểu đồ tiên phong năm 1843, và những kẻ, theo Ha-ba-cúc, phạm tội "bởi rượu" và là những "kẻ say" của Giô-ên, những kẻ đã "tỉnh dậy" nhưng "rượu mới" lại bị cắt khỏi "miệng" họ.

The Hebrew word “reproved” in verse one means “argued with”. The argument given to the Millerite watchmen was represented upon the 1843 pioneer chart which was produced in May of 1842 in fulfillment of these verses. One class who lived by their faith was in controversy over the prophetic present truth message for that period, with another class who transgressed by wine. Those are Joel’s drunkards who awake to find the wine, a symbol of doctrine, is cut off from their mouths. They are Isaiah’s drunkards of Ephraim who rule Jerusalem and are unable to understand the book that is sealed.

Từ tiếng Hê-bơ-rơ "reproved" trong câu một có nghĩa là "argued with". Lập luận đưa cho những người canh gác thuộc phong trào Millerite đã được thể hiện trên biểu đồ tiên phong năm 1843, được xuất bản vào tháng 5 năm 1842 để ứng nghiệm những câu này. Một nhóm sống bởi đức tin của mình đã tranh cãi về sứ điệp tiên tri của lẽ thật hiện tại cho thời kỳ ấy với một nhóm khác phạm tội vì rượu. Đó là những kẻ say của Giô-ên, những người thức dậy thì thấy rượu, một biểu tượng của giáo lý, bị cắt khỏi miệng họ. Họ là những kẻ say của Ê-sai thuộc Ép-ra-im, những kẻ cai trị Giê-ru-sa-lem và không thể hiểu cuốn sách đã được niêm phong.

Woe to the crown of pride, to the drunkards of Ephraim, whose glorious beauty is a fading flower, which are on the head of the fat valleys of them that are overcome with wine! Behold, the Lord hath a mighty and strong one, which as a tempest of hail and a destroying storm, as a flood of mighty waters overflowing, shall cast down to the earth with the hand. The crown of pride, the drunkards of Ephraim, shall be trodden under feet. . .. Stay yourselves, and wonder; cry ye out, and cry: they are drunken, but not with wine; they stagger, but not with strong drink. . .. Wherefore hear the word of the Lord, ye scornful men, that rule this people which is in Jerusalem. For the Lord hath poured out upon you the spirit of deep sleep, and hath closed your eyes: the prophets and your rulers, the seers hath he covered. And the vision of all is become unto you as the words of a book that is sealed, which men deliver to one that is learned, saying, Read this, I pray thee: and he saith, I cannot; for it is sealed: And the book is delivered to him that is not learned, saying, Read this, I pray thee: and he saith, I am not learned. Isaiah 28:1–3, 14; 29:9–12.

Khốn thay cho mão kiêu ngạo, cho những kẻ say sưa của Êp-ra-im, mà vẻ đẹp vinh hiển chỉ như bông hoa tàn úa, ở trên đỉnh các thung lũng phì nhiêu của những kẻ bị rượu chế ngự! Kìa, Chúa có một Đấng mạnh mẽ và hùng cường; như cơn bão mưa đá và giông tố tàn phá, như lũ nước mạnh mẽ tràn dâng, Ngài sẽ lấy tay quật xuống đất. Mão kiêu ngạo ấy, tức những kẻ say sưa của Êp-ra-im, sẽ bị chà đạp dưới chân. ... Hãy dừng lại mà kinh ngạc; hãy kêu la, hãy kêu lên: họ say, nhưng không phải vì rượu; họ loạng choạng, nhưng không phải vì đồ uống mạnh. ... Vậy, hỡi những kẻ nhạo báng, là những người cai trị dân này ở Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời Chúa. Vì Chúa đã đổ trên các ngươi thần mê ngủ sâu, đã khép mắt các ngươi; các nhà tiên tri và những người lãnh đạo của các ngươi—những người xem thấy khải tượng—Ngài đã che phủ. Và mọi khải tượng đối với các ngươi trở nên như lời của một quyển sách đã được niêm phong; người ta trao cho kẻ có học mà nói: “Xin đọc điều này,” nhưng người ấy đáp: “Tôi không thể, vì sách đã bị niêm phong.” Rồi quyển sách được trao cho kẻ không học mà nói: “Xin đọc điều này,” nhưng người ấy đáp: “Tôi không biết chữ.” Ê-sai 28:1-3, 14; 29:9-12.

The argument of Habakkuk between the drunkards of Ephraim and those who walk by faith in God’s prophetic Word is specifically identified as the argument over correct versus incorrect methodology in Isaiah’s testimony, for Isaiah identifies that it is the methodology of “line upon line” that causes the drunkards to stumble and enter into a covenant of death.

Cuộc tranh luận của Ha-ba-cúc giữa những kẻ say sưa của Êpraim và những người sống bởi đức tin trong Lời tiên tri của Đức Chúa Trời được xác định rõ ràng là cuộc tranh luận về phương pháp đúng và sai trong lời chứng của Ê-sai, vì Ê-sai chỉ ra rằng chính phương pháp “line upon line” khiến những kẻ say sưa vấp ngã và lập một giao ước với sự chết.

But they also have erred through wine, and through strong drink are out of the way; the priest and the prophet have erred through strong drink, they are swallowed up of wine, they are out of the way through strong drink; they err in vision, they stumble in judgment. For all tables are full of vomit and filthiness, so that there is no place clean. Whom shall he teach knowledge? and whom shall he make to understand doctrine? them that are weaned from the milk, and drawn from the breasts. For precept must be upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little: For with stammering lips and another tongue will he speak to this people. To whom he said, This is the rest wherewith ye may cause the weary to rest; and this is the refreshing: yet they would not hear. But the word of the Lord was unto them precept upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little; that they might go, and fall backward, and be broken, and snared, and taken. Wherefore hear the word of the Lord, ye scornful men, that rule this people which is in Jerusalem. Because ye have said, We have made a covenant with death, and with hell are we at agreement; when the overflowing scourge shall pass through, it shall not come unto us: for we have made lies our refuge, and under falsehood have we hid ourselves. Isaiah 28:7–15.

Nhưng họ cũng lầm lạc vì rượu, và bởi rượu mạnh mà chệch đường; cả thầy tế lễ lẫn nhà tiên tri đều lầm lạc vì rượu mạnh, họ bị rượu nuốt chửng, bị rượu mạnh làm cho chệch đường; họ sai lầm trong khải tượng, vấp váp trong sự xét đoán. Vì mọi bàn đều đầy ói mửa và nhơ uế, chẳng còn chỗ nào sạch. Ngài sẽ dạy tri thức cho ai? Ngài sẽ khiến ai hiểu giáo huấn? Phải chăng là những kẻ vừa dứt sữa, vừa rời vú. Vì phải là: mệnh lệnh nối mệnh lệnh, mệnh lệnh nối mệnh lệnh; hàng nối hàng, hàng nối hàng; chỗ này một ít, chỗ kia một ít: Vì bằng môi lắp bắp và bằng một thứ tiếng khác, Ngài sẽ nói với dân này. Ngài đã nói với họ: Đây là sự yên nghỉ để các ngươi cho kẻ mệt mỏi được nghỉ ngơi; và đây là sự phục hồi; nhưng họ chẳng chịu nghe. Nhưng lời của Đức Chúa Trời đối với họ chỉ còn là: mệnh lệnh nối mệnh lệnh, mệnh lệnh nối mệnh lệnh; hàng nối hàng, hàng nối hàng; chỗ này một ít, chỗ kia một ít; để họ đi, rồi ngã ngửa, bị tan vỡ, mắc bẫy và bị bắt. Vì vậy, hỡi những kẻ nhạo báng, là những người cai trị dân này tại Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Chúa Trời. Bởi các ngươi đã nói: Chúng ta đã lập giao ước với sự chết, và với Âm phủ chúng ta đã thỏa thuận; khi tai vạ tràn qua, nó sẽ không chạm đến chúng ta; vì chúng ta đã lấy sự dối trá làm nơi nương náu, và nấp mình dưới sự giả dối. Ê-sai 28:7-15.

Isaiah then identifies what God placed into the controversy of Habakkuk that would bring judgment upon the drunkards, and it was the foundation stone, the “seven times” of Leviticus twenty-six, which was the first time prophecy that Gabriel and the angels led William Miller to understand.

Sau đó Ê-sai chỉ ra điều Đức Chúa Trời đã đặt vào cuộc tranh luận của Ha-ba-cúc để đem sự phán xét trên những kẻ say sưa, và đó chính là viên đá nền tảng — “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu — vốn là lời tiên tri về thời gian đầu tiên mà Gáp-ri-ên và các thiên sứ đã dẫn dắt William Miller hiểu được.

Therefore thus saith the Lord God, Behold, I lay in Zion for a foundation a stone, a tried stone, a precious corner stone, a sure foundation: he that believeth shall not make haste. Judgment also will I lay to the line, and righteousness to the plummet: and the hail shall sweep away the refuge of lies, and the waters shall overflow the hiding place. And your covenant with death shall be disannulled, and your agreement with hell shall not stand; when the overflowing scourge shall pass through, then ye shall be trodden down by it. Isaiah 28:16–18.

Vì vậy Chúa, là Đức Chúa Trời, phán rằng: Này, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá làm nền: một hòn đá đã được thử luyện, một viên đá góc quý báu, một nền tảng vững chắc; ai tin sẽ không hốt hoảng. Ta cũng sẽ đặt công lý làm dây đo, và sự công chính làm quả dọi; mưa đá sẽ quét sạch nơi nương náu của sự dối trá, và nước sẽ tràn ngập chỗ ẩn nấp. Giao ước của các ngươi với sự chết sẽ bị vô hiệu, và thỏa thuận của các ngươi với âm phủ sẽ không đứng vững; khi cơn tai ương tràn ngập đi qua, các ngươi sẽ bị nó giày đạp. Ê-sai 28:16-18.

Shortly after the Lord led His people back to the old paths, beginning on September 11, 2001 there was a group who had been participating in the movement who determined that the four insects of Joel represented Islam of the third Woe. When the methodology of “line upon line” had been opened up to God’s people in that final generation, a key prophetic rule was recognized. That rule is the triple application of prophecy, and the group that determined the four generations of Joel represented Islam of the third Woe, they incorrectly applied the rule of a triple application of prophecy to uphold their incorrect application.

Không lâu sau khi Chúa dẫn dắt dân Ngài trở lại những nẻo xưa, bắt đầu từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, có một nhóm người từng tham gia phong trào đã xác quyết rằng bốn loài côn trùng trong sách Giô-ên tượng trưng cho Hồi giáo trong tai ương thứ ba. Khi phương pháp “dòng trên dòng” được mở ra cho dân Đức Chúa Trời trong thế hệ cuối cùng ấy, một quy tắc tiên tri then chốt đã được nhận biết. Quy tắc ấy là sự áp dụng ba lần của lời tiên tri, và nhóm đã cho rằng bốn thế hệ trong sách Giô-ên tượng trưng cho Hồi giáo trong tai ương thứ ba ấy đã áp dụng sai quy tắc áp dụng ba lần của lời tiên tri để biện minh cho sự áp dụng sai lạc của họ.

Then in the 2014 time period Satan was allowed into this movement with the homosexual “woke” agenda out of Great Britain and Australia that based its attack upon a false interpretation of the history represented in Daniel chapter eleven verses one through fifteen. The pro-homosexual leaders who infiltrated and attacked this movement ultimately claimed that Adventism needed to apologize to the pope of Rome, for supposedly making false accusations against the antichrist, the pope of Rome. The purpose of this attack was to slay the movement, and primarily to produce confusion on the very passage (Daniel 11:1–15) where “the robbers of thy people” are identified.

Rồi vào khoảng năm 2014, Satan đã được cho phép xâm nhập vào phong trào này cùng với nghị trình “woke” ủng hộ đồng tính xuất phát từ Vương quốc Anh và Úc, vốn dựa cuộc tấn công của mình trên một cách diễn giải sai lầm về lịch sử được trình bày trong sách Đa-ni-ên đoạn mười một, câu 1 đến 15. Những lãnh đạo ủng hộ đồng tính đã thâm nhập và tấn công phong trào này rốt cuộc tuyên bố rằng Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm cần phải xin lỗi giáo hoàng La Mã, vì bị cho là đã đưa ra những cáo buộc sai trái chống lại kẻ chống Đấng Christ, tức giáo hoàng La Mã. Mục đích của cuộc tấn công này là tiêu diệt phong trào, và chủ yếu là tạo ra sự rối loạn ngay trên chính đoạn (Đa-ni-ên 11:1-15) nơi "những kẻ cướp của dân ngươi" được xác định.

All these controversies were an attempt by Satan to confuse the symbol of papal Rome. There is nothing new under the sun, according to the wisest man who ever lived. Today the controversy is again based upon the identification of Rome, symbolized as “the robbers of thy people”. The new and private interpretation claims “the robbers of thy people” is the United States, and in doing so they are evidently unaware that this is the identical controversy as the very first controversy between the Millerites and Protestants, and the old saying attributed to sixteenth century author John Heywood that states, “There are none so blind as those who will not see.” Another variation of his phrase is “None so deaf as those who will not hear.” Most probably don’t know this phrase is attributed to Heywood, nor do they understand that the phrase of Heywood was derived from the Bible passages such as found in Jeremiah, Isaiah and quoted by Jesus in the New Testament.

Tất cả những cuộc tranh luận này đều là một nỗ lực của Sa-tan nhằm làm rối biểu tượng của Rôma giáo hoàng. Theo lời người khôn ngoan nhất từng sống, chẳng có gì mới dưới mặt trời. Hôm nay, cuộc tranh luận lại dựa trên việc nhận diện Rôma, được biểu tượng hóa là “những kẻ cướp bóc dân ngươi”. Cách giải nghĩa mới mang tính cá nhân cho rằng “những kẻ cướp bóc dân ngươi” là Hoa Kỳ, và khi làm như vậy, họ rõ ràng không hay biết rằng đây chính là cuộc tranh luận y hệt cuộc tranh luận đầu tiên giữa những người Millerite và người Tin Lành, và câu nói xưa được gán cho tác giả thế kỷ XVI John Heywood rằng: “Không ai mù bằng kẻ không muốn thấy.” Một biến thể khác của câu ấy là: “Không ai điếc bằng kẻ không muốn nghe.” Phần đông có lẽ không biết cụm từ này được gán cho Heywood, cũng không hiểu rằng câu nói của Heywood được rút ra từ các đoạn Kinh Thánh như trong Giê-rê-mi, Ê-sai và được Chúa Giê-su trích dẫn trong Tân Ước.

Hear now this, O foolish people, and without understanding; which have eyes, and see not; which have ears, and hear not. Jeremiah 5:21.

Nay, hãy nghe điều này, hỡi dân ngu dại và không hiểu biết; các ngươi có mắt mà không thấy; có tai mà không nghe. Jeremiah 5:21.

It is Daniel’s “wicked” and Matthew’s “foolish virgins” that do not understand the “increase of knowledge”. The increase of knowledge in 1989 was primarily the recognition that the last six verses of Daniel chapter eleven identify the final rise and fall of papal, or as I labeled it Modern Rome. The verses identify the United States, but only the relation of the United States to the papal power. The “wicked” and “foolish” are contrasted with the “wise”, and the wise of the last days do have understanding of the increase of knowledge in 1989. The foolish are those who have eyes, but do not see, and ears and do not hear.

Chính “những kẻ ác” của Đa-ni-ên và “những trinh nữ dại” của Ma-thi-ơ là những kẻ không hiểu “sự gia tăng tri thức”. Sự gia tăng tri thức vào năm 1989 chủ yếu là sự nhận biết rằng sáu câu cuối cùng của Đa-ni-ên chương mười một xác định sự trỗi dậy và suy sụp cuối cùng của giáo quyền, hay, như tôi gọi, Rôma hiện đại. Các câu ấy nhận diện Hoa Kỳ, nhưng chỉ trong mối liên hệ của Hoa Kỳ với giáo quyền. “Những kẻ ác” và “những kẻ dại” được đối chiếu với “những người khôn ngoan”, và những người khôn ngoan của thời kỳ sau rốt có hiểu biết về sự gia tăng tri thức vào năm 1989. Kẻ dại là những người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe.

Also I heard the voice of the Lord, saying, Whom shall I send, and who will go for us? Then said I, Here am I; send me. And he said, Go, and tell this people, Hear ye indeed, but understand not; and see ye indeed, but perceive not. Make the heart of this people fat, and make their ears heavy, and shut their eyes; lest they see with their eyes, and hear with their ears, and understand with their heart, and convert, and be healed. Isaiah 6:8–10.

Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa phán: Ta sẽ sai ai đi, ai sẽ đi thay cho chúng ta? Tôi bèn thưa: Này con đây; xin sai con. Ngài phán: Hãy đi và nói với dân này: Các ngươi nghe thì có nghe, nhưng không hiểu; các ngươi nhìn thì có nhìn, nhưng không nhận biết. Hãy làm lòng dân này chai lì, làm tai họ nặng nề, và khép mắt họ lại, kẻo họ thấy bằng mắt mình, nghe bằng tai mình, hiểu bằng lòng mình, rồi trở lại và được chữa lành. Ê-sai 6:8-10.

The people being addressed in Isaiah chapter six, are those who profess to be in the “present truth” message that arrived on September 11, 2001, for Isaiah six marks the passage as occurring when “the earth is full of the glory of the Lord”. The earth was lightened with God’s glory when the angel of Revelation eighteen descended when the great buildings of New York City were thrown down by a touch from God.

Những người được Ê-sai đoạn sáu hướng đến là những người xưng mình thuộc về sứ điệp “lẽ thật hiện tại” đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, vì Ê-sai đoạn sáu cho thấy sự kiện ấy xảy ra khi “trái đất đầy dẫy vinh hiển của Chúa”. Trái đất đã được chiếu sáng bởi vinh hiển của Đức Chúa Trời khi thiên sứ của Khải Huyền đoạn mười tám giáng xuống, khi những tòa nhà lớn ở Thành phố New York bị đánh sập bởi một sự chạm tay của Đức Chúa Trời.

In the year that king Uzziah died I saw also the Lord sitting upon a throne, high and lifted up, and his train filled the temple. Above it stood the seraphims: each one had six wings; with twain he covered his face, and with twain he covered his feet, and with twain he did fly. And one cried unto another, and said, Holy, holy, holy, is the Lord of hosts: the whole earth is full of his glory. And the posts of the door moved at the voice of him that cried, and the house was filled with smoke. Isaiah 6:1–4.

Năm vua U-xi-a băng hà, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi, cao và được tôn cao; vạt áo Ngài đầy dẫy đền thờ. Phía trên Ngài có các Sê-ra-phim đứng; mỗi con có sáu cánh: với hai cánh nó che mặt, với hai cánh nó che chân, và với hai cánh nó bay. Chúng gọi nhau mà rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân; khắp đất đầy dẫy vinh quang Ngài. Các trụ cửa rung động bởi tiếng kêu của người ấy, và đền thờ đầy khói. Ê-sai 6:1-4.

Sister White connects the angel’s proclamation with the event that marks when the angel of Revelation chapter eighteen fills the earth with his glory.

Bà White liên kết lời công bố của thiên sứ với biến cố đánh dấu thời điểm khi thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười tám làm cho đất đầy dẫy vinh quang của mình.

“When God was about to send Isaiah with a message to His people, He first permitted the prophet to look in vision into the holy of holies within the sanctuary. Suddenly the gate and the inner veil of the temple seemed to be uplifted or withdrawn, and he was permitted to gaze within, upon the holy of holies, where even the prophet’s feet might not enter. There rose before him a vision of Jehovah sitting upon a throne high and lifted up, while the train of His glory filled the temple. Around the throne were seraphim, as guards about the great King, and they reflected the glory that surrounded them. As their songs of praise resounded in deep notes of adoration, the pillars of the gate trembled, as if shaken by an earthquake. With lips unpolluted by sin, these angels poured forth the praises of God. ‘Holy, holy, holy, is the Lord of hosts,’ they cried; ‘the whole earth is full of His glory.’ [See Isaiah 6:1–8.]

"Khi Đức Chúa Trời sắp sai Ê-sai đem một sứ điệp đến với dân Ngài, Ngài trước hết cho phép nhà tiên tri, trong khải tượng, nhìn vào Nơi Chí Thánh trong đền thờ. Bỗng nhiên, cửa và bức màn bên trong của đền thờ dường như được nhấc lên hoặc kéo ra, và ông được phép nhìn vào bên trong, vào Nơi Chí Thánh, nơi mà ngay cả chân của nhà tiên tri cũng không thể bước vào. Trước mặt ông hiện ra khải tượng về Đức Giê-hô-va ngự trên một ngai cao và được tôn lên, còn vạt áo vinh hiển của Ngài thì đầy dẫy đền thờ. Chung quanh ngai có các Sê-ra-phim, như những vệ binh quanh vị Đại Vương, và họ phản chiếu vinh quang bao phủ họ. Khi những bài ca ngợi khen của họ vang lên bằng những âm hưởng sâu thẳm của sự tôn thờ, các trụ cửa rung chuyển, như thể bị động đất lay. Với đôi môi không vẩn đục bởi tội lỗi, các thiên sứ ấy tuôn đổ lời ngợi khen Đức Chúa Trời. 'Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Đức Giê-hô-va vạn quân,' họ kêu lên; 'cả trái đất đầy dẫy vinh quang của Ngài.' [Xem Ê-sai 6:1-8.]"

“The seraphim around the throne are so filled with reverential awe as they behold the glory of God, that they do not for an instant look upon themselves with admiration. Their praise is for the Lord of hosts. As they look into the future, when the whole earth shall be filled with His glory, the triumphant song is echoed from one to another in melodious chant, ‘Holy, holy, holy, is the Lord of hosts.’” Gospel Workers, 21.

Các sê-ra-phim quanh ngai tràn đầy sự kính sợ tôn nghiêm khi chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Trời, đến nỗi họ không một thoáng nào nhìn chính mình với sự ngưỡng mộ. Lời ngợi khen của họ dành cho Chúa các đạo binh. Khi họ nhìn vào tương lai, khi cả trái đất sẽ tràn đầy vinh quang của Ngài, bài ca khải hoàn vang dội từ vị này sang vị khác trong khúc tụng ca du dương: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Chúa các đạo binh.” Gospel Workers, 21.

Isaiah, representing God’s people during the sealing time that began on September 11, 2001, was given a message to carry to a people who had eyes, but did not choose to see, and ears, but did not choose to hear. Jesus, as Alpha and Omega, illustrates the end of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand with the beginning. At the end there will again be a messenger represented by Isaiah who carries a message to a people who choose not to see and hear. That message will produce the final purging of the one hundred and forty-four thousand. The message is the words of Truth, that are brought from God’s prophetic testimony. That prophetic testimony is the “vision” that is established by the power symbolized as “the robbers of thy people”.

Ê-sai, đại diện cho dân của Đức Chúa Trời trong thời kỳ đóng ấn bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, đã được trao một sứ điệp để mang đến cho một dân có mắt mà không muốn thấy, có tai mà không muốn nghe. Giê-su, với tư cách là Alpha và Omega, minh họa phần kết thúc của thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn bằng phần khởi đầu. Vào phần cuối, sẽ lại có một sứ giả, được Ê-sai đại diện, mang một sứ điệp đến với một dân chọn không thấy và không nghe. Sứ điệp ấy sẽ tạo nên sự thanh lọc cuối cùng của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Sứ điệp ấy là những lời của lẽ thật, được đem ra từ lời chứng tiên tri của Đức Chúa Trời. Lời chứng tiên tri ấy là “khải tượng” được thiết lập bởi quyền lực được tượng trưng là “những kẻ cướp của dân ngươi”.

In the next article we will take each of these controversies and lay them over each other in a line-upon-line fashion. The Millerite line, the Smith and White line, the “daily” line, the “king of the north” in 1989 line, the insects of Joel line and the current controversy. Six old controversies, which when viewed line-upon-line clearly uphold the truth of the first controversy which is represented upon the 1843 pioneer chart. That truth being that Rome is “the robbers of thy people”, who exalt themselves, and who fall, and establish the vision.

Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ lấy từng tranh cãi này và đặt chúng chồng lên nhau theo kiểu dòng chồng dòng. Dòng Millerite, dòng Smith và White, dòng “hằng ngày”, dòng “vua phương bắc” năm 1989, dòng “côn trùng của Joel” và tranh cãi hiện tại. Sáu cuộc tranh cãi xưa, mà khi được xem xét theo cách dòng chồng dòng, rõ ràng củng cố lẽ thật của cuộc tranh cãi thứ nhất, điều được trình bày trên biểu đồ tiên phong năm 1843. Lẽ thật đó là rằng La Mã là “kẻ cướp của dân ngươi”, kẻ tự tôn mình, rồi sụp đổ, và khiến khải tượng được xác lập.

“I have seen that the 1843 chart was directed by the hand of the Lord, and that it should not be altered; that the figures were as He wanted them; that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until His hand was removed.” Early Writings, 74.

Tôi đã thấy rằng biểu đồ năm 1843 đã được bàn tay của Chúa hướng dẫn, và rằng nó không nên bị thay đổi; rằng các con số đúng như Ngài muốn; rằng tay Ngài đã bao phủ và che giấu một sai lầm trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi tay Ngài được dời đi. Những Bài Viết Sớm, 74.

To reject the truths upon that chart is to simultaneously reject the authority of the Spirit of Prophecy, and the chart identifies that it is Rome, not the United States, who establishes “the vision”, which is the vision that Solomon instructs us that without that “vision”, God’s people will perish.

Khước từ những lẽ thật trên biểu đồ đó tức là đồng thời chối bỏ thẩm quyền của Thần Linh của Lời Tiên Tri, và biểu đồ chỉ ra rằng chính Rô-ma, chứ không phải Hoa Kỳ, thiết lập “khải tượng”—đó là khải tượng mà Sa-lô-môn dạy rằng nếu không có “khải tượng” ấy, dân của Đức Chúa Trời sẽ diệt vong.

“Satan is . . . constantly pressing in the spurious—to lead away from the truth. The very last deception of Satan will be to make of none effect the testimony of the Spirit of God. ‘Where there is no vision, the people perish’ (Proverbs 29:18). Satan will work ingeniously, in different ways and through different agencies, to unsettle the confidence of God’s remnant people in the true testimony.

"Sa-tan thì ... liên tục đưa những điều giả mạo vào—để dẫn lạc khỏi lẽ thật. Sự lừa dối sau cùng của Sa-tan sẽ là làm cho lời chứng của Đức Thánh Linh trở nên vô hiệu. 'Nơi nào không có khải tượng, dân chúng bị diệt vong' (Châm-ngôn 29:18). Sa-tan sẽ hành động một cách xảo quyệt, bằng nhiều cách và qua nhiều tác nhân khác nhau, để làm lung lay sự tin cậy của dân sót của Đức Chúa Trời vào lời chứng chân thật."

“There will be a hatred kindled against the Testimonies which is satanic. The workings of Satan will be to unsettle the faith of the churches in them, for this reason: Satan cannot have so clear a track to bring in his deceptions and bind up souls in his delusions if the warnings and reproofs and counsels of the Spirit of God are heeded.” Selected Messages, book 1, 48.

Sẽ có một mối căm ghét mang tính Sa-tan bùng lên chống lại các Chứng Ngôn. Những hoạt động của Sa-tan sẽ nhằm làm lung lay đức tin của các hội thánh đối với chúng, vì lý do này: Sa-tan không thể có một lối đi thông thoáng đến thế để đưa những sự lừa dối của nó vào và trói buộc các linh hồn trong những mê lầm của nó, nếu những lời cảnh cáo, khiển trách và lời khuyên của Thánh Linh Đức Chúa Trời được tuân theo. Những Sứ điệp được chọn, quyển 1, 48.

“One who sees beneath the surface, who reads the hearts of all men, says of those who have had great light: ‘They are not afflicted and astonished because of their moral and spiritual condition.’ Yea, they have chosen their own ways, and their soul delighteth in their abominations. I also will choose their delusions, and will bring their fears upon them; because when I called, none did answer; when I spake, they did not hear: but they did evil before Mine eyes, and chose that in which I delighted not.’ ‘God shall send them strong delusion, that they should believe a lie,’ because they received not the love of the truth, that they might be saved,’ ‘but had pleasure in unrighteousness.’ Isaiah 66:3, 4; 2 Thessalonians 2:11, 10, 12.

"Đấng thấy điều ẩn kín, Đấng thấu suốt lòng mọi người, phán về những kẻ đã nhận được ánh sáng lớn: 'Chúng chẳng buồn khổ và kinh ngạc vì tình trạng đạo đức và thuộc linh của mình.' Phải, chúng đã chọn đường lối riêng mình, và linh hồn chúng vui thích trong những điều gớm ghiếc của chúng. Ta cũng sẽ chọn sự mê lầm cho chúng, và sẽ giáng những điều chúng sợ hãi trên chúng; vì khi Ta gọi, chẳng ai đáp; khi Ta phán, chúng chẳng nghe; nhưng chúng đã làm điều ác trước mắt Ta, và đã chọn điều Ta chẳng đẹp lòng.' 'Đức Chúa Trời sẽ khiến họ mắc phải sự mê lầm mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá,' vì họ đã không nhận tình yêu của lẽ thật, để họ được cứu,' 'nhưng lại vui thích trong điều bất nghĩa.' Ê-sai 66:3, 4; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11, 10, 12."

“The heavenly Teacher inquired: ‘What stronger delusion can beguile the mind than the pretense that you are building on the right foundation and that God accepts your works, when in reality you are working out many things according to worldly policy and are sinning against Jehovah? Oh, it is a great deception, a fascinating delusion, that takes possession of minds when men who have once known the truth, mistake the form of godliness for the spirit and power thereof; when they suppose that they are rich and increased with goods and in need of nothing, while in reality they are in need of everything.’” Testimonies, volume 8, 249, 250.

"Vị Thầy trên trời đã hỏi: 'Có sự mê hoặc nào mạnh mẽ hơn có thể đánh lừa tâm trí bằng sự giả vờ rằng bạn đang xây dựng trên nền tảng đúng đắn và rằng Đức Chúa Trời chấp nhận các việc làm của bạn, trong khi thực tế bạn đang tiến hành nhiều điều theo sách lược thế gian và phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va? Ôi, ấy là một sự lừa dối lớn, một sự mê hoặc quyến rũ, chiếm lấy tâm trí khi những người đã từng biết lẽ thật lại lầm lẫn hình thức của sự tin kính với tinh thần và quyền năng của nó; khi họ tưởng rằng mình giàu có, thêm của cải và chẳng cần chi hết, trong khi thực ra họ đang cần mọi sự.'" Testimonies, tập 8, 249, 250.