In the last article we identified six prophetic lines of controversy which have occurred in the history of Adventism from the Millerite time period until the present day. I contend the first and the last controversy over the “robbers of thy people” in verse fourteen of Daniel chapter eleven are prophetically identical. The Millerites understood the “robbers” to be Rome, and the Protestants taught the “robbers” were a Syrian king named Antiochus Epiphanes.
Trong bài viết trước, chúng tôi đã xác định sáu chủ đề tranh cãi mang tính tiên tri đã diễn ra trong lịch sử của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm từ thời kỳ Millerite cho đến ngày nay. Tôi cho rằng cuộc tranh cãi đầu tiên và cuối cùng liên quan đến “những kẻ cướp dân ngươi” trong câu mười bốn của chương mười một sách Đa-ni-ên là giống hệt nhau về mặt tiên tri. Những người Millerite hiểu “những kẻ cướp” là La Mã, còn những người Tin Lành dạy rằng “những kẻ cướp” là một vị vua Syria tên là Antiochus Epiphanes.
And in those times there shall many stand up against the king of the south: also the robbers of thy people shall exalt themselves to establish the vision; but they shall fall. Daniel 11:14.
Trong thời ấy sẽ có nhiều người đứng lên chống lại vua phương nam; cả những kẻ cướp trong dân ngươi cũng sẽ tự tôn mình lên để làm cho khải tượng được ứng nghiệm; nhưng rồi chúng sẽ thất bại. Đa-ni-ên 11:14.
Beginning in verse ten, and continuing through verse fifteen a warfare between the kingdoms of Egypt and Syria is represented. Egypt is the king of the south in the passage, and the Syrian king is represented as the king of the north. Verse ten identifies what the historians call the beginning of the Fourth Syrian war in 219 BC, verses eleven and twelve represent the battle of Raphia in 217 BC, and its aftermath. Then verses thirteen through fifteen identify the battle of Panium in 200 BC. In verses ten through fifteen the Syrian king is Antiochus Magnus, ruler of the Seleucid Empire.
Bắt đầu từ câu mười và kéo dài đến câu mười lăm, một cuộc chiến tranh giữa các vương quốc Ai Cập và Syria được mô tả. Ai Cập là vua phương nam trong đoạn này, còn vua Syria được xem là vua phương bắc. Câu mười nêu điều mà các sử gia gọi là khởi đầu của Chiến tranh Syria lần thứ tư vào năm 219 TCN; các câu mười một và mười hai mô tả trận Raphia năm 217 TCN và hậu quả của nó. Sau đó, các câu mười ba đến mười lăm đề cập đến trận Panium năm 200 TCN. Trong các câu từ mười đến mười lăm, vua Syria là Antiochus Magnus, người trị vì Đế quốc Seleucid.
Verse ten represents the history when Antiochus Magnus begins a war to regain territory that was taken from the Seleucid kingdom years before. In the verse he regains the lost territory in 219 BC, but he temporarily ceases his aggressions, and seeks to regroup his military strength. He had regained control of the lost territory, and made it all the way to the border of Egypt, the southern kingdom ruled by the Ptolemy dynasty. Between 219 BC and 217 BC, both the king of the south and the king of the north made plans for the approaching battle of Raphia.
Câu mười mô tả giai đoạn lịch sử khi Antiochus Magnus bắt đầu một cuộc chiến nhằm giành lại lãnh thổ đã bị lấy khỏi vương quốc Seleucid nhiều năm trước. Trong câu đó, ông giành lại phần lãnh thổ đã mất vào năm 219 TCN, nhưng tạm thời ngừng các hành động gây hấn và tìm cách tái tập hợp sức mạnh quân sự. Ông đã giành lại quyền kiểm soát vùng lãnh thổ bị mất và tiến tới tận biên giới Ai Cập, vương quốc phương nam do triều đại Ptolemy cai trị. Từ năm 219 TCN đến 217 TCN, cả vua phương nam lẫn vua phương bắc đều lập kế hoạch cho trận Raphia sắp diễn ra.
The battle of Raphia took place in 217 BC, and the southern kingdom of Egypt, ruled by Ptolemy prevailed over the Syrian king Antiochus Magnus, king of the north in the prophetic passage. Then in verses thirteen through fifteen, seventeen years later in 200 BC, Antiochus Magnus, who had then formed an alliance with Philip of Macedon engaged Egypt in the battle of Panium. The southern kingdom of Egypt then had a child king of five or six years old, and Antiochus Magnis and Philip could not resist taking advantage of the child king of Egypt, and Antiochus Magnus prevailed in the battle of Panium. The three verses that represent the battle of Panium contain verse fourteen, where a new power is introduced into the prophetic narrative.
Trận Raphia diễn ra vào năm 217 TCN, và vương quốc phương nam là Ai Cập, do Ptolemy cai trị, đã đánh bại vua Syria Antiochus Magnus, tức vua phương bắc trong đoạn tiên tri. Sau đó, trong các câu mười ba đến mười lăm, mười bảy năm sau, vào năm 200 TCN, Antiochus Magnus, khi ấy đã liên minh với Philip xứ Macedonia, giao chiến với Ai Cập trong trận Panium. Khi đó vương quốc phương nam là Ai Cập có một vị vua nhi đồng khoảng năm hoặc sáu tuổi, và Antiochus Magnus cùng Philip đã không bỏ lỡ cơ hội lợi dụng vị vua nhỏ tuổi của Ai Cập, và Antiochus Magnus đã giành thắng lợi trong trận Panium. Ba câu mô tả trận Panium có câu mười bốn, nơi một quyền lực mới được giới thiệu vào tường thuật tiên tri.
The robbers of thy people are a different power than the Egyptian king of the south, or the Seleucid king of the north, or Philip the Macedonian ruler. The Millerites recognized that Rome is the robbers of thy people. One of the Hebrew root words that is translated as “robbers,” means breaker. Pagan Rome is represented in prophecy as the power who would break in pieces.
Những kẻ cướp của dân ngươi là một thế lực khác với vua Ai Cập ở phương Nam, hoặc vua Seleucid ở phương Bắc, hoặc Philip, vị cai trị Macedonia. Những người Millerite nhận ra rằng La Mã chính là những kẻ cướp của dân ngươi. Một trong các từ gốc Hê-bơ-rơ được dịch là "robbers" có nghĩa là kẻ bẻ gãy. La Mã ngoại giáo được trình bày trong lời tiên tri như một thế lực sẽ đập tan thành từng mảnh.
After this I saw in the night visions, and behold a fourth beast, dreadful and terrible, and strong exceedingly; and it had great iron teeth: it devoured and brake in pieces, and stamped the residue with the feet of it: and it was diverse from all the beasts that were before it; and it had ten horns. Daniel 7:7.
Sau đó tôi thấy trong những khải tượng ban đêm, kìa, một con thú thứ tư, đáng sợ và kinh khiếp, vô cùng mạnh mẽ; nó có những chiếc răng sắt lớn; nó ăn nuốt và nghiền nát, rồi dùng chân nó giày đạp phần còn lại; nó khác hẳn mọi con thú đã có trước nó; và nó có mười sừng. Đa-ni-ên 7:7.
When Uriah Smith comments on the robbers, he quotes a historian who points out that robbers represent breakers.
Khi Uriah Smith bình luận về những kẻ cướp, ông trích dẫn một nhà sử học chỉ ra rằng những kẻ cướp đại diện cho những kẻ phá vỡ.
“A new power is now introduced,—‘the robbers of thy people;’ literally, says Bishop Newton, ‘the breakers of thy people.’ Far away on the banks of the Tiber, a kingdom had been nourishing itself with ambitious projects and dark designs. Small and weak at first, it grew with marvelous rapidity in strength and vigor, reaching out cautiously here and there to try its prowess, and test the vigor of its warlike arm, till, conscious of its power, it boldly reared its head among the nations of the earth, and seized with invincible hand the helm of their affairs. Henceforth the name of Rome stands upon the historic page, destined for long ages to control the affairs of the world, and exert a mighty influence among the nations even to the end of time.
Một quyền lực mới nay được giới thiệu — 'những kẻ cướp của dân ngươi'; theo nghĩa đen, Giám mục Newton nói, 'những kẻ bẻ gãy dân ngươi.' Ở nơi xa xôi bên bờ sông Tiber, một vương quốc đã ấp ủ những dự đồ tham vọng và mưu tính đen tối. Ban đầu nhỏ bé và yếu ớt, nó lớn lên với tốc độ kỳ diệu về sức mạnh và sinh lực, thận trọng vươn ra chỗ này chỗ khác để thử oai lực và thử sức cánh tay chiến chinh của mình, cho đến khi, ý thức được quyền lực của mình, nó hiên ngang ngẩng cao đầu giữa các dân tộc trên thế gian và, bằng bàn tay vô địch, nắm quyền điều khiển công việc của họ. Từ đây, tên tuổi La Mã đứng trên trang sử, được định sẵn qua bao thời đại để chi phối công việc của thế giới và gây ảnh hưởng to lớn giữa các dân tộc cho đến tận cùng thời gian.
“Rome spoke; and Syria and Macedonia soon found a change coming over the aspect of their dream. The Romans interfered in behalf of the young king of Egypt, determined that he should be protected from the ruin devised by Antiochus and Philip. This was BC 200, and was one of the first important interferences of the Romans in the affairs of Syria and Egypt.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 257.
“Rô-ma đã lên tiếng; và Sy-ri cùng Ma-xê-đoan chẳng bao lâu nhận thấy một sự thay đổi đang đến trên diện mạo của giấc mộng họ. Người La Mã đã can thiệp để bênh vực vị vua trẻ của Ai Cập, quyết định rằng ông phải được bảo vệ khỏi sự diệt vong do Antiochus và Philip mưu toan gây nên. Đây là năm 200 trước Công nguyên, và là một trong những sự can thiệp quan trọng đầu tiên của người La Mã vào công việc của Sy-ri và Ai Cập.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 257.
The prediction set forth in the verses was fulfilled in roughly twenty years from 219 BC unto 200 BC, but the prophets speak more about the last days than the days in which they lived.
Lời tiên đoán được nêu trong các câu đã ứng nghiệm trong khoảng hai mươi năm, từ năm 219 TCN đến năm 200 TCN, nhưng các nhà tiên tri nói nhiều về những ngày cuối cùng hơn là về thời họ đang sống.
“Each of the ancient prophets spoke less for their own time than for ours, so that their prophesying is in force for us. ‘Now all these things happened unto them for ensamples: and they are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come.’ 1 Corinthians 10:11. ‘Not unto themselves, but unto us they did minister the things, which are now reported unto you by them that have preached the gospel unto you with the Holy Ghost sent down from heaven; which things the angels desire to look into.’ 1 Peter 1:12. . . .
“Mỗi vị tiên tri thời xưa nói cho thời đại của chúng ta nhiều hơn là cho chính thời đại của họ, đến nỗi lời tiên tri của họ còn nguyên hiệu lực đối với chúng ta. ‘Vả, mọi sự đó đã xảy đến cho họ để làm gương cho chúng ta; và đã được chép lại để răn dạy chúng ta là những kẻ đang sống trong thời cuối cùng của thế gian.’ 1 Cô-rinh-tô 10:11. ‘Ấy không phải cho chính mình họ, nhưng là cho chúng ta mà họ đã phục vụ những điều nay đã được rao truyền cho anh em bởi những người đã giảng Tin Lành cho anh em nhờ Đức Thánh Linh từ trời sai xuống; là những điều mà chính các thiên sứ cũng ước ao được xem thấu.’ 1 Phi-e-rơ 1:12....”
“The Bible has accumulated and bound up together its treasures for this last generation. All the great events and solemn transactions of Old Testament history have been, and are, repeating themselves in the church in these last days.” Selected Messages, book 3, 338, 339.
Kinh Thánh đã tích lũy và gom góp các kho tàng của mình lại cho thế hệ sau rốt này. Mọi biến cố trọng đại và những sự việc trang nghiêm trong lịch sử Cựu Ước đã và đang tái diễn trong hội thánh trong những ngày sau rốt này. Selected Messages, quyển 3, 338, 339.
Although Daniel did not live in the twenty-year time period we are considering, inspiration through the writings of Sister White informs is that much of the history recorded in Daniel eleven is to be repeated in the final fulfillment of Daniel eleven.
Mặc dù Đa-ni-ên không sống trong khoảng thời gian hai mươi năm mà chúng ta đang xem xét, sự soi dẫn qua các trước tác của Bà White cho chúng ta biết rằng phần lớn lịch sử được ghi lại trong Đa-ni-ên chương 11 sẽ được tái diễn trong sự ứng nghiệm cuối cùng của Đa-ni-ên chương 11.
“We have no time to lose. Troublous times are before us. The world is stirred with the spirit of war. Soon the scenes of trouble spoken of in the prophecies will take place. The prophecy in the eleventh of Daniel has nearly reached its complete fulfillment. Much of the history that has taken place in fulfillment of this prophecy will be repeated.” Manuscript Releases, number 13, 394.
"Chúng ta không còn thời gian để lãng phí. Những thời buổi rối ren đang ở trước mắt chúng ta. Cả thế giới đang sục sôi tinh thần chiến tranh. Chẳng bao lâu nữa, những cảnh hoạn nạn được nhắc đến trong các lời tiên tri sẽ xảy ra. Lời tiên tri trong đoạn mười một của sách Đa-ni-ên hầu như đã được ứng nghiệm trọn vẹn. Phần lớn những sự kiện lịch sử đã xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri này sẽ lặp lại." Manuscript Releases, số 13, 394.
Verses ten through fifteen of Daniel eleven represent the history of the last days which leads up to the soon-coming Sunday law, for verse sixteen identifies when Rome, for the first time, conquered the “glorious land.”
Các câu mười đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một tường thuật lịch sử của thời kỳ sau rốt dẫn đến luật ngày Chủ nhật sắp đến, vì câu mười sáu xác định khi Rô-ma lần đầu tiên chinh phục "đất vinh hiển".
But he that cometh against him shall do according to his own will, and none shall stand before him: and he shall stand in the glorious land, which by his hand shall be consumed. Daniel 11:16.
Nhưng kẻ đến chống lại hắn sẽ làm theo ý riêng mình, và không ai có thể đứng vững trước mặt hắn; hắn sẽ đứng trong đất vinh hiển, và đất ấy sẽ bị tay hắn tiêu hao. Đa-ni-ên 11:16.
Daniel employs the expression “glorious land” twice in his writings. The first is verse sixteen, when literal pagan Rome conquered the literal glorious land of Judah.
Daniel dùng cụm từ "xứ vinh hiển" hai lần trong các trước tác của mình. Lần thứ nhất là ở câu mười sáu, khi La Mã ngoại giáo theo nghĩa đen đã chinh phục xứ vinh hiển theo nghĩa đen của Giu-đa.
“Although Egypt could not stand before Antiochus, the king of the north, Antiochus could not stand before the Romans, who now came against him. No kingdoms were longer able to resist this rising power. Syria was conquered, and added to the Roman empire, when Pompey, BC 65, deprived Antiochus Asiaticus of his possessions, and reduced Syria to a Roman province.
“Mặc dù Ai Cập không thể đứng vững trước Antiochus, vua phương bắc, nhưng Antiochus cũng không thể đứng vững trước người La Mã, là những kẻ nay đến chống lại ông. Không còn vương quốc nào có thể chống cự quyền lực đang trỗi dậy này. Syria đã bị chinh phục và được sáp nhập vào đế quốc La Mã khi Pompey, năm 65 TCN, tước đoạt các lãnh thổ của Antiochus Asiaticus và hạ Syria xuống thành một tỉnh của La Mã.
“The same power was also to stand in the Holy Land, and consume it. Rome became connected with the people of God, the Jews, by alliance, BC 162, from which date it holds a prominent place in the prophetic calendar. It did not, however, acquire jurisdiction over Judea by actual conquest till BC 63; and then in the following manner.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 259.
“Cùng một quyền lực ấy cũng sẽ đứng trong Đất Thánh, và tàn phá nó. La Mã đã kết liên với dân sự Đức Chúa Trời, tức người Do Thái, bằng một minh ước vào năm 162 TCN; từ mốc ấy, nó giữ một vị trí nổi bật trong niên biểu tiên tri. Tuy nhiên, mãi đến năm 63 TCN, nó mới thực sự giành được quyền cai trị trên xứ Giu-đê bằng chinh phục; và điều đó đã xảy ra theo cách sau đây.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 259.
The other verse where Daniel employs the “glorious land” is in verse forty-one.
Câu còn lại mà Daniel dùng cụm “đất vinh hiển” là câu bốn mươi mốt.
He shall enter also into the glorious land, and many countries shall be overthrown: but these shall escape out of his hand, even Edom, and Moab, and the chief of the children of Ammon. Daniel 11:41.
Người cũng sẽ vào xứ vinh hiển, và nhiều nước sẽ bị lật đổ; nhưng sẽ thoát khỏi tay người: Edom, Moab, và người đứng đầu của con cái Ammon. Daniel 11:41.
Verse forty-one of course follows verse forty, and verse forty begins with the words “and at the time of the end.” In The Great Controversy, Sister White identifies 1798 as the “time of the end,” so verse forty-one is identifying history that follows after the time of the end in 1798.
Câu bốn mươi mốt dĩ nhiên theo sau câu bốn mươi, và câu bốn mươi bắt đầu bằng cụm từ “và vào thời kỳ cuối cùng.” Trong The Great Controversy, Bà White xác định năm 1798 là “thời kỳ cuối cùng”, vì vậy câu bốn mươi mốt đang xác định lịch sử diễn ra sau thời kỳ cuối cùng vào năm 1798.
“But at the time of the end, says the prophet, “Many shall run to and fro, and knowledge shall be increased.’ Daniel 12:4. . . . Since 1798 the book of Daniel has been unsealed, knowledge of the prophecies has increased, and many have proclaimed the solemn message of the judgment near.” The Great Controversy, 356.
“Nhưng đến thời kỳ cuối cùng,” nhà tiên tri nói, “Nhiều người sẽ chạy qua chạy lại, và sự hiểu biết sẽ gia tăng.” Đa-ni-ên 12:4. ... Kể từ năm 1798, sách Đa-ni-ên đã được mở ấn, sự hiểu biết về các lời tiên tri đã gia tăng, và nhiều người đã rao giảng sứ điệp trọng thể rằng sự phán xét đã gần.” Cuộc Đại Tranh Luận, 356.
The glorious land of verse forty-one is not literal ancient Judah of old, but spiritual modern Judah. The United States is spiritual modern Judah, and verse forty-one is identifying the soon-coming Sunday law in the United States.
Xứ vinh hiển trong câu bốn mươi mốt không phải là Giu-đa cổ xưa theo nghĩa đen, mà là Giu-đa hiện đại thuộc linh. Hoa Kỳ là Giu-đa hiện đại thuộc linh, và câu bốn mươi mốt đang chỉ ra luật Chủ nhật sắp đến tại Hoa Kỳ.
Howbeit that was not first which is spiritual, but that which is natural; and afterward that which is spiritual. 1 Corinthians 15:46.
Tuy nhiên, không phải cái thuộc linh đến trước, mà là cái thuộc thể; rồi sau đó mới đến cái thuộc linh. 1 Cô-rinh-tô 15:46.
That Sunday law is typified by verse sixteen, for “much of the history that has taken place” in the fulfillment of Daniel eleven is to be repeated. Verses ten through fifteen in the last days, represents the history preceding and leading up to the Sunday law.
Luật ngày Chủ nhật đó được tiêu biểu bởi câu mười sáu, vì “phần lớn các diễn tiến lịch sử đã xảy ra” trong sự ứng nghiệm của Đa-ni-ên 11 sẽ được lặp lại. Trong những ngày sau rốt, các câu mười đến mười lăm đại diện cho lịch sử đi trước và dẫn đến luật ngày Chủ nhật.
The king of the north in those five verses, as well as the king of the south who were fulfilled by the Seleucid king Antiochus Magnus and the Egyptian kings of the Ptolemaic kingdom, typify powers that are the focus of the history that leads to the soon-coming Sunday law. These verses identify the history of the movement of the one hundred and forty-four thousand, for verse ten identifies the collapse of the Soviet Union in 1989, and verse sixteen the soon-coming Sunday law.
Vua phương bắc trong năm câu ấy, cũng như vua phương nam (đã được ứng nghiệm qua vua Seleucid Antiochus Magnus và các vua Ai Cập của vương triều Ptolemaios), tiêu biểu cho những quyền lực là trọng tâm của lịch sử dẫn đến luật ngày Chủ nhật sắp đến. Những câu này chỉ ra lịch sử của phong trào một trăm bốn mươi bốn nghìn, vì câu mười chỉ ra sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1989, và câu mười sáu chỉ ra luật ngày Chủ nhật sắp đến.
Christ emphasizes these verses by aligning verse ten with verse forty and verse sixteen with verse forty-one. The direct reference to the literal glorious land which typifies the spiritual glorious land of verse forty-one is the end of the six verses, and verse ten is the beginning.
Đấng Christ nhấn mạnh những câu này bằng cách đặt câu mười tương ứng với câu bốn mươi và câu mười sáu với câu bốn mươi mốt. Sự nhắc đến trực tiếp về đất vinh hiển theo nghĩa đen—là hình bóng cho đất vinh hiển thuộc linh ở câu bốn mươi mốt—nằm ở phần kết của sáu câu, còn câu mười là phần mở đầu.
Just as Christ made sure verse sixteen has a direct connection with verse forty-one, and so too, verse ten has a direct connection with verse forty. The expression in verse ten “overflow, and pass through,” is the identical Hebrew phrase that is translated as “overflow and pass over,” in verse forty. The phrase is only found one other place in the Scriptures, but it is translated a little differently than verse ten and verse forty. Still, it is the same Hebrew phrase.
Cũng như Đấng Christ đã bảo đảm rằng câu mười sáu có mối liên hệ trực tiếp với câu bốn mươi mốt, thì câu mười cũng có mối liên hệ trực tiếp với câu bốn mươi. Cụm diễn đạt ở câu mười “tràn ngập, và đi qua” là cùng một cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “tràn ngập và vượt qua” ở câu bốn mươi. Cụm từ này chỉ được tìm thấy ở một chỗ khác trong Kinh Thánh, nhưng nó được dịch hơi khác so với câu mười và câu bốn mươi. Tuy vậy, đó vẫn là cùng một cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ.
And he shall pass through Judah; he shall overflow and go over, he shall reach even to the neck; and the stretching out of his wings shall fill the breadth of thy land, O Immanuel. Isaiah 8:8.
Và nó sẽ đi qua Giu-đa; nó sẽ tràn ngập và vượt qua, nó sẽ dâng lên đến tận cổ; và đôi cánh dang rộng của nó sẽ che phủ khắp bề rộng đất nước ngươi, hỡi Immanuel. Isaiah 8:8.
Isaiah’s “overflow and go over,” is the same as verse ten’s “overflow, and pass through,” and verse forty’s “overflow and pass over.” More than this, each of the three verses are describing an attack from the king of the north upon the king of the south. In Isaiah, the northern king of Assyria, Sennacherib, was attacking Judah, the southern kingdom of Israel. In verse ten Antiochus Magnus, the northern king of the Seleucid Empire was attacking the southern kingdom of Egypt. In verse forty, the king of the north, the papal power, who had received a deadly wound at the beginning of verse forty, was attacking the southern atheistic power of the Soviet Union. Each verse represents the same prophetic structure of a conflict between the kings of the north and south, and in each verse the northern king “overflows and passes over.”
Cụm “tràn ngập và đi qua” của Ê-sai giống với “tràn ngập và xuyên qua” ở câu mười và “tràn ngập và vượt qua” ở câu bốn mươi. Hơn nữa, cả ba câu đều mô tả một cuộc tấn công của vua phương bắc nhằm vào vua phương nam. Trong sách Ê-sai, vua phương bắc của A-si-ri, San-chê-ríp, đang tấn công Giu-đa, vương quốc phía nam của Y-sơ-ra-ên. Ở câu mười, Antiochus Magnus, vua phương bắc của Đế quốc Seleucid, đang tấn công vương quốc phương nam là Ai Cập. Ở câu bốn mươi, vua phương bắc, tức thế lực giáo hoàng, vốn đã nhận một vết thương chí tử ở phần đầu câu bốn mươi, đang tấn công thế lực vô thần ở phương nam là Liên Xô. Mỗi câu đều thể hiện cùng một cấu trúc tiên tri về cuộc xung đột giữa vua phương bắc và vua phương nam, và trong mỗi câu, vua phương bắc “tràn ngập và vượt qua.”
Isaiah’s testimony and verse ten both identify that when the northern king attacks he ceases before entering into the capital of the southern kingdom. Sennacherib brought his warfare to the walls of Jerusalem, and no further. In 219 BC, Antiochus Magnus came to the border of Egypt and stopped. Then he lost the battle of Raphia that occurred two years later in 217 BC. Sennacherib came to the walls of Jerusalem and lost the battle as God intervened.
Lời chứng của Isaiah và câu mười đều chỉ ra rằng khi vua phương bắc tấn công, ông dừng lại trước khi tiến vào thủ đô của vương quốc phương nam. Sennacherib đem cuộc chiến của mình đến tận tường thành Jerusalem, và không xa hơn nữa. Năm 219 TCN, Antiochus Magnus đến biên giới Ai Cập rồi dừng lại. Sau đó ông thua trận Raphia diễn ra hai năm sau, vào năm 217 TCN. Sennacherib đến tường thành Jerusalem và thua trận khi Đức Chúa Trời can thiệp.
Therefore thus saith the Lord concerning the king of Assyria, He shall not come into this city, nor shoot an arrow there, nor come before it with shield, nor cast a bank against it. By the way that he came, by the same shall he return, and shall not come into this city, saith the Lord. For I will defend this city, to save it, for mine own sake, and for my servant David’s sake. And it came to pass that night, that the angel of the Lord went out, and smote in the camp of the Assyrians an hundred fourscore and five thousand: and when they arose early in the morning, behold, they were all dead corpses. So Sennacherib king of Assyria departed, and went and returned, and dwelt at Nineveh. And it came to pass, as he was worshipping in the house of Nisroch his god, that Adrammelech and Sharezer his sons smote him with the sword: and they escaped into the land of Armenia. And Esarhaddon his son reigned in his stead. 2 Kings 19:32–37.
Vậy nên Đức Chúa phán về vua Assyria: Hắn sẽ không vào thành này, cũng chẳng bắn một mũi tên nào vào đó, chẳng đến trước nó với khiên, cũng chẳng đắp lũy chống lại nó. Nó đã đến đường nào, sẽ trở về đường ấy; nó sẽ không vào thành này, Đức Chúa phán vậy. Vì Ta sẽ bảo vệ thành này để cứu nó, vì cớ danh Ta và vì cớ tôi tớ Ta là Đa-vít. Đêm ấy, thiên sứ của Đức Chúa đi ra, đánh trong trại quân Assyria một trăm tám mươi lăm nghìn người; sáng sớm, khi họ dậy, kìa, tất cả đều là xác chết. Vậy Sennacherib, vua Assyria, nhổ trại, đi, trở về, và cư ngụ tại Nineveh. Xảy ra khi ông đang thờ lạy trong đền của thần mình là Nisroch, thì các con trai ông là Adrammelech và Sharezer dùng gươm giết ông; rồi chúng trốn sang xứ Armenia. Còn Esarhaddon, con trai ông, lên ngôi cai trị thay ông. 2 Các Vua 19:32-37.
In 1989, the king of the north swept away the Soviet Union, but he did not overcome the capital of the Soviet Union. Russia was left standing. The next battle, typified in verses eleven and twelve, was the battle of Raphia, which was also typified by the overthrow of Sennacherib’s army and his subsequent death which identifies a victory for the southern king, which was Judah in the testimony of Sennacherib, and Raphia in the testimony of Antiochus Magnus.
Năm 1989, vua phương bắc đã quét đi Liên Xô, nhưng ông đã không chiếm được thủ đô của Liên Xô. Nước Nga vẫn còn đứng vững. Trận chiến tiếp theo, được biểu trưng trong các câu mười một và mười hai, là trận Raphia, cũng được biểu trưng bởi sự đánh bại đạo quân của Sennacherib và cái chết sau đó của ông, điều này cho thấy chiến thắng thuộc về vua phương nam, vốn là Giu-đa trong lời tường thuật của Sennacherib, và là Raphia trong lời tường thuật của Antiochus Magnus.
Verse ten provides a direct connection to verse forty and verse sixteen provides a direct connection with verse forty-one. Verses ten through sixteen represent the history of 1989 unto the Sunday law. The verse represents a hidden history in verse forty that begins with the collapse of the Soviet Union in 1989 and continues unto the Sunday law. Verse ten also directly connects the “seven times” of Leviticus twenty-six to the hidden history, but that line of truth is outside what we are here setting forth.
Câu mười cho thấy mối liên hệ trực tiếp với câu bốn mươi, và câu mười sáu cho thấy mối liên hệ trực tiếp với câu bốn mươi mốt. Các câu từ mười đến mười sáu trình bày lịch sử từ năm 1989 cho đến luật ngày Chủ nhật. Câu ấy trình bày một lịch sử ẩn giấu trong câu bốn mươi, bắt đầu với sự sụp đổ của Liên Xô năm 1989 và tiếp diễn cho đến luật ngày Chủ nhật. Câu mười cũng liên hệ trực tiếp “bảy lần” của Lê-vi Ký hai mươi sáu với lịch sử ẩn giấu ấy, nhưng dòng lẽ thật đó nằm ngoài những gì chúng ta đang trình bày ở đây.
In Millerite history the first of six primary controversies within Adventism concerning the correct identification of Rome occurred, and it was over who the robbers of verse fourteen represented. The Protestants held they represented Antiochus Epiphanes, and the Millerites identified them as Rome. In the last controversy of Adventism concerning the correct identification of Rome it is also over the robbers of verse fourteen. One class, represented by the Millerites, is upholding the foundational understanding of the Millerites, which was endorsed by the Spirit of Prophecy.
Trong lịch sử Millerite, đã diễn ra cuộc tranh luận đầu tiên trong số sáu cuộc tranh luận chủ chốt trong phong trào Phục Lâm về việc xác định đúng Rô-ma, và cuộc tranh luận ấy xoay quanh việc những kẻ cướp trong câu mười bốn đại diện cho ai. Những người Tin Lành cho rằng họ đại diện cho Antiochus Epiphanes, còn những người Millerite xác định họ là Rô-ma. Trong cuộc tranh luận cuối cùng của Phục Lâm về việc xác định đúng Rô-ma, vấn đề cũng xoay quanh những kẻ cướp ở câu mười bốn. Một phe, được đại diện bởi những người Millerite, đang giữ vững sự hiểu biết nền tảng của người Millerite, điều đã được Thần Linh của Lời Tiên Tri xác nhận.
“I have seen that the 1843 chart was directed by the hand of the Lord, and that it should not be altered; that the figures were as He wanted them; that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until His hand was removed.” Early Writings, 74.
Tôi đã thấy rằng biểu đồ năm 1843 đã được bàn tay của Chúa hướng dẫn, và rằng nó không nên bị thay đổi; rằng các con số đúng như Ngài muốn; rằng tay Ngài đã bao phủ và che giấu một sai lầm trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi tay Ngài được dời đi. Những Bài Viết Sớm, 74.
That sacred chart identifies the controversy with the notation of 164 BC.
Biểu đồ thiêng liêng đó gắn cuộc tranh cãi với ký hiệu 164 TCN.
“164 Death of Antiochus Epiphanes, who of course, stood not up against the Prince of Princes, as he had been 164 yrs. dead before the Prince of Princes was born.”
164 Cái chết của Antiochus Epiphanes, người mà, tất nhiên, đã không đứng lên chống lại Hoàng tử của các hoàng tử, vì ông đã chết 164 năm trước khi Hoàng tử của các hoàng tử ra đời.
The reference of that controversy upon the sacred chart represents the only truth represented upon the sacred chart that is not based upon a prophetic passage from God’s Word. In doing so it identifies a waymark, not of biblical history, but of Advent history, and “it should not be altered,” for the controversy identifies how the prophetic vision is established. To reject that foundational truth is to simultaneously reject the authority of the Spirit of Prophecy’s endorsement of the sacred chart.
Sự nhắc đến cuộc tranh luận đó trên biểu đồ thiêng liêng là chân lý duy nhất được thể hiện trên biểu đồ thiêng liêng mà không dựa trên một đoạn tiên tri trong Lời Đức Chúa Trời. Qua đó, nó xác định một cột mốc, không phải của lịch sử Kinh Thánh, mà của lịch sử Phục Lâm, và "nó không nên bị thay đổi," vì cuộc tranh luận ấy chỉ ra cách thức khải tượng tiên tri được thiết lập. Khước từ chân lý nền tảng ấy đồng thời cũng là khước từ thẩm quyền của sự xác nhận do Thần Linh của Lời Tiên Tri dành cho biểu đồ thiêng liêng.
“The very last deception of Satan will be to make of none effect the testimony of the Spirit of God. ‘Where there is no vision, the people perish’ (Proverbs 29:18). Satan will work ingeniously, in different ways and through different agencies, to unsettle the confidence of God’s remnant people in the true testimony. He will bring in spurious visions to mislead, and will mingle the false with the true, and so disgust people that they will regard everything that bears the name of visions as a species of fanaticism; but honest souls, by contrasting false and true, will be enabled to distinguish between them.” Selected Messages, book 2, 78.
Sự lừa dối sau cùng của Sa-tan sẽ là làm cho lời chứng của Thánh Linh Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu. ‘Nơi nào không có khải tượng, dân sự diệt vong’ (Châm Ngôn 29:18). Sa-tan sẽ hoạt động một cách xảo quyệt, bằng nhiều cách khác nhau và qua nhiều phương tiện cùng tay sai khác nhau, để làm lung lay lòng tin của dân sót lại của Đức Chúa Trời vào lời chứng chân thật. Hắn sẽ đưa vào những khải tượng giả mạo để đánh lừa, và sẽ trộn lẫn giả với thật, khiến người ta chán ghét đến nỗi họ coi mọi điều mang tên khải tượng như một loại cuồng tín; nhưng những linh hồn chân thật, bằng cách đối chiếu giả và thật, sẽ phân biệt được giữa chúng. Những Sứ Điệp Chọn Lọc, quyển 2, 78.
The last controversy of “the robbers of thy people”, is the same as the first, and without an understanding of the symbol which establishes the vision, “the people perish.” They “perish” because they “make of none effect the testimony of the Spirit of God.”
Cuộc tranh chấp cuối cùng của "những kẻ cướp của dân ngươi" cũng giống như cuộc đầu tiên, và nếu không hiểu biểu tượng thiết lập khải tượng, "dân sự sẽ diệt vong." Họ "diệt vong" vì họ "làm cho lời chứng của Thần Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu."
The other class claims that the United States is represented as the robbers of verse fourteen. That class is unable or unwilling to see that Antiochus Magnus in verses ten through fifteen represents the United States. Just as the Protestants of Millerite history claimed the robbers were Antiochus, the class who is unwilling to see identifies the robbers as the power (the United States) that is typified by Antiochus.
Nhóm còn lại cho rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được mô tả là những kẻ cướp ở câu mười bốn. Nhóm đó không thể hoặc không muốn nhận ra rằng Antiochus Magnus trong các câu mười đến mười lăm đại diện cho Hoa Kỳ. Cũng như những người Tin Lành trong lịch sử Millerite cho rằng những kẻ cướp là Antiochus, nhóm không chịu nhìn nhận xác định những kẻ cướp là quyền lực (Hoa Kỳ) được Antiochus tượng trưng.
Sennacherib’s attack upon Judah that reached to the capital, Jerusalem, and that failed, was led by Sennacherib’s general, the Rabshakeh.
Cuộc tấn công của Sennacherib vào Judah, đã tiến đến thủ đô Jerusalem nhưng thất bại, được chỉ huy bởi viên tướng của Sennacherib, Rabshakeh.
Now therefore, I pray thee, give pledges to my lord the king of Assyria, and I will deliver thee two thousand horses, if thou be able on thy part to set riders upon them. How then wilt thou turn away the face of one captain of the least of my master’s servants, and put thy trust on Egypt for chariots and for horsemen? Am I now come up without the Lord against this place to destroy it? The Lord said to me, Go up against this land, and destroy it. Then said Eliakim the son of Hilkiah, and Shebna, and Joah, unto Rabshakeh, Speak, I pray thee, to thy servants in the Syrian language; for we understand it: and talk not with us in the Jews’ language in the ears of the people that are on the wall. But Rabshakeh said unto them, Hath my master sent me to thy master, and to thee, to speak these words? hath he not sent me to the men which sit on the wall, that they may eat their own dung, and drink their own piss with you? Then Rabshakeh stood and cried with a loud voice in the Jews’ language, and spake, saying, Hear the word of the great king, the king of Assyria. 2 Kings 18:23–28.
Vậy bây giờ, ta nài xin ngươi, hãy kết ước với chúa ta là vua A-si-ri; ta sẽ giao cho ngươi hai ngàn con ngựa, nếu ngươi có thể cung cấp kỵ sĩ cưỡi lên chúng. Vậy thì làm sao ngươi có thể khiến lui bước chỉ một viên chỉ huy trong số những đầy tớ hèn mọn nhất của chúa ta, mà lại đặt lòng tin nơi Ai Cập về xe chiến và kỵ binh? Hiện nay, ta há lên nghịch chốn này mà không bởi Đức Giê-hô-va để hủy diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán với ta: Hãy lên nghịch xứ này và hủy diệt nó. Bấy giờ Ê-li-a-kim con trai Hinh-kia, Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê rằng: Xin, hãy nói với các tôi tớ ngươi bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu; xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Do Thái trước tai dân đang ở trên tường. Nhưng Ráp-sa-kê nói với họ: Chúa ta có sai ta đến với chúa ngươi và với ngươi để nói những lời này sao? Há chẳng phải Ngài sai ta đến với những người ngồi trên tường, để họ ăn phân của mình và uống nước tiểu của mình với các ngươi sao? Bấy giờ Ráp-sa-kê đứng và kêu lớn tiếng bằng tiếng Do Thái, mà nói rằng: Hãy nghe lời của đại vương, vua A-si-ri. 2 Các Vua 18:23-28.
The Rabshakeh was presenting not his words, but the words of Sennacherib, king of Assyria. In Daniel eleven verse forty the king of the north is the papal power who at the time of the end in 1798 received a deadly wound at the hands of atheistic France, the southern king. In the verse the king of the north ultimately retaliates and overflows the southern kingdom (the USSR) in 1989. When the king of the north accomplished that work, he brought with him “chariots, and with horsemen, and many ships.” “Chariots and horsemen” represent military might and “ships” represent economic power. Those symbols identify the United States as papal Rome’s proxy army in the victory of 1989, as typified by Rabshakeh. Antiochus Magnus in verse ten through fifteen represents the United States, and as William Miller correctly identified that the word “also” in verse fourteen establishes a new power entering the prophetic narrative, the “robbers” must represent a power distinct from either the Ptolemaic kings of the south, or Antiochus the king of the north or Philip of Macedon.
Rabshakeh không nói lời của mình, mà nói lời của Sennacherib, vua Assyria. Trong Daniel mười một, câu bốn mươi, vua phương bắc là quyền lực giáo hoàng, kẻ vào thời kỳ cuối cùng năm 1798 đã chịu một vết thương chí tử bởi tay nước Pháp vô thần, vua phương nam. Trong câu ấy, cuối cùng vua phương bắc đáp trả và tràn ngập vương quốc phương nam (Liên Xô) vào năm 1989. Khi vua phương bắc hoàn tất công việc ấy, ông mang theo “chiến xa, kỵ binh và nhiều tàu thuyền.” “Chiến xa và kỵ binh” tượng trưng cho sức mạnh quân sự, còn “tàu thuyền” tượng trưng cho sức mạnh kinh tế. Những biểu tượng ấy xác định Hoa Kỳ là đội quân ủy nhiệm của La Mã giáo hoàng trong chiến thắng năm 1989, như được minh họa bởi Rabshakeh. Antiochus Magnus trong các câu mười đến mười lăm đại diện cho Hoa Kỳ, và như William Miller đã xác định đúng rằng từ “also” trong câu mười bốn xác lập một quyền lực mới bước vào bản tường thuật tiên tri, thì “bọn cướp” ắt phải đại diện cho một quyền lực khác biệt với hoặc các vua Ptolemaic của phương nam, hoặc Antiochus vua phương bắc, hoặc Philip của Macedonia.
“The king of the south, in this verse, without any doubt, means king of Egypt; but what the robbers of thy people means remains yet a doubt perhaps to some. That it cannot mean Antiochus, or any king of Syria, it is plain; for the angel had been talking about that nation for a number of verses previous, and now says, ‘also the robbers of thy people,’ etc., evidently implying some other nation. I will admit that Antiochus did perhaps rob the Jews; but how could this ‘establish the vision,’ as Antiochus is not spoken of anywhere in the vision as performing any act of that kind; for he belonged to what is called the Grecian kingdom in the vision. Again, ‘to establish the vision,’ must mean to make sure, complete, or fulfill the same.” William Miller, Miller’s Works, Lecture 6, 89.
"‘Vua phương nam’ trong câu này, không chút nghi ngờ, có nghĩa là vua Ai Cập; nhưng ‘những kẻ cướp bóc dân ngươi’ có nghĩa là gì thì có lẽ đối với một số người vẫn còn là điều nghi vấn. Rằng nó không thể có nghĩa là Antiochus, hay bất kỳ vị vua nào của Syria, thì rõ ràng; vì thiên sứ đã nói về dân tộc ấy trong nhiều câu trước đó, và bây giờ lại nói, ‘cả những kẻ cướp bóc dân ngươi,’ v.v., rõ ràng hàm ý một dân tộc khác. Tôi thừa nhận rằng Antiochus có lẽ đã cướp bóc người Do Thái; nhưng điều đó làm sao có thể ‘làm vững chắc khải tượng,’ khi trong khải tượng không nơi nào nói rằng Antiochus làm bất kỳ hành động nào thuộc loại đó; vì ông thuộc về cái gọi là vương quốc Hy Lạp trong khải tượng. Lại nữa, ‘làm vững chắc khải tượng’ ắt phải có nghĩa là làm cho chắc chắn, hoàn tất, hoặc làm ứng nghiệm khải tượng ấy." William Miller, Các Tác Phẩm của Miller, Bài giảng 6, 89.
“Antiochus” was a name selected by many of the kings of the Syrian Seleucid Empire. The founder of that empire was Seleucid Nicator, and somewhere between twenty-six to thirty kings made up the entire list of Seleucid kings. Many of those kings chose the name “Antiochus”, just as the many popes choose throne-names when they are selected as popes. The popes are all “antichrist,” which means “against Christ”. The word “anti” meaning “against”. As antichrists they have taken the name of their spiritual forefather, who is Satan. Satan and the popes are both identified as the antichrist in inspiration.
"Antiochus" là một cái tên được nhiều vị vua của Đế quốc Seleucid ở Syria lựa chọn. Người sáng lập đế quốc đó là Seleucid Nicator, và có khoảng từ hai mươi sáu đến ba mươi vị vua tạo thành toàn bộ danh sách các vua Seleucid. Nhiều vị trong số đó đã chọn tên "Antiochus", cũng như nhiều giáo hoàng chọn tôn hiệu khi họ được bầu làm giáo hoàng. Các giáo hoàng đều là "antichrist", nghĩa là "chống lại Đấng Christ". Từ "anti" nghĩa là "chống lại". Là những kẻ phản Kitô, họ đã lấy tên của vị tổ phụ tinh thần của mình, là Satan. Satan và các giáo hoàng đều được xác định là kẻ phản Kitô theo sự linh hứng.
“The determination of antichrist to carry out the rebellion he began in heaven will continue to work in the children of disobedience.” Testimonies, volume 9, 230.
"Quyết tâm của kẻ chống Đấng Christ để tiến hành cuộc phản loạn mà hắn đã bắt đầu trên trời sẽ tiếp tục hoạt động trong con cái bội nghịch." Testimonies, quyển 9, 230.
A pope is a representative of Satan, and thus they are both against Christ, and therefore are the “antichrist.” They choose a name when they take the position as pope, and become Satan’s earthly representative.
Một giáo hoàng là đại diện của Sa-tan, vì thế cả hai đều chống lại Đấng Christ, và do đó là "kẻ phản Kitô". Họ chọn một tên khi nhận chức giáo hoàng, và trở thành đại diện của Sa-tan trên trần gian.
“To secure worldly gains and honors, the church was led to seek the favor and support of the great men of earth; and having thus rejected Christ, she was induced to yield allegiance to the representative of Satan—the bishop of Rome.” The Great Controversy, 50.
"Để mưu cầu lợi lộc và vinh dự trần thế, Hội thánh đã bị dẫn dắt tìm kiếm sự ưu ái và hậu thuẫn của những người quyền thế trên thế gian; và như thế, khi khước từ Đấng Christ, Hội thánh đã bị xúi giục phải thần phục kẻ đại diện của Sa-tan—giám mục Rôma." Cuộc Tranh Chấp Vĩ Đại, 50.
By their works you shall know them, and the popes carry on the same work as Satan.
Qua việc làm của họ, bạn sẽ biết họ, và các giáo hoàng tiếp tục thực hiện cùng một công việc như Sa-tan.
“Through the pope of Rome the same work has been carried on here on earth as was carried on in the courts of heaven before the expulsion of the prince of darkness. Satan sought to correct the law of God in heaven, and to supply an amendment of his own. He exalted his own judgment above that of his Creator, and placed his will above the will of Jehovah, and in this way virtually declared God to be fallible. The pope also takes the same course and, claiming infallibility for himself, seeks to adjust the law of God to meet his own ideas, thinking himself able to correct the mistakes he thinks he sees in the statutes and commands of the Lord of heaven and earth. He virtually says to the world, I will give you better laws than those of Jehovah. What an insult is this to the God of heaven!” Signs of the Times, November 19, 1894.
"Thông qua Giáo hoàng Rôma, cùng một công việc đã được tiến hành trên đất này như đã từng được tiến hành trong các triều đình trên trời trước khi hoàng tử bóng tối bị trục xuất. Sa-tan tìm cách sửa đổi luật pháp của Đức Chúa Trời trên thiên đàng và đưa ra một bản tu chính của riêng mình. Hắn tôn cao sự phán đoán của mình hơn sự phán đoán của Đấng Tạo Hóa, và đặt ý muốn của mình lên trên ý muốn của Đức Giê-hô-va, và theo cách đó thực chất đã tuyên bố rằng Đức Chúa Trời là có thể mắc sai lầm. Giáo hoàng cũng làm theo cách ấy và, tự xưng mình vô ngộ, tìm cách điều chỉnh luật pháp của Đức Chúa Trời cho phù hợp với ý tưởng riêng của mình, cho rằng mình có thể sửa những sai sót mà ông ta cho là có trong các điều lệ và mệnh lệnh của Chúa của trời và đất. Về thực chất, ông ta nói với thế gian: Ta sẽ ban cho các ngươi những luật lệ tốt hơn luật của Đức Giê-hô-va. Thật là một sự xúc phạm biết bao đối với Đức Chúa Trời của thiên đàng!" Dấu hiệu của Thời Đại, ngày 19 tháng 11 năm 1894.
Though Seleucus Nicator established the Seleucid Empire, many of the following kings chose the name “Antiochus,” in honor, not of Seleucus, but of his father. Seleucus’ father, Antiochus, was a nobleman and a general in the service of King Philip II of Macedon, who was the father of Alexander the Great. This noble status and military background helped establish the foundation for Seleucus’s own prominent role and subsequent rise to power after the death of Alexander the Great.
Mặc dù Seleucus Nicator đã lập ra Đế quốc Seleucid, nhiều vị vua kế tiếp lại chọn tên “Antiochus”, để tôn vinh không phải Seleucus mà là cha ông. Cha của Seleucus, Antiochus, là một quý tộc và tướng lĩnh phục vụ Vua Philip II của Macedonia, người là thân phụ của Alexander Đại đế. Địa vị quý tộc và nền tảng quân sự ấy đã giúp đặt nền móng cho vai trò nổi bật của chính Seleucus và sự trỗi dậy quyền lực của ông sau khi Alexander Đại đế qua đời.
Seleucus’ kingdom was established when he took control of three of the four areas of Alexander’s kingdom. Rome also conquers three geographical powers in order to take control and become the king of the north. When Seleucus had secured the east, the west and the north he became the king of the north in the historical narrative, and his capital was the city of Babylon. Many of the following kings chose the name “Antiochus” when they took the northern throne in order to honor their political forefather. The parallel is easy to see, if you choose to see. If you don’t, you don’t.
Vương quốc của Seleucus được thành lập khi ông giành quyền kiểm soát ba trong bốn khu vực của vương quốc của Alexander. La Mã cũng chinh phục ba cường quốc theo địa lý để giành quyền kiểm soát và trở thành vua phương bắc. Khi Seleucus đã nắm chắc quyền kiểm soát ở phương đông, phương tây và phương bắc, ông trở thành vua phương bắc trong tường thuật lịch sử, và kinh đô của ông là thành Babylon. Nhiều vị vua sau này chọn tên "Antiochus" khi lên ngai vàng phương bắc để tôn vinh vị tổ phụ chính trị của họ. Sự tương đồng rất dễ thấy, nếu bạn chọn nhìn. Nếu không, thì không.
The name “Antiochus” (Ἀντίοχος in Greek) comes from the Greek elements’ “anti” (meaning “against” or “opposite”) and “ocheo” (meaning “to hold fast” or “to maintain”). The northern kings chose the name to maintain their political heritage with the father, just as the antichrist (popes) choose names when they begin to rule. Just as the popes are representatives of their father, the devil, so too the Antiochus’ of the Syrian Empire typify representatives of their father. In this application Antiochus represents a proxy of their father. The proxy of the papal power in 1989 was the United States, and the secular testimony upholds the relationship between the antichrist, Pope John Paul II, and Ronald Reagan in their work to bring down the former Soviet Union.
Tên "Antiochus" (Ἀντίοχος trong tiếng Hy Lạp) bắt nguồn từ các yếu tố tiếng Hy Lạp "anti" (nghĩa là "chống lại" hoặc "đối nghịch") và "ocheo" (nghĩa là "giữ chặt" hoặc "duy trì"). Các vua phương bắc chọn tên đó để duy trì di sản chính trị gắn với cha, cũng như kẻ chống Đấng Christ (các giáo hoàng) chọn tên khi họ bắt đầu trị vì. Cũng như các giáo hoàng là đại diện của cha họ, tức ma quỷ, thì những người mang tên Antiochus của Đế quốc Syria cũng là những đại diện tiêu biểu của cha họ. Trong cách áp dụng này, Antiochus là một đại diện ủy nhiệm của cha họ. Đại diện ủy nhiệm của quyền lực giáo hoàng vào năm 1989 là Hoa Kỳ, và bằng chứng thế tục xác nhận mối quan hệ giữa kẻ chống Đấng Christ, Giáo hoàng Gioan Phaolô II, và Ronald Reagan trong nỗ lực của họ nhằm làm sụp đổ Liên Xô trước đây.
In verses ten through sixteen, the first and last verse possess direct references to verses forty and forty-one. Verse ten directly represents verse forty. Verse sixteen directly represents verse forty-one. The verses represent the portion of the prophecy of Daniel that relates to the last days.
Trong các câu từ mười đến mười sáu, câu đầu và câu cuối có nhắc trực tiếp đến các câu bốn mươi và bốn mươi mốt. Câu mười tương ứng trực tiếp với câu bốn mươi. Câu mười sáu tương ứng trực tiếp với câu bốn mươi mốt. Những câu này là phần trong lời tiên tri của Daniel liên quan đến thời kỳ cuối cùng.
“The book that was sealed was not the book of Revelation, but that portion of the prophecy of Daniel which related to the last days. The Scripture says, ‘But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased’ (Daniel 12:4). When the book was opened, the proclamation was made, ‘Time shall be no longer.’ (See Revelation 10:6.) The book of Daniel is now unsealed, and the revelation made by Christ to John is to come to all the inhabitants of the earth. By the increase of knowledge a people is to be prepared to stand in the latter days. . . .
Cuốn sách đã bị niêm phong không phải là sách Khải Huyền, mà là phần trong lời tiên tri của Đa-ni-ên liên quan đến những ngày sau rốt. Kinh Thánh chép rằng: 'Còn ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy giữ kín những lời này và niêm phong sách lại cho đến thời kỳ cuối cùng; nhiều người sẽ qua lại, và sự thông biết sẽ gia tăng' (Đa-ni-ên 12:4). Khi sách được mở ra, có lời công bố: 'Sẽ không còn thì giờ nữa.' (Xem Khải Huyền 10:6.) Sách Đa-ni-ên nay đã được gỡ ấn, và mặc khải mà Đấng Christ ban cho Giăng sẽ đến với mọi dân cư trên đất. Nhờ sự gia tăng của tri thức, một dân sẽ được chuẩn bị để đứng vững trong những ngày sau rốt...
“In the first angel’s message men are called upon to worship God, our Creator, who made the world and all things that are therein. They have paid homage to an institution of the Papacy, making of no effect the law of Jehovah, but there is to be an increase of knowledge on this subject.” Selected Messages, book 2, 105, 106.
Trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, loài người được kêu gọi thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của chúng ta, Đấng đã dựng nên thế gian và mọi vật ở trong đó. Họ đã tôn kính một thiết chế của giáo hoàng quyền, làm cho luật pháp của Đức Giê-hô-va trở nên vô hiệu, nhưng sẽ có sự gia tăng hiểu biết về vấn đề này. Những Sứ điệp Chọn lọc, quyển 2, 105, 106.
At the time of the end in 1989 the last six verses of Daniel chapter eleven represent the “portion of the prophecy of Daniel which related to the last days.” It was recognized when it was then unsealed, and that unsealing produced an increase of knowledge on the “institution of the Papacy, making of no effect the law of Jehovah.” The Alpha and Omega always illustrates the end with the beginning, and the testing process that began in 1989, was designed to produce two classes of worshippers.
Vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, sáu câu cuối của chương mười một sách Đa-ni-ên là "phần của lời tiên tri của Đa-ni-ên liên hệ đến những ngày sau rốt." Điều đó được nhận ra khi nó được mở ấn, và việc mở ấn ấy đã làm gia tăng sự hiểu biết về "giáo hoàng chế, khiến luật pháp của Đức Giê-hô-va trở nên vô hiệu." Đấng Alpha và Omega luôn minh họa sự kết thúc bằng khởi đầu, và quá trình thử nghiệm khởi đầu từ năm 1989 được thiết kế để tạo ra hai hạng người thờ phượng.
And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:9, 10.
Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác, chẳng ai trong bọn ác hiểu biết; còn người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:9, 10.
We are now in the final period of that testing process, for the controversy of the robbers at the beginning of Adventism is now being repeated. To identify the robbers as the United States is to identify Antiochus as the robbers. It is the identical controversy of the Millerites and Protestants.
Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn cuối cùng của tiến trình thử nghiệm đó, vì cuộc tranh cãi về “bọn cướp” vào buổi đầu của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm nay đang lặp lại. Xem “bọn cướp” là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ tức là đồng nhất Antiochus với “bọn cướp”. Đó chính là cuộc tranh cãi y hệt giữa những người Millerite và những người Tin Lành.
At the end of the testing process, just as in the beginning of the testing process, which began in 1989, the Lion of the tribe of Judah unseals “that portion of the prophecy of Daniel which related to the last days.” In 1989 it was the last six verses of Daniel eleven, and at the ending it is the hidden history of verse forty, that is typified by verses ten through sixteen.
Vào cuối quá trình thử thách, cũng như ở phần khởi đầu của quá trình này, vốn bắt đầu vào năm 1989, Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn “phần lời tiên tri của Đa-ni-ên liên quan đến những ngày sau rốt.” Năm 1989, đó là sáu câu cuối của Đa-ni-ên chương mười một, và đến đoạn kết thì đó là lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi, được tiêu biểu bởi các câu mười đến mười sáu.
We will continue our consideration of the six lines of controversies within the history of Adventism in the following articles. The first of those six controversies illustrates the last of those six controversies. We will use the first and last controversies to overlay the other four controversies as we unfold the elements involved with the efforts of the enemy of righteousness to prevent God’s people from rightly dividing “the vision”, which is established with the symbol of Rome.
Trong các bài viết sau đây, chúng ta sẽ tiếp tục xem xét sáu dòng tranh luận trong lịch sử Cơ Đốc Phục Lâm. Cuộc tranh luận thứ nhất trong số đó minh họa cho cuộc tranh luận cuối cùng. Chúng ta sẽ dùng cuộc tranh luận đầu tiên và cuối cùng để soi chiếu bốn cuộc tranh luận còn lại, trong khi làm sáng tỏ các yếu tố liên quan đến những nỗ lực của kẻ thù của sự công bình nhằm ngăn cản dân sự của Đức Chúa Trời phân định đúng đắn 'khải tượng', vốn được xác lập với biểu tượng của La Mã.
“Unless we understand the importance of the moments that are swiftly passing into eternity, and make ready to stand in the great day of God, we shall be unfaithful stewards. The watchman is to know the time of night. Everything is now clothed with a solemnity that all who believe the truth for this time should realize. They should act in reference to the day of God. The judgments of God are about to fall upon the world, and we need to be preparing for that great day.
Nếu chúng ta không hiểu được tầm quan trọng của những khoảnh khắc đang nhanh chóng trôi vào cõi vĩnh hằng, và không chuẩn bị để đứng vững trong ngày vĩ đại của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ là những quản gia bất trung. Người lính canh phải biết giờ canh đêm. Mọi sự giờ đây đều khoác lên vẻ trang nghiêm mà tất cả những người tin vào lẽ thật cho thời kỳ này cần phải nhận biết. Họ nên hành động với sự hướng về ngày của Đức Chúa Trời. Các sự phán xét của Đức Chúa Trời sắp giáng trên thế gian, và chúng ta cần chuẩn bị cho ngày trọng đại ấy.
“Our time is precious. We have but few, very few days of probation in which to make ready for the future, immortal life. We have no time to spend in haphazard movements. We should fear to skim the surface of the word of God.” Testimonies, volume 6, 407.
"Thời gian của chúng ta thật quý báu. Chúng ta chỉ còn ít, rất ít ngày của thời kỳ thử thách để chuẩn bị cho cuộc sống bất tử trong tương lai. Chúng ta không có thời gian để phung phí vào những bước đi tùy tiện. Chúng ta nên e sợ việc chỉ lướt qua bề mặt Lời của Đức Chúa Trời." Lời chứng, tập 6, 407.