In the last article we referenced the following words of Jesus.
Trong bài viết trước, chúng tôi đã nhắc đến những lời sau đây của Chúa Giê-su.
Beware of false prophets, which come to you in sheep’s clothing, but inwardly they are ravening wolves. Ye shall know them by their fruits. Do men gather grapes of thorns, or figs of thistles? Even so every good tree bringeth forth good fruit; but a corrupt tree bringeth forth evil fruit. A good tree cannot bring forth evil fruit, neither can a corrupt tree bring forth good fruit. Every tree that bringeth not forth good fruit is hewn down, and cast into the fire. Wherefore by their fruits ye shall know them. Not everyone that saith unto me, Lord, Lord, shall enter into the kingdom of heaven; but he that doeth the will of my Father which is in heaven. Many will say to me in that day, Lord, Lord, have we not prophesied in thy name? and in thy name have cast out devils? and in thy name done many wonderful works? And then will I profess unto them, I never knew you: depart from me, ye that work iniquity. Therefore whosoever heareth these sayings of mine, and doeth them, I will liken him unto a wise man, which built his house upon a rock: And the rain descended, and the floods came, and the winds blew, and beat upon that house; and it fell not: for it was founded upon a rock. And every one that heareth these sayings of mine, and doeth them not, shall be likened unto a foolish man, which built his house upon the sand: And the rain descended, and the floods came, and the winds blew, and beat upon that house; and it fell: and great was the fall of it. Matthew 7:15–27.
Hãy coi chừng những tiên tri giả, họ đến với anh em trong lốt chiên, nhưng bên trong là những con sói dữ tham tàn. Anh em sẽ nhận biết họ bởi bông trái của họ. Có ai hái nho từ bụi gai, hay hái vả từ cây gai góc không? Cũng vậy, cây tốt thì sinh bông trái tốt; còn cây xấu thì sinh bông trái xấu. Cây tốt không thể sinh bông trái xấu, cũng như cây xấu không thể sinh bông trái tốt. Cây nào không sinh bông trái tốt thì bị đốn và quăng vào lửa. Vậy, cứ bởi bông trái của họ mà anh em sẽ nhận biết họ. Không phải ai nói với ta: “Lạy Chúa, lạy Chúa” là sẽ được vào nước thiên đàng, nhưng chỉ người làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời. Nhiều người sẽ nói với ta trong ngày ấy: “Lạy Chúa, lạy Chúa, chẳng phải chúng tôi đã nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, và nhân danh Chúa mà làm nhiều việc lạ lùng sao?” Bấy giờ ta sẽ tuyên bố với họ: “Ta chưa hề biết các ngươi; hãy lui ra khỏi ta, hỡi những kẻ làm điều gian ác.” Vậy, ai nghe những lời này của ta và làm theo, ta sẽ ví người ấy như một người khôn ngoan xây nhà mình trên đá. Mưa sa, nước lũ dâng lên, gió thổi đập vào nhà ấy, nhưng nhà không sập, vì nền nhà đặt trên đá. Còn ai nghe những lời này của ta mà không làm theo thì giống như người ngu dại xây nhà mình trên cát. Mưa sa, nước lũ dâng lên, gió thổi đập vào nhà ấy, và nhà ấy sập; sự sụp đổ của nó thật lớn. Ma-thi-ơ 7:15-27.
The rebellion of 1863 marks the beginning of Laodicean Seventh-day Adventism building a false foundation upon the sand. Sand represents the satanic principle of pluralism, in contrast with the Rock of absolute truth. Absolute truth is established upon two witnesses, and the truths represented upon the two sacred charts of Habakkuk, which Adventism has progressively set aside, are derived from the Bible and confirmed by the Spirit of Prophecy. Those truths are absolute.
Cuộc phản loạn năm 1863 đánh dấu sự khởi đầu của việc Cơ Đốc Phục Lâm Laodicê xây dựng một nền tảng giả dối trên cát. Cát tượng trưng cho nguyên tắc Sa-tan của chủ nghĩa đa nguyên, đối nghịch với Vầng Đá của lẽ thật tuyệt đối. Lẽ thật tuyệt đối được thiết lập dựa trên hai chứng nhân, và các lẽ thật được trình bày trên hai biểu đồ thánh của Ha-ba-cúc, mà phong trào Phục Lâm đã dần dần gạt sang một bên, bắt nguồn từ Kinh Thánh và được xác nhận bởi Thần Linh của Lời Tiên Tri. Những lẽ thật ấy là tuyệt đối.
“The enemy is seeking to divert the minds of our brethren and sisters from the work of preparing a people to stand in these last days. His sophistries are designed to lead minds away from the perils and duties of the hour. They estimate as of little value the light that Christ came from heaven to give to John for His people. They teach that the scenes just before us are not of sufficient importance to receive special attention. They make of no effect the truth of heavenly origin, and rob the people of God of their past experience, giving them instead a false science. ‘Thus saith the Lord: Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein.’ [Jeremiah 6:16.]
Kẻ thù đang tìm cách làm lệch hướng tâm trí của các anh em và chị em chúng ta khỏi công việc chuẩn bị một dân để đứng vững trong những ngày sau rốt này. Những ngụy biện của hắn được lập ra nhằm dẫn dắt tâm trí xa rời các hiểm nguy và bổn phận của giờ phút này. Họ coi nhẹ ánh sáng mà Đấng Christ đã từ trời đến để ban cho Giăng vì dân Ngài. Họ dạy rằng những cảnh tượng ngay trước mắt chúng ta không đủ quan trọng để nhận được sự chú ý đặc biệt. Họ làm cho lẽ thật có nguồn gốc từ trời trở nên vô hiệu, và cướp đi kinh nghiệm quá khứ của dân Đức Chúa Trời, thay vào đó trao cho họ một thứ khoa học giả dối. “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường, nhìn xem, và hãy hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt, hãy bước đi trong đó.” [Giê-rê-mi 6:16.]
“Let none seek to tear away the foundations of our faith,—the foundations that were laid at the beginning of our work, by prayerful study of the Word and by revelation. Upon these foundations we have been building for more than fifty years. Men may suppose that they have found a new way, that they can lay a stronger foundation than that which has been laid; but this is a great deception. ‘Other foundation can no man lay than that is laid.’ [1 Corinthians 3:11.] In the past, many have undertaken to build a new faith, to establish new principles; but how long did their building stand? It soon fell; for it was not founded upon the Rock.” Testimonies, volume 8, 296–297.
"Đừng ai tìm cách phá bỏ những nền tảng của đức tin chúng ta—những nền tảng đã được đặt ngay từ buổi đầu công việc của chúng ta, qua sự nghiên cứu Lời một cách cầu nguyện và qua sự mặc khải. Trên những nền tảng này, chúng ta đã xây dựng suốt hơn năm mươi năm. Người ta có thể cho rằng họ đã tìm ra một con đường mới, rằng họ có thể đặt một nền tảng vững chắc hơn nền tảng đã được đặt; nhưng đó là một sự lừa dối lớn. 'Không ai có thể đặt một nền tảng khác ngoài nền tảng đã được đặt rồi.' [1 Corinthians 3:11.] Trong quá khứ, nhiều người đã khởi sự xây dựng một đức tin mới, thiết lập những nguyên tắc mới; nhưng công trình của họ đứng vững được bao lâu? Nó chẳng bao lâu đã sụp đổ; vì nó không được đặt nền trên Đá." Testimonies, volume 8, 296-297.
When September 11, 2001 arrived so did the rains of the Holy Spirit.
Khi ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến, những cơn mưa của Chúa Thánh Thần cũng đổ xuống.
“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời giáng xuống, và cả trái đất sẽ được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.” Review and Herald, ngày 21 tháng 4 năm 1891.
When the great buildings of New York City were thrown down by a touch from God, the latter rain began to sprinkle. When September 11, 2001 arrived the floodgates of papal principles was released.
Khi những tòa nhà đồ sộ của Thành phố New York bị đổ sập chỉ bởi một cái chạm tay của Đức Chúa Trời, mưa cuối mùa bắt đầu rơi lất phất. Khi ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến, các cửa xả lũ của những nguyên tắc giáo hoàng đã được mở tung.
“In this time of prevailing iniquity, the Protestant churches that have rejected a ‘Thus saith the Lord,’ will reach a strange pass. They will be converted to the world. In their separation from God, they will seek to make falsehood and apostasy from God the law of the nation. They will work upon the rulers of the land to make laws to restore the lost ascendency of the man of sin, who sits in the temple of God, showing himself that he is God. The Roman Catholic principles will be taken under the protection of the state. The protest of Bible truth will no longer be tolerated by those who have not made the law of God their rule of life.” Review and Herald, December 21, 1897.
"Trong thời kỳ sự bất chính tràn lan này, các giáo hội Tin Lành đã khước từ lời 'Đức Chúa Trời phán rằng' sẽ lâm vào một tình thế kỳ lạ. Họ sẽ bị thế gian hóa. Trong sự xa cách Đức Chúa Trời, họ sẽ tìm cách biến điều dối trá và sự bội đạo đối với Đức Chúa Trời thành luật pháp của quốc gia. Họ sẽ tác động các nhà cầm quyền trong xứ để ban hành các đạo luật nhằm khôi phục uy thế đã mất của người tội ác, kẻ ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời, tỏ ra mình là Đức Chúa Trời. Những nguyên tắc Công giáo La Mã sẽ được nhà nước bảo hộ. Tiếng phản kháng của lẽ thật Kinh Thánh sẽ không còn được dung thứ bởi những ai không lấy luật pháp của Đức Chúa Trời làm quy tắc sống của mình." Review and Herald, ngày 21 tháng 12, 1897.
The Patriot Act marks the beginning of the protection of Roman Catholic principles, that progressively leads to the soon-coming Sunday law. On September 11, 2001 the four winds that represent Islam of the third woe, began to blow.
Đạo luật Patriot đánh dấu sự khởi đầu của việc bảo vệ các nguyên tắc Công giáo La Mã, và điều đó dần dần dẫn đến luật ngày Chủ nhật sắp tới. Ngày 11 tháng 9 năm 2001, bốn luồng gió, tượng trưng cho Hồi giáo trong tai họa thứ ba, đã bắt đầu thổi.
“Angels are holding the four winds, represented as an angry horse seeking to break loose and rush over the face of the whole earth, bearing destruction and death in its path.
Các thiên sứ đang nắm giữ bốn luồng gió; những luồng gió ấy được ví như một con ngựa giận dữ đang tìm cách xổng ra và lao khắp mặt đất, gieo rắc sự tàn phá và chết chóc trên đường nó đi.
“Shall we sleep on the very verge of the eternal world? Shall we be dull and cold and dead? Oh, that we might have in our churches the Spirit and breath of God breathed into His people, that they might stand upon their feet and live. We need to see that the way is narrow, and the gate strait. But as we pass through the strait gate, its wideness is without limit.” Manuscript Releases, volume 20, 217.
“Chúng ta sẽ ngủ mê ngay trên chính bờ mé của thế giới đời đời sao? Chúng ta sẽ uể oải, lạnh nhạt và chết lịm sao? Ôi, ước gì trong các hội thánh của chúng ta có Thần của Đức Chúa Trời và hơi thở của Ngài được hà hơi vào dân sự Ngài, để họ có thể đứng trên chân mình và sống. Chúng ta cần thấy rằng con đường thì hẹp, và cửa thì chật. Nhưng khi chúng ta đi qua cửa chật ấy, sự rộng rãi của nó là vô hạn.” Manuscript Releases, quyển 20, 217.
The rain, wind, and flood arrived on September 11, 2001 and the Laodicean Seventh-day Adventist church was tested as were the Jews at the baptism of Christ, and as were the Protestants beginning on August 11, 1840. From that point until the rebellious prediction of July 18, 2020, the Laodicean Seventh-day Adventist house progressively fell, just as certainly as the Jew’s temple was pronounced desolate before the cross, and just as the Protestants transitioned unto apostate Protestantism at the first disappointment of April 19, 1844.
Mưa, gió và lũ lụt đã ập đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy Laodicea đã bị thử thách như người Do Thái tại lễ báp têm của Đấng Christ, và như những người Tin Lành bắt đầu từ ngày 11 tháng 8 năm 1840. Từ thời điểm đó cho đến lời dự đoán phản nghịch ngày 18 tháng 7 năm 2020, nhà của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy Laodicea đã dần dần sụp đổ, chắc chắn như đền thờ của người Do Thái đã bị tuyên bố là bỏ hoang trước thập tự giá, và như những người Tin Lành đã rơi vào tình trạng Tin Lành bội đạo tại sự thất vọng lần thứ nhất vào ngày 19 tháng 4 năm 1844.
The Laodicean movement of the third angel then entered into its final testing process, and as with the testing that began on September 11, 2001 the virgins were called to return to the old paths, which were the foundational truths of not only the Millerite movement of the first and second angels, but also the foundational truths of the movement of the third angel.
Phong trào La-ô-đi-xê của thiên sứ thứ ba sau đó đã bước vào giai đoạn thử thách cuối cùng, và cũng như kỳ thử thách đã bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, các trinh nữ được kêu gọi trở lại những nẻo đường xưa, tức là những lẽ thật nền tảng không chỉ của phong trào Millerite của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, mà còn của phong trào của thiên sứ thứ ba.
The symbol of the rejection of those foundational truths in the context of the strong delusion is the message Paul recorded in Second Thessalonians. That message is symbolized by “the daily” in the book of Daniel, for it was in the passage of Thessalonians that William Miller came to understand that “the daily” in the book of Daniel represented pagan Rome.
Trong bối cảnh của sự lừa dối mạnh mẽ, biểu tượng cho sự khước từ những lẽ thật nền tảng ấy là sứ điệp mà Phao-lô đã ghi lại trong Tê-sa-lô-ni-ca thứ hai. Sứ điệp ấy được biểu trưng bởi “the daily” trong sách Đa-ni-ên, vì chính trong đoạn ở Tê-sa-lô-ni-ca mà William Miller đã hiểu rằng “the daily” trong sách Đa-ni-ên đại diện cho La Mã ngoại giáo.
There have been books penned that address the definition of “the daily” in the book of Daniel. Most are erroneous, though if you wish to review a paper from an Adventist theologian that gets it right, you could locate, The Mystery of the Daily, by John W. Peters. I do not intend to address that element of “the daily,” in this article. There are also other books that cover the history of the “who, what and why” that the false view of “the daily” was ultimately established within Laodicean Seventh-day Adventism.
Đã có những cuốn sách được viết bàn về định nghĩa của “the daily” trong sách Đa-ni-ên. Phần lớn là sai lầm; tuy nhiên, nếu bạn muốn xem một bài viết của một nhà thần học Cơ Đốc Phục Lâm trình bày đúng, bạn có thể tìm The Mystery of the Daily của John W. Peters. Tôi không có ý định bàn đến khía cạnh đó của “the daily” trong bài viết này. Cũng có những cuốn sách khác trình bày lịch sử về “ai, điều gì và vì sao” mà theo đó quan điểm sai lầm về “the daily” rốt cuộc đã được thiết lập trong Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy mang tính Lao-đi-xê.
The definition of the Hebrew word translated as “the daily”, and the history of rebellion against the foundational truth of “the daily” that began in earnest in 1901, has been repeatedly set forth in Habakkuk’s Tables and also in the recent articles on the book of Daniel.
Định nghĩa của từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là "the daily", và lịch sử của sự phản loạn chống lại lẽ thật nền tảng về "the daily" vốn bắt đầu một cách nghiêm túc vào năm 1901, đã nhiều lần được trình bày trong Các Bảng của Habakkuk và cũng trong các bài viết gần đây về sách Daniel.
I intend to keep the focus of “the daily” in this article on the prophetic characteristics associated with the symbol of Rome being rejected. Any who genuinely accept the authority of the writings of Ellen White simply need to read the following to know what is the correct understanding of “the daily.”
Trong bài viết này, khi bàn về "the daily", tôi dự định tập trung vào các đặc điểm mang tính tiên tri liên quan đến việc biểu tượng của La Mã bị bác bỏ. Bất kỳ ai thực sự chấp nhận thẩm quyền của các trước tác của Ellen White chỉ cần đọc phần sau để biết đâu là cách hiểu đúng về "the daily".
“Then I saw in relation to the ‘Daily,’ that the word ‘sacrifice’ was supplied by man’s wisdom, and does not belong to the text; and that the Lord gave the correct view of it to those who gave the judgment hour cry. When union existed, before 1844, nearly all were united on the correct view of the ‘Daily;’ but since 1844, in the confusion, other views have been embraced, and darkness and confusion has followed.” Review and Herald, November 1, 1850.
Rồi tôi thấy, liên quan đến 'Daily', rằng từ 'sacrifice' do sự khôn ngoan của loài người thêm vào và không thuộc về bản văn; và rằng Chúa đã ban quan điểm đúng đắn về điều đó cho những người đã cất tiếng kêu giờ phán xét. Khi còn có sự hiệp nhất, trước năm 1844, hầu như tất cả đều đồng thuận về quan điểm đúng đắn đối với 'Daily'; nhưng từ năm 1844, trong sự rối loạn, những quan điểm khác đã được chấp nhận, và bóng tối cùng hỗn loạn đã theo sau. Review and Herald, ngày 1 tháng 11, 1850.
To reject William Miller’s understanding of “the daily” is to simultaneously reject the authority of the writings of Ellen White, for she saw “that the Lord gave the correct view of it to those who gave the judgment hour cry.” She was also shown that the other views of “the daily” produced “darkness and confusion,” which are not attributes of Christ. Miller recognized “the daily” as pagan Rome when he studied Second Thessalonians.
Bác bỏ sự hiểu biết của William Miller về "the daily" đồng thời cũng là bác bỏ thẩm quyền của các trước tác của Ellen White, vì bà đã thấy "rằng Chúa ban quan điểm đúng đắn về điều đó cho những người cất lên tiếng kêu về giờ phán xét." Bà cũng được cho thấy rằng các quan điểm khác về "the daily" tạo ra "sự tối tăm và hỗn loạn", những điều không phải là thuộc tính của Đấng Christ. Miller nhận ra "the daily" là La Mã ngoại giáo khi ông nghiên cứu Thư Tê-sa-lô-ni-ca thứ hai.
“I read on, and could find no other case in which it [the daily] was found, but in Daniel. I then [by the aid of a concordance] took those words which stood in connection with it, ‘take away;’ he shall take away the daily; ‘from the time the daily shall be taken away,’ etc. I read on, and thought I should find no light on the text; finally I came to 2 Thessalonians 2:7, 8. ‘For the mystery of iniquity doth already work; only he who now letteth will let, until he be taken out of the way, and then shall that wicked be revealed,’ etc. And when I had come to that text, O, how clear and glorious the truth appeared! There it is! That is the daily! Well, now, what does Paul mean by ‘he who now letteth,’ or hindereth? By ‘the man of sin,’ and the ‘wicked,’ Popery is meant. Well, what is it which hinders Popery from being revealed? Why, it is Paganism; well, then, ‘the daily’ must mean Paganism.’—William Miller, Second Advent Manual, page 66.” Advent Review and Sabbath Herald, January 6, 1853.
“Tôi đọc tiếp và không thể tìm thấy trường hợp nào khác trong đó nó [the daily] được nhắc đến, ngoài trong Daniel. Sau đó [với sự trợ giúp của một bảng tra cứu], tôi tra những từ đứng liên hệ với nó, ‘cất đi;’ ‘người sẽ cất đi the daily;’ ‘từ lúc the daily sẽ bị cất đi,’ v.v. Tôi đọc tiếp và nghĩ rằng mình sẽ không tìm được ánh sáng nào cho đoạn văn; cuối cùng tôi đến 2 Thessalonians 2:7, 8. ‘Vì điều mầu nhiệm của sự gian ác hiện đã hoạt động; chỉ có người hiện đang ngăn trở sẽ còn ngăn trở, cho đến khi người ấy bị dời đi, và bấy giờ kẻ ác kia sẽ được tỏ ra,’ v.v. Và khi tôi đến câu ấy, ôi, lẽ thật hiện ra rõ ràng và vinh hiển biết bao! Đó rồi! Đó chính là the daily! Vậy bây giờ, Phao-lô muốn nói gì bởi ‘người hiện đang ngăn trở,’ hay là người cản trở? Bởi ‘con người tội ác’ và ‘kẻ ác,’ người ta muốn nói đến Chủ nghĩa Giáo hoàng. Vậy, điều gì ngăn Chủ nghĩa Giáo hoàng khỏi được bày tỏ? Ấy là Ngoại giáo; vậy thì, ‘the daily’ hẳn phải có nghĩa là Ngoại giáo.” - William Miller, Second Advent Manual, trang 66. Advent Review and Sabbath Herald, January 6, 1853.
Ultimately, Laodicean Adventism set aside the correct understanding which was given to Miller and those who gave the judgment hour cry, for apostate Protestantism’s erroneous idea that “the daily” represented Christ’s sanctuary ministry. That understanding is absurd on many levels, but more than being fallacious, it claims that a satanic symbol is a symbol of Christ.
Sau cùng, Phục Lâm La-ô-đi-xê đã gạt bỏ sự hiểu biết đúng đắn được ban cho Miller và những người đã cất lên lời kêu gọi về giờ phán xét, để chấp nhận quan niệm sai lầm của phái Tin Lành bội đạo rằng “the daily” đại diện cho chức vụ của Đấng Christ trong đền thánh. Sự hiểu biết ấy là vô lý trên nhiều phương diện; nhưng không chỉ sai lạc, nó còn khẳng định rằng một biểu tượng của Sa-tan là biểu tượng của Đấng Christ.
“Thus while the dragon, primarily, represents Satan, it is, in a secondary sense, a symbol of pagan Rome.” The Great Controversy, 439.
Do đó, tuy con rồng chủ yếu đại diện cho Sa-tan, nhưng trong nghĩa thứ yếu, nó là biểu tượng của La Mã ngoại giáo. Đại Tranh Chiến, 439.
Miller identified “the daily” as pagan Rome, the dragon, but Laodicean Adventism took the idea from fallen Protestantism that it represents Christ’s heavenly sanctuary ministry. The rejection of Miller’s identification of “the daily” as pagan Rome represents a rejection of a truth which is represented upon both the sacred charts that were a fulfillment of Habakkuk chapter two. It is therefore a rejection of a foundational truth, just as was the rejection of the seven times of Leviticus twenty-six.
Miller xác định “the daily” là La Mã ngoại giáo, tức con rồng, nhưng Phục Lâm La-ô-đi-xê đã tiếp thu từ Tin Lành sa ngã ý niệm rằng nó tượng trưng cho chức vụ đền thánh trên trời của Đấng Christ. Việc bác bỏ sự xác định của Miller về “the daily” là La Mã ngoại giáo là sự bác bỏ một lẽ thật vốn được trình bày trên cả hai biểu đồ thánh, những biểu đồ là sự ứng nghiệm của Ha-ba-cúc chương hai. Vì thế, đó là sự bác bỏ một lẽ thật nền tảng, cũng như việc bác bỏ bảy lần trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu.
To reject the truth that “the daily,” represents pagan Rome, is to reject the foundations of Adventism and the authority of the Spirit of Prophecy. Identifying a symbol of Satan as a symbol of Christ is parallel to identifying the work of Christ as the work of Satan.
Bác bỏ sự thật rằng “the daily” đại diện cho La Mã ngoại giáo là bác bỏ những nền tảng của Cơ Đốc Phục Lâm và thẩm quyền của Thần Linh của Lời Tiên Tri. Đồng nhất một biểu tượng của Sa-tan với một biểu tượng của Đấng Christ chẳng khác nào đồng nhất công việc của Đấng Christ với công việc của Sa-tan.
“In rejecting Christ the Jewish people committed the unpardonable sin; and by refusing the invitation of mercy, we may commit the same error. We offer insult to the Prince of life, and put Him to shame before the synagogue of Satan and before the heavenly universe when we refuse to listen to His delegated messengers, and instead listen to the agents of Satan, who would draw the soul away from Christ. So long as one does this, he can find no hope or pardon, and he will finally lose all desire to be reconciled to God.” The Desire of Ages, 324.
Khi khước từ Đấng Christ, dân Do Thái đã phạm tội không thể tha thứ; và bằng cách từ chối lời mời của lòng thương xót, chúng ta có thể mắc cùng một sai lầm. Chúng ta xúc phạm đến Thủ Lãnh của sự sống và làm Ngài hổ thẹn trước hội đường của Sa-tan và trước vũ trụ thiên thượng khi chúng ta từ chối lắng nghe những sứ giả được Ngài ủy quyền, mà lại lắng nghe các tay sai của Sa-tan, những kẻ muốn kéo linh hồn lìa khỏi Đấng Christ. Bao lâu còn làm như vậy, người ấy sẽ không tìm được hy vọng hay sự tha thứ, và cuối cùng sẽ mất hết mọi ước muốn được hòa giải với Đức Chúa Trời. Khát vọng của các thời đại, 324.
When Laodicean Adventism rejected the foundational understanding of “the daily” and the seven times, they not only rejected the authority of the Spirit of Prophecy, and the foundations, but they rejected the work of William Miller, who had been led to his understandings by the angel Gabriel and other angels.
Khi Cơ Đốc Phục Lâm kiểu Laodicê bác bỏ sự hiểu biết nền tảng về “sự thường nhật” và “bảy lần”, họ không chỉ bác bỏ thẩm quyền của Thần khí của Lời Tiên Tri và các nền tảng, mà còn bác bỏ công trình của William Miller, người đã được thiên sứ Gabriel và các thiên sứ khác dẫn dắt đến những hiểu biết ấy.
“God sent His angel to move upon the heart of a farmer who had not believed the Bible, to lead him to search the prophecies. Angels of God repeatedly visited that chosen one, to guide his mind and open to his understanding prophecies which had ever been dark to God’s people. The commencement of the chain of truth was given to him, and he was led on to search for link after link, until he looked with wonder and admiration upon the Word of God. He saw there a perfect chain of truth. That Word which he had regarded as uninspired now opened before his vision in its beauty and glory. He saw that one portion of Scripture explains another, and when one passage was closed to his understanding, he found in another part of the Word that which explained it. He regarded the sacred Word of God with joy and with the deepest respect and awe.” Early Writings, 230.
Đức Chúa Trời sai thiên sứ của Ngài cảm động lòng của một người nông dân vốn không tin Kinh Thánh, để dẫn ông tìm hiểu các lời tiên tri. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời nhiều lần thăm viếng người được chọn ấy, để hướng dẫn tâm trí ông và mở ra cho sự hiểu biết của ông những lời tiên tri xưa nay vẫn tối tăm đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Mắt xích đầu tiên của chuỗi lẽ thật được ban cho ông, và ông được dẫn dắt tìm kiếm hết mắt xích này đến mắt xích khác, cho đến khi ông ngắm nhìn Lời Đức Chúa Trời với sự kinh ngạc và thán phục. Ông thấy ở đó một chuỗi lẽ thật hoàn chỉnh. Lời ấy, mà trước kia ông xem là không được linh hứng, nay mở ra trước mắt ông trong vẻ đẹp và vinh quang của nó. Ông thấy rằng phần này của Kinh Thánh giải thích phần kia; và khi một đoạn nào đó khép kín đối với sự hiểu biết của ông, ông lại tìm thấy ở phần khác của Lời điều giải thích nó. Ông trân trọng Lời thánh của Đức Chúa Trời với niềm vui mừng cùng lòng tôn kính và kính sợ sâu xa nhất. Early Writings, 230.
“His angel” is an expression that identifies the angel Gabriel.
“His angel” là một cách diễn đạt dùng để chỉ thiên thần Gabriel.
“The words of the angel, ‘I am Gabriel, that stand in the presence of God,’ show that he holds a position of high honor in the heavenly courts. When he came with a message to Daniel, he said, ‘There is none that holdeth with me in these things, but Michael [Christ] your Prince.’ Daniel 10:21. Of Gabriel the Saviour speaks in the Revelation, saying that ‘He sent and signified it by His angel unto His servant John.’ Revelation 1:1.” The Desire of Ages, 99.
Lời của thiên sứ: “Ta là Gáp-ri-ên, kẻ đứng trước mặt Đức Chúa Trời,” cho thấy rằng ông giữ một địa vị cao trọng trong các triều đình trên trời. Khi ông đến với một sứ điệp cho Đa-ni-ên, ông nói: “Chẳng có ai hiệp với ta trong những việc này, ngoại trừ Mi-ca-ên [Đấng Christ], thủ lãnh của các ngươi.” Đa-ni-ên 10:21. Về Gáp-ri-ên, Đấng Cứu Chúa phán trong sách Khải Huyền, rằng “Ngài đã sai thiên sứ của Ngài đến để bày tỏ điều ấy cho đầy tớ Ngài là Giăng.” Khải Huyền 1:1. Khát vọng các thời đại, 99.
The identification of a satanic symbol as a symbol of Christ is not only a parallel to the unpardonable sin, but the unpardonable sin is also associated with the rejection of the messengers who Christ sends. “The daily” then becomes the symbol of the unpardonable sin, and when it is understood that the “chosen one,” William Miller was led to the correct understanding of that truth, and when it was thereafter rejected, it fits directly into Second Thessalonians, which is the very passage of Scripture where Miller made his discovery. To reject that truth, is evidence of not loving the truth, and that rebellion produces a removal of the Holy Spirit and the delivery of the unholy spirit of Satan, which Paul identifies as strong delusion.
Việc xem một biểu tượng của Sa-tan như một biểu tượng của Đấng Christ không chỉ song song với tội không thể tha thứ, mà tội không thể tha thứ cũng gắn liền với việc khước từ các sứ giả mà Đấng Christ sai đi. Khi ấy “the daily” trở thành biểu tượng của tội không thể tha thứ, và khi hiểu rằng “người được chọn”, William Miller, đã được dẫn dắt đến sự hiểu biết đúng đắn về lẽ thật ấy, và khi lẽ thật đó về sau bị khước từ, thì điều này ăn khớp trực tiếp với Tê-sa-lô-ni-ca thứ hai, chính là đoạn Kinh Thánh nơi Miller đưa ra khám phá của mình. Khước từ lẽ thật đó là bằng chứng của việc không yêu mến lẽ thật, và sự phản loạn ấy dẫn đến sự rút lui của Đức Thánh Linh và sự phó mặc cho tà linh của Sa-tan, điều mà Phao-lô gọi là sự lừa dối mạnh mẽ.
Just as “the robbers of thy people”, who “establish the vision”, “the daily” is a symbol of pagan Rome. In the context of Second Thessalonians, Paul teaches that the rejection of the message of chapter two is evidence that those who do so, do not love the truth. Because they do not love the truth represented in the chapter, they receive strong delusion.
Cũng như "những kẻ cướp của dân ngươi", tức là những kẻ "làm ứng nghiệm khải tượng", "lễ hằng ngày" là một biểu tượng của La Mã ngoại giáo. Trong bối cảnh Thư II Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô dạy rằng việc khước từ sứ điệp của chương hai là bằng chứng cho thấy những người làm như vậy không yêu mến lẽ thật. Bởi vì họ không yêu mến lẽ thật được trình bày trong chương ấy, họ nhận lấy sự mê lầm mạnh mẽ.
All the prophets are addressing the last days, and previous inspired passages in this article identify that the strong delusion arrives upon those who do not love the truth during the outpouring of the Holy Spirit. One class is receiving the oil, and the other class is receiving strong delusion.
Tất cả các nhà tiên tri đều đề cập đến những ngày sau rốt, và những đoạn được soi dẫn trước đó trong bài viết này chỉ ra rằng sự lừa dối mạnh mẽ đến trên những người không yêu lẽ thật trong thời kỳ sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh. Một nhóm người đang nhận dầu, còn nhóm kia đang nhận sự lừa dối mạnh mẽ.
The Holy Spirit is poured out during the history when the Holy Spirit is being removed from those who reject the increase of knowledge that is opened up during the two testing periods of the sealing time from September 11, 2001 to the soon-coming Sunday law. Repeating a prior passage:
Đức Thánh Linh được tuôn đổ trong giai đoạn lịch sử khi Ngài đồng thời bị rút khỏi những ai khước từ sự gia tăng hiểu biết được mở ra trong hai giai đoạn thử thách của thời kỳ đóng ấn, từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 cho đến đạo luật ngày Chủ nhật sắp tới. Lặp lại một đoạn trước:
“Looking down to the last days, the same infinite power declares, concerning those who ‘received not the love of the truth, that they might be saved,’ ‘For this cause God shall send them strong delusion, that they should believe a lie: that they all might be damned who believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness.’ As they reject the teachings of His Word, God withdraws His Spirit, and leaves them to the deceptions which they love.” Early Writings, 46.
Nhìn đến những ngày sau rốt, chính quyền năng vô hạn ấy phán về những kẻ “không tiếp nhận tình yêu của lẽ thật để được cứu” rằng: “Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ sai đến cho họ sự mê lầm mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá; hầu cho hết thảy những kẻ không tin lẽ thật, nhưng vui thích trong sự bất chính, đều bị đoán phạt.” Khi họ khước từ những giáo huấn trong Lời Ngài, Đức Chúa Trời rút lại Thánh Linh của Ngài và phó mặc họ cho những sự lừa dối mà họ yêu thích. Những Bài Viết Đầu Tiên, 46.
Line upon line, Daniel teaches that in the last days, it is the robbers of thy people, (a symbol of Rome) that establishes the vision. The robbers are also represented as “the daily.” Solomon teaches that in the last days those who do not have the vision, perish, which is to be naked. To be made naked is to be a Laodicean, and a Laodicean is a foolish virgin.
Dòng trên dòng, Đa-ni-ên dạy rằng trong những ngày sau rốt, chính bọn cướp của dân ngươi (một biểu tượng của La Mã) khiến khải tượng được ứng nghiệm. Bọn cướp cũng được biểu trưng là “điều hằng ngày.” Sa-lô-môn dạy rằng trong những ngày sau rốt, những ai không có khải tượng thì bị diệt vong, tức là trần truồng. Bị làm cho trần truồng là trở thành một người La-ô-đi-xê, và một người La-ô-đi-xê là một trinh nữ dại.
“The state of the Church represented by the foolish virgins, is also spoken of as the Laodicean state.” Review and Herald, August 19, 1890.
Tình trạng của Hội Thánh được tượng trưng bởi các trinh nữ dại, cũng được gọi là tình trạng La-ô-đi-xê. Review and Herald, ngày 19 tháng 8, 1890.
To be a foolish virgin when the message of the Midnight Cry arrives is to manifest what John records in Revelation chapter sixteen as, “the shame of thy nakedness.” John’s warning in the sixth plague is in relation to the threefold union of the dragon, the beast and the false prophet who, since 1989, are in the process of leading the world to Armageddon.
Là một cô dại khi sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm đến tức là bộc lộ điều mà Giăng ghi lại trong Khải Huyền chương mười sáu là “sự hổ thẹn vì sự trần truồng của ngươi.” Lời cảnh báo của Giăng trong tai vạ thứ sáu liên quan đến liên minh ba phần của con rồng, con thú và tiên tri giả, những kẻ từ năm 1989 đang dẫn dắt thế giới đến A-ma-ghê-đôn.
Paul’s message in Second Thessalonians is not simply about pagan Rome being represented by Daniel as “the daily,” but the chapter is emphasizing the relationship of pagan Rome to papal Rome. Pagan Rome restrained (withholdeth) the man of sin from coming to the throne of the earth in 538. Once pagan Rome was taken away, then “the mystery of iniquity,” “that wicked” who is the pope of Rome, is revealed. In the chapter Paul is identifying a specific prophetic relationship between pagan and papal Rome. To reject the teaching of the chapter is to reject the truth and receive strong delusion.
Sứ điệp của Phao-lô trong Tê-sa-lô-ni-ca thứ nhì không chỉ nói về việc La Mã ngoại giáo được Đa-ni-ên mô tả như “the daily”, mà chương này nhấn mạnh mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng. La Mã ngoại giáo đã ngăn trở (withholdeth) con người tội ác khỏi việc lên ngai trị vì trên đất vào năm 538. Khi La Mã ngoại giáo bị dẹp bỏ, thì “mầu nhiệm của sự gian ác”, “kẻ gian ác” tức là giáo hoàng của La Mã, được bày tỏ. Trong chương ấy, Phao-lô xác định một mối quan hệ tiên tri cụ thể giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng. Khước từ sự dạy dỗ của chương này là khước từ lẽ thật và chuốc lấy sự mê lầm mạnh mẽ.
Let no man deceive you by any means: for that day shall not come, except there come a falling away first, and that man of sin be revealed, the son of perdition; Who opposeth and exalteth himself above all that is called God, or that is worshipped; so that he as God sitteth in the temple of God, shewing himself that he is God. Remember ye not, that, when I was yet with you, I told you these things? And now ye know what withholdeth that he might be revealed in his time. For the mystery of iniquity doth already work: only he who now letteth will let, until he be taken out of the way. And then shall that Wicked be revealed, whom the Lord shall consume with the spirit of his mouth, and shall destroy with the brightness of his coming: Even him, whose coming is after the working of Satan with all power and signs and lying wonders, And with all deceivableness of unrighteousness in them that perish; because they received not the love of the truth, that they might be saved. And for this cause God shall send them strong delusion, that they should believe a lie: That they all might be damned who believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness. 2 Thessalonians 2:3–12.
Đừng để ai lừa dối anh em bằng bất cứ cách nào; vì ngày ấy sẽ không đến, nếu trước hết không xảy ra sự bội đạo, và kẻ tội ác, con của sự hư mất, được bày tỏ; kẻ chống đối và tôn mình lên trên mọi điều được gọi là Đức Chúa Trời hay mọi đối tượng thờ phượng, đến nỗi hắn ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tự tỏ mình là Đức Chúa Trời. Anh em há không nhớ rằng, khi tôi còn ở với anh em, tôi đã nói những điều ấy với anh em sao? Và bây giờ anh em biết điều đang ngăn trở, để hắn chỉ được bày tỏ đúng thì giờ của mình. Vì mầu nhiệm của sự gian ác đã hoạt động rồi; chỉ có người đang ngăn trở hiện nay còn ngăn trở, cho đến khi người ấy được dời đi. Bấy giờ kẻ gian ác sẽ được bày tỏ, kẻ mà Chúa sẽ tiêu diệt bằng hơi thở từ miệng Ngài và hủy diệt bằng ánh sáng rực rỡ khi Ngài đến; tức là kẻ mà sự đến của hắn là theo hoạt động của Sa-tan, với mọi quyền năng, các dấu lạ và phép lạ dối trá, và với mọi sự lừa dối của điều gian ác đối với những kẻ bị hư mất, vì họ đã không tiếp nhận tình yêu của lẽ thật để được cứu. Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ sai đến cho họ sự lầm lạc mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá, hầu cho tất cả những kẻ không tin lẽ thật nhưng ưa thích sự gian ác đều bị kết án. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-12.
Why are these last-day people “damned?” Why are they sent “strong delusion?” Why do they “perish” and thus reveal the shame of their nakedness? The passage states it is because they do not love the truth, and the truth set forth in the chapter identifies that pagan Rome, the fourth kingdom of Bible prophecy, would prevent papal Rome, the fifth kingdom of Bible prophecy, from ascending to the throne until paganism was taken away.
Tại sao những người ở thời kỳ sau rốt này lại “bị kết án”? Tại sao họ bị phó cho “một sự mê lầm mạnh mẽ”? Tại sao họ “diệt vong” và qua đó để lộ sự xấu hổ vì sự trần truồng của họ? Đoạn văn cho biết đó là vì họ không yêu mến lẽ thật, và lẽ thật được trình bày trong chương này xác định rằng La Mã ngoại giáo, vương quốc thứ tư trong lời tiên tri Kinh Thánh, sẽ ngăn cản La Mã giáo hoàng, vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh, lên ngai cho đến khi chủ nghĩa ngoại giáo bị dẹp bỏ.
The relationship between pagan and papal Rome that is identified in the chapter is also identified by John with the relationship of the church of Pergamos and the church of Thyatira. Pergamos aligns with pagan Rome and Thyatira is papal Rome. Paul and John provide two witnesses of the relationship of the two powers, as does the book of Daniel.
Mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng được chỉ ra trong chương cũng được Giăng liên hệ với mối quan hệ giữa hội thánh Pergamos và hội thánh Thyatira. Pergamos tương ứng với La Mã ngoại giáo, còn Thyatira là La Mã giáo hoàng. Phao-lô và Giăng cung cấp hai nhân chứng cho mối quan hệ của hai quyền lực này, và sách Đa-ni-ên cũng vậy.
In the book of Daniel, the relationship of pagan Rome with papal Rome is repeatedly set forth. In Daniel two, it is represented by the mixture of iron with miry clay. In Daniel seven both pagan and papal Rome are the “diverse” kingdoms, and though Daniel two illustrates the two powers as a mixture, chapter seven identifies that the papal power proceeds out of the ten horned kingdom of pagan Rome. In Daniel eight the little horn of verses nine through twelve is Rome in both its phases. Verses nine and eleven are the little horn in the masculine tense, thus identifying pagan Rome, and verses ten and twelve are the little horn in the feminine tense, thus identifying papal Rome.
Trong sách Đa-ni-ên, mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng được trình bày nhiều lần. Trong Đa-ni-ên đoạn 2, điều đó được biểu thị bằng sự pha trộn của sắt với đất sét lấm bùn. Trong Đa-ni-ên đoạn 7, cả La Mã ngoại giáo lẫn La Mã giáo hoàng đều là các vương quốc “khác lạ”; và dù Đa-ni-ên đoạn 2 minh họa hai quyền lực như một sự pha trộn, đoạn 7 xác định rằng quyền lực giáo hoàng xuất phát từ vương quốc mười sừng của La Mã ngoại giáo. Trong Đa-ni-ên đoạn 8, “sừng nhỏ” ở các câu 9 đến 12 là La Mã trong cả hai giai đoạn của nó. Các câu 9 và 11 dùng giống đực cho “sừng nhỏ”, qua đó xác định La Mã ngoại giáo; còn các câu 10 và 12 dùng giống cái cho “sừng nhỏ”, qua đó xác định La Mã giáo hoàng.
In Daniel chapter eight, verse thirteen, pagan and papal Rome are portrayed as two desolating powers. Pagan Rome is “the daily” desolating power, and papal Rome is the transgression desolating power. In chapter eleven, verse thirty-one “the daily” desolating power of pagan Rome places the abomination desolating power, which is the papal power. In chapter twelve, verse eleven “the daily” desolating power of pagan Rome is removed in order to set up the abomination desolating power of the papacy.
Trong Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba, La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng được mô tả như hai quyền lực gây hoang tàn. La Mã ngoại giáo là quyền lực hoang tàn của “sự hằng ngày”, còn La Mã giáo hoàng là quyền lực hoang tàn của “sự vi phạm”. Trong chương mười một, câu ba mươi mốt, quyền lực hoang tàn của “sự hằng ngày” thuộc La Mã ngoại giáo dựng nên quyền lực gớm ghiếc gây hoang tàn, tức là giáo quyền. Trong chương mười hai, câu mười một, quyền lực hoang tàn của “sự hằng ngày” thuộc La Mã ngoại giáo bị dẹp bỏ để thiết lập quyền lực gớm ghiếc gây hoang tàn của giáo quyền.
The relationship of the two desolating powers of Rome is a primary theme of the books of Daniel and Revelation, and that relationship is what Paul identifies as the truth that must be loved if a person will shun the strong delusion that is produced by believing a lie. God is never redundant, and each representation of the relationship of pagan Rome with papal Rome provides its own special testimony upon the subject, but to reject the symbol of Rome in the last days, is to reject the latter rain and receive strong delusion in its place. It is to be forever identified as a naked Laodicean.
Mối quan hệ giữa hai quyền lực gây hoang tàn của La Mã là một chủ đề trọng tâm của hai sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, và chính mối quan hệ ấy là điều Phao-lô xác định là lẽ thật phải được yêu mến nếu một người muốn tránh khỏi cơn mê lầm mạnh mẽ phát sinh từ việc tin một điều dối trá. Đức Chúa Trời không bao giờ dư thừa, và mỗi sự trình bày về mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo với La Mã giáo hoàng đều cung cấp một lời chứng đặc thù về vấn đề này; nhưng khước từ biểu tượng của La Mã trong những ngày sau rốt tức là khước từ cơn mưa muộn và lãnh lấy sự mê lầm mạnh mẽ thay vào đó. Ấy là bị vĩnh viễn nhận diện như một người La-ô-đi-xê trần truồng.
The Laodicean Adventist historians, though manifesting no sacred respect for the role and work of William Miller, do identify that it was his recognition of the relationship of pagan and papal Rome that was the prophetic structure which he built “all” of his prophetic applications. Gabriel and the other angels led Miller to understand the relationship of pagan and papal Rome, but in his history, he did not see Rome as a threefold entity consisting of the dragon, the beast and the false prophet.
Những nhà sử học Cơ Đốc Phục Lâm mang tinh thần La-ô-đi-xê, tuy không bày tỏ sự kính trọng thiêng liêng đối với vai trò và công việc của William Miller, vẫn thừa nhận rằng chính sự nhận biết mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng của ông là cấu trúc tiên tri mà trên đó ông xây dựng "toàn bộ" các ứng dụng tiên tri của mình. Gabriel và các thiên sứ khác đã dẫn dắt Miller hiểu mối quan hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, nhưng trong cách trình bày lịch sử của mình, ông không xem La Mã là một thực thể ba phần gồm con rồng, con thú và tiên tri giả.
In his time the United States had not yet begun its role as the false prophet, for the Protestants of the United States did not become the daughters of Rome until 1844, and the foundational work of Miller had already been located upon the 1843 chart which was produced in May of 1842.
Vào thời của ông ấy, Hoa Kỳ vẫn chưa bắt đầu vai trò tiên tri giả, vì những người Tin Lành ở Hoa Kỳ chưa trở thành các con gái của La Mã cho đến năm 1844, và công trình nền tảng của Miller đã được trình bày trên biểu đồ năm 1843, được xuất bản vào tháng 5 năm 1842.
In 1989 the last six verses of Daniel chapter eleven were unsealed, and the messenger for that period of time recognized that there were three powers whose prophetic activities ran through verses forty to forty-five of chapter eleven. The king of the south in verse forty is the dragon power, the king of the north is the papal power who had been delivered its deadly wound in the beginning of the verse in 1798, at the hands of the dragon power of Napoleonic France. In the verse the papal power begins the work of healing its deadly wound. In 1989 the king of the north retaliates against the dragon power of the Soviet Union, who had then become the king of the south. When the beast of Catholicism retaliated against the Soviet Union it came with the proxy army of the United States, the false prophet of Revelation chapter sixteen. The dragon king of the south, the beast king of the north and the false prophet of chariots, horsemen and ships are all illustrated in verse forty, and the prophetic line ends in verse forty-five, when the papal power “comes to his end with none to help.”
Năm 1989, sáu câu cuối của chương mười một sách Đa-ni-ên đã được mở ấn, và sứ giả cho thời kỳ ấy nhận ra rằng có ba quyền lực mà các hoạt động tiên tri của họ trải dài từ câu bốn mươi đến bốn mươi lăm của chương mười một. Vua phương nam trong câu bốn mươi là quyền lực con rồng, còn vua phương bắc là quyền lực giáo hoàng, đã bị giáng vết thương chí tử ở phần đầu câu vào năm 1798, bởi tay quyền lực con rồng của nước Pháp thời Napoléon. Trong câu này, quyền lực giáo hoàng bắt đầu công cuộc chữa lành vết thương chí tử của mình. Năm 1989, vua phương bắc trả đũa quyền lực con rồng là Liên Xô, khi ấy đã trở thành vua phương nam. Khi con thú của Công giáo trả đũa Liên Xô, nó đi cùng đội quân ủy nhiệm của Hoa Kỳ, là tiên tri giả trong Khải Huyền chương mười sáu. Vua phương nam là con rồng, vua phương bắc là con thú, và tiên tri giả của xe chiến, kỵ binh và tàu thuyền đều được minh họa trong câu bốn mươi, và dòng tiên tri kết thúc ở câu bốn mươi lăm, khi quyền lực giáo hoàng "đi đến chỗ tận cùng mà không ai giúp đỡ".
Armageddon, in Revelation sixteen is a symbolic geographical area identifying the rebellion of mankind that precedes the return of Christ. Armageddon is a symbol of the word is made from two words, “Har” meaning mountain, and “Megiddo,” which is the valley of Jezreel. The fact that John combined a mountain with Megiddo, when Megiddo is a valley, informs the student of prophecy that Armageddon is a symbol, which contains a geographical reference, for there is no mountain in the valley of Jezreel.
Armageddon, trong Khải Huyền chương mười sáu, là một khu vực địa lý mang tính biểu tượng, dùng để chỉ cuộc nổi loạn của nhân loại diễn ra trước khi Đấng Christ tái lâm. Armageddon là một biểu tượng; từ này được tạo thành từ hai từ: "Har" nghĩa là núi, và "Megiddo", là thung lũng Jezreel. Việc Giăng kết hợp một ngọn núi với Megiddo, khi Megiddo là một thung lũng, cho người nghiên cứu lời tiên tri biết rằng Armageddon là một biểu tượng có chứa một tham chiếu địa lý, vì trong thung lũng Jezreel không có ngọn núi nào.
The Jezreel Valley is situated between the three seas (Mediterranean Sea, Sea of Galilee, and Dead Sea) and Jerusalem. It is relatively central in northern Israel, with these three bodies of water and Jerusalem located around it in different directions. Verse forty-five of Daniel eleven is where the king of the north comes to his end with none to help, and the verse identifies his geographical end as between the seas and the glorious holy mountain of Jerusalem. Verse forty of Daniel eleven introduces the three powers that are the subjects of the healing of the deadly wound of the papal power and its ultimate end.
Thung lũng Jezreel nằm giữa ba biển (Địa Trung Hải, Biển Ga-li-lê và Biển Chết) và Giê-ru-sa-lem. Nó nằm khá trung tâm ở miền bắc Israel, với ba thủy vực này và Giê-ru-sa-lem nằm quanh nó theo các hướng khác nhau. Câu 45 của Đa-ni-ên đoạn 11 là nơi vua phương bắc đi đến chỗ tận cùng mà không ai giúp đỡ, và câu này xác định nơi chấm dứt về mặt địa lý của ông là giữa các biển và núi thánh vinh hiển của Giê-ru-sa-lem. Câu 40 của Đa-ni-ên đoạn 11 giới thiệu ba quyền lực liên quan đến việc vết thương chí tử của quyền lực giáo hoàng được chữa lành và đến kết cục cuối cùng của nó.
The first phrase of the verses identifies the time of the end in 1798, when the papacy received its deadly wound and verse forty-five identifies its permanent deadly wound. The prophetic history between the first and last death of the papal power identifies the rebellion of mankind as they restore the ascendancy of the papal power, when its deadly wound is healed in advance of the papal power’s ultimate demise. The six verses bear the signature of truth, for the beginning and end are both the death of the papal power, and the middle verses are the rebellion of mankind as the first deadly wound is healed.
Mệnh đề mở đầu của các câu ấy xác định thời kỳ cuối cùng vào năm 1798, khi giáo quyền La Mã nhận lãnh vết thương chí tử; và câu bốn mươi lăm xác định vết thương chí tử vĩnh viễn của nó. Lịch sử tiên tri giữa cái chết thứ nhất và cái chết sau cùng của quyền lực giáo hoàng chỉ ra sự phản loạn của nhân loại khi họ khôi phục thế thượng phong của quyền lực giáo hoàng, khi vết thương chí tử của nó được chữa lành trước lúc quyền lực giáo hoàng cuối cùng bị diệt vong. Sáu câu mang dấu ấn của chân lý, vì phần đầu và phần cuối đều là cái chết của quyền lực giáo hoàng, còn các câu ở giữa là sự phản loạn của nhân loại khi vết thương chí tử thứ nhất được chữa lành.
Miller was given light from heavenly angels upon the relation of pagan and papal Rome. The key for Miller’s understanding of the prophetic model, which he employed for all of his prophetic applications, was “the daily” in Second Thessalonians. “The daily” in that chapter is pagan Rome, which is what established the vision that William Miller came to understand, for it is Rome, the robbers of thy people in verse fourteen of chapter eleven, that establishes the vision.
Miller đã được các thiên sứ trên trời soi sáng về mối liên hệ giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng. Chìa khóa cho sự hiểu biết của Miller về mô hình tiên tri, mà ông sử dụng cho mọi áp dụng tiên tri của mình, là “sự hằng ngày” trong Tê-sa-lô-ni-ca thứ hai. “Sự hằng ngày” trong chương đó là La Mã ngoại giáo; điều ấy đã xác lập khải tượng mà William Miller hiểu, vì chính La Mã—“những kẻ cướp của dân ngươi” trong câu mười bốn của chương mười một—đã thiết lập khải tượng.
The messenger raised up to understand the increase of knowledge in 1989 came to understand the threefold nature of Rome. Miller was the messenger of the first and second angels, and he understood the first and second manifestations of Rome to establish the vision he presented to the world. The messenger of the third angel came to understand all three manifestations of Rome in order to establish the vision he was given to proclaim to the world.
Sứ giả được dấy lên để hiểu về sự gia tăng của tri thức vào năm 1989 đã hiểu bản chất ba phương diện của La Mã. Miller là sứ giả của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, và ông đã hiểu những biểu hiện thứ nhất và thứ hai của La Mã để thiết lập khải tượng mà ông trình bày cho thế giới. Sứ giả của thiên sứ thứ ba đã hiểu cả ba biểu hiện của La Mã để thiết lập khải tượng mà ông được ban cho để công bố cho thế giới.
The first manifestation of Rome was pagan Rome. Out of pagan Rome came papal Rome, the second manifestation. Out of the first two manifestations came modern Rome, the threefold alliance of the dragon, the beast and false prophet.
Hiện thân đầu tiên của La Mã là La Mã ngoại giáo. Từ La Mã ngoại giáo xuất hiện La Mã giáo hoàng, hiện thân thứ hai. Từ hai hiện thân đầu tiên ấy xuất hiện La Mã hiện đại, liên minh bộ ba gồm con rồng, con thú và tiên tri giả.
We will continue the line of the controversy of “the daily” in Advent history in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục mạch của cuộc tranh cãi về "the daily" trong lịch sử Phục Lâm trong bài viết tiếp theo.
“One who sees beneath the surface, who reads the hearts of all men, says of those who have had great light: ‘They are not afflicted and astonished because of their moral and spiritual condition.’ Yea, they have chosen their own ways, and their soul delighteth in their abominations. I also will choose their delusions, and will bring their fears upon them; because when I called, none did answer; when I spake, they did not hear: but they did evil before Mine eyes, and chose that in which I delighted not.’ ‘God shall send them strong delusion, that they should believe a lie,’ because they received not the love of the truth, that they might be saved,’ ‘but had pleasure in unrighteousness.’ Isaiah 66:3, 4; 2 Thessalonians 2:11, 10, 12.
"Đấng thấy điều ẩn kín, Đấng thấu suốt lòng mọi người, phán về những kẻ đã nhận được ánh sáng lớn: 'Chúng chẳng buồn khổ và kinh ngạc vì tình trạng đạo đức và thuộc linh của mình.' Phải, chúng đã chọn đường lối riêng mình, và linh hồn chúng vui thích trong những điều gớm ghiếc của chúng. Ta cũng sẽ chọn sự mê lầm cho chúng, và sẽ giáng những điều chúng sợ hãi trên chúng; vì khi Ta gọi, chẳng ai đáp; khi Ta phán, chúng chẳng nghe; nhưng chúng đã làm điều ác trước mắt Ta, và đã chọn điều Ta chẳng đẹp lòng.' 'Đức Chúa Trời sẽ khiến họ mắc phải sự mê lầm mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá,' vì họ đã không nhận tình yêu của lẽ thật, để họ được cứu,' 'nhưng lại vui thích trong điều bất nghĩa.' Ê-sai 66:3, 4; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11, 10, 12."
“The heavenly Teacher inquired: ‘What stronger delusion can beguile the mind than the pretense that you are building on the right foundation and that God accepts your works, when in reality you are working out many things according to worldly policy and are sinning against Jehovah? Oh, it is a great deception, a fascinating delusion, that takes possession of minds when men who have once known the truth, mistake the form of godliness for the spirit and power thereof; when they suppose that they are rich and increased with goods and in need of nothing, while in reality they are in need of everything.’
Vị Thầy trên trời hỏi: "Có sự mê lầm nào mạnh mẽ hơn có thể đánh lừa tâm trí hơn ảo tưởng cho rằng các ngươi đang xây dựng trên nền tảng đúng đắn và rằng Đức Chúa Trời chấp nhận công việc của các ngươi, trong khi kỳ thực các ngươi đang thực hiện nhiều điều theo đường lối thế gian và đang phạm tội cùng Đức Giê-hô-va chăng? Ôi, đó là một sự lừa dối lớn, một ảo tưởng mê hoặc, chiếm lấy tâm trí khi những người đã từng biết lẽ thật lại lầm lẫn hình thức của sự tin kính với tinh thần và quyền năng của nó; khi họ tưởng rằng mình giàu có, đã trở nên dư dật và chẳng cần gì hết, trong khi thực ra họ thiếu thốn mọi điều."
“God has not changed toward His faithful servants who are keeping their garments spotless. But many are crying, ‘Peace and safety,’ while sudden destruction is coming upon them. Unless there is thorough repentance, unless men humble their hearts by confession and receive the truth as it is in Jesus, they will never enter heaven. When purification shall take place in our ranks, we shall no longer rest at ease, boasting of being rich and increased with goods, in need of nothing.
Đức Chúa Trời không hề thay đổi đối với các tôi tớ trung tín của Ngài, là những người giữ áo xống mình tinh sạch, không vết nhơ. Nhưng nhiều người đang kêu lên: “Bình an và an ổn,” trong khi sự hủy diệt bất ngờ đang ập đến trên họ. Nếu không có sự ăn năn triệt để, nếu người ta không khiêm nhường lòng mình qua sự xưng tội và tiếp nhận lẽ thật như vốn có trong Chúa Giê-xu, thì họ sẽ chẳng bao giờ vào được thiên đàng. Khi sự thanh tẩy diễn ra trong hàng ngũ chúng ta, chúng ta sẽ không còn ngồi yên tự mãn, khoe rằng mình giàu có, đã nên giàu, chẳng cần chi hết.
“Who can truthfully say: ‘Our gold is tried in the fire; our garments are unspotted by the world’? I saw our Instructor pointing to the garments of so-called righteousness. Stripping them off, He laid bare the defilement beneath. Then He said to me: ‘Can you not see how they have pretentiously covered up their defilement and rottenness of character? ‘How is the faithful city become an harlot!’ My Father’s house is made a house of merchandise, a place whence the divine presence and glory have departed! For this cause there is weakness, and strength is lacking.’” Testimonies, volume 8, 249, 250.
Ai có thể chân thật nói: 'Vàng của chúng ta đã được luyện trong lửa; áo xống của chúng ta không bị thế gian làm vấy bẩn'? Tôi thấy Vị Thầy của chúng ta chỉ vào những áo xống của cái gọi là sự công chính. Lột bỏ chúng, Ngài phơi bày sự ô uế bên dưới. Rồi Ngài nói với tôi: 'Há ngươi không thấy họ đã giả hình che đậy sự ô uế và sự thối nát trong tính cách của họ như thế nào sao? "Than ôi, thành trung tín đã trở nên một đĩ điếm!" Nhà Cha Ta đã bị biến thành nhà buôn bán, một nơi mà sự hiện diện và vinh quang thiêng liêng đã rời khỏi! Vì cớ này nên có sự yếu đuối, và thiếu vắng sức mạnh.' Lời chứng, tập 8, 249, 250.