The theme in verses eleven and twelve is the rise and fall of the king of the south, as is the final rise and fall of the United States represented in the final president in verse two, as is the final earthly representative of the dragon power; the United Nation’s final rise and fall represented in verses three and four. Verses five through nine represent the history of the papal power from 538 unto 1798. 538 marks the empowerment of the papal power, 1798 marks the deadly wound of the papacy, and therefore verses five through nine represent the final rise and fall of the beast. Verse ten marks 1989 as the fall of the king of the south as represented in the former Soviet Union.
Chủ đề trong các câu mười một và mười hai là sự trỗi dậy và sụp đổ của vua phương nam, cũng như sự trỗi dậy và sụp đổ cuối cùng của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ được thể hiện qua vị tổng thống cuối cùng trong câu hai, cũng như đại diện trần thế cuối cùng của quyền lực con rồng; sự trỗi dậy và sụp đổ cuối cùng của Liên Hiệp Quốc được thể hiện trong các câu ba và bốn. Các câu từ năm đến chín trình bày lịch sử của giáo quyền từ năm 538 đến năm 1798. Năm 538 đánh dấu việc giáo quyền được trao quyền lực, năm 1798 đánh dấu vết thương chí tử của giáo triều, và vì vậy các câu từ năm đến chín đại diện cho sự trỗi dậy và sụp đổ cuối cùng của con thú. Câu mười đánh dấu năm 1989 là sự sụp đổ của vua phương nam, được đại diện bởi Liên Xô cũ.
“Every nation that has come upon the stage of action has been permitted to occupy its place on the earth, that it might be seen whether it would fulfill the purpose of ‘the Watcher and the Holy One.’ Prophecy has traced the rise and fall of the world’s great empires—Babylon, Medo-Persia, Greece, and Rome. With each of these, as with nations of less power, history repeated itself. Each had its period of test, each failed, its glory faded, its power departed, and its place was occupied by another. . . .
Mọi quốc gia khi bước lên vũ đài lịch sử đều được phép chiếm vị trí của mình trên đất, hầu cho có thể thấy liệu nó có thực hiện mục đích của ‘Đấng Canh Giữ và Đấng Thánh’ hay không. Lời tiên tri đã vạch ra sự hưng vong của những đế quốc vĩ đại trên thế giới—Ba-by-lôn, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp và La Mã. Với mỗi đế quốc này, cũng như với các quốc gia kém quyền lực hơn, lịch sử lại tái diễn. Mỗi đế quốc đều có thời kỳ thử thách; rồi đều thất bại; vinh quang phai tàn, quyền lực suy tàn, và chỗ của nó bị một đế quốc khác thay thế. . . .
“From the rise and fall of nations as made plain in the pages of Holy Writ, they need to learn how worthless is mere outward and worldly glory. Babylon, with all its power and its magnificence, the like of which our world has never since beheld,—power and magnificence which to the people of that day seemed so stable and enduring,—how completely has it passed away! As ‘the flower of the grass’ it has perished. So perishes all that has not God for its foundation. Only that which is bound up with His purpose and expresses His character can endure. His principles are the only steadfast things our world knows.” Education, 177, 184.
"Từ sự hưng vong của các dân tộc như đã được bày tỏ rõ ràng trong các trang Kinh Thánh, họ cần học biết rằng vinh quang chỉ là bề ngoài và thuộc thế gian thì vô giá trị biết bao. Ba-by-lôn, với tất cả quyền lực và sự huy hoàng của nó—những điều mà thế giới chúng ta từ đó đến nay chưa từng chứng kiến điều gì sánh bằng—quyền lực và sự huy hoàng mà đối với người đương thời dường như rất vững chắc và bền lâu—đã tiêu vong hoàn toàn biết bao! Như 'bông hoa của cỏ', nó đã tàn lụi. Cũng vậy, mọi sự không lấy Đức Chúa Trời làm nền tảng đều tiêu vong. Chỉ những gì gắn liền với mục đích của Ngài và bày tỏ bản tính của Ngài mới có thể bền vững. Những nguyên tắc của Ngài là những điều bền vững duy nhất mà thế giới chúng ta biết đến." Education, 177, 184.
Verses eleven and twelve identify the final rise and fall of the king of the south, as represented by Russia. Verses thirteen through fifteen identify the final rise and fall of the United States. The entire prophetic narrative of chapter eleven is built upon the structure of the rise and fall of kingdoms. The student of prophecy must consider this fact if he is to have any possibility of rightly dividing the prophetic message of chapter eleven.
Câu 11 và 12 xác định sự trỗi dậy và suy sụp cuối cùng của vua phương nam, do Nga đại diện. Câu 13 đến 15 xác định sự trỗi dậy và suy sụp cuối cùng của Hoa Kỳ. Toàn bộ trình thuật tiên tri của chương mười một được xây dựng trên cấu trúc hưng vong của các vương quốc. Người nghiên cứu về lời tiên tri phải lưu ý thực tế này nếu muốn có bất kỳ khả năng nào để diễn giải đúng đắn thông điệp tiên tri của chương mười một.
The foundational perspective of Daniel chapter eleven is that it consists of repeated illustrations of the rise and fall of kingdoms. When Sister White stated, “So perished the Medo-Persian kingdom, and the kingdoms of Grecia and Rome,” she is identifying “Grecia” as the dragon, “Rome” as the beast and “Medo-Persia” as the false prophet. She is identifying the final rise and fall of the final earthly kingdom which consists of the dragon, the beast and the false prophet who begin their rise at the Sunday law and lead the world to Armageddon in fulfillment of Revelation 16:12–21. She is directing God’s people to “the rise and fall of nations as made plain in the pages of Holy Writ” as the perspective to employ in order “to learn how worthless is mere outward and worldly glory.”
Quan điểm nền tảng của chương mười một sách Đa-ni-ên là nó gồm những minh họa lặp lại về sự hưng vong của các vương quốc. Khi Chị White phát biểu: “Vậy là vương quốc Mê-đi Ba Tư, cùng các vương quốc Grecia và Rome, đã diệt vong,” bà đang xác định “Grecia” là con rồng, “Rome” là con thú, và “Medo-Persia” là tiên tri giả. Bà đang xác định sự trỗi dậy và sụp đổ sau cùng của vương quốc trần thế cuối cùng, vốn gồm con rồng, con thú và tiên tri giả, những kẻ bắt đầu trỗi dậy vào thời điểm luật ngày Chủ nhật và dẫn dắt thế giới đến Armageddon để ứng nghiệm Khải Huyền 16:12-21. Bà đang hướng dân sự của Đức Chúa Trời đến “sự thăng trầm của các quốc gia như đã được bày tỏ rõ ràng trên các trang Thánh Kinh” như là góc nhìn cần áp dụng để “học biết vinh quang chỉ bề ngoài và thuộc về thế gian thì vô giá trị đến mức nào.”
The reason we need “to learn how worthless is mere outward and worldly glory,” is to further understand that everything perishes “that has not God for its foundation.” It is therefore a life-or-death proposition to have God or not to have God as your foundation. From that point in the development of the thought Sister White then defines what it means to have God as your foundation when she states, “Only that which is bound up with His purpose and expresses His character can endure.” She has just explained that everything not on God’s foundation perishes, and that a two-fold qualifier of what is built upon the foundation is whether a thing is “bound up with His purposes,” and that which “expresses His character.” His character is His foundation.
Lý do chúng ta cần “học biết sự vô giá trị của vinh quang chỉ bề ngoài và trần thế” là để hiểu sâu hơn rằng mọi sự đều tiêu vong “nếu không có Đức Chúa Trời làm nền tảng.” Vì thế, việc có hay không có Đức Chúa Trời làm nền tảng cho bạn là vấn đề sống còn. Từ điểm đó trong mạch phát triển tư tưởng, Bà White xác định điều có nghĩa là có Đức Chúa Trời làm nền tảng khi bà nói: “Chỉ điều gì gắn liền với mục đích của Ngài và bày tỏ tính cách của Ngài mới có thể bền vững.” Bà vừa giải thích rằng mọi điều không ở trên nền tảng của Đức Chúa Trời đều tiêu vong, và rằng có hai tiêu chí cho những gì được xây trên nền tảng ấy: liệu một điều có “gắn liền với mục đích của Ngài” và liệu nó có “bày tỏ tính cách của Ngài” hay không. Tính cách của Ngài chính là nền tảng của Ngài.
Then in the closing sentence of the paragraph she states that “His principles are the only steadfast things our world knows.” God’s character is His principles, and His principles express His character. It is a life-or-death proposition on how mankind relates to God as the foundation of all things. I contend that the foundational structure of Daniel chapter eleven is built upon the narrative of the rise and fall of kingdoms. There is a passage where inspiration informs us of a correct type of study.
Rồi ở câu kết của đoạn văn, bà nói rằng: “Các nguyên tắc của Ngài là những điều vững bền duy nhất mà thế giới chúng ta biết đến.” Bản tính của Đức Chúa Trời là các nguyên tắc của Ngài, và các nguyên tắc của Ngài bày tỏ bản tính của Ngài. Đó là một vấn đề sống còn về cách loài người liên hệ với Đức Chúa Trời, Đấng là nền tảng của muôn sự. Tôi cho rằng cấu trúc nền tảng của Đa-ni-ên đoạn mười một được xây dựng trên trình thuật về sự trỗi dậy và suy vong của các vương quốc. Có một đoạn mà sự linh hứng chỉ cho chúng ta một kiểu học đúng đắn.
“There is a study of history that is not to be condemned. Sacred history was one of the studies in the schools of the prophets. In the record of His dealings with the nations were traced the footsteps of Jehovah. So today we are to consider the dealings of God with the nations of the earth. We are to see in history the fulfillment of prophecy, to study the workings of Providence in the great reformatory movements, and to understand the progress of events in the marshaling of the nations for the final conflict of the great controversy.” The Ministry of Healing, 441.
Có một cách nghiên cứu lịch sử không đáng bị lên án. Lịch sử thiêng liêng là một trong những môn học tại các trường của các nhà tiên tri. Trong các ghi chép về cách Ngài đối đãi với các dân tộc, có thể lần theo dấu chân của Giê-hô-va. Vậy ngày nay chúng ta phải xem xét cách Đức Chúa Trời đối đãi với các dân tộc trên đất. Chúng ta phải thấy trong lịch sử sự ứng nghiệm những lời tiên tri, nghiên cứu sự vận hành của Sự Quan Phòng trong các phong trào cải cách lớn, và hiểu diễn tiến của các sự kiện trong sự dàn trận các dân tộc cho trận xung đột cuối cùng của cuộc đại tranh đấu. Chức Vụ Chữa Lành, 441.
A sanctified study of history is identified as studying God’s dealing with the nations of the earth and also in God’s providential leading of His reformatory movements, thus a sanctified history includes an external and internal line of study. The purpose of employing history in confirming God’s prophetic Word is to use that prophetic history in order to “understand the progress of events in the marshaling of the nations for the final conflict of the great controversy.” The previous paragraph from Sister White was taken from a very enlightened explanation of the necessity of building a prophetic model of sacred history which is based upon the foundational structure represented in the “rise and fall” of kingdoms.
Nghiên cứu lịch sử theo tinh thần được thánh hóa được hiểu là nghiên cứu sự đối đãi của Đức Chúa Trời đối với các dân tộc trên đất, đồng thời nghiên cứu sự dẫn dắt quan phòng của Ngài trong các phong trào cải chánh của Ngài; vì vậy, một lịch sử được thánh hóa bao gồm một mạch nghiên cứu ngoại tại và một mạch nghiên cứu nội tại. Mục đích của việc vận dụng lịch sử để xác nhận Lời tiên tri của Đức Chúa Trời là dùng chính lịch sử tiên tri ấy để "hiểu được tiến trình của các biến cố trong sự dàn trận của các dân tộc cho cuộc xung đột cuối cùng của Cuộc Đại Tranh Chiến." Đoạn văn trước đó của Bà White được trích từ một lời giải thích rất sáng suốt về sự cần thiết phải xây dựng một mô hình tiên tri của lịch sử thánh, dựa trên cấu trúc nền tảng được thể hiện trong "sự hưng vong" của các vương quốc.
“As a preparation for Christian work, many think it essential to acquire an extensive knowledge of historical and theological writings. They suppose that this knowledge will be an aid to them in teaching the gospel. But their laborious study of the opinions of men tends to the enfeebling of their ministry, rather than to its strengthening. As I see libraries filled with ponderous volumes of historical and theological lore, I think, Why spend money for that which is not bread? The sixth chapter of John tells us more than can be found in such works. Christ says: ‘I am the Bread of Life: he that cometh to Me shall never hunger; and he that believeth on Me shall never thirst.’ ‘I am the living Bread which came down from heaven: if any man eat of this Bread, he shall live forever.’ ‘He that believeth on Me hath everlasting life.’ ‘The words that I speak unto you, they are spirit, and they are life.’ John 6:35, 51, 47, 63.
Để chuẩn bị cho công tác Cơ Đốc, nhiều người cho rằng điều thiết yếu là phải trang bị kiến thức sâu rộng về các trước tác lịch sử và thần học. Họ cho rằng kiến thức ấy sẽ giúp ích cho họ trong việc giảng dạy Tin Lành. Nhưng việc miệt mài nghiên cứu các quan điểm của con người lại có xu hướng làm suy yếu chức vụ của họ hơn là làm cho nó vững mạnh. Khi tôi thấy các thư viện chất đầy những bộ sách đồ sộ về lịch sử và thần học, tôi nghĩ: Vì sao lại tiêu tiền cho cái không phải là bánh? Chương sáu của sách Giăng cho chúng ta biết nhiều điều hơn những gì có thể tìm thấy trong các tác phẩm như thế. Đấng Christ phán: "Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng Ta sẽ chẳng hề đói; và ai tin Ta sẽ chẳng hề khát." "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; nếu ai ăn bánh này, người ấy sẽ sống đời đời." "Ai tin Ta thì có sự sống đời đời." "Những lời Ta nói với các ngươi là thần linh và là sự sống." Giăng 6:35, 51, 47, 63.
“There is a study of history that is not to be condemned. Sacred history was one of the studies in the schools of the prophets. In the record of His dealings with the nations were traced the footsteps of Jehovah. So today we are to consider the dealings of God with the nations of the earth. We are to see in history the fulfillment of prophecy, to study the workings of Providence in the great reformatory movements, and to understand the progress of events in the marshaling of the nations for the final conflict of the great controversy.
Có một cách nghiên cứu lịch sử không đáng bị lên án. Lịch sử thánh là một trong những môn học tại các trường của các tiên tri. Trong các ghi chép về những sự đối đãi của Ngài với các dân tộc, người ta lần theo được dấu chân của Đức Giê-hô-va. Vậy nên, hôm nay chúng ta cần suy xét sự đối đãi của Đức Chúa Trời với các dân tộc trên đất. Chúng ta phải nhìn thấy trong lịch sử sự ứng nghiệm của lời tiên tri, nghiên cứu sự vận hành của Quan Phòng trong các phong trào cải cách lớn, và hiểu diễn tiến của các sự kiện trong việc tập hợp các dân tộc cho cuộc xung đột cuối cùng của cuộc đại tranh chiến.
“Such study will give broad, comprehensive views of life. It will help us to understand something of its relations and dependencies, how wonderfully we are bound together in the great brotherhood of society and nations, and to how great an extent the oppression and degradation of one member means loss to all.
Việc học tập như vậy sẽ đem lại những cái nhìn rộng mở, toàn diện về cuộc sống. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu phần nào các mối liên hệ và sự phụ thuộc của đời sống, thấy chúng ta gắn bó với nhau một cách kỳ diệu trong tình huynh đệ lớn lao của xã hội và các dân tộc, và nhận ra rằng sự áp bức và sự hạ thấp phẩm giá của một thành viên đồng nghĩa với tổn thất cho tất cả ở mức độ lớn đến nhường nào.
“But history, as commonly studied, is concerned with man’s achievements, his victories in battle, his success in attaining power and greatness. God’s agency in the affairs of men is lost sight of. Few study the working out of His purpose in the rise and fall of nations.
Nhưng lịch sử, như cách người ta thường học, chủ yếu quan tâm đến những thành tựu của con người, những chiến thắng của họ trên chiến trường, sự thành công của họ trong việc đạt được quyền lực và sự vĩ đại. Vai trò của Đức Chúa Trời trong các công việc của loài người bị bỏ qua. Ít ai nghiên cứu cách mục đích của Ngài được thực hiện qua sự hưng vong của các quốc gia.
“And, to a great degree, theology, as studied and taught, is but a record of human speculation, serving only to ‘darken counsel by words without knowledge.’ Too often the motive in accumulating these many books is not so much a desire to obtain food for mind and soul, as it is an ambition to become acquainted with philosophers and theologians, a desire to present Christianity to the people in learned terms and propositions.
Và, ở mức độ rất lớn, thần học, như được nghiên cứu và giảng dạy, chỉ là bản ghi chép về những suy đoán của con người, chỉ dùng để “làm tối nghĩa mưu định bằng những lời lẽ vô tri.” Quá thường khi, động cơ của việc tích lũy biết bao cuốn sách này không hẳn là khao khát tìm kiếm lương thực cho trí óc và tâm hồn, mà là tham vọng làm quen với các triết gia và các nhà thần học, một ước muốn trình bày Cơ Đốc giáo cho người dân bằng những thuật ngữ và mệnh đề học thuật.
“Not all the books written can serve the purpose of a holy life. ‘Learn of Me’, said the Great Teacher, ‘take My yoke upon you,’ ‘learn My meekness and lowliness.’ Your intellectual pride will not aid you in communicating with souls that are perishing for want of the bread of life. In your study of these books you are allowing them to take the place of the practical lessons you should be learning from Christ. With the results of this study the people are not fed. Very little of the research which is so wearying to the mind furnishes that which will help one to be a successful laborer for souls.
Không phải mọi cuốn sách đã được viết ra đều có thể phục vụ mục đích của một đời sống thánh khiết. Vị Thầy vĩ đại phán: “Hãy học theo Ta; hãy mang lấy ách của Ta; hãy học sự nhu mì và khiêm nhường của Ta.” Sự kiêu ngạo trí thức của bạn sẽ không giúp bạn trong việc giao tiếp với những linh hồn đang hư mất vì thiếu bánh sự sống. Khi nghiên cứu những cuốn sách này, bạn đang để chúng thay thế những bài học thực tiễn mà bạn lẽ ra phải học từ Đấng Christ. Với những kết quả của sự học hỏi này, mọi người không được nuôi dưỡng. Những nghiên cứu khiến tâm trí mệt mỏi ấy chỉ cung cấp rất ít điều có thể giúp một người trở thành người làm công thành công cho các linh hồn.
“The Saviour came ‘to preach the gospel to the poor.’ Luke 4:18. In His teaching He used the simplest terms and the plainest symbols. And it is said that ‘the common people heard Him gladly.’ Mark 12:37. Those who are seeking to do His work for this time need a deeper insight into the lessons He has given.
Đấng Cứu Thế đã đến “để rao Tin Lành cho kẻ nghèo khó.” Luke 4:18. Trong sự dạy dỗ của Ngài, Ngài dùng những lời lẽ đơn sơ nhất và những hình ảnh giản dị nhất. Và có lời chép rằng “dân chúng bình dân vui mừng nghe Ngài.” Mark 12:37. Những ai đang tìm cách thực hiện công việc của Ngài trong thời điểm này cần có sự thấu hiểu sâu sắc hơn về những bài học Ngài đã ban.
“The words of the living God are the highest of all education. Those who minister to the people need to eat of the bread of life. This will give them spiritual strength; then they will be prepared to minister to all classes of people.” The Ministry of Healing, 441–443.
"Lời của Đức Chúa Trời hằng sống là đỉnh cao của mọi nền giáo dục. Những người phục vụ dân chúng cần ăn bánh sự sống. Điều này sẽ ban cho họ sức mạnh thuộc linh; rồi họ sẽ sẵn sàng phục vụ mọi tầng lớp người." The Ministry of Healing, 441-443.
Sister White further defines that recognizing the outworking of God’s power in setting up kings and removing kings based upon the king’s choices is the true philosophy of historical study.
Bà White còn khẳng định rằng việc nhận biết sự vận hành của quyền năng Đức Chúa Trời trong việc lập nên và phế truất các vua, tùy theo lựa chọn của nhà vua, chính là triết lý chân chính của nghiên cứu lịch sử.
“In the history of nations the student of God’s word may behold the literal fulfillment of divine prophecy. Babylon, shattered and broken at last, passed away because in prosperity its rulers had regarded themselves as independent of God, and had ascribed the glory of their kingdom to human achievement. The Medo-Persian realm was visited by the wrath of Heaven because in it God’s law had been trampled underfoot. The fear of the Lord had found no place in the hearts of the vast majority of the people. Wickedness, blasphemy, and corruption prevailed. The kingdoms that followed were even more base and corrupt; and these sank lower and still lower in the scale of moral worth.
Trong lịch sử các dân tộc, người học Lời của Đức Chúa Trời có thể nhìn thấy sự ứng nghiệm từng chữ của những lời tiên tri của Ngài. Ba-by-lôn, rốt cuộc bị đập tan và sụp đổ, đã tiêu vong vì trong cảnh thịnh vượng, các nhà cai trị của nó tự xem mình không lệ thuộc Đức Chúa Trời và gán vinh quang của vương quốc mình cho công lao của loài người. Đế quốc Mê-đi - Ba Tư phải chịu cơn thịnh nộ của Trời vì trong đó luật pháp của Đức Chúa Trời đã bị chà đạp dưới chân. Sự kính sợ Chúa chẳng tìm được chỗ trong lòng của đại đa số dân chúng. Sự gian ác, phạm thượng và bại hoại ngự trị. Những vương quốc kế tiếp còn đê tiện và bại hoại hơn nữa; và chúng sa sút ngày càng thấp hơn trên thang giá trị đạo đức.
“The power exercised by every ruler on the earth is Heaven-imparted; and upon his use of the power thus bestowed, his success depends. To each the word of the divine Watcher is, ‘I girded thee, though thou hast not known Me.’ Isaiah 45:5. And to each the words spoken to Nebuchadnezzar of old are the lesson of life: ‘Break off thy sins by righteousness, and thine iniquities by showing mercy to the poor: if it may be a lengthening of thy tranquillity.’ Daniel 4:27.
Quyền bính mà mọi nhà cầm quyền trên đất thi hành đều do Trời ban; và sự thành công của người ấy tùy thuộc vào cách người ấy sử dụng quyền bính đã được ban ấy. Với mỗi người, lời của Đấng Canh giữ thiêng liêng là: “Ta đã thắt lưng cho ngươi, dẫu ngươi không biết Ta.” Ê-sai 45:5. Và với mỗi người, những lời đã phán cùng Nê-bu-cát-nết-sa thuở xưa là bài học cho đời: “Hãy đoạn tuyệt tội lỗi ngươi bằng sự công chính, và sự bất nghĩa của ngươi bằng cách tỏ lòng thương xót kẻ nghèo; có lẽ như vậy sự bình an của ngươi sẽ được kéo dài.” Đa-ni-ên 4:27.
“To understand these things,—to understand that ‘righteousness exalteth a nation;’ that ‘the throne is established by righteousness,’ and ‘upholden by mercy;’ to recognize the outworking of these principles in the manifestation of His power who ‘removeth kings, and setteth up kings,’—this is to understand the philosophy of history. Proverbs 14:34; 16:12; 20:28; Daniel 2:21.
Để hiểu những điều này—để hiểu rằng 'sự công chính tôn cao một dân tộc;' rằng 'ngai vàng được thiết lập bởi sự công chính,' và 'được nâng đỡ bởi lòng thương xót;' để nhận biết sự vận hành của những nguyên tắc này trong sự bày tỏ quyền năng của Ngài, Đấng 'dời vua và lập vua,'—ấy là hiểu triết lý của lịch sử. Châm-ngôn 14:34; 16:12; 20:28; Đa-ni-ên 2:21.
“In the word of God only is this clearly set forth. Here it is shown that the strength of nations, as of individuals, is not found in the opportunities or facilities that appear to make them invincible; it is not found in their boasted greatness. It is measured by the fidelity with which they fulfill God’s purpose.” Prophets and Kings, 501, 502.
Chỉ trong Lời của Đức Chúa Trời điều này mới được trình bày rõ ràng. Ở đây cho thấy rằng sức mạnh của các quốc gia, cũng như của từng cá nhân, không nằm ở những cơ hội hay điều kiện dường như khiến họ trở nên bất khả chiến bại; nó không nằm ở sự vĩ đại mà họ khoe khoang. Sức mạnh ấy được đo bằng mức độ trung tín trong việc họ thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời. Các Tiên Tri và Các Vua, 501, 502.
The theme in verses eleven and twelve is the rise and fall of the king of the south, but more importantly the verses mark the sealing of the one hundred and forty-four thousand, and the second of three tests that began at the time of the end in 1989 as represented in verse ten.
Chủ đề trong câu mười một và mười hai là sự trỗi dậy và sụp đổ của vua phương nam, nhưng quan trọng hơn, các câu này đánh dấu việc niêm ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, và thử thách thứ hai trong ba thử thách bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, như được nêu trong câu mười.
That sealing is represented by Daniel in the lion’s den, the three worthies in the fiery furnace, Daniel and the three worthies praying to understand Nebuchadnezzar’s dream of the image of beasts in chapter two, Daniel praying the Leviticus twenty-six prayer in chapter nine, the wise who understand the increase of knowledge, Joshua having his sin removed in Zechariah chapter three, Zerubbabel in chapter four, Joseph becoming the second ruler in Egypt, the disciples in the upper room for ten days in advance of Pentecost, the Millerites at the Exeter camp meeting, Lazarus leading the procession at the Triumphal Entry, and the one hundred and forty-four thousand in Revelation chapter seven.
Sự ấn chứng ấy được thể hiện qua Đa-ni-ên trong hang sư tử, ba người công chính trong lò lửa hừng, Đa-ni-ên và ba người công chính cầu nguyện để hiểu giấc mơ của Nê-bu-cát-nết-sa về hình tượng các thú ở đoạn hai, Đa-ni-ên cầu nguyện theo lời cầu nguyện Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu trong đoạn chín, những người khôn ngoan hiểu về sự gia tăng của tri thức, Giô-suê được cất bỏ tội lỗi trong Xa-cha-ri đoạn ba, Xô-rô-ba-bên ở đoạn bốn, Giô-sép trở thành người cầm quyền thứ hai tại Ai Cập, các môn đồ ở phòng cao suốt mười ngày trước Lễ Ngũ Tuần, những người theo Miller tại kỳ trại nhóm Exeter, La-xa-rơ dẫn đầu đoàn rước trong Sự Vào Thành Khải Hoàn, và một trăm bốn mươi bốn ngàn trong Khải Huyền đoạn bảy.
Verse eleven arrived in 2014 at the outset of the Ukrainian war and in July of 2023 the visual test, where God’s people are “made white” began. The fifth line in chapter eleven is verses thirteen through fifteen.
Câu mười một đã đến vào năm 2014, vào lúc khởi đầu cuộc chiến ở Ukraine, và vào tháng 7 năm 2023, bài kiểm tra trực quan, nơi dân của Đức Chúa Trời được "làm trắng", đã bắt đầu. Dòng thứ năm trong chương mười một là các câu từ mười ba đến mười lăm.
Fifth Line Overview
Tổng quan về dòng thứ năm
For the king of the north shall return, and shall set forth a multitude greater than the former, and shall certainly come after certain years with a great army and with much riches. And in those times there shall many stand up against the king of the south: also the robbers of thy people shall exalt themselves to establish the vision; but they shall fall. So the king of the north shall come, and cast up a mount, and take the most fenced cities: and the arms of the south shall not withstand, neither his chosen people, neither shall there be any strength to withstand. Daniel 11:13–15.
Vì vua phương bắc sẽ trở lại, tập hợp một lực lượng đông hơn trước, và chắc chắn sẽ đến sau vài năm với một đạo quân lớn cùng nhiều của cải. Trong thời ấy, nhiều kẻ sẽ nổi dậy chống lại vua phương nam; cả những kẻ cướp trong dân ngươi cũng sẽ tự tôn mình lên để xác lập khải tượng; nhưng họ sẽ ngã. Thế nên vua phương bắc sẽ đến, đắp lũy vây hãm, và chiếm những thành trì kiên cố nhất; binh lực của phương nam sẽ không thể chống đỡ, những quân tinh tuyển của phương nam cũng vậy; chẳng còn sức nào để chống cự. Đa-ni-ên 11:13-15.
These verses were fulfilled in 200 BC and they identify the Battle of Panium, which includes the opposing kings and their alliances, and the verses are also the point in history where pagan Rome first asserted itself into the history of Daniel eleven. The verses include the final rise and fall of the sixth kingdom of Bible prophecy, but also the biblical history of Christ visiting Caesarea Philippi, where Peter locates the sealing of the one hundred and forty-four thousand. This history typifies the sealing of the one hundred and forty-four thousand with the arrival of the third of the three tests of chapter twelve consisting of being “purified, made white and tried.”
Những câu này đã được ứng nghiệm vào năm 200 TCN và chúng xác định Trận chiến Panium, bao gồm các vua đối địch và các liên minh của họ; đồng thời các câu ấy cũng đánh dấu thời điểm trong lịch sử khi La Mã ngoại giáo lần đầu tiên khẳng định mình trong lịch sử của Đa-ni-ên đoạn mười một. Các câu ấy bao gồm sự trỗi dậy và suy sụp cuối cùng của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh, đồng thời ghi lại lịch sử Kinh Thánh về việc Đấng Christ thăm viếng Caesarea Philippi, nơi Phi-e-rơ xác định việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Lịch sử này tiêu biểu cho việc đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn với sự xuất hiện của thử thách thứ ba trong ba thử thách của đoạn mười hai, gồm việc "được thanh tẩy, được làm trắng và được thử luyện."
These three verses lead to verse sixteen where the Sunday law in the United States is represented. When the Exeter camp meeting ended on August 17, 1844 the wise virgins carried the message of the Midnight Cry across the eastern seaboard of the United States in sixty-six days. There is a period when all the virgins awake and one class has no oil, and everything which that identifies. When Simon Barjona’s name was changed to Peter the sealing of the one hundred and forty-four thousand is marked. From that point onward Jesus began to teach the disciples about the events connected with the cross.
Ba câu này dẫn đến câu mười sáu, nơi Luật ngày Chủ Nhật tại Hoa Kỳ được mô tả. Khi kỳ nhóm trại ở Exeter kết thúc vào ngày 17 tháng 8 năm 1844, các trinh nữ khôn ngoan đã mang sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm khắp bờ biển phía Đông của Hoa Kỳ trong vòng sáu mươi sáu ngày. Có một thời kỳ khi tất cả các trinh nữ đều thức dậy và một nhóm thì không có dầu, cùng với mọi điều gắn liền với sự nhận diện ấy. Khi tên của Si-môn Ba-giona được đổi thành Phi-e-rơ, việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn được đánh dấu. Từ thời điểm đó trở đi, Đức Chúa Jêsus bắt đầu dạy các môn đồ về những sự kiện liên quan đến thập tự giá.
The cross is a symbol of the close of probation and William Miller, who had been typified by John the Baptist, who had in turn been typified by Elijah was raised up to present the “events connected with the close of probation” as did both John the Baptist and Elijah. John said it this way.
Thập tự giá là biểu tượng của sự kết thúc thời kỳ ân điển, và William Miller, người đã được Giăng Báp-tít biểu trưng, mà Giăng lại đã được Ê-li biểu trưng, đã được dấy lên để trình bày các "sự kiện liên quan đến sự kết thúc thời kỳ ân điển" như cả Giăng Báp-tít lẫn Ê-li đã làm. Giăng nói như thế này.
But when he saw many of the Pharisees and Sadducees come to his baptism, he said unto them, O generation of vipers, who hath warned you to flee from the wrath to come? Matthew 3:7.
Nhưng khi ông thấy nhiều người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu phép báp-têm của mình, ông nói với họ: Hỡi dòng dõi rắn độc, ai đã cảnh báo các ngươi để trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? Ma-thi-ơ 3:7.
Elijah said it this way.
Elijah nói như thế này.
And Ahab made a grove; and Ahab did more to provoke the Lord God of Israel to anger than all the kings of Israel that were before him. In his days did Hiel the Bethelite build Jericho: he laid the foundation thereof in Abiram his firstborn, and set up the gates thereof in his youngest son Segub, according to the word of the Lord, which he spake by Joshua the son of Nun. And Elijah the Tishbite, who was of the inhabitants of Gilead, said unto Ahab, As the Lord God of Israel liveth, before whom I stand, there shall not be dew nor rain these years, but according to my word. 1 Kings 16:33–17:1.
Akháp dựng A-sê-ra; và Akháp đã chọc giận Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, hơn hết thảy các vua Y-sơ-ra-ên trước mình. Trong đời ông, Hi-ên, người Bê-tên, xây Giê-ri-cô: khi đặt nền, A-bi-ram con đầu lòng của ông chết; khi dựng các cửa, Sê-gúp con út của ông chết, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán bởi Giô-suê, con trai Nun. Bấy giờ Ê-li, người Tít-bê, thuộc dân cư Ga-la-át, nói với Akháp: Ta chỉ Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống, Đấng trước mặt ta đứng hầu, mà thề: trong những năm này sẽ chẳng có sương cũng chẳng có mưa, trừ khi ta nói. 1 Các Vua 16:33–17:1.
Speaking of William Miller’s work as a modern reformer Sister White stated:
Khi nói về công việc của William Miller với tư cách là một nhà cải cách hiện đại, Bà White đã nói:
“It was needful that men should be awakened to their danger; that they should be roused to prepare for the solemn events connected with the close of probation.” The Great Controversy, 310.
Điều cần thiết là con người phải được cảnh tỉnh về mối nguy đang đe dọa họ; rằng họ phải được thôi thúc để chuẩn bị cho những biến cố hệ trọng gắn liền với sự kết thúc của thời kỳ thử thách. Đại Tranh Chiến, 310.
The last six verses of Daniel eleven represent the “events connected with the close of probation.” Those events were unsealed at the time of the end in 1989, and they were clearly revealed.
Sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn 11 mô tả "những sự kiện liên quan đến sự kết thúc thời kỳ ân điển". Những sự kiện ấy đã được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, và chúng đã được bày tỏ cách rõ ràng.
“Before His crucifixion the Saviour explained to His disciples that He was to be put to death and to rise again from the tomb, and angels were present to impress His words on minds and hearts. But the disciples were looking for temporal deliverance from the Roman yoke, and they could not tolerate the thought that He in whom all their hopes centered should suffer an ignominious death. The words which they needed to remember were banished from their minds; and when the time of trial came, it found them unprepared. The death of Jesus as fully destroyed their hopes as if He had not forewarned them. So in the prophecies the future is opened before us as plainly as it was opened to the disciples by the words of Christ. The events connected with the close of probation and the work of preparation for the time of trouble, are clearly presented. But multitudes have no more understanding of these important truths than if they had never been revealed. Satan watches to catch away every impression that would make them wise unto salvation, and the time of trouble will find them unready.” The Great Controversy, 595.
“Trước khi bị đóng đinh, Cứu Chúa đã giải thích cho các môn đồ rằng Ngài sẽ bị giết và sẽ sống lại từ mồ, và các thiên sứ hiện diện để khắc ghi lời Ngài vào tâm trí và tấm lòng họ. Nhưng các môn đồ lại trông đợi sự giải cứu trần thế khỏi ách La Mã, và họ không thể chấp nhận ý nghĩ rằng Đấng mà mọi hy vọng của họ đặt nơi đó phải chịu một cái chết ô nhục. Những lời mà họ cần ghi nhớ đã bị xua khỏi tâm trí; và khi giờ thử thách đến, họ vẫn chưa được chuẩn bị. Cái chết của Chúa Giê-su đã hoàn toàn phá tan hy vọng của họ, như thể Ngài chưa hề báo trước cho họ. Cũng vậy, trong các lời tiên tri, tương lai được mở ra trước mắt chúng ta rõ ràng như đã được mở ra cho các môn đồ bởi lời của Đấng Christ. Những biến cố liên quan đến sự chấm dứt thời kỳ ân điển và công cuộc chuẩn bị cho thời kỳ hoạn nạn được trình bày một cách rõ ràng. Nhưng vô số người chẳng hiểu những lẽ thật quan trọng này, khác nào như thể chúng chưa từng được bày tỏ. Sa-tan rình rập để cướp đi mọi ấn tượng có thể khiến họ khôn ngoan cho sự cứu rỗi, và thời kỳ hoạn nạn sẽ bắt gặp họ chưa sẵn sàng.” Cuộc Đại Tranh Chiến, 595.
It was at Caesarea Philippi, which is Panium, which is verses thirteen through fifteen that Christ began to teach His disciples about the cross, thus typifying the history of the Exeter camp meeting until October 22, 1844. At the beginning of the reformatory movement of the one hundred and forty-four thousand the “events connected with the close of probation” were unsealed and at the end of the movement of the one hundred and forty-four thousand the “events connected with the close of probation” are unsealed within the hidden history of verse forty.
Chính tại Xê-xa-rê Phi-líp (tức Panium), trong các câu mười ba đến mười lăm, Đấng Christ bắt đầu dạy các môn đồ về thập tự giá, qua đó tiêu biểu cho lịch sử của hội nhóm trại Exeter cho đến ngày 22 tháng 10 năm 1844. Vào lúc khởi đầu của phong trào cải cách của một trăm bốn mươi bốn nghìn, “các sự kiện liên quan đến sự kết thúc thời kỳ ân điển” đã được mở ấn, và vào lúc kết thúc phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn, “các sự kiện liên quan đến sự kết thúc thời kỳ ân điển” được mở ấn trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi.
“Today, in the spirit and power of Elias and of John the Baptist, messengers of God’s appointment are calling the attention of a judgment-bound world to the solemn events soon to take place in connection with the closing hours of probation and the appearance of Christ Jesus as King of kings and Lord of lords.” Prophets and Kings, 715, 716.
"Ngày nay, trong tinh thần và quyền năng của Ê-li và của Giăng Báp-tít, các sứ giả do Đức Chúa Trời chỉ định đang kêu gọi một thế giới đang tiến đến cuộc phán xét chú ý đến những sự kiện trọng đại sắp diễn ra, liên quan đến những giờ phút cuối cùng của thời kỳ ân điển và sự xuất hiện của Đấng Christ Giê-su như Vua của muôn vua và Chúa của muôn chúa." Prophets and Kings, 715, 716.
The “events connected with the close of probation” are the events that are unsealed in the hidden history of verse forty. In Zechariah chapter three the final scenes of the investigative judgment are illustrated. Inspiration combines Zechariah’s testimony with those who are sealed in Ezekiel chapter nine.
Các “sự kiện liên quan đến sự đóng cửa ân điển” là những sự kiện được mở ấn trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi. Trong Xa-cha-ri chương ba, những cảnh cuối cùng của cuộc phán xét điều tra được minh họa. Sự cảm hứng kết hợp lời chứng của Xa-cha-ri với những người được đóng ấn trong Ê-xê-chi-ên chương chín.
“The people of God are sighing and crying for the abominations done in the land. With tears they warn the wicked of their danger in trampling upon the divine law, and with unutterable sorrow they humble themselves before the Lord on account of their own transgressions. The wicked mock their sorrow, ridicule their solemn appeals, and sneer at what they term their weakness. But the anguish and humiliation of God’s people is unmistakable evidence that they are regaining the strength and nobility of character lost in consequence of sin. It is because they are drawing nearer to Christ, and their eyes are fixed upon His perfect purity, that they so clearly discern the exceeding sinfulness of sin. Their contrition and self-abasement are infinitely more acceptable in the sight of God than is the self-sufficient, haughty spirit of those who see no cause to lament, who scorn the humility of Christ, and who claim perfection while transgressing God’s holy law. Meekness and lowliness of heart are the conditions for strength and victory. The crown of glory awaits those who bow at the foot of the cross. Blessed are these mourners, for they shall be comforted.
Dân sự của Đức Chúa Trời đang thở than và khóc lóc vì những điều gớm ghiếc đã làm ra trong xứ. Với nước mắt, họ cảnh báo kẻ ác về sự nguy hiểm khi chà đạp luật pháp của Đức Chúa Trời, và với nỗi sầu khôn tả, họ hạ mình trước Chúa vì tội lỗi của chính mình. Kẻ ác nhạo báng nỗi buồn của họ, chế giễu những lời kêu gọi trang nghiêm của họ, và cười khinh điều họ gọi là sự yếu đuối. Nhưng nỗi thống khổ và sự hạ mình của dân sự Đức Chúa Trời là bằng chứng không thể chối cãi rằng họ đang lấy lại sức mạnh và phẩm cách cao thượng đã mất vì hậu quả của tội lỗi. Ấy là vì họ đang đến gần Đấng Christ hơn, và mắt họ chăm nhìn vào sự thanh khiết trọn vẹn của Ngài, nên họ thấy rõ sự cực kỳ tội lỗi của tội lỗi. Sự ăn năn và tự hạ mình của họ vô cùng đẹp lòng Đức Chúa Trời, vượt xa tinh thần tự mãn, kiêu căng của những kẻ không thấy lý do nào để than khóc, khinh miệt sự khiêm nhường của Đấng Christ, và xưng mình trọn vẹn trong khi vi phạm luật pháp thánh của Đức Chúa Trời. Sự nhu mì và khiêm nhường trong lòng là điều kiện để có sức mạnh và chiến thắng. Mão triều thiên vinh hiển đang chờ đợi những ai cúi mình dưới chân thập tự giá. Phước cho những kẻ than khóc ấy, vì họ sẽ được yên ủi.
“The faithful, praying ones are, as it were, shut in with God. They themselves know not how securely they are shielded. Urged on by Satan, the rulers of this world are seeking to destroy them; but could their eyes be opened, as were the eyes of Elisha’s servant at Dothan, they would see the angels of God encamped about them, by their brightness and glory holding in check the hosts of darkness.
"Những người trung tín, chuyên cầu nguyện, như thể được bao bọc bên Đức Chúa Trời. Chính họ cũng không biết mình được che chở an toàn đến mức nào. Bị Sa-tan xúi giục, các nhà cai trị của thế gian này đang tìm cách tiêu diệt họ; nhưng nếu mắt họ được mở ra, như mắt người đầy tớ của Elisha tại Dothan, họ sẽ thấy các thiên sứ của Đức Chúa Trời đóng trại chung quanh họ, dùng ánh sáng và vinh quang của mình để kiềm chế các đạo quân của bóng tối."
“As the people of God afflict their souls before Him, pleading for purity of heart, the command is given, ‘Take away the filthy garments’ from them, and the encouraging words are spoken, ‘Behold, I have caused thine iniquity to pass from thee, and I will clothe thee with change of raiment.’ The spotless robe of Christ’s righteousness is placed upon the tried, tempted, yet faithful children of God. The despised remnant are clothed in glorious apparel, nevermore to be defiled by the corruptions of the world. Their names are retained in the Lamb’s book of life, enrolled among the faithful of all ages. They have resisted the wiles of the deceiver; they have not been turned from their loyalty by the dragon’s roar. Now they are eternally secure from the tempter’s devices. Their sins are transferred to the originator of sin. And the remnant are not only pardoned and accepted, but honored. ‘A fair miter’ is set upon their heads. They are to be as kings and priests unto God. While Satan was urging his accusations and seeking to destroy this company, holy angels, unseen, were passing to and fro, placing upon them the seal of the living God. These are they that stand upon Mount Zion with the Lamb, having the Father’s name written in their foreheads. They sing the new song before the throne, that song which no man can learn save the hundred and forty and four thousand, which were redeemed from the earth. ‘These are they which follow the Lamb whithersoever He goeth. These were redeemed from among men, being the first fruits unto God and to the Lamb. And in their mouth was found no guile: for they are without fault before the throne of God.’”
Khi dân Đức Chúa Trời hãm mình trước mặt Ngài, nài xin sự trong sạch của lòng, thì có lệnh phán: 'Hãy cởi bỏ áo dơ bẩn khỏi họ,' và lời khích lệ được nói: 'Kìa, Ta đã khiến tội lỗi ngươi lìa khỏi ngươi, và Ta sẽ mặc cho ngươi áo mới.' Chiếc áo choàng vô tì vết của sự công bình của Đấng Christ được khoác lên những con cái Đức Chúa Trời đã trải qua thử thách, bị cám dỗ, nhưng vẫn trung tín. Những kẻ còn sót bị khinh bỉ được mặc y phục vinh hiển, không bao giờ còn bị ô uế bởi sự bại hoại của thế gian. Tên họ được giữ trong sách sự sống của Chiên Con, được ghi danh giữa những người trung tín của mọi thời đại. Họ đã chống cự những mưu chước của kẻ lừa dối; tiếng rống của con rồng không làm họ quay khỏi lòng trung thành. Nay họ được an toàn vĩnh viễn khỏi mưu kế của kẻ cám dỗ. Tội lỗi của họ được chuyển qua cho kẻ khởi xướng tội lỗi. Và những kẻ còn sót không chỉ được tha thứ và chấp nhận, mà còn được tôn vinh. 'Một mão đẹp' được đặt trên đầu họ. Họ sẽ làm các vua và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời. Trong khi Sa-tan ráo riết đưa ra những lời cáo buộc và tìm cách diệt trừ đoàn người này, các thiên sứ thánh, vô hình, qua lại, đặt trên họ ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Ấy là những người đứng trên núi Si-ôn với Chiên Con, có danh của Cha được viết trên trán họ. Họ hát bài ca mới trước ngai; bài ca ấy không ai có thể học được ngoại trừ một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những kẻ đã được chuộc khỏi đất. 'Ấy là những người theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi. Họ được chuộc từ giữa loài người, làm trái đầu mùa dâng cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Trong miệng họ không thấy có sự dối trá nào, vì họ không chỗ trách trước ngai Đức Chúa Trời.'
“Now is reached the complete fulfillment of those words of the Angel: ‘Hear now, O Joshua the high priest, thou, and thy fellows that sit before thee: for they are men wondered at: for, behold, I will bring forth My servant the Branch.’ Christ is revealed as the Redeemer and Deliverer of His people. Now indeed are the remnant ‘men wondered at,’ as the tears and humiliation of their pilgrimage give place to joy and honor in the presence of God and the Lamb. ‘In that day shall the branch of the Lord be beautiful and glorious, and the fruit of the earth shall be excellent and comely for them that are escaped of Israel. And it shall come to pass, that he that is left in Zion, and he that remaineth in Jerusalem, shall be called holy, even everyone that is written among the living in Jerusalem.”’ Testimonies, volume 5, 474–476.
Giờ đây đã đến sự ứng nghiệm trọn vẹn của những lời của Thiên sứ: “Hãy lắng nghe bây giờ, hỡi Giô-suê, thượng tế, ngươi và các bạn đồng sự ngồi trước mặt ngươi; vì họ là những người khiến người ta phải kinh ngạc; vì kìa, Ta sẽ đưa ra tôi tớ của Ta, là Chồi.” Đấng Christ được bày tỏ như Đấng Cứu Chuộc và Đấng Giải Cứu dân Ngài. Bấy giờ thật sự số sót lại là “những người khiến người ta phải kinh ngạc,” khi nước mắt và sự nhục nhã của cuộc hành hương của họ nhường chỗ cho niềm vui và vinh dự trước mặt Đức Chúa Trời và Chiên Con. “Trong ngày đó, Chồi của Đức Giê-hô-va sẽ đẹp đẽ và vinh hiển, và bông trái của đất sẽ tốt tươi và đẹp đẽ cho những kẻ thoát nạn của Y-sơ-ra-ên. Và sẽ xảy ra rằng ai còn sót lại tại Si-ôn, và ai còn ở lại tại Giê-ru-sa-lem, sẽ được gọi là thánh, tức hết thảy những người được ghi tên trong số những người sống tại Giê-ru-sa-lem.” Lời chứng, tập 5, trang 474–476.
The one hundred and forty-four thousand in the book of Revelation are Ezekiel’s group that are “sealed” as they “sigh and cry” for the abominations that are in the land. They are sealed when they are given the garment of Christ’s righteousness and the fair miter which represents Peter’s “kings and priests,” who were not the people of God, but have now become the people of God.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn người trong sách Khải Huyền là nhóm của Ê-xê-chi-ên, những người được "đóng ấn" khi họ "thở than và khóc lóc" vì những sự gớm ghiếc trong xứ. Họ được đóng ấn khi được mặc áo choàng công bình của Đấng Christ và đội mão tinh sạch, tượng trưng cho "các vua và thầy tế lễ" của Phi-e-rơ, những người vốn không phải là dân của Đức Chúa Trời nhưng nay đã trở nên dân của Đức Chúa Trời.
But ye are a chosen generation, a royal priesthood, an holy nation, a peculiar people; that ye should shew forth the praises of him who hath called you out of darkness into his marvellous light: Which in time past were not a people, but are now the people of God: which had not obtained mercy, but now have obtained mercy. Dearly beloved, I beseech you as strangers and pilgrims, abstain from fleshly lusts, which war against the soul; Having your conversation honest among the Gentiles: that, whereas they speak against you as evildoers, they may by your good works, which they shall behold, glorify God in the day of visitation. 1 Peter 2:9–12.
Nhưng anh em là dòng giống được chọn, chức tế lễ vương giả, một dân tộc thánh, một dân thuộc riêng; để anh em rao truyền những nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm vào trong ánh sáng lạ lùng của Ngài. Anh em trước kia không phải là một dân, mà nay là dân của Đức Chúa Trời; trước kia chưa được thương xót, mà nay đã được thương xót. Hỡi những người rất yêu dấu, tôi khuyên anh em, như những khách lạ và người tạm trú, hãy kiêng những dục vọng xác thịt, là những điều chiến đấu chống lại linh hồn; hãy giữ cách ăn ở ngay thẳng giữa dân ngoại, để, dẫu họ nói xấu anh em như kẻ làm ác, thì nhờ những việc lành anh em làm, là những việc họ nhìn thấy, họ sẽ tôn vinh Đức Chúa Trời trong ngày Ngài thăm viếng. 1 Phi-e-rơ 2:9-12.
Now therefore, if ye will obey my voice indeed, and keep my covenant, then ye shall be a peculiar treasure unto me above all people: for all the earth is mine: And ye shall be unto me a kingdom of priests, and an holy nation. These are the words which thou shalt speak unto the children of Israel. Exodus 19:5, 6.
Vậy bây giờ, nếu các ngươi thật sự vâng nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì các ngươi sẽ là báu vật thuộc riêng về Ta giữa mọi dân, vì cả thế gian đều là của Ta. Các ngươi sẽ đối với Ta là một vương quốc thầy tế lễ và một dân thánh. Đó là những lời ngươi phải nói với con cái Y-sơ-ra-ên. Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6.
“In the last days of this earth’s history, God’s covenant with his commandment-keeping people is to be renewed. ‘In that day I will make a covenant for them with the beasts of the field, and with the fowls of heaven, and with the creeping things of the ground: and I will break the bow and the sword and the battle out of the earth, and I will make them to lie down safely. And I will betroth thee unto me forever; yea, I will betroth thee unto me in righteousness, and in judgment, and in loving-kindness, and in mercies. I will even betroth thee unto me in faithfulness; and thou shalt know the Lord.’
Trong những ngày sau cùng của lịch sử trái đất này, giao ước của Đức Chúa Trời với dân giữ các điều răn của Ngài sẽ được đổi mới. 'Trong ngày đó, Ta sẽ vì họ mà lập giao ước với thú đồng, với chim trời, và với các loài bò sát trên đất; Ta sẽ bẻ gãy cung và gươm, diệt trừ chiến trận khỏi đất, và Ta sẽ khiến họ được nằm yên ổn. Ta sẽ đính ước ngươi với Ta đời đời; phải, Ta sẽ đính ước ngươi với Ta trong sự công chính, trong lẽ phải, trong lòng nhân từ và trong sự thương xót. Ta cũng sẽ đính ước ngươi với Ta trong sự thành tín; và ngươi sẽ biết Chúa.'
“‘And it shall come to pass in that day, I will hear, saith the Lord, I will hear the heavens, and they shall hear the earth; and the earth shall hear the corn, and the wine, and the oil; and they shall hear Jezreel. And I will sow her unto me in the earth; and I will have mercy upon her that had not obtained mercy; and I will say to them which were not my people, Thou art my people; and they shall say, Thou art my God.’ Hosea 2:14–23.
'Và trong ngày ấy sẽ xảy ra: Ta sẽ nhậm lời, Đức Chúa phán; Ta sẽ nhậm lời các từng trời, và chúng sẽ nhậm lời đất; và đất sẽ nhậm lời lúa mì, rượu và dầu; và chúng sẽ nhậm lời Jezreel. Ta sẽ gieo nó cho Ta trên đất; Ta sẽ thương xót kẻ chưa được thương xót; Ta sẽ phán với những kẻ chẳng phải là dân Ta: Các ngươi là dân Ta; và họ sẽ nói: Ngài là Đức Chúa Trời của chúng con.' Ô-sê 2:14-23.
“‘In that day, . . . the remnant of Israel, and such as are escaped of the house of Jacob, . . . shall stay upon the Lord, the Holy One of Israel, in truth.’ Isaiah 10:20. From ‘every nation, and kindred, and tongue, and people’ there will be those who will gladly respond to the message, ‘Fear God, and give glory to him; for the hour of his judgment is come.’ They will turn from every idol that binds them to this earth, and will ‘worship him at that made heaven, and earth, and the sea, and the fountains of waters.’ They will free themselves from every entanglement, and will stand before the world as monuments of God’s mercy. Obedient to every divine requirement, they will be recognized by angels and by men as those that ‘keep the commandments of God, and the faith of Jesus.’ Revelation 14:6–7, 12.
"Trong ngày ấy, . . . phần còn sót lại của Israel, và những kẻ thoát khỏi nhà Gia-cốp, . . . sẽ nương cậy nơi Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Israel, cách chân thật." Ê-sai 10:20. Từ "mọi dân, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi nước" sẽ có những người hân hoan đáp lại sứ điệp: "Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến." Họ sẽ quay khỏi mọi thần tượng ràng buộc họ với thế gian này, và sẽ "thờ lạy Đấng đã dựng nên trời, đất, biển và các nguồn nước." Họ sẽ giải thoát mình khỏi mọi vướng víu, và sẽ đứng trước thế gian như những chứng tích về lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Vâng phục mọi điều răn dạy của Đức Chúa Trời, họ sẽ được các thiên sứ và loài người nhìn nhận là những người "giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, và đức tin của Đức Chúa Giê-su." Khải Huyền 14:6-7, 12.
“‘Behold, the days come, saith the Lord, that the plowman shall overtake the reaper, and the treader of grapes him that soweth seed; and the mountains shall drop sweet wine, and all the hills shall melt. And I will bring again the captivity of my people of Israel, and they shall build the waste cities, and inhabit them; and they shall plant vineyards, and drink the wine thereof; they shall also make gardens, and eat the fruit of them. And I will plant them upon their land, and they shall no more be pulled up out of their land which I have given them, saith the Lord thy God. Amos 9:13–15.’” Review and Herald, February 26, 1914.
'Kìa, những ngày đến, Chúa phán rằng người cày sẽ đuổi kịp người gặt, và kẻ đạp nho sẽ đuổi kịp người gieo giống; các núi sẽ chảy rượu ngọt, và mọi đồi sẽ tan chảy. Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của dân Ta là Israel trở về, và họ sẽ xây lại những thành hoang phế và ở trong đó; họ sẽ trồng những vườn nho và uống rượu của chúng; họ cũng sẽ lập vườn và ăn trái của chúng. Ta sẽ trồng họ trên đất của họ, và họ sẽ chẳng còn bị nhổ khỏi đất mà Ta đã ban cho họ nữa, Chúa, Đức Chúa Trời của ngươi, phán. Amos 9:13-15.' Review and Herald, ngày 26 tháng 2 năm 1914.
It is evident that from the point when the final chosen generation of the one hundred and forty-four thousand are sealed that there are still Gentiles who can be influenced by the one hundred and forty-four thousand’s life style (conversation) during the day of the Gentile’s visitation.
Hiển nhiên là kể từ thời điểm thế hệ được chọn cuối cùng trong số một trăm bốn mươi bốn nghìn được đóng ấn, vẫn còn những người dân ngoại có thể bị ảnh hưởng bởi lối sống (cách ăn ở) của một trăm bốn mươi bốn nghìn trong ngày dân ngoại được thăm viếng.
“Human power and human might did not establish the church of God, and neither can they destroy it. Not on the rock of human strength, but on Christ Jesus, the Rock of Ages, was the church founded, ‘and the gates of hell shall not prevail against it.’ Matthew 16:18. The presence of God gives stability to His cause. ‘Put not your trust in princes, nor in the son of man,’ is the word that comes to us. Psalm 146:3. ‘In quietness and in confidence shall be your strength.’ Isaiah 30:15. God’s glorious work, founded on the eternal principles of right, will never come to nought. It will go on from strength to strength, ‘not by might, nor by power, but by My Spirit, saith the Lord of hosts.’ Zechariah 4:6.
Quyền lực và sức mạnh của con người đã không dựng nên Hội thánh của Đức Chúa Trời, và chúng cũng không thể phá hủy Hội thánh ấy. Hội thánh đã được lập không phải trên tảng đá là sức mạnh loài người, nhưng trên Đấng Christ Jêsus, Vầng Đá muôn đời; và “các cửa âm phủ sẽ không thắng được nó.” Ma-thi-ơ 16:18. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời đem lại sự vững bền cho sự nghiệp của Ngài. “Đừng đặt lòng tin nơi các kẻ quyền thế, cũng đừng nơi con loài người,” ấy là lời phán đến với chúng ta. Thi thiên 146:3. “Trong yên lặng và tin cậy sẽ là sức mạnh của các ngươi.” Ê-sai 30:15. Công việc vinh hiển của Đức Chúa Trời, được xây dựng trên những nguyên tắc công chính đời đời, sẽ chẳng bao giờ trở nên vô hiệu. Nó sẽ tiếp diễn ngày càng thêm mạnh mẽ, “chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.” Xa-cha-ri 4:6.
“The promise, ‘The hands of Zerubbabel have laid the foundation of this house; his hands shall also finish it,’ was literally fulfilled. Verse 9. ‘The elders of the Jews builded, and they prospered through the prophesying of Haggai the prophet and Zechariah the son of Iddo. And they builded, and finished it, according to the commandment of the God of Israel, and according to the commandment of Cyrus, and Darius, and Artaxerxes king of Persia. And this house was finished on the third day of the month Adar [the twelfth month], which was in the sixth year of the reign of Darius the king.’ Ezra 6:14, 15.” Prophets and Kings, 595, 596.
“Lời hứa, ‘Bàn tay của Zerubbabel đã đặt nền móng cho nhà này; tay người cũng sẽ hoàn tất nó,’ đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen. Câu 9. ‘Các trưởng lão của người Do Thái đã xây dựng, và họ được thịnh vượng nhờ lời tiên tri của nhà tiên tri Haggai và Zechariah con của Iddo. Và họ đã xây dựng và hoàn thành nó, theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời của Israel, và theo mệnh lệnh của Cyrus, và Darius, và Artaxerxes vua Ba Tư. Và nhà này đã được hoàn tất vào ngày thứ ba của tháng Adar [tháng thứ mười hai], tức là vào năm thứ sáu đời trị vì của vua Darius.’ Ezra 6:14, 15.” Prophets and Kings, 595, 596.
Verses thirteen to fifteen represent the prophetic events that lead to the close of probation for Sabbath-keepers at the Sunday law. They also represent the third of three steps in verse ten of Daniel twelve. Verse ten is the “purification,” verses eleven and twelve represent the “made white” and verses thirteen to fifteen represent the litmus test where the Sabbath-keeping virgins are “tried.”
Những câu mười ba đến mười lăm biểu thị các sự kiện tiên tri dẫn đến sự kết thúc thời kỳ ân điển cho những người giữ ngày Sa-bát khi có Luật Chủ nhật. Chúng cũng biểu thị bước thứ ba trong ba bước ở câu mười của Đa-ni-ên đoạn mười hai. Câu mười là “sự thanh tẩy”, các câu mười một và mười hai biểu thị “được làm trắng”, và các câu mười ba đến mười lăm biểu thị phép thử quyết định, nơi các trinh nữ giữ ngày Sa-bát được “thử thách.”
The internal message in the book of Daniel is represented by the Ulai River vision of chapters seven through nine and the external message is represented by the Hiddekel River vision of chapters ten through twelve. Chapter twelve is the climax of both the internal and external visions, and it presents the method in which Christ raises up and cleanses the one hundred and forty-four thousand. Verses ten through sixteen represent the hidden history of verse forty from 1989 unto the Sunday law of verse forty-one and sixteen. The verses that fit into the hidden history represent the perfect fulfillment of verse ten of chapter twelve.
Sứ điệp nội tại trong sách Đa-ni-ên được biểu thị qua khải tượng sông Ulai ở các chương bảy đến chín, và sứ điệp bên ngoài được biểu thị qua khải tượng sông Hiddekel ở các chương mười đến mười hai. Chương mười hai là cao trào của cả khải tượng nội tại lẫn khải tượng bên ngoài, và trình bày phương pháp mà Đấng Christ dùng để dấy lên và thanh tẩy một trăm bốn mươi bốn nghìn. Các câu mười đến mười sáu biểu thị lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi từ năm 1989 cho đến luật Chủ nhật của câu bốn mươi mốt và mười sáu. Những câu khớp với lịch sử ẩn giấu ấy biểu thị sự ứng nghiệm trọn vẹn của câu mười, chương mười hai.
Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. And from the time that the daily sacrifice shall be taken away, and the abomination that maketh desolate set up, there shall be a thousand two hundred and ninety days. Blessed is he that waiteth, and cometh to the thousand three hundred and five and thirty days. Daniel 12:10–12.
Nhiều người sẽ được thanh sạch, được làm cho trắng và được thử luyện; còn kẻ ác thì cứ làm điều ác; không ai trong bọn ác hiểu biết, nhưng người khôn ngoan sẽ hiểu biết. Và từ lúc lễ tế hằng ngày bị cất đi, và điều ghê tởm gây nên sự hoang tàn được dựng lên, sẽ có một nghìn hai trăm chín mươi ngày. Phước cho người nào chờ đợi và đạt đến một nghìn ba trăm ba mươi lăm ngày. Đa-ni-ên 12:10-12.
The “wise” who understand verses ten through sixteen and who have been sealed both “intellectually” and “spiritually” are those who understand the external prophetic message represented in the hidden history of verse forty, and they have been “intellectually” settled into that understanding before the Sunday law. The “wise” are those who have been transformed by the internal message represented by Revelation chapter eleven and verse eleven and they have settled into the experience before the Sunday law.
Những người "khôn ngoan" hiểu các câu mười đến mười sáu và đã được ấn chứng cả về mặt "trí tuệ" lẫn "thuộc linh" chính là những người hiểu sứ điệp tiên tri bên ngoài được đại diện trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi, và họ đã được vững lập về mặt "trí tuệ" trong sự hiểu biết ấy trước khi có luật Chủ nhật. Những người "khôn ngoan" là những người đã được biến đổi bởi sứ điệp bên trong được đại diện bởi Khải Huyền chương mười một, câu mười một, và họ đã vững lập trong kinh nghiệm ấy trước khi có luật Chủ nhật.
The “wise” are those who have received the “blessing” associated with “waiting,” marking the one hundred and forty-four thousand as those who fulfill the perfect and final fulfillment of the ten virgins. Revelation eleven verse eleven arrived in July of 2023, thus marking the “time of the end,” when Daniel and Revelation mark with two witnesses that the increase of knowledge which was unsealed in July of 2023 identifies the sealing process of the one hundred and forty-four thousand. Eleven plus eleven equals twenty-two, which is a symbol of the combination of divinity with humanity, and those who pass the three-step purification process that produces the one hundred and forty-four thousand are identified in Daniel twelve, verse twelve providing another signature of Palmoni, for twelve times twelve equals one hundred and forty-four thousand.
Những người "khôn ngoan" là những người đã nhận được "phước lành" gắn liền với sự "chờ đợi", qua đó đánh dấu một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người hoàn tất sự ứng nghiệm trọn vẹn và sau cùng của mười trinh nữ. Khải Huyền mười một câu mười một đã đến vào tháng 7 năm 2023, qua đó đánh dấu "thời kỳ cuối cùng", khi Đa-ni-ên và Khải Huyền ghi nhận bằng hai nhân chứng rằng sự gia tăng hiểu biết, vốn đã được mở ấn vào tháng 7 năm 2023, xác định quá trình đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Mười một cộng mười một bằng hai mươi hai, là biểu tượng của sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, và những người vượt qua quá trình thanh luyện ba bước tạo nên một trăm bốn mươi bốn nghìn được xác định trong Đa-ni-ên mười hai, câu mười hai, cung cấp một dấu ấn khác của Palmoni, vì mười hai nhân mười hai bằng một trăm bốn mươi bốn nghìn.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.