The “Revelation of Jesus Christ” is opened up to God’s people when “the time is at hand.” The final warning message for mankind is given just before the close of human probation and that final message is represented in several prophetic lines in the Bible. In Revelation fourteen that final warning message is represented by three angels.

"‘Sự mạc khải của Đức Chúa Giê-xu Christ’ được mở ra cho dân sự của Đức Chúa Trời khi ‘thì giờ đã gần.’ Sứ điệp cảnh báo cuối cùng cho nhân loại được ban ra ngay trước khi kết thúc thời kỳ thử thách của loài người, và sứ điệp cuối cùng ấy được trình bày trong nhiều đoạn tiên tri của Kinh Thánh. Trong Khải Huyền chương mười bốn, sứ điệp cảnh báo cuối cùng ấy được tượng trưng bởi ba thiên sứ."

And I saw another angel fly in the midst of heaven, having the everlasting gospel to preach unto them that dwell on the earth, and to every nation, and kindred, and tongue, and people, Saying with a loud voice, Fear God, and give glory to him; for the hour of his judgment is come: and worship him that made heaven, and earth, and the sea, and the fountains of waters.

Và tôi thấy một thiên sứ khác bay giữa trời, mang Tin Lành đời đời để rao giảng cho những người cư ngụ trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi thứ tiếng và mọi dân, kêu lớn tiếng rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng đã dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.

And there followed another angel, saying, Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication.

Và một thiên sứ khác theo sau, nói: “Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ, thành lớn kia, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó.”

And the third angel followed them, saying with a loud voice, If any man worship the beast and his image, and receive his mark in his forehead, or in his hand, The same shall drink of the wine of the wrath of God, which is poured out without mixture into the cup of his indignation; and he shall be tormented with fire and brimstone in the presence of the holy angels, and in the presence of the Lamb: And the smoke of their torment ascendeth up for ever and ever: and they have no rest day nor night, who worship the beast and his image, and whosoever receiveth the mark of his name. Here is the patience of the saints: here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus. Revelation 14:6–12.

Và thiên sứ thứ ba theo sau họ, lớn tiếng nói: Nếu ai thờ lạy con thú và tượng của nó, và nhận dấu của nó trên trán mình hoặc trên tay mình, thì chính người ấy sẽ uống rượu của cơn thịnh nộ Đức Chúa Trời, rượu ấy đã được rót nguyên chất vào chén giận của Ngài; và người sẽ bị hành hạ bằng lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự khổ hình họ bốc lên đời đời vô cùng; những kẻ thờ lạy con thú và tượng của nó, và hễ ai nhận dấu của tên nó, thì chẳng hề được nghỉ ngày cũng như đêm. Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ: đây là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus. Khải Huyền 14:6-12.

In chapter eighteen of Revelation the very same message announces the fall of Babylon.

Trong chương mười tám của sách Khải Huyền, chính sứ điệp ấy loan báo sự sụp đổ của Ba-by-lôn.

And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies. And I heard another voice from heaven, saying, Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities. Revelation 18:1–5.

Và sau những điều này, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của ngài. Ngài kêu lớn tiếng, thật mạnh mẽ, rằng: “Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ, nơi giam giữ mọi thần ô uế, và chuồng của mọi loài chim dơ bẩn và đáng ghét. Vì mọi dân tộc đã uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó, các vua trên đất đã phạm tà dâm với nó, và các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa dư dật của nó.” Và tôi nghe một tiếng khác từ trời phán rằng: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi không dự phần vào các tội lỗi của nó, và để các ngươi không lãnh lấy những tai vạ của nó. Vì các tội lỗi của nó đã chồng chất đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến những điều gian ác của nó.” Khải Huyền 18:1-5.

The prophetic line of history, or we might say, the sequence of events represented by the angel that lightens the earth with his glory in chapter eighteen represents the events that lead to the close of judgment, the close of probation and the seven last plagues. The prophetic history represented in chapter eighteen runs “parallel” to the line of prophetic history represented by the three angels of chapter fourteen.

Dòng lịch sử tiên tri, hay nói cách khác, trình tự các sự kiện được thiên sứ trong chương mười tám—đấng làm rạng rỡ khắp đất bằng vinh quang của mình—đại diện, mô tả những biến cố dẫn đến sự kết thúc của cuộc phán xét, sự kết thúc của thời kỳ ân điển và bảy tai vạ sau cùng. Lịch sử tiên tri được trình bày trong chương mười tám diễn ra "song song" với dòng lịch sử tiên tri được ba thiên sứ của chương mười bốn đại diện.

God has given the messages of Revelation 14 their place in the line of prophecy, and their work is not to cease till the close of this earth’s history. The first and second angel’s messages are still truth for this time, and are to run parallel with this which follows. The third angel proclaims his warning with a loud voice. ‘After these things,’ said John, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power, and the earth was lightened with his glory.’ In this illumination, the light of all the three messages is combined.” The 1888 Materials, 803, 804.

Đức Chúa Trời đã dành cho các sứ điệp trong Khải Huyền 14 chỗ đứng trong dòng tiên tri, và công việc của chúng sẽ không chấm dứt cho đến khi lịch sử của trái đất này kết thúc. Các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai vẫn là lẽ thật cho thời này, và sẽ song hành với sứ điệp theo sau. Thiên sứ thứ ba công bố lời cảnh báo của mình bằng tiếng lớn. "Sau những điều ấy," Giăng nói, "tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn, và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của ngài." Trong sự chiếu sáng này, ánh sáng của cả ba sứ điệp được kết hợp lại. Các Tài liệu 1888, 803, 804.

The three angels of chapter fourteen flying in the midst of heaven, symbolizes a worldwide message that concludes with the mark of the beast and the close of probation. In chapter eighteen the entire earth is lightened by the glory of the angel whose message also concludes with the close of probation.

Ba thiên sứ trong chương mười bốn bay giữa trời tượng trưng cho một sứ điệp toàn cầu, kết thúc với dấu con thú và sự đóng cửa ân điển. Trong chương mười tám, cả trái đất được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ, và sứ điệp của thiên sứ ấy cũng kết thúc với sự đóng cửa ân điển.

The message that is symbolically represented by three angels in chapter fourteen and that is also represented by the angel that descends in chapter eighteen are two illustrations of the same warning message. There is nothing redundant in the Bible, nothing wasted. The fact that the very same message is identified more than once by John is an emphasis on the importance of the message and it illustrates the divine method of teaching that is a biblical rule called “repeat and enlarge.” Bringing two lines of prophetic history together reveals truths that would not be recognized in either line when considered apart from the other line. Today if you brought two witnesses of the same event into court to testify, they might very well give opposite reports based upon their political or social ideology. This is not the case with Bible witnesses, they always agree, and if it appears to you that they don’t agree, then you are looking at something incorrectly.

Thông điệp được biểu tượng bằng ba thiên sứ trong chương mười bốn và cũng được biểu tượng bằng thiên sứ từ trời xuống trong chương mười tám là hai minh họa cho cùng một thông điệp cảnh báo. Trong Kinh Thánh không có gì thừa, không có gì lãng phí. Việc Giăng nêu ra cùng một thông điệp hơn một lần là nhấn mạnh tầm quan trọng của thông điệp ấy và minh họa phương pháp dạy dỗ thần linh theo quy tắc Kinh Thánh gọi là “lặp lại và mở rộng.” Khi đem hai dòng lịch sử tiên tri lại với nhau, những lẽ thật sẽ được bày tỏ mà nếu xét riêng từng dòng thì sẽ không nhận ra. Ngày nay, nếu bạn đưa hai nhân chứng của cùng một sự kiện vào tòa để làm chứng, họ rất có thể đưa ra những tường thuật đối nghịch dựa trên ý thức hệ chính trị hay xã hội của họ. Điều này không xảy ra với các nhân chứng trong Kinh Thánh; họ luôn đồng thuận, và nếu có vẻ như họ không đồng thuận, thì bạn đang nhìn nhận điều gì đó không đúng.

The two illustrations we are considering are the very same warning message that the book of Malachi represents as the return of Elijah the prophet. All three of the messages arrive in advance of the close of probation—for the warning message contained in all three lines of prophecy are not simply given in advance of the close of probation, but the close of probation is the very point of reference, the subject if you will, of each of those warning messages. In fact, if any warning message is proclaimed or illustrated by any prophet, it’s the same warning as Revelation fourteen, eighteen and Malachi’s Elijah prophecy.

Hai minh họa mà chúng ta đang xem xét chính là cùng một thông điệp cảnh báo mà sách Ma-la-chi trình bày như sự trở lại của tiên tri Ê-li. Cả ba thông điệp đều đến trước sự kết thúc thời kỳ ân điển—vì thông điệp cảnh báo nằm trong cả ba dòng lời tiên tri không chỉ đơn thuần được ban ra trước khi thời kỳ ân điển kết thúc, mà chính sự kết thúc thời kỳ ân điển mới là điểm quy chiếu, là chủ đề, nếu có thể nói như vậy, của từng thông điệp cảnh báo ấy. Thật vậy, nếu có bất cứ thông điệp cảnh báo nào được một tiên tri nào đó rao giảng hay minh họa, thì đó cũng là cùng một lời cảnh báo như trong Khải Huyền 14 và 18 và trong lời tiên tri về Ê-li của Ma-la-chi.

These three lines of prophecy can easily be shown to run parallel to each other. That being said there are two primary sources of information in biblical prophecy. One is the identification of the sequence of events that unfold at the end of the world. The other source of information is the illustration of the prophets’ activities connected with the message outlining the future events.

Ba mạch lời tiên tri này có thể dễ dàng được chứng minh là chạy song song với nhau. Nói như vậy, có hai nguồn thông tin chính trong các lời tiên tri trong Kinh Thánh. Một là việc xác định trình tự các biến cố diễn ra vào thời kỳ tận thế. Nguồn thông tin còn lại là sự minh họa về các hoạt động của các tiên tri gắn liền với sứ điệp phác thảo các biến cố tương lai.

There are two rules worth considering in connection with these ideas. The first is that all the prophets speak about the end of the world, which is where probation closes.

Có hai nguyên tắc đáng cân nhắc liên quan đến những ý tưởng này. Điều thứ nhất là tất cả các nhà tiên tri đều nói về tận thế, tức là khi thời kỳ ân điển chấm dứt.

Each of the ancient prophets spoke less for their own time than for ours, so that their prophesying is in force for us. ‘Now all these things happened unto them for ensamples: and they are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come.’ 1 Corinthians 10:11. ‘Not unto themselves, but unto us they did minister the things, which are now reported unto you by them that have preached the gospel unto you with the Holy Ghost sent down from heaven; which things the angels desire to look into.’ 1 Peter 1:12. . . .

“Mỗi vị tiên tri thời xưa nói cho thời đại chúng ta nhiều hơn là cho thời đại của chính họ, đến nỗi lời tiên tri của họ có hiệu lực đối với chúng ta. ‘Vả, mọi điều đó đã xảy đến cho họ để làm gương cho chúng ta; và đã được chép lại để răn bảo chúng ta, là những kẻ đang sống trong thời cuối cùng của thế gian.’ 1 Cô-rinh-tô 10:11. ‘Ấy không phải cho chính mình họ, nhưng cho chúng ta mà họ đã phục vụ những điều nay đã được rao báo cho anh em bởi những kẻ đã giảng Tin Lành cho anh em trong Đức Thánh Linh được sai xuống từ trời; là những điều các thiên sứ cũng ước ao được xem thấu.’ 1 Phi-e-rơ 1:12....”

“The Bible has accumulated and bound up together its treasures for this last generation. All the great events and solemn transactions of Old Testament history have been, and are, repeating themselves in the church in these last days.” Selected Messages, book 3, 338, 339.

Kinh Thánh đã tích lũy và gom góp các kho tàng của mình lại cho thế hệ sau rốt này. Mọi biến cố trọng đại và những sự việc trang nghiêm trong lịch sử Cựu Ước đã và đang tái diễn trong hội thánh trong những ngày sau rốt này. Selected Messages, quyển 3, 338, 339.

All the prophetic messages of the Bible are “in force for us” “upon whom the ends of the world are come.” That rule, in conjunction with another rule that identifies “matters” which the Holy Spirit has “shaped,” “both in the giving of the prophecy and” also “in the events portrayed” add strength to the claim that prophetic events at the beginning of a prophecy typify and run parallel to the prophetic events at the end of any given prophecy.

Tất cả các sứ điệp tiên tri của Kinh Thánh đều "có hiệu lực đối với chúng ta" "những người mà sự tận cùng của thế gian đã đến." Quy tắc đó, kết hợp với một quy tắc khác xác định những "điều" mà Đức Thánh Linh đã "định hình," "cả trong việc ban cho lời tiên tri lẫn" cũng "trong các sự kiện được mô tả" càng củng cố cho khẳng định rằng các sự kiện tiên tri ở phần mở đầu của một lời tiên tri mang tính kiểu mẫu và song song với các sự kiện tiên tri ở phần kết thúc của bất kỳ lời tiên tri nào.

“There is need of a much closer study of the word of God; especially should Daniel and the Revelation have attention as never before in the history of our work. We may have less to say in some lines, in regard to the Roman power and the papacy; but we should call attention to what the prophets and apostles have written under the inspiration of the Holy Spirit of God. The Holy Spirit has so shaped matters, both in the giving of the prophecy and in the events portrayed, as to teach that the human agent is to be kept out of sight, hid in Christ, and that the Lord God of heaven and His law are to be exalted. Read the book of Daniel. Call up, point by point, the history of the kingdoms there represented.” Testimonies to Ministers, 112.

"Cần có sự nghiên cứu lời Đức Chúa Trời kỹ lưỡng hơn nhiều; đặc biệt, sách Đa-ni-ên và Khải Huyền cần được chú ý như chưa từng có trong lịch sử công cuộc của chúng ta. Có thể chúng ta sẽ nói ít hơn ở một số phương diện liên quan đến quyền lực La Mã và giáo hoàng quyền; nhưng chúng ta nên hướng sự chú ý đến những điều các đấng tiên tri và các sứ đồ đã viết dưới sự cảm động của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh đã sắp đặt mọi việc như vậy, cả trong sự ban cho lời tiên tri lẫn trong các sự kiện được mô tả, nhằm dạy rằng con người phải được giữ khuất đi, ẩn mình trong Đấng Christ, và rằng Đức Chúa Trời của thiên đàng cùng luật pháp của Ngài phải được tôn cao. Hãy đọc sách Đa-ni-ên. Hãy nêu lên, từng điểm một, lịch sử của các vương quốc được trình bày ở đó." Testimonies to Ministers, 112.

The “Holy Spirit has so shaped matters, both in the giving of the prophecy and in the events portrayed.” In “giving of the prophecy and in the events portrayed” “matters” have been “so shaped” by “the Holy Spirit” that both “the giving of the prophecy” and “the events portrayed,” are to be recognized as inspired and applied to the prophetic illustration of the end of the world.

“Đức Thánh Linh đã sắp đặt mọi sự theo cách như vậy, cả trong việc ban lời tiên tri lẫn trong những sự kiện được mô tả.” Trong “việc ban lời tiên tri và trong những sự kiện được mô tả”, “mọi sự” đã được “sắp đặt như vậy” bởi “Đức Thánh Linh” để cả “việc ban lời tiên tri” lẫn “những sự kiện được mô tả”, đều được nhìn nhận là do linh hứng và được áp dụng cho sự minh họa mang tính tiên tri về tận thế.

John was given the prophecy from Gabriel and told to write it in a book and send it to the churches. He was then being persecuted by Rome; he was exiled in a fashion that would parallel what in the world today would call a black-site. In that history John was as isolated from mankind as is any prisoner at Guantanamo Bay.

John đã nhận được lời tiên tri từ Gabriel và được bảo viết nó vào một cuốn sách rồi gửi cho các hội thánh. Sau đó ông bị La Mã bách hại; ông bị lưu đày theo cách tương tự với điều mà thế giới ngày nay gọi là "black-site". Trong bối cảnh lịch sử đó, John bị cô lập khỏi nhân loại chẳng khác nào bất kỳ tù nhân nào ở Vịnh Guantanamo.

John identifies that the vision took place when he was worshipping on the seventh-day Sabbath, which is the Lord’s Day.

Giăng cho biết rằng thị kiến đã diễn ra khi ông đang thờ phượng vào ngày Sa-bát, ngày thứ bảy, là Ngày của Chúa.

For the Son of man is Lord even of the sabbath day. Matthew 12:8.

Vì Con Người cũng là Chúa của ngày Sa-bát. Ma-thi-ơ 12:8.

While worshipping in the Spirit, he heard a great voice behind him.

Khi đang thờ phượng trong Thánh Linh, anh ấy nghe một tiếng nói lớn phía sau mình.

I John, who also am your brother, and companion in tribulation, and in the kingdom and patience of Jesus Christ, was in the isle that is called Patmos, for the word of God, and for the testimony of Jesus Christ. I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet, Saying, I am Alpha and Omega, the first and the last: and, What thou seest, write in a book, and send it unto the seven churches which are in Asia; unto Ephesus, and unto Smyrna, and unto Pergamos, and unto Thyatira, and unto Sardis, and unto Philadelphia, and unto Laodicea. Revelation 1:9–11.

Tôi, Giăng, là anh em của anh em và là bạn đồng chịu hoạn nạn, đồng dự phần trong Nước và sự nhẫn nại của Đức Chúa Giê-xu Christ, đã ở trên hòn đảo gọi là Patmos vì lời Đức Chúa Trời và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ. Tôi ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn, phán rằng: Ta là Alpha và Omega, là đầu tiên và là cuối cùng; điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách, và gửi cho bảy hội thánh ở Châu Á: Ephesus, Smyrna, Pergamos, Thyatira, Sardis, Philadelphia và Laodicea. Khải Huyền 1:9-11.

John, his surroundings and the circumstances identified describe him as one that is being persecuted for being a seventh-day Sabbath worshipper, but one who is also being persecuted because they believe in both the Bible and the writings of Ellen White, which is the “testimony of Jesus.” He hears a great voice behind him, which he turns to see, and in so doing he represents a Seventh-day Adventist at the end of the world who hear a voice behind them saying, “this is the way, walk ye in it.”

John, môi trường chung quanh và các hoàn cảnh được nêu ra mô tả ông là người đang bị bách hại vì là người thờ phượng Sa-bát vào thứ bảy, nhưng cũng bị bách hại vì tin cả Kinh Thánh lẫn các bài viết của Ellen White, tức là "lời chứng của Chúa Giê-su." Ông nghe một tiếng nói lớn phía sau mình, bèn quay lại để nhìn, và khi làm như vậy ông tượng trưng cho những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy vào thời kỳ cuối cùng của thế gian, là những người nghe một tiếng phía sau họ nói: "Đây là đường lối; hãy bước đi trong đó."

All the lines of prophecy parallel each other at the end of the world.

Tất cả các dòng tiên tri đều song song với nhau vào thời kỳ tận thế.

“In the Revelation all the books of the Bible meet and end.” Acts of the Apostles, 585.

"Trong sách Khải Huyền, tất cả các sách của Kinh Thánh hội tụ và khép lại." Công vụ các Sứ đồ, 585.

Any prophet that hears a voice behind them, aligns with John in the illustration of God’s people at the end of the world. John heard a voice behind him that gave him instructions. Isaiah also heard a voice of instruction.

Bất kỳ nhà tiên tri nào nghe tiếng nói phía sau lưng mình đều tương ứng với Giăng trong bức tranh minh họa về dân sự của Đức Chúa Trời vào thời tận thế. Giăng đã nghe một tiếng nói phía sau lưng mình ban cho ông những chỉ dẫn. Ê-sai cũng nghe một tiếng nói chỉ dạy.

And therefore will the Lord wait, that he may be gracious unto you, and therefore will he be exalted, that he may have mercy upon you: for the Lord is a God of judgment: blessed are all they that wait for him.

Vì thế Chúa sẽ đợi, để Ngài thi ân cho các ngươi; và vì thế Ngài sẽ được tôn cao, để Ngài thương xót các ngươi; vì Chúa là Đức Chúa Trời của sự phán xét; phước thay cho hết thảy những ai trông đợi Ngài.

For the people shall dwell in Zion at Jerusalem: thou shalt weep no more: he will be very gracious unto thee at the voice of thy cry; when he shall hear it, he will answer thee. And though the Lord give you the bread of adversity, and the water of affliction, yet shall not thy teachers be removed into a corner any more, but thine eyes shall see thy teachers: And thine ears shall hear a word behind thee, saying, This is the way, walk ye in it, when ye turn to the right hand, and when ye turn to the left. Isaiah 30:18–21.

Vì dân sẽ cư trú tại Si-ôn, ở Giê-ru-sa-lem; ngươi sẽ chẳng còn khóc nữa; Ngài sẽ rất thương xót ngươi khi nghe tiếng kêu van của ngươi; hễ Ngài nghe, Ngài sẽ đáp lời. Dầu Chúa ban cho ngươi bánh của gian truân và nước của hoạn nạn, thì các thầy dạy của ngươi cũng sẽ chẳng còn bị dời vào nơi góc khuất nữa; mắt ngươi sẽ thấy các thầy dạy mình; và tai ngươi sẽ nghe một lời đằng sau ngươi phán rằng: Đây là đường, hãy đi theo đó, khi ngươi rẽ sang bên hữu và khi ngươi rẽ sang bên tả. Ê-sai 30:18-21.

God’s remnant people hear a voice behind them identifying which way they should walk. They then need to decide if they will listen or not listen. The people represented by John and Isaiah are people at the end of the world who wait for the Lord while He tarries, and Isaiah informs us he tarries because He is a God of judgment. From the beginning of Millerite history in 1798 until the close of probation for Adventism at the Sunday law, God is accomplishing the judgment in the heavenly sanctuary. The promise is that those who wait for the Lord during the judgment period will be blessed.

Những người còn sót lại của Đức Chúa Trời nghe một tiếng nói phía sau chỉ cho họ biết đường nào họ phải đi. Rồi họ cần quyết định liệu sẽ lắng nghe hay không. Những người được Giăng và Ê-sai đại diện là những người ở thời kỳ tận thế, chờ đợi Chúa trong khi Ngài trì hoãn; và Ê-sai cho biết Ngài trì hoãn vì Ngài là Đức Chúa Trời của sự phán xét. Từ khởi đầu lịch sử phong trào Miller năm 1798 cho đến khi kết thúc thời kỳ ân điển đối với Cơ Đốc Phục Lâm khi có luật ngày Chúa Nhật, Đức Chúa Trời đang tiến hành cuộc phán xét trong đền thánh trên trời. Lời hứa là những ai chờ đợi Chúa trong thời kỳ phán xét sẽ được phước.

God’s people who are blessed for waiting, are represented by the virgins who wait for the Bridegroom in the parable of the ten virgins. All ten fell asleep, and then at midnight a crisis arrives that separates the sleeping virgins into two classes. One class had heard a voice behind them and turned to see the voice which instructed them as to which way to proceed, and the other class refused to turn around and hear the voice—in spite of the fact that the message that runs throughout the book of Revelation is, “He that hath an ear, let him hear what the Spirit saith unto the churches.”

Những người của Đức Chúa Trời, những người được ban phước vì biết chờ đợi, được tượng trưng bởi các trinh nữ chờ Chàng Rể trong dụ ngôn mười trinh nữ. Cả mười đều thiếp ngủ; rồi lúc nửa đêm, một biến cố xảy ra, phân các trinh nữ đang ngủ thành hai hạng. Một hạng đã nghe một tiếng nói phía sau mình và quay lại để xem tiếng ấy, tiếng ấy chỉ dẫn cho họ nên đi theo đường nào; còn hạng kia thì từ chối quay lại và lắng nghe tiếng ấy — mặc dù thông điệp xuyên suốt sách Khải Huyền là: “Ai có tai, hãy nghe điều Thánh Linh phán cùng các hội thánh.”

“The parable of the ten virgins of Matthew 25 also illustrates the experience of the Adventist people.The Great Controversy, 393.

Dụ ngôn mười trinh nữ trong Ma-thi-ơ 25 cũng minh họa kinh nghiệm của dân sự Phục Lâm. Cuộc Đại Tranh Chiến, 393.

John represents the Adventist people who turn to the past in order to understand the future. When they “hear a word behind” them as John did, the word also includes the instruction given in Isaiah’s testimony of this identical event. Isaiah’s instruction was, “this is the way, walk ye in it, when ye turn to the right hand, and when ye turn to the left.” The wise virgins in Daniel twelve understand the increase of knowledge at the end of the world, because they had “run to and fro” in the word to understand the life-giving knowledge that was unsealed.

Giăng đại diện cho những người Cơ Đốc Phục Lâm, những người quay về quá khứ để hiểu tương lai. Khi họ "nghe một lời phán phía sau" mình như Giăng đã nghe, lời ấy cũng bao gồm lời chỉ dẫn được ban trong lời chứng của Ê-sai về sự kiện giống hệt này. Lời chỉ dẫn của Ê-sai là: "Đây là đường, hãy đi trong đó, khi các ngươi quay qua bên hữu, và khi các ngươi quay qua bên tả." Những trinh nữ khôn ngoan trong Đa-ni-ên đoạn mười hai hiểu sự gia tăng của tri thức vào thời kỳ cuối cùng của thế gian, vì họ đã "đi qua đi lại" trong lời để hiểu sự hiểu biết ban sự sống đã được mở ấn.

But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased. Daniel 12:4.

Còn ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy giữ kín các lời này và niêm phong quyển sách cho đến thời kỳ cuối cùng; nhiều người sẽ đi qua đi lại, và tri thức sẽ gia tăng. Đa-ni-ên 12:4.

The prophets we are considering represent Seventh-day Adventists in the history where judgment comes to a conclusion and probation closes. Those represented as the wise virgins hear a voice behind them saying this is the way to walk and He promises to guide them on the path when they turn to the left or the right. “Running to and fro” as the wise virgins do when the book is unsealed is a symbol for Bible study. Nature informs us that in order to run, you first must learn to walk and Isaiah’s testimony says that if you listen to the voice behind you, he will guide you in the study of His Word whether you turn to the Old Testament (left) or the New Testament (right). Open the Bible and He will guide you by His voice. But for Seventh-day Adventists at the end of the world it also means He will guide you when you open the Bible (left) and when you open the Spirit of Prophecy (right).

Các nhà tiên tri mà chúng ta đang xét đến đại diện cho tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm trong giai đoạn lịch sử khi sự phán xét đi đến kết thúc và thời kỳ ân điển chấm dứt. Những người được tượng trưng là các trinh nữ khôn ngoan nghe tiếng sau lưng phán: Đây là đường, hãy đi theo; và Ngài hứa sẽ dẫn dắt họ trên lối ấy khi họ rẽ sang bên trái hay bên phải. “Chạy qua chạy lại,” như các trinh nữ khôn ngoan làm khi quyển sách được mở ấn, là một biểu tượng của việc nghiên cứu Kinh Thánh. Tự nhiên cho chúng ta biết rằng muốn chạy thì trước hết phải học đi; và lời chứng của Ê-sai nói rằng nếu bạn lắng nghe tiếng nói phía sau mình, Ngài sẽ hướng dẫn bạn trong việc học Lời Ngài, dù bạn rẽ sang Cựu Ước (bên trái) hay Tân Ước (bên phải). Hãy mở Kinh Thánh, và Ngài sẽ hướng dẫn bạn bằng tiếng của Ngài. Nhưng đối với tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm vào thời kỳ cuối cùng của thế gian, điều đó cũng có nghĩa là Ngài sẽ hướng dẫn bạn khi bạn mở Kinh Thánh (bên trái) và khi bạn mở Thần Linh của Lời Tiên Tri (bên phải).

The way to walk is even more specific when Jeremiah’s testimony is added.

Cách bước đi càng trở nên cụ thể hơn khi lời chứng của Jeremiah được thêm vào.

Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken.

Chúa phán như vầy: Hãy đứng trên các nẻo đường, nhìn xem, và hỏi về những lối xưa, đâu là đường lành, thì hãy đi theo; rồi các ngươi sẽ tìm được sự yên nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói: Chúng tôi sẽ không đi theo. Ta cũng đặt những kẻ canh gác trên các ngươi, phán rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói: Chúng tôi sẽ không nghe.

Therefore hear, ye nations, and know, O congregation, what is among them. Hear, O earth: behold, I will bring evil upon this people, even the fruit of their thoughts, because they have not hearkened unto my words, nor to my law, but rejected it. Jeremiah 6:16–19.

Vậy nên, hỡi các dân, hãy nghe; hỡi hội chúng, hãy biết điều gì ở giữa họ. Hỡi đất, hãy nghe: kìa, ta sẽ giáng tai họa trên dân này, chính là bông trái những ý tưởng của họ, vì họ đã không lắng nghe lời ta, cũng chẳng vâng theo luật pháp của ta, nhưng đã khước từ nó. Giê-rê-mi 6:16-19.

There are two classes of worshippers in the passage. One group considers all the “ways” and chooses the “old paths” to walk in. They were capable of selecting the “good way” from all the other possible “ways,” because they are those who listened to the voice behind them, and that voice informed them, “this is the way, walk ye in it.” John represents those that hear the voice from behind, a voice from the “old paths.”

Có hai hạng người thờ phượng trong đoạn này. Một nhóm cân nhắc tất cả các “đường lối” và chọn “những nẻo xưa” để bước đi. Họ đã có thể chọn “đường lối tốt” từ mọi “đường lối” khác có thể có, vì họ là những người đã lắng nghe tiếng nói phía sau mình, và tiếng nói ấy bảo họ: “đây là đường, hãy bước đi trong đó.” John đại diện cho những người nghe tiếng nói từ phía sau, một tiếng nói từ “những nẻo xưa.”

“‘Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein.’ Jeremiah 6:16.

"'Chúa phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường, nhìn xem, và hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt lành, và hãy bước đi trên đó.' Giê-rê-mi 6:16."

“Let none seek to tear away the foundations of our faith—the foundations that were laid at the beginning of our work by prayerful study of the word and by revelation. Upon these foundations we have been building for the last fifty years. Men may suppose that they have found a new way and that they can lay a stronger foundation than that which has been laid. But this is a great deception. Other foundation can no man lay than that which has been laid.

Đừng để ai tìm cách phá bỏ những nền tảng của đức tin chúng ta—những nền tảng đã được đặt từ buổi đầu công việc của chúng ta nhờ việc nghiên cứu lời trong tinh thần cầu nguyện và nhờ sự mặc khải. Trên những nền tảng này, chúng ta đã xây dựng suốt năm mươi năm qua. Người ta có thể cho rằng họ đã tìm ra một con đường mới và rằng họ có thể đặt một nền tảng vững chắc hơn nền tảng đã được đặt. Nhưng đó là một sự lừa dối lớn. Không ai có thể đặt một nền tảng nào khác ngoài nền tảng đã được đặt rồi.

“In the past many have undertaken the building of a new faith, the establishment of new principles. But how long did their building stand? It soon fell, for it was not founded upon the Rock.

Trong quá khứ, nhiều người đã bắt tay vào việc xây dựng một đức tin mới, thiết lập những nguyên tắc mới. Nhưng công trình của họ đứng vững được bao lâu? Nó sớm sụp đổ, vì nó không được đặt nền trên Đá.

“Did not the first disciples have to meet the sayings of men? Did they not have to listen to false theories, and then, having done all, to stand firm, saying: ‘Other foundation can no man lay than that is laid’? 1 Corinthians 3:11.

Há các môn đồ đầu tiên đã không phải đối diện với những lời dạy của loài người sao? Há họ đã không phải lắng nghe các lý thuyết sai lầm, rồi, sau khi đã làm hết thảy, đứng vững mà nói: 'Không ai có thể đặt một nền nào khác hơn nền đã đặt'? 1 Cô-rinh-tô 3:11.

“So we are to hold the beginning of our confidence steadfast unto the end. Words of power have been sent by God and by Christ to this people, bringing them out from the world, point by point, into the clear light of present truth. With lips touched with holy fire, God’s servants have proclaimed the message. The divine utterance has set its seal to the genuineness of the truth proclaimed.” Testimonies, volume 8, 296, 297.

“Vì vậy, chúng ta phải giữ vững niềm tin ban đầu của mình cho đến tận cùng. Những lời đầy quyền năng đã được Đức Chúa Trời và Đấng Christ gửi đến cho dân sự này, đưa họ ra khỏi thế gian, từng điểm một, vào trong ánh sáng rõ ràng của lẽ thật hiện tại. Với môi miệng được lửa thánh chạm đến, các đầy tớ của Đức Chúa Trời đã rao truyền sứ điệp. Lời phán thiên thượng đã ấn chứng tính xác thực của lẽ thật đã được công bố.” Testimonies, tập 8, 296, 297.

But there is another group in Jeremiah’s line and that “congregation” as he identifies them, have built a house representing a new faith, and that house falls because it was not built upon the rock. That house is the Seventh-day Adventist church, or as John identifies the very same church—the synagogue of Satan.

Nhưng còn một nhóm khác, theo lời của Jeremiah, và “hội chúng” như ông gọi họ, đã xây một ngôi nhà tượng trưng cho một đức tin mới, và ngôi nhà ấy sụp đổ vì nó không được xây trên tảng đá. Ngôi nhà đó là Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, hay như John gọi chính hội thánh ấy—hội đường của Sa-tan.

To refuse to hear is to reject, his “words” and his “law.” Due to their rebellion against returning and walking in the old paths and also their refusal to hear the trumpet message of the watchman, God is going to bring evil upon the people Jeremiah identifies as a “evil congregation.” How God deals with the Seventh-day Adventist church of Laodicea is a subject of Bible prophecy. The prophet Hosea contributes to the characteristics of the “evil congregation” when he speaks about why they are rejected.

Từ chối lắng nghe tức là khước từ "lời" và "luật pháp" của Ngài. Vì họ phản nghịch, không chịu trở lại và bước đi trên các lối xưa, lại từ chối nghe sứ điệp bằng tiếng kèn của người lính canh, nên Đức Chúa Trời sẽ giáng tai họa trên dân mà Giê-rê-mi gọi là "hội chúng gian ác". Việc Đức Chúa Trời đối đãi với Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy ở La-ô-đi-xê là một đề tài của lời tiên tri Kinh Thánh. Tiên tri Ô-sê góp phần làm rõ các đặc điểm của "hội chúng gian ác" khi ông nói về lý do họ bị từ chối.

My people are destroyed for lack of knowledge: because thou hast rejected knowledge, I will also reject thee, that thou shalt be no priest to me: seeing thou hast forgotten the law of thy God, I will also forget thy children. Hosea 4:6.

Dân Ta bị diệt vong vì thiếu sự hiểu biết; vì ngươi đã khước từ sự hiểu biết, Ta cũng sẽ khước từ ngươi, nên ngươi sẽ không còn làm thầy tế lễ cho Ta; vì ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi, Ta cũng sẽ quên con cái ngươi. Ô-sê 4:6.

They are rejected for lacking knowledge, which represents a message that is unsealed at the time of the end. God is ending here His covenant relationship with His people in the passage, for He directly calls them, “My people!” Because they rejected Christ, and have forgotten His law they will be no priest for God. When God’s people enter into covenant with God, He makes them priests and kings. When God entered into covenant with ancient Israel he stated through Moses:

Họ bị bác bỏ vì thiếu sự hiểu biết, điều này tượng trưng cho một sứ điệp được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng. Trong đoạn này, Đức Chúa Trời đang chấm dứt mối quan hệ giao ước của Ngài với dân Ngài, vì Ngài trực tiếp gọi họ: “Dân Ta!” Bởi vì họ đã từ chối Đấng Christ và quên luật pháp của Ngài, họ sẽ không còn làm thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời. Khi dân của Đức Chúa Trời bước vào giao ước với Ngài, Ngài khiến họ trở nên các thầy tế lễ và các vua. Khi Đức Chúa Trời lập giao ước với Israel cổ đại, Ngài đã phán qua Moses:

Now therefore, if ye will obey my voice indeed, and keep my covenant, then ye shall be a peculiar treasure unto me above all people: for all the earth is mine: And ye shall be unto me a kingdom of priests, and an holy nation. These are the words which thou shalt speak unto the children of Israel. Exodus 19:5, 6.

Vậy bây giờ, nếu các ngươi thật sự vâng nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì các ngươi sẽ là báu vật thuộc riêng về Ta giữa mọi dân, vì cả thế gian đều là của Ta. Các ngươi sẽ đối với Ta là một vương quốc thầy tế lễ và một dân thánh. Đó là những lời ngươi phải nói với con cái Y-sơ-ra-ên. Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5, 6.

When God entered into covenant with the Christian church he stated through Peter:

Khi Đức Chúa Trời lập giao ước với Hội Thánh Cơ Đốc, Ngài đã phán qua Phi-e-rơ:

But ye are a chosen generation, a royal priesthood, an holy nation, a peculiar people; that ye should show forth the praises of him who hath called you out of darkness into his marvellous light: Which in time past were not a people, but are now the people of God: which had not obtained mercy, but now have obtained mercy. 1 Peter 2:9, 10.

Nhưng anh em là dòng dõi được chọn, là chức tế lễ vương giả, là dân thánh, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời; hầu cho anh em rao truyền những nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm vào ánh sáng lạ lùng của Ngài. Trước kia anh em không phải là một dân, nhưng nay là dân của Đức Chúa Trời; trước kia chưa được thương xót, nhưng nay đã được thương xót. 1 Phi-e-rơ 2:9, 10.

Peter in these verses addresses the transition from ancient Israel as God’s chosen covenant people unto the Christian church, when he states that “in times past were not a people, but now are the people of God.” When the Jews divorced themselves from God, the Lord entered into covenant with the Christian church. Both were considered as nations of priests while they were married to the Lord.

Phi-e-rơ trong những câu này đề cập đến sự chuyển tiếp từ Israel cổ đại, dân giao ước được Đức Chúa Trời chọn lựa, sang Hội Thánh Cơ Đốc, khi ông nói rằng: “trước kia không phải là một dân, nhưng nay là dân của Đức Chúa Trời.” Khi người Do Thái đoạn tuyệt với Đức Chúa Trời, Chúa đã lập giao ước với Hội Thánh Cơ Đốc. Cả hai đều được xem là những dân tộc tư tế khi họ còn ở trong mối hôn ước với Chúa.

To be rejected as a priest indicates that you once were a covenant people. Seventh-day Adventists entered into covenant with the Lord at the beginning of Adventist history. The church in the wilderness came out of the Reformation but rejected the Millerite message, and thus divorced themselves from God during the history of the first and second angels’ messages. The final separation was the arrival of the second angel and the pronouncement was that they were no longer a daughter of Christ, but had become a daughter of Babylon. Immediately after, during the Midnight Cry, God called His new bride to the covenant marriage.

Bị loại bỏ khỏi chức tư tế cho thấy rằng trước kia anh em từng là một dân giao ước. Những người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy đã bước vào giao ước với Chúa ngay từ buổi đầu lịch sử Phục Lâm. Hội thánh trong đồng vắng ra từ cuộc Cải chánh nhưng đã khước từ sứ điệp của phong trào Miller, và như thế đã tự đoạn tuyệt với Đức Chúa Trời trong lịch sử của sứ điệp thiên sứ thứ nhất và thứ hai. Sự phân rẽ cuối cùng diễn ra khi thiên sứ thứ hai đến, và lời tuyên phán là họ không còn là con gái của Đấng Christ nữa, mà đã trở thành con gái của Babylon. Ngay sau đó, trong Tiếng Kêu Nửa Đêm, Đức Chúa Trời đã gọi tân nương mới của Ngài bước vào giao ước hôn nhân.

The two tables that were the symbol of the covenant for ancient Israel were the two tables of the Ten Commandments, and the two tables for spiritual modern Israel are the two tables of Habakkuk as represented by the 1843 and 1850 charts. The covenant people that inspiration has identified repeatedly as Laodicea rejected the old paths, refused to listen to the voice behind them, and they therefore repeat the ending history of ancient Israel as they are spewed out of the mouth of the Lord. Why does this happen to those He calls, “My people?”

Hai tấm bia vốn là biểu tượng của giao ước đối với Israel cổ đại chính là hai tấm bia của Mười Điều Răn, và hai bảng dành cho Israel thuộc linh hiện đại là hai bảng của Ha-ba-cúc, được minh họa bằng các biểu đồ năm 1843 và 1850. Dân giao ước mà sự linh hứng đã nhiều lần xác định là Lao-đi-xê đã khước từ các nẻo xưa, từ chối lắng nghe tiếng nói phía sau họ, và vì thế họ lặp lại đoạn kết của lịch sử Israel cổ đại khi bị mửa ra khỏi miệng của Chúa. Tại sao điều này lại xảy ra cho những người Ngài gọi là “Dân Ta”?

The parable of the ten virgins, which illustrates the experience of Adventism is twice fulfilled, once at the beginning and then at the ending of Adventism. Sister White teaches that the parable has been and will be fulfilled to the very letter, and also that the parable is always to be understood as present truth, just as is the third angel.

Dụ ngôn mười trinh nữ, vốn minh họa kinh nghiệm của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, được ứng nghiệm hai lần: một lần lúc khởi đầu và một lần lúc kết thúc của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm. Bà White dạy rằng dụ ngôn ấy đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, và rằng dụ ngôn ấy luôn phải được hiểu là lẽ thật hiện tại, cũng như thiên sứ thứ ba.

“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.

Tôi thường được nhắc đến dụ ngôn mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan, và năm người dại. Dụ ngôn này đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, vì nó có sự áp dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc thời gian chấm dứt. Review and Herald, ngày 19 tháng 8 năm 1890.

Millerite Adventism fulfilled the waiting of the parable between their failed prediction of 1843 and the correct prediction of October 22, 1844. The prophetic details of this history are many and important, but I simply wish to identify that the parable of the ten virgins is directly connected to the third angel as Sister White just stated.

Phong trào Millerite đã ứng nghiệm sự chờ đợi trong dụ ngôn giữa lời dự đoán thất bại năm 1843 và lời dự đoán chính xác vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Những chi tiết tiên tri của lịch sử này rất nhiều và quan trọng, nhưng tôi chỉ muốn chỉ ra rằng dụ ngôn mười trinh nữ liên hệ trực tiếp với thiên sứ thứ ba, như Bà White vừa nói.

From 1798 until October 22, 1844, the message of the first angel announced the opening of the judgment. Just before the judgment began the Midnight Cry of the parable of the ten virgins was fulfilled. Therefore, when the third angel announces the close of judgment, the announcement of the Midnight Cry will once again be repeated.

Từ năm 1798 đến ngày 22 tháng 10 năm 1844, sứ điệp của thiên sứ thứ nhất đã công bố việc khai mở cuộc phán xét. Ngay trước khi cuộc phán xét bắt đầu, Tiếng Kêu Nửa Đêm trong dụ ngôn mười trinh nữ đã được ứng nghiệm. Vì vậy, khi thiên sứ thứ ba công bố sự kết thúc của cuộc phán xét, lời công bố về Tiếng Kêu Nửa Đêm sẽ một lần nữa được lặp lại.

The recognition that the Protestant churches had rejected God’s message, thus becoming the daughters of Babylon, was the arrival of the second angel’s message and the beginning of the tarrying time in the parable that was being “fulfilled to the very letter.” The Lord did not return in 1843, He tarried to test and bless the virgins. The announcement of the second angel identifying the Protestant churches as daughters of Babylon was a call for those still in those fallen churches to come out and stand with the Millerites and their understanding of the prophecies. At the Exeter camp meeting Samuel Snow provided the evidence necessary to confirm the Lord’s coming on October 22, 1844, and the message of the Midnight Cry swept across the land like a tidal wave. Then the third angel arrived at the Great Disappointment of October 22, 1844.

Việc nhận ra rằng các hội thánh Tin Lành đã khước từ sứ điệp của Đức Chúa Trời, qua đó trở thành các con gái của Ba-by-lôn, chính là sự xuất hiện của sứ điệp của thiên sứ thứ hai và là khởi đầu của thời kỳ chờ đợi trong dụ ngôn đang được “ứng nghiệm từng chữ một.” Chúa đã không trở lại vào năm 1843; Ngài trì hoãn để thử thách và ban phước cho các trinh nữ. Việc công bố sứ điệp của thiên sứ thứ hai, xác định các hội thánh Tin Lành là các con gái của Ba-by-lôn, là một lời kêu gọi những người vẫn còn ở trong các hội thánh sa ngã ấy hãy ra khỏi đó và đứng cùng với những người Millerite và sự hiểu biết của họ về những lời tiên tri. Tại trại nhóm Exeter, Samuel Snow đã cung cấp bằng chứng cần thiết để xác nhận sự đến của Chúa vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, và sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm đã quét khắp xứ như một cơn sóng thần. Rồi thiên sứ thứ ba xuất hiện tại Sự Thất Vọng Lớn ngày 22 tháng 10 năm 1844.

This was a brief summation of a beginning history that I have left out many points, in order to isolate a few points that seem more relevant to what we are addressing.

Đây là bản tóm lược ngắn về lịch sử buổi đầu, trong đó tôi đã lược bỏ nhiều chi tiết để tập trung vào một vài điểm có vẻ liên quan hơn đến điều chúng ta đang đề cập.

We will continue these thoughts in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mạch suy nghĩ này trong bài viết tiếp theo.