And when he had opened the seventh seal, there was silence in heaven about the space of half an hour. And I saw the seven angels which stood before God; and to them were given seven trumpets. And another angel came and stood at the altar, having a golden censer; and there was given unto him much incense, that he should offer it with the prayers of all saints upon the golden altar which was before the throne. And the smoke of the incense, which came with the prayers of the saints, ascended up before God out of the angel’s hand. And the angel took the censer, and filled it with fire of the altar, and cast it into the earth: and there were voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake. Revelation 8:1–5.
Và khi Ngài mở ấn thứ bảy, trên trời yên lặng chừng nửa giờ. Rồi tôi thấy bảy vị thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời; và bảy cái kèn đã được ban cho họ. Và một vị thiên sứ khác đến, đứng tại bàn thờ, cầm một lư hương bằng vàng; và có nhiều hương được ban cho người, để người dâng hương ấy cùng với lời cầu nguyện của hết thảy các thánh đồ trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi. Và khói hương, cùng với lời cầu nguyện của các thánh đồ, từ tay vị thiên sứ bay lên trước mặt Đức Chúa Trời. Đoạn, vị thiên sứ lấy lư hương, đổ đầy lửa từ bàn thờ vào đó, rồi ném xuống đất; bấy giờ có tiếng động, tiếng sấm, chớp nhoáng, và một cơn động đất. Khải Huyền 8:1–5.
We are addressing the outpouring of holy fire from the heavenly sanctuary, during the history that the United States is going to bring down unholy fire from the first heaven. The revelation of what the seven thunders uttered in Revelation chapter ten, was to be sealed up until just before probation closed. Probation is also represented as on the verge of closing when the seventh seal is opened.
Chúng ta đang đề cập đến sự tuôn đổ lửa thánh từ đền thánh trên trời, trong giai đoạn lịch sử khi Hoa Kỳ sẽ giáng xuống lửa bất thánh từ tầng trời thứ nhất. Sự mặc khải về những gì bảy tiếng sấm đã phán trong Khải Huyền đoạn mười phải được niêm phong lại cho đến ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại. Thời kỳ ân điển cũng được mô tả là sắp khép lại khi ấn thứ bảy được mở.
And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:10, 11.
Ngài lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri của sách này, vì thì giờ đã gần. Ai bất nghĩa, cứ làm điều bất nghĩa nữa; ai ô uế, cứ ô uế nữa; ai công bình, cứ làm điều công bình nữa; ai thánh khiết, cứ nên thánh khiết nữa. Khải Huyền 22:10, 11.
The opening of the seventh seal takes place as the seven angels prepare to sound.
Việc mở ấn thứ bảy diễn ra khi bảy thiên sứ chuẩn bị thổi.
And the seven angels which had the seven trumpets prepared themselves to sound. Revelation 8:6.
Và bảy thiên sứ cầm bảy chiếc kèn sửa soạn để thổi. Khải Huyền 8:6.
When probation closes, “no man” is “able to enter the temple,” for the intercession of Christ for men’s sins has ended. Probation has closed, and the seven angels are commanded to pour out the vials of God’s wrath.
Khi thời kỳ ân điển khép lại, "không một người nào" còn "có thể vào đền thờ", vì sự cầu thay của Đấng Christ cho tội lỗi loài người đã chấm dứt. Thời kỳ ân điển đã khép lại, và bảy thiên sứ được truyền lệnh đổ các bát thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
And the temple was filled with smoke from the glory of God, and from his power; and no man was able to enter into the temple, till the seven plagues of the seven angels were fulfilled. And I heard a great voice out of the temple saying to the seven angels, Go your ways, and pour out the vials of the wrath of God upon the earth. Revelation 15:8, 16:1.
Và đền thờ đầy khói bởi vinh quang của Đức Chúa Trời và bởi quyền năng Ngài; không ai có thể vào trong đền thờ cho đến khi bảy tai vạ của bảy thiên sứ được hoàn tất. Và tôi nghe một tiếng lớn từ trong đền thờ phán với bảy thiên sứ rằng: Hãy đi, và đổ các bát thịnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất. Khải Huyền 15:8, 16:1.
There is no indication that the seven angels that sound the seven trumpets in Revelation chapters nine through eleven, are different from the seven angels that pour out the seven last plagues. On the contrary, the prophetic characteristics of the judgments represented by the seven trumpets, parallel the location and the effects of the seven vials of God’s wrath in chapter sixteen. As a more direct linkage, the trumpet judgments are directly called plagues.
Không có dấu hiệu nào cho thấy bảy thiên sứ thổi bảy tiếng kèn trong Khải Huyền chương 9 đến 11 khác với bảy thiên sứ trút đổ bảy tai vạ sau cùng. Trái lại, các đặc điểm tiên tri của những sự phán xét được biểu thị bởi bảy tiếng kèn tương ứng với vị trí và tác động của bảy bát cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời trong chương 16. Như một mối liên hệ trực tiếp hơn, các phán xét bằng kèn được gọi trực tiếp là các tai vạ.
And the rest of the men which were not killed by these plagues yet repented not of the works of their hands, that they should not worship devils, and idols of gold, and silver, and brass, and stone, and of wood: which neither can see, nor hear, nor walk. Revelation 9:20.
Và những người còn lại, tức là những kẻ không bị giết bởi các tai vạ này, vẫn không ăn năn về những việc tay họ làm, để họ không thờ lạy ma quỷ và các hình tượng bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng đá và bằng gỗ: là những vật chẳng thể thấy, chẳng thể nghe, cũng chẳng thể bước đi. Khải Huyền 9:20.
The opening of the seventh seal is purposely set within the context of the nearness of the close of probation. The seventh seal represents a second witness, of what the seven thunders “uttered,” that John and also Paul were forbidden to write.
Việc mở ấn thứ bảy được cố ý đặt trong bối cảnh thời điểm đóng cửa ân điển đã gần kề. Ấn thứ bảy tượng trưng cho một nhân chứng thứ hai về điều mà bảy tiếng sấm ‘đã phán’, điều mà Giăng và cả Phao-lô đều bị cấm không được viết ra.
And cried with a loud voice, as when a lion roareth: and when he had cried, seven thunders uttered their voices. And when the seven thunders had uttered their voices, I was about to write: and I heard a voice from heaven saying unto me, Seal up those things which the seven thunders uttered, and write them not. Revelation 10:3, 4.
Và kêu lớn tiếng, như sư tử rống; và khi người đã kêu, bảy tiếng sấm cất tiếng. Khi bảy tiếng sấm đã cất tiếng, tôi định viết thì nghe một tiếng từ trời phán với tôi: Hãy niêm phong những điều bảy tiếng sấm đã nói, đừng ghi lại. Khải Huyền 10:3, 4.
What was “uttered” by the seven thunders was sealed up, and in chapter twenty-two, the prophecy that had been sealed up in the book of Revelation was to be unsealed, and as with the seventh seal, it was to be unsealed just before probation closed.
Điều mà bảy tiếng sấm đã “phán” thì đã bị niêm phong, và ở chương hai mươi hai, lời tiên tri đã bị niêm phong trong sách Khải Huyền sẽ được mở ấn, và cũng như ấn thứ bảy, nó sẽ được mở ra ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại.
Sister White identifies that the sealing up of what the seven thunders “uttered” represented the same action of the Lion of the tribe of Judah, as when He commanded Daniel to seal up his book, until the time of the end. The books of Daniel and Revelation are the same book, and in the Revelation Jesus is represented as the Lion of the tribe of Judah, when He unseals the book that was sealed with seven seals, so it was the Lion of the tribe of Judah, that also commanded Daniel to seal up his book until the time of the end. The Lion of the tribe of Judah is He who seals and unseals His Word, for He is the Word.
Bà White khẳng định rằng việc niêm kín điều mà bảy tiếng sấm “phán ra” tượng trưng cho cùng một hành động của Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa, như khi Ngài truyền cho Đa-ni-ên niêm kín sách của ông cho đến thời kỳ cuối cùng. Sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền là một, và trong Khải Huyền Chúa Giê-su được trình bày như Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa, khi Ngài mở các ấn của quyển sách đã được niêm phong bằng bảy ấn; vì vậy chính Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa cũng là Đấng đã truyền Đa-ni-ên niêm kín sách của ông cho đến thời kỳ cuối cùng. Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa là Đấng niêm kín và mở ấn Lời của Ngài, vì Ngài chính là Lời.
“After these seven thunders uttered their voices, the injunction comes to John as to Daniel in regard to the little book: ‘Seal up those things which the seven thunders uttered.’” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 971.
"Sau khi bảy tiếng sấm ấy cất tiếng, một mệnh lệnh được ban cho Giăng, như đã ban cho Đa-ni-ên, liên quan đến quyển sách nhỏ: 'Hãy niêm phong những điều bảy tiếng sấm đã nói.'" Chú giải Kinh Thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 7, 971.
The internal evidence in the books of Daniel and Revelation identify that the unsealing of the seventh seal, is a second witness to the unsealing of what the seven thunders uttered. Both the unsealing of the book of Daniel and the unsealing of the book that was sealed with seven seals, identify that the truths that are revealed when a prophetic message is unsealed, is progressive in nature. This is why the book of Daniel identifies it as an increase of knowledge, and the book of Revelation portrays it as removing one seal after another.
Những bằng chứng nội tại trong sách Đa-ni-ên và Khải Huyền cho thấy rằng việc mở ấn thứ bảy là một lời chứng thứ hai cho việc mở ấn những điều mà bảy tiếng sấm đã phán ra. Cả việc mở ấn sách Đa-ni-ên và việc mở ấn cuốn sách được niêm phong bằng bảy ấn đều cho thấy rằng những lẽ thật được bày tỏ khi một thông điệp tiên tri được mở ấn có tính tiến triển. Vì vậy, sách Đa-ni-ên gọi đó là sự hiểu biết gia tăng, còn sách Khải Huyền mô tả điều ấy như việc tháo gỡ từng ấn một.
It is a light that grows brighter and brighter unto the perfect day.
Đó là một ánh sáng càng lúc càng sáng hơn, cho đến ngày trọn vẹn.
But the path of the just is as the shining light, that shineth more and more unto the perfect day. Proverbs 4:18.
Nhưng con đường của người công chính giống như ánh sáng rạng rỡ, càng chiếu sáng hơn cho đến ngày trọn vẹn. Châm Ngôn 4:18.
When “truth” is unsealed, it is progressive.
Khi "sự thật" được vén mở, nó mang tính tiệm tiến.
“If it was necessary for God’s ancient people to often call to mind His dealings with them in mercy and judgment, in counsel and reproof, it is equally important that we contemplate the truths delivered to us in His Word,—truth which, if heeded, will lead us to humility and submission, and obedience to God. We are to be sanctified through the truth. The Word of God presents special truths for every age. The dealings of God with His people in the past should receive our careful attention. We should learn the lessons which they are designed to teach us. But we are not to rest content with them. God is leading out His people step by step. Truth is progressive. The earnest seeker will be constantly receiving light from heaven. What is truth? should ever be our inquiry.” Signs of the Times, May 26, 1881.
Nếu dân xưa của Đức Chúa Trời cần thường xuyên nhớ lại những cách Ngài đối đãi với họ trong ơn thương xót và sự phán xét, trong lời khuyên dạy và lời quở trách, thì cũng quan trọng không kém để chúng ta suy ngẫm những lẽ thật được truyền đạt cho chúng ta trong Lời Ngài—những lẽ thật mà, nếu được lưu tâm tuân theo, sẽ dẫn chúng ta đến sự khiêm nhường và đầu phục, và vâng lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải được thánh hóa bởi lẽ thật. Lời Đức Chúa Trời trình bày những lẽ thật đặc thù cho mọi thời đại. Những cách Đức Chúa Trời đã đối đãi với dân Ngài trong quá khứ đáng để chúng ta lưu tâm cẩn thận. Chúng ta nên học những bài học mà những điều ấy nhằm truyền dạy cho chúng ta. Nhưng chúng ta không được dừng lại bằng lòng với những điều ấy. Đức Chúa Trời đang dẫn dắt dân Ngài từng bước một. Lẽ thật có tính tiến triển. Người tìm kiếm sốt sắng sẽ liên tục nhận lãnh ánh sáng từ trời. Lẽ thật là gì? phải luôn là câu hỏi của chúng ta. Signs of the Times, 26 tháng 5, 1881.
At the end of July, 2023, the Revelation of Jesus Christ began to be unsealed.
Vào cuối tháng 7 năm 2023, Sách Khải Huyền của Đức Giêsu Kitô bắt đầu được mở ấn.
As with the seventh seal and also the utterings of the seven thunders, the Revelation of Jesus Christ, is unsealed just before probation closes. It provides a third witness of the same message represented by the removal of the seventh seal, and the seven thunders. Those three representations in the book of Revelation are three witnesses that combine to make up the message of the Revelation of Jesus Christ. The unsealing of these three witnesses is progressive. Its effects are also progressive.
Cũng như đối với ấn thứ bảy và cả những lời phán của bảy tiếng sấm, Sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại. Nó cung cấp một nhân chứng thứ ba cho cùng một thông điệp, vốn được biểu thị bởi việc mở ấn thứ bảy và bảy tiếng sấm. Ba biểu tượng đó trong sách Khải Huyền là ba nhân chứng hợp lại để tạo nên thông điệp của Khải Huyền Đức Chúa Giê-su Christ. Việc mở ấn của ba nhân chứng này là tiệm tiến. Tác động của nó cũng tiệm tiến.
“Obedience to the law of God is sanctification. There are many who have erroneous ideas in regard to this work in the soul, but Jesus prayed that His disciples might be sanctified through the truth, and added, ‘Thy word is truth’ ( John 17:17). Sanctification is not an instantaneous but a progressive work, as obedience is continuous. Just as long as Satan urges his temptations upon us, the battle for self-conquest will have to be fought over and over again; but by obedience, the truth will sanctify the soul. Those who are loyal to the truth will, through the merits of Christ, overcome all weakness of character that has led them to be molded by every varying circumstance of life.” Faith and Works, 85.
Sự vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời chính là sự nên thánh. Có nhiều người có những quan niệm sai lầm về công việc này trong tâm hồn, nhưng Đức Chúa Giê-su đã cầu nguyện để các môn đồ của Ngài được nên thánh bởi lẽ thật, và nói thêm: "Lời Ngài là lẽ thật" (John 17:17). Sự nên thánh không phải là tức thì mà là một tiến trình, cũng như sự vâng phục là liên tục. Chừng nào Sa-tan còn xúi giục chúng ta bằng những cám dỗ, cuộc chiến để tự thắng mình sẽ còn phải lặp đi lặp lại; nhưng nhờ vâng phục, lẽ thật sẽ khiến tâm hồn được nên thánh. Những ai trung thành với lẽ thật sẽ, nhờ công lao của Đấng Christ, chiến thắng mọi điểm yếu trong tính cách đã khiến họ bị uốn theo mọi hoàn cảnh đổi thay của cuộc sống. Đức Tin và Việc Làm, 85.
The progressive development of the understanding of the Revelation of Jesus Christ began to be published at the end of July, 2023. The process of understanding the truths that began to be published at that time, began shortly after July 18, 2020.
Sự phát triển dần dần trong sự hiểu biết về sự mặc khải của Chúa Giê-su Kitô đã bắt đầu được công bố vào cuối tháng 7 năm 2023. Quá trình đi đến sự hiểu biết về những lẽ thật, vốn bắt đầu được công bố vào thời điểm đó, đã khởi sự không lâu sau ngày 18 tháng 7 năm 2020.
The truth that is identified in the message of the unsealing of the seventh seal is addressing the waymark of the Midnight Cry. The Midnight Cry in the Millerite history was a progressive development of truth, and that fact can be demonstrated by a historical review of the work of Samuel Snow. Jesus illustrates the movement of the third angel with the movement of the first angel, for he always illustrates the end with the beginning.
Lẽ thật được xác định trong sứ điệp về việc mở ấn thứ bảy đang đề cập đến mốc chỉ đường của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm. Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm trong lịch sử phong trào Miller là một sự phát triển dần dần của lẽ thật, và thực tế đó có thể được chứng minh qua việc điểm lại lịch sử về công việc của Samuel Snow. Chúa Giê-su dùng phong trào của thiên sứ thứ nhất để minh họa cho phong trào của thiên sứ thứ ba, vì Ngài luôn dùng phần khởi đầu để minh họa cho phần kết thúc.
The truths that come together to form the Midnight Cry message are an understanding of who God is, and how His character is represented in his Word. Those truths include a very detailed description of the historical process that those who ultimately proclaim the Midnight Cry message will fulfill. The hidden history of the seven thunders is what identifies that historical process. The seventh seal is a part of that detailed historical process, but its revelation is directed at the period of time that begins when the Midnight Cry message is finalized, thus marking when the sealing of the one hundred and forty-four thousand is accomplished. The progressive removal of the seventh seal begins when the message of the Midnight Cry is fully developed, as illustrated by the Exeter camp meeting in the summer of 1844. These articles represent your personal invitation to come to the Exeter camp meeting.
Những lẽ thật kết hợp lại để hình thành sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm là sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là ai, và bản tính của Ngài được bày tỏ trong Lời Ngài như thế nào. Những lẽ thật ấy bao gồm một mô tả rất chi tiết về tiến trình lịch sử mà những người sau cùng công bố sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm sẽ hoàn thành. Lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm chính là điều xác định tiến trình lịch sử ấy. Ấn thứ bảy là một phần của tiến trình lịch sử chi tiết đó, nhưng sự khải thị của nó hướng đến khoảng thời gian bắt đầu khi sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm được hoàn tất, qua đó đánh dấu thời điểm việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn ngàn được hoàn thành. Sự mở dần ấn thứ bảy bắt đầu khi sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm được phát triển trọn vẹn, như được minh họa qua kỳ trại nhóm Exeter vào mùa hè năm 1844. Những bài viết này chính là lời mời cá nhân dành cho bạn tham dự kỳ trại nhóm Exeter.
When the seventh seal is opened, fire from the altar is cast unto the earth, and there are “voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake.” A “voice” represents a trumpet.
Khi ấn thứ bảy được mở ra, lửa từ bàn thờ được ném xuống đất, và có "những tiếng, tiếng sấm, tia chớp, và một trận động đất." Một "tiếng" tượng trưng cho tiếng kèn.
Cry aloud, spare not, lift up thy voice like a trumpet, and show my people their transgression, and the house of Jacob their sins. Isaiah 58:1.
Hãy kêu to, đừng nín lặng; hãy cất tiếng ngươi lên như kèn, tỏ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ. Ê-sai 58:1.
The voice of a trumpet identifies a message that is warning of impending judgment. When Isaiah commands God’s people to lift up their voice like a trumpet, they are to “cry” aloud. The Midnight Cry message is unsealed just before the hour of the earthquake of the Sunday law. The Midnight Cry message which is unsealed just before the soon coming Sunday law, is the message that swells into a loud cry. When Isaiah says, “Cry aloud,” he is referencing a combination of the loud cry of the third angel, which is the second voice that joins the Midnight Cry message. The loud Midnight Cry message is a warning of the seventh trumpet, which is the third woe. God’s people must understand that when that trumpet message is blown, they are in the final moments of their probationary time. Therefore Isaiah’s command is a warning to prepare for the close of probation, a warning that the trumpet judgment of the third woe of Islam is about to strike the United States for rejecting God’s Sabbath. At the Sunday law, the Midnight Cry, which is the first of the two “voices” in Revelation chapter eighteen, swells to a loud cry. As God’s other children that are still in Babylon are called out.
Tiếng kèn cho biết một sứ điệp cảnh báo về sự phán xét sắp xảy đến. Khi Ê-sai truyền cho dân Đức Chúa Trời cất tiếng như tiếng kèn, họ phải “kêu” lớn tiếng. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm được mở ấn ngay trước giờ của trận động đất của luật ngày Chủ nhật. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm, được mở ấn ngay trước khi luật ngày Chủ nhật sắp đến, chính là sứ điệp sẽ dâng lên thành một tiếng kêu lớn. Khi Ê-sai nói, “Hãy kêu to,” ông ám chỉ sự kết hợp của tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba, là tiếng thứ hai hiệp cùng sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm vang dội là một lời cảnh báo về tiếng kèn thứ bảy, tức là khốn nạn thứ ba. Dân sự của Đức Chúa Trời phải hiểu rằng khi sứ điệp tiếng kèn ấy vang lên, họ đang ở trong những khoảnh khắc cuối cùng của thời kỳ ân điển của họ. Vì vậy, mệnh lệnh của Ê-sai là lời cảnh báo hãy chuẩn bị cho sự chấm dứt thời kỳ ân điển, một lời cảnh báo rằng sự đoán phạt của tiếng kèn thuộc khốn nạn thứ ba của Hồi giáo sắp giáng trên Hoa Kỳ vì đã chối bỏ ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời. Khi đến luật ngày Chủ nhật, Tiếng Kêu Nửa Đêm, là tiếng thứ nhất trong hai “tiếng” ở Khải Huyền chương mười tám, dâng lên thành một tiếng kêu lớn, khi các con cái khác của Đức Chúa Trời còn ở trong Ba-by-lôn được kêu gọi ra khỏi đó.
“The truth for this time, the third angel’s message, is to be proclaimed with a loud voice, meaning with increasing power, as we approach the great final test.” The 1888 Materials, 710.
Lẽ thật cho thời này, tức là sứ điệp của thiên sứ thứ ba, phải được rao truyền bằng tiếng lớn, nghĩa là với quyền năng ngày càng tăng, khi chúng ta tiến gần đến cuộc thử thách lớn lao cuối cùng. Các Tài liệu 1888, 710.
The “increasing power” of the “loud cry” of the third angel was typified at Sinai when the Ten Commandments were proclaimed by Jehovah himself. The trumpet in that history increased in power as the mountain quaked and turned to smoke. The fear was so great, that even Moses greatly quaked. The people then raised their “voices” in fear, asking that God’s “voice” would cease to sound.
"Sức mạnh tăng dần" của "tiếng kêu lớn" của thiên sứ thứ ba đã được tiêu biểu tại Si-nai khi chính Đức Giê-hô-va công bố Mười Điều Răn. Tiếng kèn trong biến cố ấy mỗi lúc một mạnh hơn khi núi rung chuyển và bốc khói. Nỗi sợ hãi lớn đến nỗi ngay cả Môi-se cũng run rẩy dữ dội. Bấy giờ dân sự vì sợ hãi đã cất "tiếng" xin cho "tiếng" của Đức Giê-hô-va thôi vang lên.
And the sound of a trumpet, and the voice of words; which voice they that heard entreated that the word should not be spoken to them any more: (For they could not endure that which was commanded, And if so much as a beast touch the mountain, it shall be stoned, or thrust through with a dart: And so terrible was the sight, that Moses said, I exceedingly fear and quake:). Hebrews 12:19–21.
Và tiếng kèn, và tiếng nói phán ra lời; tiếng ấy, những người nghe đã nài xin rằng đừng còn phán lời nào với họ nữa: (Vì họ không thể chịu nổi điều đã được truyền lệnh, và nếu chỉ một con thú chạm đến núi, nó sẽ bị ném đá, hoặc bị đâm xuyên bằng lao: Và cảnh tượng thật kinh khiếp đến nỗi Môi-se nói: Tôi vô cùng sợ hãi và run rẩy:). Hê-bơ-rơ 12:19-21.
The “voice” “they” had “heard” represents the “voice” of the warning message of the third angel. In fearful anguish they responded with their own “voices.” The voices at the Sunday law are also represented by the foolish virgins who are asking for oil, and the voices of the wise virgins tell them to go and buy for themselves. At the close of human probation, the “voices” of those that recognize they are lost, as do the foolish Adventist virgins at the Sunday law, cry out for the rocks and mountains to fall upon them. The Sunday law is typified by the giving of the law at Mount Sinai.
"Tiếng" mà "họ" đã "nghe" đại diện cho "tiếng" của sứ điệp cảnh cáo của thiên sứ thứ ba. Trong nỗi thống khổ sợ hãi, họ đã đáp lại bằng chính "tiếng" của mình. Những tiếng nói tại thời điểm luật ngày Chủ nhật cũng được tượng trưng bởi các trinh nữ dại đang xin dầu, và tiếng nói của các trinh nữ khôn bảo họ hãy tự đi mua lấy. Khi kết thúc thời kỳ ân điển của loài người, những "tiếng" của những người nhận ra mình đã hư mất, cũng như các trinh nữ Cơ Đốc Phục Lâm dại dột tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, kêu gào để đá tảng và núi đổ xuống trên họ. Luật ngày Chủ nhật được tượng trưng bởi việc ban luật pháp tại núi Sinai.
“At the wonderful manifestations of divine power upon that solemn occasion,—the mysterious trumpet tones waxing louder and more terrible, the peals of thunder reverberating from every mountain side, the lightning’s flash illuminating the stern and solemn heights, and on Sinai’s summit, amid cloud, and tempest, and thick darkness, the glory of God as a devouring fire,—at these tokens of Jehovah’s presence, the hearts of Israel failed with fear, and the whole congregation ‘stood afar off.’ Even Moses exclaimed, ‘I exceedingly fear and quake.’ Then above the warring elements was heard the voice of Jehovah, speaking the ten precepts of his law.
Trước những biểu hiện kỳ diệu của quyền năng Đức Chúa Trời trong dịp trọng thể ấy—tiếng kèn huyền nhiệm mỗi lúc một vang dội và đáng kinh hãi hơn, những hồi sấm dội vang từ mọi sườn núi, tia chớp rực sáng những đỉnh núi hùng vĩ, trang nghiêm, và trên đỉnh Si-na-i, giữa mây, bão tố và bóng tối dày đặc, vinh quang của Đức Chúa Trời như lửa thiêu đốt—trước những dấu hiệu về sự hiện diện của Đức Giê-hô-va, lòng dân Y-sơ-ra-ên đều khiếp đảm, và cả hội chúng 'đứng xa xa.' Ngay cả Môi-se cũng kêu lên: 'Tôi rất sợ hãi và run rẩy.' Bấy giờ, vượt lên trên cơn cuồng nộ của các yếu tố thiên nhiên, vang lên tiếng của Đức Giê-hô-va, phán ra mười điều răn của luật Ngài.
“As God’s great mirror revealed to the people of Israel their true condition, their souls were overwhelmed with terror. The awful power of God’s utterances seemed more than their quaking frames could bear. They entreated Moses, ‘Speak thou with us, and we will hear; but let not God speak with us, lest we die.’ As God’s great rule of right was presented before them, they realized, as never before, the offensive character of sin, and their own guilt, in the sight of a pure and holy God.” Signs of the Times, March 3, 1881.
"Khi tấm gương vĩ đại của Đức Chúa Trời bày tỏ cho dân Israel thấy tình trạng thật của họ, tâm hồn họ bị choáng ngợp bởi nỗi kinh hoàng. Quyền năng đáng sợ của những lời phán của Đức Chúa Trời dường như vượt quá sức chịu đựng của những thân xác đang run rẩy của họ. Họ nài xin Môi-se: 'Xin ông nói với chúng tôi, chúng tôi sẽ nghe; nhưng xin đừng để Đức Chúa Trời phán với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết.' Khi tiêu chuẩn vĩ đại của lẽ phải của Đức Chúa Trời được trình bày trước mặt họ, họ nhận ra, chưa bao giờ như thế, bản chất xúc phạm của tội lỗi và tội lỗi của chính mình trước mặt một Đức Chúa Trời thanh sạch và thánh khiết." Signs of the Times, ngày 3 tháng 3, 1881.
When the fire from the altar is cast unto the earth, there are “voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake.” “Thundering and lightning” are symbols of God’s judgments. At the Sunday law, the United States will have fully filled its “cup of iniquity,” and “national apostasy, will be followed by national ruin.” The “cup of iniquity” becomes full in the fourth generation, for both horns of the earth beast progress through four generations of escalating rebellion. The Sunday law marks where God’s judgments, represented by “thunderings and lightnings” are delivered, and they are delivered unto the fourth generation.
Khi lửa từ bàn thờ được ném xuống đất, có “những tiếng vang, sấm vang, chớp sáng, và một trận động đất.” “Sấm vang và chớp sáng” là những biểu tượng cho các phán xét của Đức Chúa Trời. Đến khi Luật Chủ nhật được ban hành, Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đã làm đầy trọn “chén tội ác” của mình, và “sự bội đạo của quốc gia sẽ kéo theo sự suy vong của quốc gia.” “Chén tội ác” trở nên đầy ở đời thứ tư, vì cả hai sừng của con thú từ đất cùng tiến qua bốn đời với sự phản nghịch ngày càng leo thang. Luật Chủ nhật đánh dấu thời điểm các phán xét của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bởi “sấm vang và chớp sáng,” được giáng xuống, và chúng được giáng đến đời thứ tư.
“Of the Amorites the Lord said: ‘In the fourth generation they shall come hither again: for the iniquity of the Amorites is not yet full.’ Although this nation was conspicuous because of its idolatry and corruption, it had not yet filled up the cup of its iniquity, and God would not give command for its utter destruction. The people were to see the divine power manifested in a marked manner, that they might be left without excuse. The compassionate Creator was willing to bear with their iniquity until the fourth generation. Then, if no change was seen for the better, His judgments were to fall upon them.
Về người A-mô-rít, Chúa phán: “Đến đời thứ tư họ sẽ trở lại xứ này, vì tội ác của người A-mô-rít chưa đầy.” Dẫu dân tộc này nổi bật vì sự thờ hình tượng và bại hoại, họ vẫn chưa làm đầy chén tội ác của mình, và Đức Chúa Trời chưa truyền lệnh tận diệt họ hoàn toàn. Dân ấy phải thấy quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách rõ rệt, để họ không còn cớ bào chữa. Đấng Tạo Hóa đầy lòng thương xót đã bằng lòng nhẫn nại chịu đựng tội ác của họ cho đến đời thứ tư. Rồi, nếu không có sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, các sự phán xét của Ngài sẽ giáng trên họ.
“With unerring accuracy the Infinite One still keeps an account with all nations. While His mercy is tendered with calls to repentance, this account will remain open; but when the figures reach a certain amount which God has fixed, the ministry of His wrath commences. The account is closed. Divine patience ceases. There is no more pleading of mercy in their behalf.” Testimonies, volume 5, 208.
"Với sự chính xác không sai lạc, Đấng Vô Hạn vẫn ghi sổ mọi dân tộc. Trong khi lòng thương xót của Ngài được trao ban kèm theo những lời kêu gọi ăn năn, sổ ấy vẫn còn mở; nhưng khi các con số đạt tới một mức nhất định mà Đức Chúa Trời đã ấn định, sự thi hành cơn thịnh nộ của Ngài bắt đầu. Sổ được đóng lại. Sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời chấm dứt. Không còn lời khẩn cầu thương xót thay cho họ nữa." Lời Chứng, tập 5, 208.
Sister White identifies the judgments that begin at the Sunday law as “God’s destructive judgments.” She teaches that it is too late for the foolish Laodicean Adventists, who had an opportunity to prepare for the crisis at midnight, but had refused to do so. That time of destructive judgments for the foolish virgins, is “a time of mercy” for those who had not yet heard the truth.
Bà White xác định những sự đoán phạt bắt đầu từ luật ngày Chủ nhật là "những sự đoán phạt hủy diệt của Đức Chúa Trời." Bà dạy rằng đã quá muộn đối với những người La-ô-đi-xê ngu dại trong Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm, những người đã có cơ hội để chuẩn bị cho cơn khủng hoảng lúc nửa đêm nhưng đã từ chối làm như vậy. Thời kỳ đoán phạt hủy diệt ấy đối với các trinh nữ dại lại là "một thời kỳ thương xót" cho những người chưa từng nghe lẽ thật.
“Oh, that the people might know the time of their visitation! There are many who have not yet heard the testing truth for this time. There are many with whom the Spirit of God is striving. The time of God’s destructive judgments is the time of mercy for those who have had no opportunity to learn what is truth. Tenderly will the Lord look upon them. His heart of mercy is touched; His hand is still stretched out to save, while the door is closed to those who would not enter.” Testimonies, volume 9, 97.
"Ôi, ước chi dân chúng nhận biết thời kỳ được thăm viếng của mình! Có nhiều người vẫn chưa nghe lẽ thật thử thách cho thời kỳ này. Có nhiều người mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang tranh đấu với họ. Thời kỳ các phán xét hủy diệt của Đức Chúa Trời là thời kỳ thương xót cho những ai chưa hề có cơ hội học biết lẽ thật là gì. Chúa sẽ dịu dàng đoái nhìn họ. Lòng thương xót của Ngài được cảm động; tay Ngài vẫn còn giơ ra để cứu, trong khi cánh cửa đã đóng lại đối với những kẻ không muốn bước vào." Chứng ngôn, quyển 9, 97.
When the seventh seal is opened there are “voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake.” The “hour” when the “earthquake” of Revelation eleven was first fulfilled was the French Revolution, and the perfect fulfillment of that “hour” is the “quake” of the “earth” beast, at the soon-coming Sunday law. It is in that “hour,” that the seventh seal is fully opened. The cross typifies the Sunday law, and there was a great earthquake at the cross.
Khi ấn thứ bảy được mở ra, có "những tiếng, và sấm rền, và chớp nhoáng, và một trận động đất." "Giờ" khi "trận động đất" của Khải Huyền đoạn mười một lần đầu tiên được ứng nghiệm là cuộc Cách mạng Pháp, và sự ứng nghiệm trọn vẹn của "giờ" ấy là "cơn rung chuyển" của con thú từ đất, vào thời điểm đạo luật Chủ nhật sắp đến. Chính trong "giờ" đó, ấn thứ bảy được mở ra trọn vẹn. Thập tự giá biểu trưng cho đạo luật Chủ nhật, và đã có một trận động đất lớn tại thập tự giá.
Jesus, when he had cried again with a loud voice, yielded up the ghost. And, behold, the veil of the temple was rent in twain from the top to the bottom; and the earth did quake, and the rocks rent. Matthew 25:51.
Khi Chúa Giê-su lại kêu lớn tiếng, Ngài trút linh hồn. Và kìa, bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới; đất rung chuyển, và các tảng đá vỡ ra. Ma-thi-ơ 25:51.
At the cross, a satanic kingdom was overthrown, as it will be at the Sunday law.
Trên thập tự giá, một vương quốc của Sa-tan đã bị lật đổ, như sẽ xảy ra khi luật ngày Chủ nhật được ban hành.
“Christ did not yield up His life till He had accomplished the work which He came to do, and with His parting breath He exclaimed, ‘It is finished.’ John 19:30. The battle had been won. His right hand and His holy arm had gotten Him the victory. As a Conqueror He planted His banner on the eternal heights. Was there not joy among the angels? All heaven triumphed in the Saviour’s victory. Satan was defeated, and knew that his kingdom was lost.” The Desire of Ages, 758.
Đấng Christ đã không phó sự sống của Ngài cho đến khi Ngài đã hoàn thành công việc Ngài đến để làm, và với hơi thở cuối cùng, Ngài kêu lên: 'Mọi sự đã hoàn tất.' Giăng 19:30. Cuộc chiến đã được thắng. Tay hữu Ngài và cánh tay thánh khiết của Ngài đã đem lại cho Ngài chiến thắng. Như một Đấng Chiến Thắng, Ngài cắm ngọn cờ của mình trên những đỉnh cao vĩnh cửu. Há chẳng có niềm vui giữa các thiên sứ sao? Cả thiên đàng đều khải hoàn trong chiến thắng của Đấng Cứu Thế. Sa-tan đã bị đánh bại và biết rằng vương quốc của hắn đã mất." Khát vọng của các thời đại, 758.
The earthquake of the cross is a representation of “truth,” which is Alpha and Omega. “Truth” is the beginning, the middle and the ending; it is the Hebrew word that was created by bringing together the first, thirteenth and last letter of the Hebrew alphabet. There was an earthquake when Christ died and then another earthquake at His resurrection. At the cross there was a first earthquake, then the grave and then the earthquake at His resurrection. At both earthquakes graves were opened.
Cơn động đất nơi thập tự giá là một biểu trưng cho “chân lý”, tức Alpha và Omega. “Chân lý” là khởi đầu, ở giữa và kết thúc; đó là một từ trong tiếng Hê-bơ-rơ, được tạo nên bằng cách ghép chữ cái thứ nhất, thứ mười ba và chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. Khi Đấng Christ chết đã có một cơn động đất, rồi lại có một cơn động đất nữa khi Ngài phục sinh. Tại thập tự giá đã có cơn động đất thứ nhất, rồi là ngôi mộ, rồi đến cơn động đất khi Ngài phục sinh. Trong cả hai cơn động đất, các mồ mả đều được mở ra.
“When Jesus, as He hung upon the cross, cried out, ‘It is finished’, the rocks rent, the earth shook, and some of the graves were opened. When He arose a victor over death and the grave, while the earth was reeling and the glory of heaven shone around the sacred spot, many of the righteous dead, obedient to His call, came forth as witnesses that He had risen. Those favored, risen saints came forth glorified. They were chosen and holy ones of every age, from creation down even to the days of Christ. Thus while the Jewish leaders were seeking to conceal the fact of Christ’s resurrection, God chose to bring up a company from their graves to testify that Jesus had risen, and to declare His glory.” Early Writings, 184.
Khi Đức Chúa Giê-su, lúc Ngài treo trên thập tự giá, kêu lên: “Mọi sự đã được trọn”, các tảng đá nứt ra, đất rung chuyển, và một số mồ mả đã mở ra. Khi Ngài sống lại, chiến thắng sự chết và mồ mả, trong khi đất còn chao đảo và vinh quang thiên đàng chiếu rọi quanh nơi thánh, nhiều người công chính đã qua đời, vâng theo tiếng gọi của Ngài, đã bước ra làm chứng rằng Ngài đã sống lại. Những thánh nhân được ưu ái ấy đã hiện ra trong vinh hiển. Họ là những người được chọn và thánh khiết của mọi thời đại, từ buổi sáng thế cho đến tận thời của Đấng Christ. Vậy nên, trong khi các lãnh đạo Do Thái tìm cách che giấu sự thật về sự phục sinh của Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã chọn cho một đoàn người từ mồ mả của họ sống lại để làm chứng rằng Đức Chúa Giê-su đã sống lại, và để công bố vinh quang của Ngài. Early Writings, 184.
At the first earthquake graves were opened, and at the last earthquake the grave of Christ was opened. In Revelation eleven, the two witnesses come out of their graves in the same hour as the earthquake. The earthquake is the Sunday law, which is typified by the cross. There is to be therefore two resurrections in the hour of the Sunday law. The first represents the birth of the one hundred and forty-four thousand that occurs before the woman travails, the second takes place in her travail. The woman of Revelation twelve first births the man child that is to rule the nations with a rod of iron, without any labor pains. Then at the Sunday law, her travails begin and she brings forth the second child. First, she births Elijah, and last she births Moses. The Sunday law is the hour of the resurrection of the twins of Revelation seven.
Trong trận động đất thứ nhất, các mồ mả được mở ra; còn trong trận động đất cuối cùng, mồ của Đấng Christ được mở ra. Trong Khải Huyền chương mười một, hai nhân chứng ra khỏi mồ mả của họ ngay trong giờ xảy ra trận động đất. Trận động đất ấy là luật ngày Chủ nhật, được tượng trưng bởi thập giá. Vì vậy sẽ có hai sự sống lại trong giờ của luật ngày Chủ nhật. Sự thứ nhất tượng trưng cho sự ra đời của một trăm bốn mươi bốn nghìn, xảy ra trước khi người nữ trải qua cơn chuyển dạ; sự thứ hai diễn ra trong cơn chuyển dạ của bà. Người nữ trong Khải Huyền chương mười hai trước hết sinh ra đứa trẻ trai sẽ cai trị muôn dân bằng gậy sắt, mà không hề đau đẻ. Rồi đến luật ngày Chủ nhật, cơn chuyển dạ của bà bắt đầu và bà sinh đứa con thứ hai. Trước hết, bà sinh Ê-li; sau cùng, bà sinh Môi-se. Luật ngày Chủ nhật là giờ sống lại của cặp song sinh trong Khải Huyền chương bảy.
When the seventh seal is fully opened at the Sunday law, there is silence in heaven for half an hour.
Khi ấn thứ bảy được mở hoàn toàn vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, trên trời có sự yên lặng trong nửa giờ.
“But God suffered with His Son. Angels beheld the Saviour’s agony. They saw their Lord enclosed by legions of satanic forces, His nature weighed down with a shuddering, mysterious dread. There was silence in heaven. No harp was touched. Could mortals have viewed the amazement of the angelic host as in silent grief they watched the Father separating His beams of light, love, and glory from His beloved Son, they would better understand how offensive in His sight is sin.” The Desire of Ages, 693.
Nhưng Đức Chúa Trời đã cùng chịu đau khổ với Con của Ngài. Các thiên sứ đã chứng kiến cơn thống khổ của Cứu Chúa. Họ thấy Chúa của mình bị những đạo binh ma quỷ bủa vây, bản tính Ngài bị đè nặng bởi một nỗi sợ hãi rùng mình, bí ẩn. Thiên đàng lặng im. Không một cây đàn hạc nào vang lên. Nếu người phàm có thể nhìn thấy sự kinh ngạc của cơ binh thiên sứ, khi trong nỗi đau buồn lặng lẽ họ chứng kiến Cha tách ánh sáng, tình yêu và vinh quang của Ngài khỏi Con yêu dấu của Ngài, thì họ hẳn đã hiểu rõ hơn tội lỗi xúc phạm trước mặt Ngài đến mức nào. Nguyện vọng các thời đại, 693.
The first half an hour of the hour of the earthquake, represents the first birth or resurrection of the two witnesses. In that half an hour, the two witnesses are sealed. They must be sealed in advance of the Sunday law, for they are the ensign that calls the other child, out of the grave during the remaining half an hour. The second child can only be brought to life by seeing men and women with the seal of God during the travails of the Sunday law crisis.
Nửa giờ đầu tiên của giờ động đất tượng trưng cho sự sinh ra lần thứ nhất hoặc sự phục sinh của hai nhân chứng. Trong nửa giờ ấy, hai nhân chứng được đóng ấn. Họ phải được đóng ấn trước khi có đạo luật Chủ nhật, vì họ là tiêu kỳ kêu gọi đứa con kia ra khỏi mồ trong nửa giờ còn lại. Đứa con thứ hai chỉ có thể được làm cho sống bằng việc nhìn thấy những người nam và nữ mang dấu ấn của Đức Chúa Trời trong những cơn khốn khó của cuộc khủng hoảng đạo luật Chủ nhật.
“The work of the Holy Spirit is to convince the world of sin, of righteousness and of judgment. The world can only be warned by seeing those who believe the truth sanctified through the truth, acting upon high and holy principles, showing in a high, elevated sense, the line of demarcation between those who keep the commandments of God, and those who trample them under their feet. The sanctification of the Spirit signalizes the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day. When the test comes, it will be clearly shown what the mark of the beast is. It is the keeping of Sunday. Those who after having heard the truth, continue to regard this day as holy, bear the signature of the man of sin, who thought to change times and laws.” Bible Training School, December 1, 1903.
"Công việc của Đức Thánh Linh là cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Thế gian chỉ có thể được cảnh cáo khi thấy những người tin lẽ thật được thánh hóa bởi lẽ thật, hành động theo những nguyên tắc cao cả và thánh khiết, bày tỏ một cách cao cả và rõ ràng ranh giới phân định giữa những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ giày đạp chúng dưới chân. Sự thánh hóa của Đức Thánh Linh đánh dấu sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những kẻ giữ một ngày nghỉ giả mạo. Khi sự thử thách đến, dấu của con thú là gì sẽ được bày tỏ rõ ràng. Ấy là việc giữ ngày Chủ nhật. Những ai, sau khi đã nghe lẽ thật, vẫn tiếp tục xem ngày ấy là thánh, mang lấy dấu ấn của con người tội ác, kẻ đã toan đổi thay các thời kỳ và luật pháp." Bible Training School, ngày 1 tháng 12, 1903.
The first born of the woman are the one hundred and forty-four thousand that are identified as the first fruits in the book of Revelation. They represent the sign which the other flock must recognize in the crisis and conflict of the Sunday law battle. That sign is the Sabbath, that the one hundred and forty-four thousand uphold in the time when it is unlawful to do so. Sister White calls their ensign the “blood-stained banner of Prince Emmanuel.”
Những con đầu lòng của người nữ chính là một trăm bốn mươi bốn nghìn người, được xác định là những trái đầu mùa trong sách Khải Huyền. Họ đại diện cho dấu hiệu mà bầy chiên khác phải nhận ra trong cuộc khủng hoảng và xung đột của trận chiến về luật ngày Chủ nhật. Dấu hiệu ấy là ngày Sa-bát, điều mà một trăm bốn mươi bốn nghìn người giữ vững vào thời điểm việc ấy là bất hợp pháp. Bà White gọi cờ hiệu của họ là “lá cờ nhuốm máu của Hoàng tử Em-ma-nu-ên.”
“In vision I saw two armies in terrible conflict. One army was led by banners bearing the world’s insignia; the other was led by the blood-stained banner of Prince Emmanuel. Standard after standard was left to trail in the dust, as company after company from the Lord’s army joined the foe, and tribe after tribe from the ranks of the enemy united with the commandment-keeping people of God. An angel flying in the midst of heaven put the standard of Emmanuel into many hands, while a mighty general cried out with a loud voice: ‘Come into line. Let those who are loyal to the commandments of God and the testimony of Christ now take their position. Come out from among them, and be ye separate, and touch not the unclean, and I will receive you, and will be a Father unto you, and ye shall be My sons and daughters. Let all who will, come up to the help of the Lord, to the help of the Lord against the mighty.’” Testimonies, volume 8, 41.
Trong một thị kiến tôi thấy hai đạo quân đang giao chiến khốc liệt. Một đạo quân tiến dưới những ngọn cờ mang phù hiệu của thế gian; đạo quân kia tiến dưới lá cờ đẫm máu của Hoàng tử Emmanuel. Hết ngọn cờ này đến ngọn cờ khác bị bỏ mặc kéo lê trong bụi đất, khi hết đội này đến đội khác thuộc đạo quân của Chúa nhập vào phe địch, và hết bộ tộc này đến bộ tộc khác trong hàng ngũ quân thù lại hiệp cùng dân của Đức Chúa Trời giữ các điều răn. Một thiên sứ bay giữa trời trao lá cờ của Emmanuel vào tay nhiều người, trong khi một vị đại tướng lớn tiếng kêu rằng: 'Hãy vào hàng ngũ. Những ai trung thành với các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đấng Christ, bây giờ hãy vào vị trí của mình. Hãy ra khỏi giữa họ, hãy biệt riêng mình, đừng chạm đến vật ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi, Ta sẽ làm Cha các ngươi, và các ngươi sẽ là con trai con gái Ta. Hết thảy ai muốn, hãy đến hiệp trợ Chúa, hiệp trợ Chúa chống lại kẻ hùng mạnh.' Chứng ngôn, tập 8, trang 41.
The blood-stained banner is what God’s other flock must see in the time of the Sunday law crisis. The banner is a rising light carried by the one hundred and forty-four thousand. That banner is red in color, for it is a blood-stained banner. That banner was typified in the battle of Jericho, when Rahab received and protected the spies, and then acknowledged her submission to Joshua’s army by placing a scarlet thread out of her window. Rahab represents God’s second born children in the Sunday law crisis, who see and accept the scarlet sign, and come into obedience to Joshua’s army. The scarlet thread that was used by Rahab, was a sign for the army of Joshua not to destroy Rahab’s household.
Ngọn cờ đẫm máu là điều bầy chiên khác của Đức Chúa Trời phải nhìn thấy trong thời kỳ khủng hoảng luật ngày Chủ nhật. Ngọn cờ ấy là một ánh sáng rạng lên được một trăm bốn mươi bốn nghìn người mang. Ngọn cờ ấy có màu đỏ, vì đó là ngọn cờ đẫm máu. Ngọn cờ ấy được tượng trưng trong trận chiến Giê-ri-cô, khi Ra-háp tiếp nhận và che chở các thám tử, rồi bày tỏ sự quy phục quân đội của Giô-suê bằng cách treo một sợi dây điều ngoài cửa sổ của mình. Ra-háp đại diện cho những người con sinh sau của Đức Chúa Trời trong cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật, là những người nhìn thấy và chấp nhận dấu hiệu màu điều, và quy phục quân đội của Giô-suê. Sợi dây điều mà Ra-háp đã dùng là dấu hiệu để quân đội của Giô-suê không tiêu diệt gia đình Ra-háp.
Rahab represents those that are still in Babylon at the Sunday law crisis and Joshua’s army represents the first born of the one hundred and forty-four thousand. The scarlet thread is the symbol of God’s Sabbath. The scarlet thread was the command of the spies given to Rahab that she must follow if she would obtain God’s protection.
Ra-háp đại diện cho những người vẫn còn ở Ba-by-lôn trong cuộc khủng hoảng về luật ngày Chủ Nhật, và đạo quân của Giô-suê đại diện cho các trưởng tử trong số một trăm bốn mươi bốn nghìn. Sợi dây điều là biểu tượng của ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời. Sợi dây điều là mệnh lệnh của những người do thám truyền cho Ra-háp mà nàng phải làm theo nếu muốn nhận được sự bảo vệ của Đức Chúa Trời.
Behold, when we come into the land, thou shalt bind this line of scarlet thread in the window which thou didst let us down by: and thou shalt bring thy father, and thy mother, and thy brethren, and all thy father’s household, home unto thee. Joshua 2:8.
Kìa, khi chúng ta vào trong xứ, ngươi phải buộc sợi dây chỉ điều này nơi cửa sổ mà ngươi đã thả chúng ta xuống; và ngươi phải đem cha ngươi, mẹ ngươi, anh em ngươi, cùng cả nhà cha ngươi, về nhà ngươi. Giô-suê 2:8.
The sign that those still in Babylon must see is represented by the scarlet thread, which is the Sabbath, but which also identifies the distinction between the two twins. The first born twin is the one hundred and forty-four thousand, for they bear the blood-stained banner of Prince Emmanuel in their hands.
Dấu hiệu mà những người còn ở Ba-by-lôn phải thấy là sợi chỉ điều, tức là ngày Sa-bát; nó cũng nêu bật sự phân biệt giữa hai người sinh đôi. Người con đầu lòng trong cặp song sinh ấy là một trăm bốn mươi bốn ngàn, vì họ cầm trong tay ngọn cờ nhuốm máu của Hoàng tử Ê-ma-nu-ên.
And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. The envy also of Ephraim shall depart, and the adversaries of Judah shall be cut off: Ephraim shall not envy Judah, and Judah shall not vex Ephraim. But they shall fly upon the shoulders of the Philistines toward the west; they shall spoil them of the east together: they shall lay their hand upon Edom and Moab; and the children of Ammon shall obey them. Isaiah 11:12–14.
Ngài sẽ giương một ngọn cờ cho các dân, tập hợp những kẻ bị xua đuổi của Y-sơ-ra-ên, và thu góp những kẻ tản lạc của Giu-đa từ bốn góc đất. Sự ghen tị của Êp-ra-im cũng sẽ dứt, và các kẻ thù nghịch của Giu-đa sẽ bị diệt trừ; Êp-ra-im sẽ không còn ghen tị Giu-đa, và Giu-đa sẽ không còn ức hiếp Êp-ra-im. Nhưng họ sẽ bay ập xuống bờ cõi của người Phi-li-tin về phía tây; họ sẽ cùng nhau cướp phá những người ở phương đông; họ sẽ tra tay trên Ê-đôm và Mô-áp, và con cháu Am-môn sẽ vâng phục họ. Ê-sai 11:12-14.
The first-born twin has the scarlet sign, which is the scarlet thread that marks the first born. The first born twin is Zarah, and the second born is Pharez.
Trong cặp song sinh, đứa sinh trước có dấu hiệu màu đỏ thắm, tức sợi chỉ đỏ dùng để đánh dấu người con đầu tiên. Đứa sinh trước là Zarah, và đứa sinh sau là Pharez.
And it came to pass in the time of her travail, that, behold, twins were in her womb. And it came to pass, when she travailed, that the one put out his hand: and the midwife took and bound upon his hand a scarlet thread, saying, This came out first. And it came to pass, as he drew back his hand, that, behold, his brother came out: and she said, How hast thou broken forth? this breach be upon thee: therefore his name was called Pharez. And afterward came out his brother, that had the scarlet thread upon his hand: and his name was called Zarah. Genesis 38:27–30.
Đến lúc nàng sinh nở, thì kìa, trong dạ nàng có một cặp sinh đôi. Khi nàng đang chuyển dạ, một đứa thò tay ra; bà đỡ liền lấy một sợi chỉ đỏ buộc vào tay nó và nói: “Đứa này ra trước.” Nhưng khi nó rụt tay lại, thì kìa, anh em của nó lại ra; bà nói: “Sao ngươi đã phá ra mà vượt trước? Sự phá vỡ này thuộc về ngươi.” Vì vậy người ta đặt tên nó là Pharez. Sau đó, người anh em có sợi chỉ đỏ buộc ở tay mới ra; người ta đặt tên nó là Zarah. Sáng thế ký 38:27-30.
Zarah means a rising light, and Pharez means to break out. When the twin Pharez sees the rising light of the sign of the scarlet thread on the hand of his twin brother Zarah, he “breaks out,” or comes out of Babylon. Zarah’s recognition of the rising light of the scarlet thread identifies the submission of the last born twin to the first born twin.
Zarah có nghĩa là ánh sáng rạng lên, còn Pharez có nghĩa là bứt ra. Khi người anh em sinh đôi Pharez thấy ánh sáng rạng lên từ dấu hiệu sợi chỉ điều trên tay người anh em sinh đôi Zarah của mình, Pharez “bứt ra”, tức ra khỏi Babylon. Sự nhận biết của Zarah về ánh sáng rạng lên của sợi chỉ điều cho thấy sự quy phục của người sinh đôi sinh sau đối với người sinh đôi sinh trước.
And they shall come from the east, and from the west, and from the north, and from the south, and shall sit down in the kingdom of God. And, behold, there are last which shall be first, and there are first which shall be last. Luke 13:29, 30.
Người ta sẽ đến từ phương đông, từ phương tây, từ phương bắc và từ phương nam, và sẽ ngồi trong Nước Đức Chúa Trời. Kìa, có những kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và có những kẻ trước hết sẽ nên sau hết. Lu-ca 13:29, 30.
The hidden history of the seven thunders identifies three waymarks. The first and the last waymarks are disappointments. The period between the first disappointment and the message of the Midnight Cry is the tarrying time. From the Midnight Cry, which is the second waymark, the period of time is the sealing time. The period that is the sealing time ends at the last disappointment.
Lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm xác định ba cột mốc. Cột mốc thứ nhất và cột mốc cuối cùng là những thất vọng. Khoảng thời gian giữa sự thất vọng thứ nhất và sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm là thời kỳ trì hoãn. Bắt đầu từ Tiếng Kêu Nửa Đêm (cột mốc thứ hai), khoảng thời gian ấy là thời kỳ đóng ấn. Thời kỳ đóng ấn kết thúc ở sự thất vọng cuối cùng.
The hidden history of the seven thunders identifies three waymarks. The first and the last waymarks are the opening of the graves at an earthquake. The period between the opening of the first grave and the message of the Midnight Cry is the tarrying time. From the Midnight Cry, which is the second waymark, the period of time is the sealing time. The period that is the sealing time ends at the opening of the last grave.
Lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm xác định ba cột mốc. Cột mốc thứ nhất và cuối cùng là việc các mồ mả được mở ra trong một trận động đất. Khoảng thời gian giữa việc mở ngôi mộ thứ nhất và sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm là thời kỳ trì hoãn. Kể từ Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm, vốn là cột mốc thứ hai, khoảng thời gian ấy là thời kỳ đóng ấn. Khoảng thời gian là thời kỳ đóng ấn kết thúc khi ngôi mộ cuối cùng được mở ra.
These two witnesses of the three steps of the hidden history of the seven thunders are also testified to by Christ’s death and resurrection. The first opening of the grave was symbolized with Christ’s baptism into the watery grave, the last grave was the cross. Between the baptism of Christ and the cross, Christ proclaimed His message, that typified the Midnight Cry. He accomplished that proclamation in twelve hundred and sixty days. After the cross, in the person of His disciples, the Midnight Cry message was repeated for twelve hundred and sixty days until the death of Stephen.
Hai chứng nhân này về ba bước trong lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm cũng được xác chứng bởi sự chết và sự sống lại của Đấng Christ. Lần mở mộ thứ nhất được biểu tượng qua việc Đấng Christ chịu báp-têm, tức là xuống mồ nước; nấm mồ cuối cùng là thập tự giá. Giữa phép báp-têm của Đấng Christ và thập tự giá, Ngài rao giảng sứ điệp của mình, điều ấy tượng trưng cho Tiếng Kêu Nửa Đêm. Ngài hoàn tất sự rao giảng ấy trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày. Sau thập tự giá, qua các môn đồ của Ngài, sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm được lặp lại trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, cho đến sự chết của Ê-tiên.
The two witnesses of Revelation eleven were empowered to give the message of the Midnight Cry for twelve hundred and sixty days. They were then slain, and laid in the streets for twelve hundred and sixty days, until they were brought back to life, and empowered.
Hai nhân chứng trong Khải Huyền chương mười một được ban quyền năng để rao giảng sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày. Sau đó họ bị giết và phơi xác ngoài đường phố trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, cho đến khi họ được làm cho sống lại và được ban quyền năng.
We will continue to investigate these truths in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu những sự thật này trong bài viết tiếp theo.
“Unless there is genuine conversion of the soul to God; unless the vital breath of God quickens the soul to spiritual life; unless the professors of truth are actuated by heaven-born principle, they are not born of the incorruptible seed which liveth and abideth forever. Unless they trust in the righteousness of Christ as their only security; unless they copy His character, labor in His spirit, they are naked, they have not on the robe of His righteousness. The dead are often made to pass for the living; for those who are working out what they term salvation after their own ideas, have not God working in them to will and to do of His good pleasure.
Trừ khi có sự hoán cải chân thật của linh hồn hướng về Đức Chúa Trời; trừ khi hơi thở sinh động của Đức Chúa Trời làm cho linh hồn sống động về mặt thuộc linh; trừ khi những người xưng nhận lẽ thật được thúc đẩy bởi nguyên tắc từ trời mà có, thì họ không được sinh bởi hạt giống không hư hoại, là hạt giống sống và còn lại đời đời. Trừ khi họ tin cậy nơi sự công bình của Đấng Christ như sự bảo đảm duy nhất của mình; trừ khi họ noi theo tính cách của Ngài, lao tác trong tinh thần của Ngài, thì họ trần trụi, họ không khoác áo choàng công bình của Ngài. Kẻ chết thường bị xem là người sống; vì những kẻ đang tự mình làm nên điều họ gọi là sự cứu rỗi theo ý tưởng riêng, thì không có Đức Chúa Trời làm việc trong họ để muốn và làm theo ý muốn tốt lành của Ngài.
“This class is well represented by the valley of dry bones Ezekiel saw in vision.” Review and Herald, January 17, 1893.
“Hạng người này được minh họa rõ nét bằng thung lũng xương khô mà Ê-xê-chi-ên đã thấy trong thị kiến.” Review and Herald, ngày 17 tháng 1 năm 1893.