We have been setting forth the sequence of prophetic events that are identified by the hidden history of the seven thunders that is represented in Revelation chapters eleven through thirteen. We have not yet reached the point in the development of these events, where we will overlay the history of the horn of Protestantism and the horn of Republicanism. Nor have we yet prepared a platform of understanding to pinpoint the role of Islam in the message of the Midnight Cry. There is, though, a very important truth connected with these events, that identifies what a person must do when they understand the truths that are being unsealed. The blessing of Revelation includes the responsibility of “keeping” those things that are written.
Chúng ta đã trình bày trình tự các sự kiện tiên tri được xác định bởi lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm, lịch sử ấy được trình bày trong các chương 11 đến 13 của sách Khải Huyền. Chúng ta vẫn chưa đến giai đoạn trong tiến trình của những sự kiện này để chồng ghép lịch sử của sừng Tin Lành và sừng chủ nghĩa Cộng hòa. Chúng ta cũng chưa chuẩn bị một nền tảng hiểu biết để xác định chính xác vai trò của Hồi giáo trong sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Tuy nhiên, có một lẽ thật rất quan trọng gắn liền với những sự kiện này, cho biết một người phải làm gì khi họ hiểu các lẽ thật đang được mở ấn. Phước lành của sách Khải Huyền bao gồm trách nhiệm "giữ" những điều đã được chép.
The line of history that is being unsealed conveys the creative power of God to those who would hear, read and keep those things written therein. It is therefore time to break away from our consideration of Isaiah’s last prophetic narrative, and Revelation chapters eleven through thirteen in order to establish the significance of the “three and a half days” that Elijah and Moses were dead in the street of the information super highway, that runs through the valley of dead dry bones. What we will identify now, is the symbolism of “the wilderness.”
Dòng lịch sử đang được mở ấn bày tỏ quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời cho những ai sẵn lòng lắng nghe, đọc và tuân giữ những điều được chép trong đó. Vì vậy đã đến lúc tạm rời khỏi việc khảo sát tường thuật tiên tri cuối cùng của Ê-sai và các chương 11 đến 13 của Khải Huyền, để xác định ý nghĩa của “ba ngày rưỡi” khi Ê-li và Môi-se nằm chết trên con phố của siêu xa lộ thông tin, vốn chạy xuyên qua thung lũng những bộ xương khô chết chóc. Điều chúng ta sẽ xác định bây giờ là biểu tượng của “đồng vắng.”
In the last article we identified four prophetic witnesses of the sequence of events that are established by the hidden history of the seven thunders. The line of the image of Christ, the line of the two witnesses, the line of the image of the beast and the line of the counterfeit king of the north.
Trong bài viết trước, chúng tôi đã xác định bốn nhân chứng tiên tri cho chuỗi sự kiện được thiết lập bởi lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm. Đó là: dòng của hình ảnh Đấng Christ, dòng của hai nhân chứng, dòng của hình tượng con thú và dòng của vua phương bắc giả mạo.
The second half of the line of the counterfeit king of the north, begins with the empowerment of the papacy in 538. Then the papacy, the spiritual counterfeit king of the north, trampled down spiritual Jerusalem and spiritual Israel for twelve hundred and sixty years.
Nửa sau của chuỗi về vua phương bắc giả mạo bắt đầu với việc trao quyền cho chế độ giáo hoàng vào năm 538. Sau đó, chế độ giáo hoàng, vị vua phương bắc giả mạo thuộc linh, đã giày xéo Giê-ru-sa-lem thuộc linh và Y-sơ-ra-ên thuộc linh trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm.
And they shall fall by the edge of the sword, and shall be led away captive into all nations: and Jerusalem shall be trodden down of the Gentiles, until the times of the Gentiles be fulfilled. Luke 21:24.
Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, bị bắt đi làm phu tù giữa mọi dân tộc; và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp cho đến khi thời kỳ của dân ngoại được hoàn tất. Lu-ca 21:24.
John was told to measure both the sanctuary and the host, but he was also told to leave out the courtyard, for it had been given to the Gentiles for twelve hundred and sixty years.
John được bảo phải đo cả nơi thánh lẫn đạo binh, nhưng ông cũng được bảo bỏ qua sân, vì nó đã được trao cho dân ngoại trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm.
And there was given me a reed like unto a rod: and the angel stood, saying, Rise, and measure the temple of God, and the altar, and them that worship therein. But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. Revelation 11:1, 2.
Và có ban cho tôi một cây sậy như cây gậy; thiên sứ đứng đó và phán: Hãy đứng dậy, đo đền thờ của Đức Chúa Trời, cùng bàn thờ, và những kẻ thờ phượng trong đó. Nhưng sân ở ngoài đền thờ thì hãy bỏ qua, đừng đo; vì đã giao cho dân ngoại; và thành thánh sẽ bị họ giày đạp trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 11:1, 2.
John and Luke testify that the Gentiles “tread under foot” “Jerusalem,” for “forty and two months.” John identifies the duration, and Luke marks the conclusion of the history. These two witnesses are addressing the question of Daniel chapter eight, and verse thirteen.
Giăng và Lu-ca làm chứng rằng các dân ngoại "giày đạp" "Giê-ru-sa-lem," trong "bốn mươi hai tháng." Giăng xác định thời lượng, và Lu-ca đánh dấu sự kết thúc của lịch sử. Hai nhân chứng này đang đề cập đến câu hỏi ở Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? Daniel 8:13.
Bấy giờ tôi nghe có một Đấng thánh nói; một Đấng thánh khác nói cùng Đấng thánh đang nói ấy rằng: Sự hiện thấy về việc dâng của lễ hằng ngày, và sự phạm tội làm nên sự hoang vu, sẽ còn đến chừng nào, để cho nơi thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Daniel 8:13.
The question about the duration that the sanctuary and host were to be trodden under foot, identifies two desolating powers that would accomplish the act of treading down Jerusalem, which in Daniel is represented as the “sanctuary” and also the “host.” The correct foundational understanding of this verse, as expressed by J. N. Andrews, is that the verse identifies two desolating powers, which trampled down both the sanctuary and the host. The first desolating power identified in the verse is paganism, and the second is papalism. The word “host,” is Daniel’s expression for what John identifies as the “worshippers” in the temple, that is in Jerusalem.
Câu hỏi về thời kỳ mà đền thánh và đạo binh sẽ bị giày xéo xác định hai quyền lực gây hoang tàn sẽ thực hiện việc giày xéo Giê-ru-sa-lem, mà trong sách Đa-ni-ên được biểu thị là “đền thánh” và cả “đạo binh.” Sự hiểu biết nền tảng đúng đắn về câu này, như J. N. Andrews đã trình bày, là rằng câu ấy xác định hai quyền lực gây hoang tàn, đã giày xéo cả đền thánh lẫn đạo binh. Quyền lực gây hoang tàn thứ nhất được nêu trong câu là ngoại giáo, và quyền lực thứ hai là chủ nghĩa giáo hoàng. Từ “đạo binh” là cách Đa-ni-ên gọi điều mà Giăng xác định là “những người thờ phượng” trong đền thờ, tức là tại Giê-ru-sa-lem.
“THERE ARE TWO ‘DESOLATIONS’ IN DANIEL 8.—This fact is made so plain by Josiah Litch that we present his words:
Có hai 'sự tàn phá' trong Đa-ni-ên đoạn 8. - Sự thật này được Josiah Litch trình bày quá rõ ràng đến nỗi chúng tôi xin trích lời ông:
“‘The daily sacrifice’ is the present reading of the English text. But no such thing as sacrifice is found in the original. This is acknowledged on all hands. It is a gloss or construction put on it by the translators. The true reading is, ‘the daily and the transgression of desolation,’ daily and transgression being connected together by “and;” the daily desolation and the transgression of desolation. They are two desolating powers, which were to desolate the sanctuary and the host.’—Prophetic Expositions, Volume 1, page 127.
"‘Của lễ hằng ngày’ là cách đọc hiện tại của bản văn tiếng Anh. Nhưng trong nguyên bản không hề có điều gì gọi là ‘của lễ’. Điều này ai cũng thừa nhận. Đó là một lời chú giải hay một cách diễn giải do các dịch giả gán cho nó. Cách đọc đúng là: ‘điều hằng ngày và sự vi phạm gây hoang tàn’, trong đó ‘điều hằng ngày’ và ‘sự vi phạm’ được nối với nhau bằng “và”; tức là ‘sự hoang tàn hằng ngày’ và ‘sự vi phạm gây hoang tàn’. Chúng là hai quyền lực gây hoang tàn, được định để làm hoang tàn đền thánh và đạo binh.’-Prophetic Expositions, Tập 1, trang 127."
“It is plain that the sanctuary and the host were to be trodden under foot by the daily and the transgression of desolation. The careful reading of verse 13 settles this point. And this fact establishes another, viz.: that these two desolations are the two grand forms under which Satan has attempted to overthrow the worship and the cause of Jehovah. Mr. Miller’s remarks on the meaning of these two terms, and the course pursued by himself in ascertaining that meaning, is presented under the following head:
Rõ ràng là đền thánh và đạo binh sẽ bị giày đạp bởi điều hằng ngày và sự phạm pháp gây hoang tàn. Việc đọc kỹ câu 13 xác quyết điểm này. Và thực tế này xác lập thêm một điều nữa, tức là: hai sự hoang tàn này là hai hình thức lớn qua đó Sa-tan đã tìm cách lật đổ sự thờ phượng và sự nghiệp của Đức Giê-hô-va. Những nhận xét của ông Miller về ý nghĩa của hai thuật ngữ này, cùng với phương cách do chính ông theo đuổi để xác định ý nghĩa ấy, được trình bày dưới đề mục sau đây:
“THE TWO DESOLATIONS ARE PAGANISM AND PAPACY
Hai sự hoang tàn là ngoại giáo và chế độ giáo hoàng.
“‘I read on, and could find no other case in which it [the daily] was found, but in Daniel. I then [by the aid of a concordance] took those words which stood in connection with it, ‘take way;’ he shall take away, ‘the daily;’ ‘from the time the daily shall be taken away’, etc. I read on, and thought I should find no light on the text; finally, I came to 2 Thessalonians 2:7, 8. ‘For the mystery of iniquity doth already work; only he who now letteth will let, until he be taken out of the way, and then shall that wicked be revealed,’ etc. And when I had come to that text, oh! how clear and glorious the truth appeared! There it is! That is ‘the daily!’ Well now, what does Paul mean by ‘he who now letteth,’ or hindereth? By ‘the man of sin,’ and the ‘wicked,’ popery is meant. Well, what is it which hinders popery from being revealed? Why, it is paganism; well, then, ‘the daily’ must mean paganism.’—Second Advent Manual, page 66.” J. N. Andrews, The Sanctuary and the 2300 Days, 33, 34.
“Tôi đọc tiếp, và không thể tìm thấy trường hợp nào khác mà trong đó [the daily] xuất hiện, ngoại trừ trong sách Daniel. Tôi bèn [nhờ sự trợ giúp của một concordance] lấy những từ ngữ đứng liên hệ với nó: 'take way;' he shall take away, 'the daily;' 'from the time the daily shall be taken away', v.v. Tôi đọc tiếp, và nghĩ rằng mình sẽ không tìm được ánh sáng nào cho đoạn văn; cuối cùng, tôi đến 2 Thessalonians 2:7, 8. ‘Vì mầu nhiệm của sự gian ác hiện đã hoạt động; chỉ có người hiện đang ngăn trở sẽ còn ngăn trở, cho đến khi người ấy bị cất khỏi đường, và bấy giờ kẻ gian ác ấy sẽ được bày tỏ,’ v.v. Và khi tôi đến đoạn ấy, ôi! lẽ thật hiện ra rõ ràng và vinh hiển biết bao! Đấy rồi! Ấy chính là ‘the daily!’ Vậy thì, Phao-lô muốn nói gì qua ‘he who now letteth’, tức là ‘kẻ đang ngăn trở’? Qua ‘người tội ác’ và ‘kẻ gian ác’, ý nói đến chế độ giáo hoàng. Vậy, điều gì ngăn cản chế độ giáo hoàng khỏi được bày tỏ? Ấy chính là ngoại giáo; vậy thì, ‘the daily’ hẳn phải có nghĩa là ngoại giáo.” -Second Advent Manual, trang 66. J. N. Andrews, The Sanctuary and the 2300 Days, 33, 34.
In fulfillment of the “seven times” of Leviticus twenty-six, paganism trampled down the sanctuary and host for twelve hundred and sixty years, and then papalism did the same work for an additional twelve hundred and sixty years. The papacy had trampled down Jerusalem for twelve hundred and sixty years according to Luke and John, until the papacy received its deadly wound in 1798. Subtracting twelve hundred and sixty years from 1798, arrives at 538. Subtracting twelve hundred and sixty years from 538, arrives at 723 BC, when Assyria, the literal king of the north at that time, took the northern kingdom of Israel into slavery.
Trong sự ứng nghiệm của “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu, ngoại giáo đã giày xéo đền thánh và đạo binh suốt một nghìn hai trăm sáu mươi năm, rồi chế độ giáo hoàng tiếp tục làm điều ấy thêm một nghìn hai trăm sáu mươi năm nữa. Theo Lu-ca và Giăng, giáo quyền La Mã đã giày xéo Giê-ru-sa-lem trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm, cho đến khi giáo quyền này nhận lấy vết thương chí tử vào năm 1798. Trừ một nghìn hai trăm sáu mươi năm khỏi 1798 thì ra năm 538. Trừ một nghìn hai trăm sáu mươi năm khỏi 538 thì ra năm 723 TCN, khi A-si-ri, vị vua phương bắc theo nghĩa đen lúc bấy giờ, đã bắt vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên làm nô lệ.
John only refers to the twelve hundred and sixty years that the papacy trampled down the sanctuary and the host, but Luke addresses both periods of twelve hundred and sixty years that paganism and papalism trampled down Jerusalem, for he states “until the times of the Gentiles be fulfilled.” Luke identifies the trampling down of Jerusalem as more than a single “time”, for he calls it the fulfillment of the “times” of the Gentiles.
Giăng chỉ đề cập đến một nghìn hai trăm sáu mươi năm khi chế độ giáo hoàng chà đạp đền thánh và đạo quân, nhưng Lu-ca đề cập đến cả hai thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi năm khi ngoại giáo và chế độ giáo hoàng chà đạp Giê-ru-sa-lem, vì ông nói: "cho đến khi các thời kỳ của Dân Ngoại được trọn." Lu-ca xem việc Giê-ru-sa-lem bị chà đạp là nhiều hơn một "kỳ", vì ông gọi đó là sự ứng nghiệm của các "thời kỳ" của Dân Ngoại.
Of course, in 1856, Millerite Adventism became Laodicean, and seven years later they rejected the truth of the “seven times” of Leviticus twenty-six, so it is impossible for Adventism to see these simple biblical facts. The fact that I am identifying is that the hidden history of the seven thunders, which identifies three waymarks, and a period of time between the first and second waymark, and then a second period of time between the second and third waymark, is represented within the prophetic line of the counterfeit king of the north.
Dĩ nhiên, vào năm 1856, phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Millerit rơi vào tình trạng Laodicê, và bảy năm sau họ đã bác bỏ lẽ thật về “bảy lần” của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, nên phong trào Cơ Đốc Phục Lâm không thể nhìn thấy những sự thật Kinh Thánh đơn giản này. Điều tôi đang xác định là lịch sử ẩn của bảy tiếng sấm, vốn xác định ba cột mốc, cùng một khoảng thời gian giữa cột mốc thứ nhất và thứ hai, rồi một khoảng thời gian thứ hai giữa cột mốc thứ hai và thứ ba, được thể hiện trong dòng tiên tri của vua phương bắc giả mạo.
That line started in 723 BC, with the northern kingdom of Israel going into slavery at the hands of the king of Assyria, a literal king of the north. Then in 538, the spiritual king of the north was empowered, and he then trampled down spiritual Jerusalem for another twelve hundred and sixty years, until he received a deadly wound in 1798. From 723 BC, until 538, the powers that held Israel in subjection were always pagan powers.
Chuỗi đó bắt đầu vào năm 723 TCN, khi vương quốc phía bắc của Israel rơi vào cảnh nô lệ dưới tay vua A-si-ri, một vị vua phương bắc theo nghĩa đen. Rồi đến năm 538, vua phương bắc thuộc linh được trao quyền lực, và rồi ông giày xéo Giê-ru-sa-lem thuộc linh trong thêm một nghìn hai trăm sáu mươi năm nữa, cho đến khi ông nhận một vết thương chí mạng vào năm 1798. Từ năm 723 TCN cho đến năm 538, các thế lực đã giữ Israel trong ách phục tùng luôn là những thế lực ngoại giáo.
The line of Christ identifies the anointing of the true king of the north at His baptism in the year 27, and twelve hundred and sixty prophetic days later, He was crucified. His disciples were then empowered to present the message of the true king of the north, until the stoning of Stephen in the year 34. The only time Christ did not walk in the entire twelve hundred and sixty days of His ministry, was when he rode into Jerusalem in the triumphal entry. He therefore trod down Jerusalem for twelve hundred and sixty days, as did His disciples after the cross. Both lines, the counterfeit king of the north and Christ, the true king of the north, trod down Jerusalem and the host for twelve hundred and sixty days.
Dòng của Đấng Christ xác định sự xức dầu của vị vua phương bắc thật tại phép báp-têm của Ngài vào năm 27, và một nghìn hai trăm sáu mươi ngày tiên tri sau đó, Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Các môn đồ của Ngài sau đó được ban quyền năng để rao truyền sứ điệp về vị vua phương bắc thật, cho đến khi Ê-tiên bị ném đá vào năm 34. Lần duy nhất Đấng Christ không đi bộ trong suốt một nghìn hai trăm sáu mươi ngày chức vụ của Ngài là khi Ngài cưỡi vào Giê-ru-sa-lem trong cuộc khải hoàn tiến vào thành. Vì vậy, Ngài đã giày đạp Giê-ru-sa-lem trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, như các môn đồ của Ngài cũng làm sau thập tự giá. Cả hai dòng, vị vua phương bắc giả mạo và Đấng Christ, vị vua phương bắc thật, đều giày đạp Giê-ru-sa-lem và đạo quân trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày.
Paganism was a counterfeit of the worship system of the earthly sanctuary service of the literal Jews, and papalism is a counterfeit of the heavenly sanctuary service of the spiritual Jews. Paganism’s twelve hundred and sixty years, was parallel to Christ’s twelve hundred and sixty days, and papalism’s twelve hundred and sixty years, was parallel to the disciples’ twelve hundred and sixty days.
Ngoại giáo là một bản sao giả của hệ thống thờ phượng trong nghi lễ đền thánh dưới đất của người Do Thái theo huyết thống, và chủ nghĩa giáo hoàng là một bản sao giả của nghi lễ đền thánh trên trời của những người Do Thái thuộc linh. Thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi năm của ngoại giáo song song với một nghìn hai trăm sáu mươi ngày của Đấng Christ, và thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi năm của chủ nghĩa giáo hoàng song song với một nghìn hai trăm sáu mươi ngày của các môn đồ.
Each of the two lines contain the identical prophetic structure of the hidden history of the seven thunders, that began to be publicly unsealed in July, 2023. The unsealing was accomplished in part by the recognition of the Millerite movement’s first disappointment. Their first disappointment ushered in a period of time, called the “tarrying time” in the parable of the ten virgins. The “tarrying time” ended at the Exeter, New Hampshire camp meeting, when the message of the Midnight Cry had been fully established. The Exeter camp meeting became the second waymark, which then ushered in a period of time where the message of the Midnight Cry was proclaimed, until the third waymark of judgment and the last disappointment arrived.
Mỗi trong hai dòng đều chứa cấu trúc tiên tri giống hệt nhau về lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm, lịch sử này bắt đầu được mở ấn công khai vào tháng 7 năm 2023. Việc mở ấn được thực hiện một phần nhờ việc nhận ra sự thất vọng đầu tiên của phong trào Millerite. Sự thất vọng đầu tiên của họ đã mở ra một khoảng thời gian, được gọi là “thời kỳ trì hoãn” trong dụ ngôn mười trinh nữ. “Thời kỳ trì hoãn” kết thúc tại hội trại ở Exeter, New Hampshire, khi sứ điệp về Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm đã được xác lập hoàn toàn. Hội trại Exeter trở thành cột mốc thứ hai, rồi mở ra một giai đoạn khi sứ điệp của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm được rao truyền, cho đến khi cột mốc thứ ba của sự phán xét và sự thất vọng cuối cùng đến.
The three waymarks were the first disappointment, the Midnight Cry message and the last disappointment. Those three waymarks align with the Hebrew word “truth” which represent the first, thirteenth and last letter of the Hebrew alphabet. The first and the last both being disappointments, represents the signature of Alpha and Omega.
Ba cột mốc đó là sự thất vọng thứ nhất, sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm và sự thất vọng cuối cùng. Ba cột mốc ấy tương ứng với từ tiếng Hê-bơ-rơ “chân lý”, vốn gồm các chữ cái đầu tiên, thứ mười ba và cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. Việc cả cột mốc đầu tiên lẫn cột mốc cuối cùng đều là sự thất vọng biểu trưng cho dấu ấn của Alpha và Omega.
There is no direct representation of twelve hundred and sixty days in the Millerite history, yet the Millerite history is the history of the first movement and therefore typifies the last movement. The history of the first disappointment in the last movement began on July 18, 2020, and it is illustrated in Revelation chapter eleven. In Revelation chapter eleven, the two witnesses are slain, marking the first disappointment in the last movement, that was typified by the first movement.
Trong lịch sử Millerite không có sự trình bày trực tiếp về thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, tuy nhiên lịch sử Millerite là lịch sử của phong trào thứ nhất và vì thế tiêu biểu cho phong trào cuối cùng. Lịch sử của sự thất vọng thứ nhất trong phong trào cuối cùng bắt đầu vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, và được minh họa trong Khải Huyền chương mười một. Trong Khải Huyền chương mười một, hai nhân chứng bị giết, đánh dấu sự thất vọng thứ nhất trong phong trào cuối cùng, vốn đã được phong trào thứ nhất tiêu biểu.
In Revelation eleven the disappointment ushered in a period of twelve hundred and sixty days that their dead bodies were in the street, thus marking the tarrying time of the parable. At their resurrection they are lifted up as an ensign in the same hour as the judgment of the Sunday law. The history of the two witnesses includes a symbolic period of twelve hundred and sixty days.
Trong Khải Huyền chương mười một, nỗi thất vọng đã mở ra một thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi ngày mà trong đó xác chết của họ nằm trên đường phố, qua đó đánh dấu thời kỳ trì hoãn của dụ ngôn. Khi họ sống lại, họ được giương cao như một kỳ hiệu, cùng lúc với sự phán xét của luật ngày Chủ nhật. Lịch sử của hai nhân chứng bao gồm một thời kỳ tượng trưng là một nghìn hai trăm sáu mươi ngày.
The details of the movement of the third angel in the hidden history of the seven thunders provides much more specification than the other parallel lines, but the line of the third angel, the line of the true king of the north, and the line of the counterfeit king of the north, all possess the same prophetic characteristics of a beginning point, followed by a period of time that reaches to a middle point, that is followed by a period of time that reaches to judgment at the end-point.
Những chi tiết về phong trào của thiên sứ thứ ba trong lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm cung cấp nhiều chi tiết cụ thể hơn so với các dòng song song khác, nhưng dòng của thiên sứ thứ ba, dòng của vị vua phương bắc chân thật và dòng của vị vua phương bắc giả mạo đều có cùng những đặc trưng tiên tri: một điểm khởi đầu, tiếp theo là một khoảng thời gian dẫn đến một điểm giữa, rồi tiếp đó là một khoảng thời gian dẫn đến sự phán xét tại điểm cuối cùng.
The twelve hundred and sixty days is a primary element of the hidden history of the seven thunders. The twelve hundred and sixty days is symbolized as a “wilderness” in Revelation chapter twelve.
Một nghìn hai trăm sáu mươi ngày là một yếu tố chủ chốt trong lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm. Một nghìn hai trăm sáu mươi ngày được tượng trưng bằng hình ảnh "đồng vắng" trong Sách Khải Huyền chương mười hai.
And the woman fled into the wilderness, where she hath a place prepared of God, that they should feed her there a thousand two hundred and threescore days. Revelation 12:6.
Người đàn bà trốn vào đồng vắng, tại đó Đức Chúa Trời đã dọn sẵn cho nàng một nơi, để người ta nuôi nàng ở đó một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Khải Huyền 12:6.
The church fled into the wilderness to escape the treading down of the papal power for twelve hundred and sixty years. Verse fourteen provides another witness.
Hội thánh đã chạy trốn vào đồng vắng để thoát khỏi sự dày xéo của quyền lực giáo hoàng suốt một nghìn hai trăm sáu mươi năm. Câu mười bốn đưa ra một bằng chứng khác.
And to the woman were given two wings of a great eagle, that she might fly into the wilderness, into her place, where she is nourished for a time, and times, and half a time, from the face of the serpent. Revelation 12:14.
Và người đàn bà được ban cho hai cánh của một con đại bàng lớn, để bà bay vào đồng hoang, đến nơi của mình, nơi bà được nuôi dưỡng trong một thời, các thời, và nửa thời, khỏi mặt con rắn. Khải Huyền 12:14.
The church fled from the persecution of the dragon and the papacy for twelve hundred and sixty years, and therefore the “wilderness” is a symbol of the twelve hundred and sixty days. That number occurs directly seven times in the books of Daniel and Revelation, but it is represented several other ways in the Scriptures. In each case, it represents the “seven times” of Leviticus twenty-six.
Hội thánh đã chạy trốn khỏi sự bắt bớ của con rồng và chế độ giáo hoàng suốt một nghìn hai trăm sáu mươi năm, nên “đồng vắng” là một biểu tượng của một nghìn hai trăm sáu mươi ngày. Con số đó xuất hiện trực tiếp bảy lần trong các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, nhưng cũng được biểu thị theo một số cách khác trong Kinh Thánh. Trong mỗi trường hợp, nó tượng trưng cho “bảy lần” của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu.
Whether it was paganism trampling down the sanctuary and host from 723 BC to the year 538, or the papacy trampling down spiritual Jerusalem and the worshippers therein, it was an illustration of the scattering of God’s people, that was brought about by God’s people breaking the “sabbaths-of-the-land” covenant as represented in Leviticus chapters twenty-five and twenty-six. In chapter twenty-six it is called the quarrel of God’s covenant.
Dù là ngoại giáo giày xéo đền thánh và đạo binh từ năm 723 trước Công nguyên đến năm 538, hay là quyền giáo hoàng giày xéo Giê-ru-sa-lem thuộc linh và những người thờ phượng ở đó, thì đó cũng là một minh họa về sự tản lạc của dân Đức Chúa Trời, vốn xảy ra do dân Đức Chúa Trời vi phạm giao ước “các ngày Sa-bát của đất” như được trình bày trong sách Lê-vi Ký, các chương hai mươi lăm và hai mươi sáu. Trong chương hai mươi sáu, điều đó được gọi là cuộc tranh chấp của giao ước của Đức Chúa Trời.
And I will bring a sword upon you, that shall avenge the quarrel of my covenant: and when ye are gathered together within your cities, I will send the pestilence among you; and ye shall be delivered into the hand of the enemy. Leviticus 26:25.
Ta sẽ khiến gươm giáo giáng trên các ngươi để báo thù cho giao ước của Ta; và khi các ngươi nhóm lại trong các thành của mình, Ta sẽ sai ôn dịch ở giữa các ngươi; và các ngươi sẽ bị phó vào tay kẻ thù. Lê-vi Ký 26:25.
The rebellion against God’s covenant brought upon God’s people the slavery and scattering that is represented as the “quarrel of my covenant.” Without understanding the punishment, which Daniel calls Moses’ “curse” and “oath”, that is also called the “quarrel of my covenant,” blinds a person from seeing the deeper meaning of Christ’s work as represented in Daniel chapter nine. A consistent evaluation of God’s people who are in Laodicean blindness in the writings of Ellen White is that they cannot “reason from cause, to effect.” You may profess to understand the twelve hundred and sixty years of the Dark Ages, but if you don’t know the “cause” of that trampling down you are blind.
Sự phản nghịch chống lại giao ước của Đức Chúa Trời đã đem đến cho dân sự của Ngài sự nô lệ và sự tản lạc, điều được gọi là “cuộc tranh chấp của giao ước Ta.” Không hiểu hình phạt (mà Đa-ni-ên gọi là “lời nguyền” và “lời thề” của Môi-se, cũng được gọi là “cuộc tranh chấp của giao ước Ta”) sẽ làm mù mắt con người, khiến họ không thấy được ý nghĩa sâu xa hơn về công việc của Đấng Christ như được trình bày trong Đa-ni-ên chương chín. Một đánh giá nhất quán trong các trước tác của Ellen White về dân sự của Đức Chúa Trời đang ở trong sự mù lòa La-ô-đi-xê là họ không thể “lý luận từ nguyên nhân đến kết quả.” Bạn có thể nói rằng mình hiểu một nghìn hai trăm sáu mươi năm của Thời kỳ Tăm Tối, nhưng nếu bạn không biết “nguyên nhân” của sự chà đạp ấy thì bạn là mù lòa.
And he shall confirm the covenant with many for one week: and in the midst of the week he shall cause the sacrifice and the oblation to cease, and for the overspreading of abominations he shall make it desolate, even until the consummation, and that determined shall be poured upon the desolate. Daniel 9:27.
Người ấy sẽ củng cố giao ước với nhiều người trong một tuần lễ; vào giữa tuần lễ, người ấy sẽ làm cho hy tế và lễ dâng chấm dứt; và vì sự lan tràn của những điều gớm ghiếc, người ấy sẽ khiến nơi ấy trở nên hoang tàn, cho đến tận cùng; và án đã định sẽ được tuôn đổ trên chốn hoang tàn. Đa-ni-ên 9:27.
Christ’s confirmation of the covenant is directly associated with the “quarrel of His covenant.” The duration of the “curse” was twenty-five hundred and twenty years, and the duration of Christ confirming that very same covenant was twenty-five hundred and twenty days. In agreement with the Hebrew word “truth” which provides the structure of the hidden history of the seven thunders, the prophetic week that Christ was to confirm His covenant possessed three waymarks that are represented by the first, thirteenth and last letters of the Hebrew alphabet.
Sự xác nhận giao ước của Đấng Christ liên hệ trực tiếp với “mối tranh chấp của giao ước Ngài.” Thời hạn của “lời rủa sả” là 2.520 năm, và thời gian Đấng Christ xác nhận chính giao ước ấy là 2.520 ngày. Phù hợp với từ “chân lý” trong tiếng Hê-bơ-rơ, vốn cung cấp cấu trúc cho lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm, tuần lễ tiên tri mà Đấng Christ phải xác nhận giao ước của Ngài có ba cột mốc, được biểu thị bằng chữ cái thứ nhất, thứ mười ba và chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ.
The first waymark of the week was His baptism, the second waymark was the cross and the last was the death of Stephen. To refuse to see the “seven times” of Leviticus twenty-six, as the heavenly angels led William Miller to see the “seven times,” eliminates the ability to fully see the very prophecy where Christ shed His blood and confirmed the very covenant that His literal ancient people had rejected. Everyone that is ultimately saved will have only a partial and incomplete understanding of “truth.” But no one gets saved that purposely refuses to see the “truth.” There is only one way to the Father, and that is through Jesus, and Jesus is the “truth.”
Cột mốc thứ nhất của tuần lễ là lễ báp-têm của Ngài, cột mốc thứ hai là thập tự giá, và cột mốc sau cùng là cái chết của Ê-tiên. Việc từ chối nhìn nhận “bảy lần” của Lê-vi Ký đoạn 26—như các thiên sứ trên trời đã dẫn dắt William Miller nhận ra “bảy lần”—sẽ loại bỏ khả năng nhìn thấy trọn vẹn chính lời tiên tri trong đó Đấng Christ đã đổ huyết của Ngài và làm cho chính giao ước mà dân cổ xưa theo nghĩa đen của Ngài đã khước từ được vững bền. Tất cả những ai rốt cuộc được cứu cũng chỉ hiểu “lẽ thật” một cách phần nào, chưa trọn vẹn. Nhưng chẳng ai được cứu nếu cố ý từ chối nhìn nhận “lẽ thật”. Chỉ có một con đường đến với Cha, ấy là qua Đức Chúa Giê-su, và Giê-su chính là “lẽ thật”.
This is a worthwhile understanding to ponder, for it speaks to the covenant of Leviticus twenty-five and twenty-six. The “curse” of the “seven times” was brought upon ancient literal Israel through their unwillingness to implement the guidelines of allowing the land to rest, and of fulfilling the Jubilee instructions. It was a sin of omission. The curse was brought upon them for their omitting a work they were commanded to do, rather than because they had directly broken a commandment, such as thou shalt not kill or thou shalt not steal. They simply ignored the guidelines associated with allowing the land to rest. Adventists that simply do not accept the “seven times” (that the angels led William Miller to discover) because for whatever unsanctified reason, simply have never taken the time to truly investigate the truth, and are accomplishing the same type of rebellion of omission by disregarding the very same covenant information that ancient literal Israel disregarded. The beginning illustrates the ending.
Đây là một hiểu biết đáng suy ngẫm, vì nó nói đến giao ước trong Lê-vi Ký đoạn 25 và 26. Lời "nguyền" của "bảy lần" đã giáng trên Israel theo nghĩa đen thời xưa vì họ không sẵn lòng thi hành các chỉ dẫn về việc để đất nghỉ ngơi và về Năm Hân Hỉ. Đó là một tội do thiếu sót. Lời nguyền ấy đã đến trên họ vì họ bỏ qua một việc họ được truyền làm, chứ không phải vì họ đã trực tiếp vi phạm một điều răn, như "ngươi chớ giết người" hay "ngươi chớ trộm cắp". Họ đơn giản đã phớt lờ các chỉ dẫn liên quan đến việc để cho đất nghỉ ngơi. Những người Cơ Đốc Phục Lâm mà đơn giản không chấp nhận "bảy lần" (điều mà các thiên sứ đã dẫn dắt William Miller khám phá), vì bất cứ lý do nào chưa được thánh hóa đi chăng nữa, thực chất là chưa bao giờ dành thời gian để thật sự khảo cứu lẽ thật, và đang phạm cùng một kiểu phản nghịch do thiếu sót khi bỏ qua chính những điều khoản của giao ước mà Israel theo nghĩa đen thời xưa đã bỏ qua. Khởi đầu minh họa cho kết thúc.
The twelve hundred and sixty days in Revelation twelve that is identified as a “wilderness,” is a symbol of the “seven times.” Both the twelve hundred and sixty days of Christ’s ministry, and the twelve hundred and sixty days of the disciple’s ministry represent the entire week that the covenant was being confirmed. Both the twelve hundred and sixty years that paganism trampled down God’s people, and the twelve hundred and sixty years that papalism trampled down God’s people, represent the entire “seven times” of the curse of Moses.
Một nghìn hai trăm sáu mươi ngày trong Khải Huyền 12, được mô tả là “đồng vắng”, là biểu tượng của “bảy lần”. Cả một nghìn hai trăm sáu mươi ngày của chức vụ Đấng Christ và một nghìn hai trăm sáu mươi ngày của chức vụ các môn đồ đều tượng trưng cho toàn bộ tuần lễ khi giao ước được làm cho vững chắc. Cả một nghìn hai trăm sáu mươi năm mà ngoại giáo giày đạp dân của Đức Chúa Trời, và một nghìn hai trăm sáu mươi năm mà chủ nghĩa giáo hoàng giày đạp dân của Đức Chúa Trời, đều tượng trưng cho trọn “bảy lần” của lời nguyền của Môi-se.
In Revelation eleven, after twelve hundred and sixty days, the dead bones are brought back to life in order to enter into covenant as the one hundred and forty-four thousand. But in order for them to accomplish that covenant relationship, they are required to fulfill the terms of the covenant, just as Daniel did in chapter nine. The terms of the covenant of the “seven times” contains specific directions for those who find themselves in the land of the enemy. When those who wake up to the reality that they have been scattered desire to return to the Lord, Leviticus twenty-six provides directions for how they are to return.
Trong Khải Huyền chương mười một, sau một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, những bộ xương chết được làm sống lại để bước vào giao ước với tư cách là một trăm bốn mươi bốn ngàn. Nhưng để thực hiện được mối quan hệ giao ước đó, họ phải làm trọn các điều khoản của giao ước, như Đa-ni-ên đã làm trong chương chín. Các điều khoản của giao ước “bảy lần” chứa đựng những chỉ dẫn cụ thể cho những người thấy mình ở trong đất của kẻ thù. Khi những người tỉnh ngộ trước thực tế rằng họ đã bị tản lạc mong muốn trở về với Chúa, Sách Lê-vi Ký chương hai mươi sáu cung cấp chỉ dẫn về cách họ phải trở về.
And they that are left of you shall pine away in their iniquity in your enemies’ lands; and also in the iniquities of their fathers shall they pine away with them. If they shall confess their iniquity, and the iniquity of their fathers, with their trespass which they trespassed against me, and that also they have walked contrary unto me; And that I also have walked contrary unto them, and have brought them into the land of their enemies; if then their uncircumcised hearts be humbled, and they then accept of the punishment of their iniquity: Then will I remember my covenant with Jacob, and also my covenant with Isaac, and also my covenant with Abraham will I remember; and I will remember the land. Leviticus 26:39–42.
Những người còn sót lại trong các ngươi sẽ hao mòn vì tội ác của mình trong các xứ của kẻ thù các ngươi; họ cũng sẽ hao mòn cùng với cha ông mình vì tội ác của cha ông mình. Nếu họ xưng nhận tội ác của mình và tội ác của cha ông mình, cùng sự vi phạm mà họ đã phạm nghịch với ta, và rằng họ đã bước đi trái nghịch với ta; và rằng chính ta cũng đã bước đi trái nghịch với họ và đã đưa họ vào xứ của kẻ thù họ; bấy giờ, nếu lòng chưa chịu cắt bì của họ được hạ mình, và họ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình, thì ta sẽ nhớ đến giao ước của ta với Gia-cốp, cũng sẽ nhớ đến giao ước của ta với Y-sác, và giao ước của ta với Áp-ra-ham ta cũng sẽ nhớ đến; và ta sẽ nhớ đến xứ. Lê-vi Ký 26:39-42.
The expression “pine away” in the Scriptures means to be dissolved, corrupted and consumed away. To pine away is to deteriorate into dead dry bones. And the instruction identifies death, for it represents those that awaken to their condition as being “in your enemies land.”
Cụm từ "pine away" trong Kinh Thánh có nghĩa là bị tan rã, bại hoại và tiêu mòn. "Pine away" là suy sụp thành những bộ xương khô chết chóc. Và lời chỉ dạy ấy chỉ ra sự chết, vì nó mô tả những người tỉnh thức về tình trạng của mình như đang "ở trong xứ của kẻ thù ngươi."
The last enemy that shall be destroyed is death. 1 Corinthians 15:26.
Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết. 1 Cô-rinh-tô 15:26.
July 18, 2020, the first disappointment in the movement of the third angel took place. It has been typified by all the other first disappointments in the sacred prophetic reform lines. Ezekiel chapter thirty-seven identifies God’s people in the last days as having been dissolved, corrupted and consumed away until they were simply a valley of dead dry bones. They are in the enemy’s land, which is the land of death. In Revelation eleven, the two witnesses were slain and left in the street. All the prophets agree with each other. Moses is therefore speaking to those that are dead in the street that runs through Ezekiel’s valley. In their disappointed condition they are given instruction through Jeremiah.
Ngày 18 tháng 7 năm 2020, sự thất vọng đầu tiên trong phong trào của thiên sứ thứ ba đã diễn ra. Điều này đã được dự báo bằng hình bóng bởi mọi thất vọng đầu tiên khác trong các dòng cải cách tiên tri thánh. Ê-xê-ki-ên chương ba mươi bảy xác định rằng dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt đã bị tan rã, bại hoại và bị tiêu hao, cho đến khi họ chỉ còn là một thung lũng đầy những bộ xương khô. Họ ở trong xứ của kẻ thù, tức là xứ của sự chết. Trong Khải Huyền chương mười một, hai nhân chứng đã bị giết và bị bỏ mặc ngoài đường. Mọi nhà tiên tri đều đồng thuận với nhau. Vì vậy, Môi-se đang phán với những kẻ chết trên con đường chạy xuyên qua thung lũng của Ê-xê-ki-ên. Trong tình trạng thất vọng ấy, họ được ban lời chỉ dẫn qua Giê-rê-mi.
Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. Jeremiah 15:19.
Vì vậy, Chúa phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; và nếu ngươi tách điều quý ra khỏi điều hèn ô, ngươi sẽ như miệng của Ta; hãy để họ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Giê-rê-mi 15:19.
Jeremiah is informed that if he desires to speak for God, he must return, and in so doing he must separate the precious from the vile. The context of the passage identifies that the vile are those that he is not to return unto. When he is represented in the passage as being in his disappointed state, he identifies that he was alone.
Giê-rê-mi được cho biết rằng nếu ông muốn nói nhân danh Đức Chúa Trời, ông phải trở lại, và khi làm như vậy ông phải tách cái quý khỏi cái đê tiện. Ngữ cảnh của đoạn văn cho thấy những kẻ đê tiện chính là những người mà ông không được trở lại với họ. Khi ông được mô tả trong đoạn văn là đang ở trong tình trạng thất vọng, ông cho biết rằng mình ở một mình.
I sat not in the assembly of the mockers, nor rejoiced; I sat alone because of thy hand: for thou hast filled me with indignation. Jeremiah 15:17.
Tôi đã không ngồi trong hội của những kẻ nhạo báng, cũng chẳng vui mừng; tôi đã ngồi một mình vì tay Ngài, vì Ngài đã khiến tôi đầy phẫn nộ. Giê-rê-mi 15:17.
Jeremiah was not seated in the “assembly of mockers,” for he was seated alone. He was not to return to the vile, who are the assembly of mockers. In 1863, Adventism began its return to the “assembly of mockers” when it returned to the biblical methodology of the daughters of Babylon in order to reject Moses’ “seven times.” But Jeremiah is more specifically speaking of the last days, than the Millerite history. When those in the valley of dead bones awaken to the fact that they are in the enemies’ land, they are never to return to those that rejoiced over their death in the street. That group can return unto Jeremiah, but he cannot return unto them.
Giê-rê-mi không ngồi trong “hội của những kẻ nhạo báng”, vì ông ngồi một mình. Ông không được trở lại với bọn đê tiện, là hội của những kẻ nhạo báng. Năm 1863, phong trào Phục Lâm bắt đầu quay trở lại “hội của những kẻ nhạo báng” khi nó quay về phương pháp luận Kinh Thánh của các con gái của Ba-by-lôn để bác bỏ “bảy lần” của Môi-se. Nhưng Giê-rê-mi nói cụ thể hơn về những ngày sau rốt, chứ không phải về lịch sử phong trào Miller. Khi những người trong thung lũng xương chết thức tỉnh trước thực tế rằng họ đang ở trong đất của kẻ thù, họ không bao giờ được trở lại với những kẻ đã vui mừng trước cái chết của họ trên đường phố. Nhóm đó có thể trở lại với Giê-rê-mi, nhưng ông thì không thể trở lại với họ.
But if they are to return, they also must fulfill the directions given by Moses that are directly associated with the “seven times.” Those that are dead in the street in Revelation eleven, are dead for three and a half days, which prophetically is the “wilderness.”
Nhưng nếu họ sẽ quay trở lại, họ cũng phải làm trọn các chỉ dẫn do Môi-se ban, vốn trực tiếp gắn với "bảy lần". Những người chết trên đường phố trong Khải Huyền đoạn mười một chết suốt ba ngày rưỡi, mà theo nghĩa tiên tri chính là "đồng vắng".
This is why the initial awakening of the dead is accomplished by a message that causes the bones to be formed together, but they are not yet alive. It takes the message of the four winds, which is the sealing message, to turn them into a mighty army. The first message that brings them together comes from a “voice.”
Đó là lý do vì sao sự đánh thức ban đầu của những người chết được thực hiện bởi một sứ điệp khiến các xương cốt ghép lại với nhau, nhưng họ vẫn chưa có sự sống. Cần đến sứ điệp của bốn phương gió, tức là sứ điệp niêm ấn, để biến họ thành một đạo quân hùng mạnh. Sứ điệp đầu tiên quy tụ họ lại đến từ một "tiếng nói".
Comfort ye, comfort ye my people, saith your God. Speak ye comfortably to Jerusalem, and cry unto her, that her warfare is accomplished, that her iniquity is pardoned: for she hath received of the Lord’s hand double for all her sins. The voice of him that crieth in the wilderness, Prepare ye the way of the Lord, make straight in the desert a highway for our God. Every valley shall be exalted, and every mountain and hill shall be made low: and the crooked shall be made straight, and the rough places plain. Isaiah 40:1–4.
Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta, Đức Chúa Trời các ngươi phán. Hãy nói lời dịu dàng với Giê-ru-sa-lem, và kêu lên với nó rằng kỳ chiến đấu của nó đã chấm dứt, tội lỗi của nó đã được tha; vì nó đã nhận từ tay Đức Chúa Trời gấp đôi cho mọi tội lỗi của mình. Tiếng của người kêu trong hoang mạc: Hãy dọn đường cho Chúa; hãy làm thẳng trong sa mạc một con đường cái cho Đức Chúa Trời chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được nâng cao, mọi núi và đồi sẽ bị hạ thấp; nơi quanh co sẽ được làm thẳng, và chỗ gồ ghề sẽ nên bằng phẳng. Ê-sai 40:1-4.
The voice comes from the wilderness, which is a symbol of the scattering of the “seven times.” That voice is in the wilderness, for Ezekiel was also taken to the valley of dead bones. He was testifying from the very valley, not from a distance.
Tiếng nói đến từ đồng vắng, là biểu tượng cho sự tản lạc của "bảy lần". Tiếng ấy ở trong đồng vắng, vì Ê-xê-chi-ên cũng đã được đưa đến thung lũng những bộ xương của người chết. Ông đã làm chứng ngay từ chính thung lũng ấy, chứ không phải từ xa.
The hand of the Lord was upon me, and carried me out in the spirit of the Lord, and set me down in the midst of the valley which was full of bones. Ezekiel 37:1.
Bàn tay của Chúa ở trên tôi; trong Thần của Chúa, Ngài đem tôi ra và đặt tôi xuống giữa một thung lũng đầy xương cốt. Ê-xê-chi-ên 37:1.
The valley is the wilderness of three and a half days. The promise of the voice is that Jerusalem’s iniquity is pardoned and that her warfare is finished. The promise is representing the sealing of the one hundred and forty-four thousand that is accomplished in the last days. But the pardoning of her iniquity is associated with her receiving “double” for all her sins. The remedy offered by Moses requires a confession of not only their iniquities, but also the iniquities of their fathers. If they will fulfill that command, their iniquity will be pardoned.
Thung lũng là vùng hoang vu của ba ngày rưỡi. Lời hứa của tiếng ấy là sự gian ác của Giê-ru-sa-lem đã được tha thứ và chiến trận của nàng đã chấm dứt. Lời hứa ấy tượng trưng cho việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn được hoàn tất trong những ngày sau rốt. Nhưng sự tha thứ cho gian ác của nàng gắn liền với việc nàng nhận “gấp đôi” cho mọi tội lỗi của mình. Biện pháp do Môi-se đưa ra yêu cầu phải xưng nhận không chỉ sự gian ác của họ mà còn cả sự gian ác của tổ phụ họ. Nếu họ làm trọn mệnh lệnh ấy, sự gian ác của họ sẽ được tha thứ.
We will continue these truths in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày những chân lý này trong bài viết tiếp theo.
Yea, all Israel have transgressed thy law, even by departing, that they might not obey thy voice; therefore the curse is poured upon us, and the oath that is written in the law of Moses the servant of God, because we have sinned against him. And he hath confirmed his words, which he spake against us, and against our judges that judged us, by bringing upon us a great evil: for under the whole heaven hath not been done as hath been done upon Jerusalem. As it is written in the law of Moses, all this evil is come upon us: yet made we not our prayer before the Lord our God, that we might turn from our iniquities, and understand thy truth. Daniel 9:11–13.
Phải, cả Israel đã vi phạm luật pháp của Ngài, quay lưng lại để không vâng nghe tiếng Ngài; vì vậy lời nguyền đã đổ trên chúng con, cùng lời thề đã chép trong luật pháp của Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, bởi chúng con đã phạm tội cùng Ngài. Và Ngài đã làm thành lời Ngài, là điều Ngài đã phán nghịch cùng chúng con và nghịch cùng các quan xét của chúng con, là những người đã xét đoán chúng con, bằng cách giáng trên chúng con một tai họa lớn; vì khắp dưới trời chưa từng có điều gì xảy ra như điều đã xảy đến trên Giê-ru-sa-lem. Theo như đã chép trong luật pháp của Môi-se, mọi tai họa này đã giáng trên chúng con; thế nhưng chúng con đã chẳng trình dâng lời cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời của chúng con để quay khỏi các gian ác của mình và hiểu lẽ thật của Ngài. Đa-ni-ên 9:11-13.