“So in searching the field and digging for the precious jewels of truth, hidden treasures are discerned. Unexpectedly we find precious ore that is to be gathered and treasured. And the search is to be continued. Hitherto very much of the treasure found has lain near the surface, and was easily obtained. When the search is properly conducted every effort is made to keep a pure understanding and heart. When the mind is kept open and is constantly searching the field of revelation, we shall find rich deposits of truth.
Vì vậy, khi tìm kiếm khắp cánh đồng và đào bới những viên ngọc quý của chân lý, chúng ta nhận ra những kho báu ẩn giấu. Thật bất ngờ, chúng ta tìm thấy quặng quý cần được thu lượm và trân trọng cất giữ. Và cuộc tìm kiếm ấy phải tiếp tục. Cho đến nay, phần lớn kho báu tìm được nằm ngay gần bề mặt và dễ dàng có được. Khi việc tìm kiếm được tiến hành đúng đắn, mọi nỗ lực đều nhằm giữ cho sự hiểu biết và tấm lòng trong sạch. Khi tâm trí luôn rộng mở và không ngừng dò tìm trên cánh đồng mạc khải, chúng ta sẽ tìm thấy những tầng vỉa phong phú của chân lý.
“Old truths will be revealed in new aspects, and truths will appear which have been overlooked in the search. Mighty truths have been buried beneath the sophistry of error, but they will be found by the diligent searcher. As he finds and opens the treasure house of the precious jewels of truth, it is no robbery; for all who appreciate these jewels may possess them, and then they too have a treasure house to open to others. He who imparts does not deprive himself of the treasure; for as he examines it that he may present it in such a way as to attract others, he finds new treasures. . . .
Những chân lý cũ sẽ được bộc lộ dưới những khía cạnh mới, và những chân lý từng bị bỏ sót trong quá trình tìm kiếm sẽ hiện ra. Những chân lý lớn lao đã bị chôn vùi dưới lớp ngụy biện của sai lầm, nhưng chúng sẽ được người tìm kiếm siêng năng phát hiện. Khi người ấy tìm thấy và mở ra kho tàng những viên ngọc quý của chân lý, đó không phải là cướp bóc; bởi vì tất cả những ai trân trọng những châu báu này đều có thể sở hữu chúng, và rồi chính họ cũng có một kho tàng để mở ra cho người khác. Người truyền đạt không vì thế mà mất đi kho báu của mình; vì khi người ấy khảo cứu nó để có thể trình bày theo cách thu hút người khác, người ấy lại tìm thấy những kho báu mới...
“Those who stand before the people as teachers of truth are to grapple with great themes. They are not to occupy precious time in talking of trivial subjects. Let them study the Word, and preach the Word. Let the Word be in their hands as a sharp, two-edged sword. Let it testify to past truths and show what is to be in the future.
Những người đứng trước dân chúng với tư cách là những người dạy dỗ lẽ thật phải đảm đương những chủ đề trọng đại. Họ không được chiếm dụng thời giờ quý báu để nói về những đề tài vụn vặt. Hãy để họ học Lời và rao giảng Lời. Hãy để Lời ở trong tay họ như một thanh gươm hai lưỡi sắc bén. Hãy để Lời làm chứng cho những chân lý trong quá khứ và cho thấy những gì sẽ xảy ra trong tương lai.
“Increased light will shine upon all the grand truths of prophecy, and they will be seen in freshness and brilliancy, because the bright beams of the Sun of Righteousness will illuminate the whole.” Manuscript Releases, volume 1, 37–40.
"Ánh sáng gia tăng sẽ chiếu rọi trên mọi lẽ thật vĩ đại của lời tiên tri, và chúng sẽ được thấy trong sự tươi mới và rực rỡ, bởi vì những tia sáng rạng ngời của Mặt Trời của Sự Công Chính sẽ soi sáng tất cả." Manuscript Releases, tập 1, 37-40.
I believe that I have now placed enough prophetic representations in place with the previous articles to have a good point of reference as we begin to proceed through the book of Revelation. If you are reading these articles online, I would hope you understand that the articles are in sequence by date. I understand that there are those following the articles that are familiar with most of what I am sharing, and I offer to them my apologies for all the redundancy. I have been trying to give enough biblical support for the truths we are handling, that someone new to the principles that Future for America employs will understand and stay engaged, though they might lack some of the familiarity with these concepts that many of us already know.
Tôi tin rằng đến lúc này tôi đã đưa ra đủ các biểu tượng tiên tri trong những bài viết trước để có một điểm tham chiếu tốt khi chúng ta bắt đầu tiến qua sách Khải Huyền. Nếu bạn đang đọc các bài viết này trực tuyến, tôi hy vọng bạn hiểu rằng các bài được sắp xếp theo thứ tự ngày tháng. Tôi hiểu rằng có những người theo dõi các bài viết đã quen thuộc với phần lớn những gì tôi đang chia sẻ, và tôi xin gửi đến họ lời xin lỗi vì sự lặp lại. Tôi đã cố gắng đưa ra đủ căn cứ Kinh Thánh cho các lẽ thật mà chúng ta đang bàn đến, để những người mới với các nguyên tắc mà Future for America áp dụng có thể hiểu và tiếp tục theo dõi, dẫu họ có thể chưa quen thuộc với những khái niệm mà nhiều người trong chúng ta đã biết.
There are some very powerful truths, which until recently I had never recognized that have been opened in the book of Revelation. I could simply set the truths out there in the public domain without trying first to build a premise of prophetic support before I share them, but the truths are so new and so serious that I have not been willing to share without some foundation upon which to place the truths, which I believe are represented as the unsealing of Revelation that happens just before probation closes.
Có một vài lẽ thật rất mạnh mẽ, mà cho đến gần đây tôi chưa từng nhận ra, đã được mở ra trong sách Khải Huyền. Tôi có thể đơn giản đưa những lẽ thật ấy ra công khai mà không cần trước hết xây dựng một cơ sở hậu thuẫn mang tính tiên tri trước khi chia sẻ chúng, nhưng những lẽ thật ấy quá mới và quá nghiêm trọng đến nỗi tôi không muốn chia sẻ nếu không có một nền tảng nào đó để đặt chúng lên, và tôi tin rằng những lẽ thật ấy chính là sự mở ấn của sách Khải Huyền diễn ra ngay trước khi kỳ ân điển khép lại.
And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:10, 11.
Ngài lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri của sách này, vì thì giờ đã gần. Ai bất nghĩa, cứ làm điều bất nghĩa nữa; ai ô uế, cứ ô uế nữa; ai công bình, cứ làm điều công bình nữa; ai thánh khiết, cứ nên thánh khiết nữa. Khải Huyền 22:10, 11.
Jesus set forth a principle about teaching the truth, that I believe applies here. The principle is set within the identification of the work of the Holy Spirit.
Chúa Giê-xu đã nêu ra một nguyên tắc về việc giảng dạy lẽ thật, mà tôi tin là áp dụng được ở đây. Nguyên tắc ấy được đặt trong bối cảnh nhận diện công việc của Đức Thánh Linh.
And when he is come, he will reprove the world of sin, and of righteousness, and of judgment: Of sin, because they believe not on me; Of righteousness, because I go to my Father, and ye see me no more; Of judgment, because the prince of this world is judged. I have yet many things to say unto you, but ye cannot bear them now. Howbeit when he, the Spirit of truth, is come, he will guide you into all truth: for he shall not speak of himself; but whatsoever he shall hear, that shall he speak: and he will show you things to come. He shall glorify me: for he shall receive of mine, and shall show it unto you. John 16:8–16.
Và khi Ngài đến, Ngài sẽ cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình, và về sự phán xét: Về tội lỗi, vì họ không tin ta; Về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha, và các ngươi chẳng còn thấy ta nữa; Về sự phán xét, vì kẻ cai trị thế gian này đã bị xét đoán. Ta còn nhiều điều muốn nói cùng các ngươi, nhưng hiện nay các ngươi không thể gánh nổi. Dẫu vậy, khi Ngài, tức Thần Lẽ Thật, đến, Ngài sẽ dẫn dắt các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài chẳng tự mình nói điều chi, nhưng hễ điều gì Ngài nghe thì Ngài sẽ nói; và Ngài sẽ tỏ cho các ngươi những điều sắp đến. Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ nhận từ ta mà tỏ cho các ngươi. Giăng 16:8-16.
When Christ stated, “I have yet many things to say unto you, but ye cannot bear them now,” it upholds my conviction that there is now much to share, but there should first be a logical premise to build those truths upon. That being said, the previous verses identify the three angels’ messages as represented by the Holy Spirit reproving “the world of sin, and of righteousness, and of judgment.” Those three messages are the final warning message, so this passage identifying the work of the Holy Spirit is an important testimony, for it emphasizes that the message is progressively understood, and it is only understood by those who possess the oil of the Holy Spirit. John, in the book of Revelation represents that very truth when he identifies that he is a Sabbath worshipping Seventh-day Adventist at the end of the world.
Khi Đấng Christ phán: “Ta còn nhiều điều muốn nói với các ngươi, nhưng bây giờ các ngươi chưa chịu nổi,” điều ấy củng cố niềm xác tín của tôi rằng hiện nay có nhiều điều cần được chia sẻ, nhưng trước hết phải có một tiền đề hợp lý để xây dựng những lẽ thật ấy. Nói như vậy, các câu trước xác định rằng các sứ điệp của ba thiên sứ được thể hiện qua việc Đức Thánh Linh quở trách “thế gian về tội lỗi, về sự công bình, và về sự phán xét.” Ba sứ điệp ấy là sứ điệp cảnh báo sau cùng, vì vậy đoạn này nêu rõ công tác của Đức Thánh Linh là một lời chứng quan trọng, bởi nó nhấn mạnh rằng sứ điệp được hiểu một cách tiệm tiến, và chỉ những ai có dầu của Đức Thánh Linh mới hiểu được. Giăng, trong sách Khải Huyền, trình bày chính lẽ thật đó khi ông xác định rằng mình là một tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm giữ ngày Sa-bát vào thời kỳ cuối cùng của thế gian.
I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet. Revelation 1:10.
Tôi đã ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe phía sau lưng tôi có một tiếng nói lớn, như tiếng kèn. Khải Huyền 1:10.
Seventh-day Adventists at the end of the world who will understand the unsealed message in Revelation will do so because they are “in the Spirit.” In the context of the parable that we have been told “illustrates the experience of the Adventist people,” John is a wise virgin, for he has the oil of the Spirit. He represents the wise virgins at the end of the world, who hear a great voice “behind” them. The “voice from behind” him is the Alpha and Omega as identified in the very next verse, and the voice informs him to return to the old paths and walk therein.
Những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy vào thời kỳ tận thế, những người sẽ hiểu sứ điệp đã mở ấn trong Sách Khải Huyền, sẽ làm như vậy vì họ ở 'trong Thánh Linh.' Trong bối cảnh của dụ ngôn mà chúng ta đã được nói là 'minh họa kinh nghiệm của dân Cơ Đốc Phục Lâm,' Giăng là một trinh nữ khôn ngoan, vì ông có dầu của Thánh Linh. Ông đại diện cho những trinh nữ khôn ngoan vào thời kỳ tận thế, những người nghe một tiếng lớn 'đằng sau' họ. 'Tiếng từ đằng sau' ông là Đấng Anpha và Ômêga như được xác định ngay trong câu kế tiếp, và tiếng ấy bảo ông hãy trở lại những nẻo xưa và bước đi trong đó.
Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Jeremiah 6:16.
Đức Chúa phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường, nhìn xem, và hỏi về những lối xưa, đâu là đường lành, rồi hãy đi theo đó; thì các ngươi sẽ tìm được sự yên nghỉ cho linh hồn các ngươi. Nhưng họ nói: Chúng tôi sẽ không đi theo đó. Giê-rê-mi 6:16.
The “rest” Jeremiah refers to is the outpouring of the Holy Spirit during the latter rain. In the next verse Jeremiah provides a second illustration of the foolish virgins who refuse to return to the foundations of Adventism (the old paths) and walk therein.
“Sự ‘yên nghỉ’” mà Giê-rê-mi nói đến là sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trong kỳ mưa cuối mùa. Trong câu tiếp theo, Giê-rê-mi đưa ra một minh họa thứ hai về những trinh nữ dại, là những người từ chối trở lại với các nền tảng của Cơ Đốc Phục Lâm (những nẻo xưa) và bước đi trong đó.
Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Jeremiah 6:17.
Ta cũng đặt những kẻ canh trên các ngươi, mà phán rằng: Hãy nghe tiếng kèn! Nhưng họ nói: Chúng tôi không chịu nghe. Giê-rê-mi 6:17.
When John hears the voice behind him directing him to the old paths or the foundations of Adventism, the voice he hears is as a trumpet. That voice is conveyed through the “watchmen” that God set over Adventism. Father Miller was the watchman that blew the warning trumpet at the beginning of Adventism during the proclamation of the first angel announcing the opening of the judgment. But John specifically represents those who proclaim the third angel’s message announcing the close of the judgment. He represents those who return to the foundations that God erected through the work of Miller.
Khi Giăng nghe tiếng nói phía sau hướng ông đến những nẻo xưa, tức các nền tảng của phong trào Phục Lâm, tiếng ông nghe vang như tiếng kèn. Tiếng ấy được truyền qua những “người canh gác” mà Đức Chúa Trời đã đặt để trên phong trào Phục Lâm. Cha Miller là người canh gác đã thổi kèn cảnh báo vào buổi đầu của Phục Lâm, trong thời kỳ công bố sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, loan báo sự khai mở của cuộc phán xét. Nhưng Giăng đặc biệt đại diện cho những người rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba, loan báo sự kết thúc của cuộc phán xét. Ông đại diện cho những người trở về với các nền tảng mà Đức Chúa Trời đã dựng lập qua công việc của Miller.
We have repeatedly shown through the years, (and it can be found in Habakkuk’s Tables), that the first angel’s message “fear God” is to convict of sin, and that the second angel’s message is where righteousness is manifested and the third identifies judgment. These are the three steps of the three angels and also the three steps of the work of the Holy Spirit. Those three steps are also represented by the three Hebrew letters that make up the Hebrew word that is translated as “truth.” In the passage from John sixteen, Jesus is speaking of the work of the Holy Spirit in guiding God’s people into “all truth,” while also showing them “things to come.” Yet Jesus states that He has “many things to say unto you, but ye cannot bear them now.”
Chúng tôi đã nhiều lần chỉ ra qua nhiều năm (và điều đó có thể được tìm thấy trong Các Bảng của Ha-ba-cúc) rằng sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, "hãy kính sợ Đức Chúa Trời", là để cáo trách tội lỗi; sứ điệp của thiên sứ thứ hai là nơi sự công bình được bày tỏ, và sứ điệp của thiên sứ thứ ba nêu rõ sự phán xét. Đó là ba bước của ba thiên sứ, đồng thời cũng là ba bước trong công tác của Đức Thánh Linh. Ba bước ấy cũng được biểu thị bằng ba chữ cái tiếng Hê-bơ-rơ cấu thành từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là "lẽ thật". Trong đoạn ở Giăng mười sáu, Chúa Giê-su đang nói về công tác của Đức Thánh Linh trong việc dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời vào "mọi lẽ thật", đồng thời cũng chỉ cho họ "những điều sắp đến". Tuy nhiên, Chúa Giê-su phán rằng Ngài còn "nhiều điều phải nói với các ngươi, nhưng bây giờ các ngươi không thể chịu nổi".
I hope you have understood some of the significance of the Hebrew word translated as “truth.” For we have just began to apply that symbol to our study. In the first three verses of Revelation one the communication process between God and man is identified. It is identified even before the Revelation identifies the three-fold nature of the godhead. It finds a second witness in the last verses of Revelation and in so doing, based upon applying “line upon line” it produces more light.
Tôi hy vọng bạn đã hiểu phần nào ý nghĩa của từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “lẽ thật”. Vì chúng ta vừa mới bắt đầu áp dụng biểu tượng đó vào việc nghiên cứu của mình. Trong ba câu đầu của Khải Huyền chương 1, quá trình truyền đạt giữa Đức Chúa Trời và con người được chỉ ra. Điều ấy còn được chỉ ra trước cả khi Sách Khải Huyền nêu lên bản tính ba ngôi của thần tính. Điều đó có một lời chứng thứ hai trong những câu cuối của Sách Khải Huyền, và như vậy, khi áp dụng “line upon line”, nó đem lại thêm ánh sáng.
Then when we add Genesis 1:1–2:3, we find a third witness and another prophetic line to lay upon the previous two lines at the beginning and ending of Revelation.
Rồi khi chúng ta thêm Sáng thế ký 1:1–2:3, chúng ta tìm thấy một lời chứng thứ ba và một dòng tiên tri khác để đặt chồng lên hai dòng trước đó ở phần mở đầu và phần kết thúc của sách Khải Huyền.
Then we add the last promise in the Old Testament identifying the Elijah to come, and we have four prophetic lines.
Rồi chúng ta thêm lời hứa cuối cùng trong Cựu Ước xác định Ê-li-a sẽ đến, và chúng ta có bốn dòng tiên tri.
Then we add the first chapter of the New Testament and we have five lines to put together the ultimate message found in the Bible when applying the principle of Alpha and Omega to all the lines. If we would finish off the five lines we have already identified, by applying the principle across the board to those five lines, then we should expect to see the end of Matthew and the end of John testifying to the same information that all five of the “first and last” prophetic lines that we are considering.
Sau đó chúng ta thêm chương đầu của Tân Ước và như vậy có năm dòng để kết hợp lại thành thông điệp tối hậu được tìm thấy trong Kinh Thánh khi áp dụng nguyên tắc Alpha và Omega cho tất cả các dòng ấy. Nếu chúng ta hoàn tất năm dòng đã xác định bằng cách áp dụng nguyên tắc đó xuyên suốt năm dòng ấy, thì chúng ta nên mong đợi thấy phần kết của Ma-thi-ơ và phần kết của Giăng làm chứng cho cùng một thông tin mà cả năm dòng tiên tri “đầu và cuối” mà chúng ta đang xem xét đều đang làm chứng.
The message that is being unsealed is established in the book of Revelation, so it is the reference point for the other lines, in agreement with Sister White informing us that “all the books of the Bible meet and end in Revelation.” The message of the first three verses of the book of Revelation identify the process God uses to transmit His word to John to write out and send to the churches. The first book of the New Testament, as already noted, sets forth the lineage of Jesus Christ and it starts with a very informative point.
Sứ điệp đang được mở ấn được xác lập trong sách Khải Huyền, vì thế nó là điểm quy chiếu cho các mạch tư tưởng khác, phù hợp với lời Bà White cho chúng ta biết rằng “mọi sách trong Kinh Thánh đều gặp gỡ và kết thúc trong Khải Huyền.” Sứ điệp của ba câu đầu trong sách Khải Huyền nêu rõ tiến trình Đức Chúa Trời dùng để truyền Lời Ngài cho Giăng để ông chép lại và gửi cho các hội thánh. Quyển sách đầu tiên của Tân Ước, như đã nêu, trình bày gia phả của Chúa Giê-su Christ và mở đầu bằng một điểm rất giàu thông tin.
The book of the generation of Jesus Christ, the son of David, the son of Abraham. Matthew 1:1.
Sách gia phả của Giê-su Ki-tô, con cháu Đa-vít, con cháu Áp-ra-ham. Ma-thi-ơ 1:1.
Jesus ended his direct interaction with the quibbling Jews by silencing them with the subject of “the son of David,” a subject that could have only been understood by the Jews if they had understood the biblical principle of beginning and ending. They didn’t, and most Adventists don’t. Anyone who wishes to argue against the principle of history repeating demonstrates that they do not understand that ancient Israel typifies modern Israel, and their unwillingness to believe that principle, is the identical unwillingness at the end of ancient Israel to understand the same principle. Jesus represented that principle in His final riddle to the Jews by directing them to the riddle of how David’s Lord, could also be David’s son?
Giê-su kết thúc cuộc đối thoại trực tiếp với những người Do Thái hay bắt bẻ bằng cách khiến họ câm nín với chủ đề “con trai của Đa-vít,” một chủ đề mà người Do Thái chỉ có thể hiểu nếu họ nắm được nguyên tắc Kinh Thánh về khởi đầu và kết thúc. Họ đã không hiểu, và đa số tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm cũng không. Bất cứ ai muốn tranh luận chống lại nguyên tắc lịch sử lặp lại đều cho thấy họ không hiểu rằng Y-sơ-ra-ên xưa là hình bóng của Y-sơ-ra-ên hiện đại, và sự không muốn tin nguyên tắc ấy của họ chính là sự không muốn y hệt vào thời kỳ kết thúc của Y-sơ-ra-ên xưa trong việc hiểu cùng một nguyên tắc. Giê-su đã minh họa nguyên tắc đó trong câu đố cuối cùng Ngài dành cho người Do Thái bằng cách hướng họ đến câu đố: làm sao Chúa của Đa-vít cũng có thể là con của Đa-vít?
John chapter one, identifies that in the beginning the Word was with God, and the Word is God and the Word created all things. This of course aligns with the other lines we are referring to. And if we then consider the last words in the gospel of John, we see Peter, after hearing Jesus describe how he would die, asking Jesus what would happen to the apostle John.
Gioan chương một khẳng định rằng: ban đầu Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, Ngôi Lời là Thiên Chúa, và Ngôi Lời đã tạo dựng mọi sự. Điều này dĩ nhiên phù hợp với những câu khác mà chúng ta đang nói đến. Và nếu chúng ta xét đến những lời cuối cùng trong Tin Mừng theo Gioan, chúng ta thấy Phêrô, sau khi nghe Đức Giêsu mô tả cách ông sẽ chết, đã hỏi Đức Giêsu điều gì sẽ xảy ra với tông đồ Gioan.
Peter seeing him saith to Jesus, Lord, and what shall this man do? Jesus saith unto him, If I will that he tarry till I come, what is that to thee? follow thou me. Then went this saying abroad among the brethren, that that disciple should not die: yet Jesus said not unto him, He shall not die; but, If I will that he tarry till I come, what is that to thee? This is the disciple which testifieth of these things, and wrote these things: and we know that his testimony is true. And there are also many other things which Jesus did, the which, if they should be written every one, I suppose that even the world itself could not contain the books that should be written. Amen. John 21:21–25.
Phi-e-rơ thấy người ấy thì thưa với Đức Chúa Giê-xu: Thưa Chúa, còn người này thì sao? Đức Chúa Giê-xu phán với ông: Nếu Ta muốn người ấy cứ ở lại cho đến khi Ta đến, thì việc đó can chi đến con? Còn con, hãy theo Ta. Bởi vậy, lời ấy lan truyền giữa các anh em rằng môn đồ ấy sẽ không chết; tuy nhiên, Đức Chúa Giê-xu không hề nói rằng người ấy sẽ không chết, nhưng nói: Nếu Ta muốn người ấy cứ ở lại cho đến khi Ta đến, thì việc đó can chi đến con? Chính môn đồ này là người làm chứng về những điều này và đã chép những điều này; và chúng tôi biết rằng lời chứng của người là thật. Còn nhiều việc khác nữa Đức Chúa Giê-xu đã làm; nếu từng việc đều được ghi chép lại, thì tôi nghĩ rằng cả thế gian cũng không đủ chỗ chứa các sách phải viết ra. Amen. Giăng 21:21-25.
Peter wanted to know how John would die, or even if John would die. The answer is repeated twice in the passage when Jesus stated it and then John restated, “If I will that he [John] tarry till I come, what is that to thee?” John did live to Jesus’ Second Coming.
Phêrô muốn biết Gioan sẽ chết như thế nào, thậm chí liệu Gioan có chết hay không. Câu trả lời được lặp lại hai lần trong đoạn văn: Chúa Giêsu đã nói, rồi Gioan nhắc lại, "Nếu Ta muốn người ấy [Gioan] ở lại cho đến khi Ta đến, thì điều đó can gì đến ngươi?" Gioan đã sống đến khi Chúa Giêsu tái lâm.
You can only see or hear that “truth” if you believe in the repetition of history, and also that the history that is to be repeated, does so at the end of the world. The end of the world is where John was when he wrote the book of Revelation. The last book in John’s gospel agrees with the other lines of beginning and ending for it places John in the history of the events leading to the Second Coming where he, representing those who proclaim the final warning message, sends that message to the churches.
Bạn chỉ có thể thấy hoặc nghe "chân lý" đó nếu bạn tin vào sự lặp lại của lịch sử, và cũng tin rằng lịch sử được lặp lại ấy diễn ra vào thời tận thế. Tận thế là nơi Gioan đã ở khi ông viết sách Khải Huyền. Cuốn sách cuối cùng trong Phúc Âm của Gioan phù hợp với các dòng khởi đầu và kết thúc khác, vì nó đặt Gioan vào trong lịch sử của các sự kiện dẫn đến Sự Tái Lâm, nơi ông, đại diện cho những người rao giảng sứ điệp cảnh báo cuối cùng, gửi sứ điệp ấy đến các hội thánh.
“In the days of the early Christians, Christ came the second time. His first advent was at Bethlehem, when He came as an infant. His second advent was at the Isle of Patmos, when He revealed Himself in glory to John the Revelator, who ‘fell at His feet as dead’ when he saw Him. But Christ strengthened him to endure the sight, and then gave him a message to write to the churches of Asia, the names of which are descriptive of the characteristics of every church.
Trong thời các Kitô hữu sơ khai, Chúa Kitô đã đến lần thứ hai. Lần giáng lâm thứ nhất của Ngài là tại Bêlem, khi Ngài đến như một hài nhi. Lần giáng lâm thứ hai của Ngài là tại đảo Patmos, khi Ngài tỏ mình trong vinh quang cho Gioan, người nhận Khải Huyền, người đã “ngã xuống dưới chân Ngài như chết” khi thấy Ngài. Nhưng Chúa Kitô đã thêm sức cho ông để chịu nổi cảnh tượng ấy, rồi ban cho ông một sứ điệp để viết cho các hội thánh tại Châu Á, mà tên gọi của chúng mang tính mô tả những đặc điểm của từng hội thánh.
“The light that Christ revealed to His servant the prophet is for us. In His revelation are given the three angels’ messages, and a description of the angel that was to come down from heaven with great power, lightening the earth with his glory. In it are warnings against the wickedness that would exist in the last days, and against the mark of the beast. We are not only to read and understand this message, but to proclaim it with no uncertain sound to the world. By presenting these things revealed to John, we shall be able to stir the people.” Manuscript Releases, volume 19, 41.
"Ánh sáng mà Đấng Christ đã tỏ ra cho tôi tớ của Ngài, vị tiên tri, là dành cho chúng ta. Trong sự mạc khải của Ngài có các sứ điệp của ba thiên sứ, và một mô tả về thiên sứ sẽ từ trời giáng xuống với quyền năng lớn lao, soi sáng trái đất bằng vinh quang của mình. Trong đó có những lời cảnh báo về sự gian ác sẽ tồn tại trong những ngày sau rốt, và về dấu của con thú. Chúng ta không chỉ phải đọc và hiểu sứ điệp này, mà còn phải công bố nó cho thế giới với một tiếng nói dứt khoát, rõ ràng. Bằng cách trình bày những điều đã được bày tỏ cho Giăng, chúng ta sẽ có thể khơi dậy dân chúng." Manuscript Releases, tập 19, 41.
The end of the gospel of John identifies the communication process as in Revelation’s first three verses, by locating John prophetically in the history of the Second Coming. Thus, using Jesus’ first “second coming” (Patmos) to illustrate His last “second coming.” It connects perfectly with the other lines we are considering, for it represents John at the end of the world, on Patmos where he receives the Revelation of Jesus Christ. What about the end of the book of Matthew?
Phần kết của sách Tin Lành Giăng xác định tiến trình truyền đạt như trong ba câu đầu của sách Khải Huyền, bằng cách đặt Giăng theo viễn tượng tiên tri trong dòng lịch sử của Sự Tái Lâm. Như vậy, dùng “lần tái lâm” đầu tiên của Chúa Giê-su (Patmos) để minh họa “lần tái lâm” cuối cùng của Ngài. Điều đó liên kết hoàn hảo với những luận điểm khác mà chúng ta đang xem xét, vì nó mô tả Giăng ở vào thời kỳ tận thế, tại Patmos, nơi ông nhận Khải Huyền của Chúa Giê-su Christ. Còn phần kết của sách Ma-thi-ơ thì sao?
Then the eleven disciples went away into Galilee, into a mountain where Jesus had appointed them. And when they saw him, they worshipped him: but some doubted. And Jesus came and spake unto them, saying, All power is given unto me in heaven and in earth. Go ye therefore, and teach all nations, baptizing them in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Ghost: Teaching them to observe all things whatsoever I have commanded you: and, lo, I am with you alway, even unto the end of the world. Amen. Matthew 28:16–20.
Bấy giờ mười một môn đồ đi đến Ga-li-lê, lên núi nơi Chúa Giê-su đã chỉ định. Khi thấy Ngài, họ thờ lạy Ngài; nhưng có vài người nghi ngờ. Chúa Giê-su đến gần, phán rằng: Mọi thẩm quyền trên trời và dưới đất đã được ban cho Ta. Vậy, hãy đi và khiến muôn dân trở nên môn đồ, làm phép báp-têm cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Linh; dạy họ tuân giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con. Và này, Ta luôn ở cùng các con cho đến tận thế. A-men. Ma-thi-ơ 28:16-20.
In the passage all power is given to Jesus, and this would of course be His creative power. And then He gives a commandment to baptize in the name of the Father, Son and also the Holy Spirit that moved upon the water in Genesis one, and the seven spirits that are before the throne of God. This passage identifies that Christians are to recognize the three persons of the heavenly trio as three distinct entities. The end of Matthew adds to the lines as the other six do.
Trong đoạn này, mọi quyền năng được ban cho Chúa Giê-su, và dĩ nhiên đó là quyền năng sáng tạo của Ngài. Rồi Ngài ban một điều răn phải làm báp-têm nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và cả Đức Thánh Linh, Đấng đã vận hành trên mặt nước trong Sáng Thế Ký chương một, và bảy Thần ở trước ngai của Đức Chúa Trời. Đoạn này xác định rằng các Cơ Đốc nhân phải nhận biết ba ngôi vị của bộ ba thiên thượng như ba thực thể riêng biệt. Phần cuối sách Ma-thi-ơ bổ sung vào những dòng này như sáu phần kia cũng làm.
“Christ has made baptism the sign of entrance to His spiritual kingdom. He has made this a positive condition with which all must comply who wish to be acknowledged as under the authority of the Father, the Son, and the Holy Spirit. Before man can find a home in the church, before passing the threshold of God’s spiritual kingdom, he is to receive the impress of the divine name, ‘The Lord our righteousness.’ Jeremiah 23:6.
Đấng Christ đã lập phép báp-têm làm dấu hiệu gia nhập vương quốc thuộc linh của Ngài. Ngài đã đặt đây là một điều kiện rõ ràng mà mọi người đều phải tuân theo, nếu muốn được công nhận là ở dưới thẩm quyền của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh. Trước khi con người có thể tìm được chỗ thuộc về trong Hội Thánh, trước khi bước qua ngưỡng cửa của vương quốc thuộc linh của Đức Chúa Trời, người ấy phải nhận lấy dấu ấn của danh thánh: “Chúa là sự công bình của chúng ta.” Giê-rê-mi 23:6.
“Baptism is a most solemn renunciation of the world. Those who are baptized in the threefold name of the Father, the Son, and the Holy Spirit, at the very entrance of their Christian life declare publicly that they have forsaken the service of Satan, and have become members of the royal family, children of the heavenly King. They have obeyed the command, ‘Come out from among them, and be ye separate, … and touch not the unclean thing.’ And to them is fulfilled the promise, ‘I will receive you, and will be a Father unto you, and ye shall be My sons and daughters, saith the Lord Almighty.’ 2 Corinthians 6:17, 18.
Phép báp-têm là một sự từ bỏ thế gian hết sức trang nghiêm. Những người chịu báp-têm nhân danh Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh, ngay khi bước vào đời sống Cơ Đốc công khai tuyên bố rằng họ đã từ bỏ sự hầu việc Sa-tan, và đã trở nên thành viên của gia đình hoàng gia, con cái của Vua Thiên Thượng. Họ đã vâng theo mệnh lệnh: “Hãy ra khỏi giữa họ, và hãy biệt riêng mình ra, ... và chớ đụng đến đồ ô uế.” Và nơi họ lời hứa này được ứng nghiệm: “Ta sẽ tiếp nhận các ngươi, và sẽ làm Cha các ngươi, còn các ngươi sẽ là con trai và con gái Ta, Chúa Toàn Năng phán vậy.” 2 Cô-rinh-tô 6:17, 18.
“As Christians submit to the solemn rite of baptism, He registers the vow that they make to be true to Him. This vow is their oath of allegiance. They are baptized in the name of the Father and the Son and the Holy Spirit. Thus they are united with the three great powers of heaven. They pledge themselves to renounce the world and to observe the laws of the kingdom of God. Henceforth they are to walk in newness of life. No longer are they to follow the traditions of men. No longer are they to follow dishonest methods. They are to obey the statutes of the kingdom of heaven. They are to seek God’s honor. If they will be true to their vow, they will be furnished with grace and power that will enable them to fulfill all righteousness. ‘As many as received Him, to them gave He power to become the sons of God, even to them that believe on His name.’” Evangelism, 307.
Khi các tín hữu Cơ Đốc vâng phục nghi lễ báp-têm trang nghiêm, Ngài ghi lại lời thề nguyện họ lập để trung thành với Ngài. Lời thề nguyện này là lời tuyên thệ trung thành của họ. Họ được báp-têm nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Như vậy, họ được hiệp nhất với ba quyền năng vĩ đại của thiên đàng. Họ cam kết từ bỏ thế gian và tuân giữ các luật lệ của vương quốc Đức Chúa Trời. Từ nay họ phải bước đi trong đời sống mới. Họ không còn theo truyền thống của loài người nữa. Họ không còn theo những phương cách gian dối nữa. Họ phải vâng phục các điều luật của vương quốc thiên đàng. Họ phải tìm cầu vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nếu họ trung thành với lời thề nguyện của mình, họ sẽ được ban cho ân điển và quyền năng để có thể làm trọn mọi sự công bình. "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, tức là cho những ai tin danh Ngài." Truyền giáo, 307.
Jesus illustrates the end by the beginning in His Word, for He is the Word, and He is the Alpha and Omega.
Chúa Giê-su minh họa phần cuối bằng phần đầu trong Lời của Ngài, vì Ngài là Ngôi Lời, và Ngài là Alpha và Omega.
Bringing these seven lines together builds a very detailed picture of the communication process between God and man, with many other critical and important truths set forth and established by the other “lines” witnesses. Seven “lines” of prophecy representing the Alpha and Omega. But what about the book of Malachi?
Kết hợp bảy “dòng” này lại với nhau tạo nên một bức tranh rất chi tiết về quá trình giao tiếp giữa Đức Chúa Trời và con người, cùng với nhiều lẽ thật then chốt và quan trọng khác được các “dòng” còn lại làm chứng và xác lập. Bảy “dòng” tiên tri đại diện cho Anpha và Ômêga. Nhưng còn sách Ma-la-chi thì sao?
Malachi’s book is a scathing rebuke against the unfaithful priests in Adventism. It opens with the identification of two classes of worshippers in Adventism at the end of the world.
Sách Ma-la-chi là một lời quở trách gay gắt nhắm vào những thầy tế lễ bất trung trong phong trào Phục Lâm. Sách mở đầu bằng việc xác định hai hạng người thờ phượng trong phong trào Phục Lâm vào thời kỳ cuối cùng của thế giới.
The burden of the word of the Lord to Israel by Malachi. I have loved you, saith the Lord. Yet ye say, Wherein hast thou loved us? Was not Esau Jacob’s brother? saith the Lord: yet I loved Jacob. Malachi 1:1, 2.
Lời sấm của Chúa gửi đến Israel qua Ma-la-chi. Ta đã yêu các ngươi, Chúa phán. Nhưng các ngươi lại nói: Ngài đã yêu chúng con ở chỗ nào? Há chẳng phải Ê-sau là anh của Gia-cốp sao? Chúa phán: nhưng Ta đã yêu Gia-cốp. Ma-la-chi 1:1, 2.
Malachi further informs us that the two classes of worshippers at the end of the world are two classes of priests.
Malachi còn cho chúng ta biết rằng hai hạng người thờ phượng vào thời tận thế là hai hạng tư tế.
And now, O ye priests, this commandment is for you. If ye will not hear, and if ye will not lay it to heart, to give glory unto my name, saith the Lord of hosts, I will even send a curse upon you, and I will curse your blessings: yea, I have cursed them already, because ye do not lay it to heart. Malachi 2:1, 2.
Và bây giờ, hỡi các thầy tế lễ, điều răn này dành cho các ngươi. Nếu các ngươi không nghe, và nếu các ngươi không để vào lòng để tôn vinh danh Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng, thì Ta sẽ giáng lời rủa sả trên các ngươi, và Ta sẽ rủa sả những phước lành của các ngươi; phải, Ta đã rủa sả chúng rồi, vì các ngươi không để vào lòng. Ma-la-chi 2:1, 2.
The beginning of Malachi is typifying the Laodicean and Philadelphian message with two classes of priests. The priests are commanded to “hear.” John represents the priests that do hear, and a priest represents God’s covenant chosen people. They are already cursed and will be cursed again if they do not “hear” and “they do not” or “will not” “lay it to heart.”
Phần đầu sách Ma-la-chi tiêu biểu cho sứ điệp La-ô-đi-xê và Phi-la-đen-phi qua hai hạng thầy tế lễ. Các thầy tế lễ được truyền phải “nghe.” Giăng đại diện cho những thầy tế lễ chịu nghe, và một thầy tế lễ đại diện cho dân được chọn theo giao ước của Đức Chúa Trời. Họ đã bị rủa sả rồi và sẽ lại bị rủa sả nếu họ không “nghe” và “họ không” hoặc “sẽ không” “để điều đó vào lòng.”
Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. Wherefore also it is contained in the scripture, Behold, I lay in Sion a chief corner stone, elect, precious: and he that believeth on him shall not be confounded. Unto you therefore which believe he is precious: but unto them which be disobedient, the stone which the builders disallowed, the same is made the head of the corner, And a stone of stumbling, and a rock of offence, even to them which stumble at the word, being disobedient: whereunto also they were appointed. But ye are a chosen generation, a royal priesthood, an holy nation, a peculiar people; that ye should shew forth the praises of him who hath called you out of darkness into his marvellous light: Which in time past were not a people, but are now the people of God: which had not obtained mercy, but now have obtained mercy. 1 Peter 2:5–10.
Anh em cũng vậy, như những viên đá sống, được xây nên một nhà thiêng liêng, một chức tế lễ thánh, để dâng những của lễ thiêng liêng, được Đức Chúa Trời chấp nhận nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ. Bởi vậy cũng có chép trong Kinh Thánh: Này, Ta đặt tại Si-ôn một viên đá góc nhà, được chọn lựa, quý báu; ai tin vào Ngài sẽ không bị hổ thẹn. Vậy, đối với anh em là những người tin, Ngài là quý báu; còn đối với những kẻ không vâng phục, thì viên đá mà các thợ xây đã loại bỏ đã trở nên đầu góc nhà, và là hòn đá làm cho vấp ngã, là tảng đá làm cho sa ngã; họ vấp ngã vì lời, bởi không vâng phục, và điều đó họ cũng đã được định. Nhưng anh em là dòng dõi được chọn, là chức tế lễ vương giả, là dân tộc thánh, là dân thuộc riêng của Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền những nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến ánh sáng lạ lùng của Ngài; trước kia anh em không phải là một dân, mà nay là dân của Đức Chúa Trời; trước kia anh em chưa nhận được thương xót, mà bây giờ đã nhận được thương xót. 1 Phi-e-rơ 2:5-10.
The priests are God’s chosen people who are tested by the “corner stone” in the foundation of the temple. The corner stone is what all the other foundation stones are aligned with, and also it is the stone that bears the weight of the entire temple. Miller’s corner stone was the “seven times” of Leviticus twenty-six. The corner stone or the stone that the builders rejected is a true story of the building of the temple, which is described very specifically in the writings of the Spirit of Prophecy. One point about the first stone that was rejected is that it was set aside after it was rejected, and from that point on the builders of the temple would regularly trip over the cornerstone, that had been set aside within their work area. It was a stone of stumbling.
Các thầy tế lễ là những người được Đức Chúa Trời chọn, những người được thử thách bởi "đá góc" trong nền móng của đền thờ. Đá góc là viên đá mà mọi viên đá nền khác đều căn theo, và cũng là viên đá gánh chịu sức nặng của toàn bộ đền thờ. Đá góc của Miller là "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Đá góc, hay viên đá mà những người thợ xây đã loại bỏ, là một câu chuyện có thật về việc xây dựng đền thờ, được mô tả rất cụ thể trong các trước tác của Tinh Thần Tiên Tri. Một điểm về viên đá đầu tiên bị loại bỏ là sau khi bị loại bỏ, nó được đặt sang một bên, và từ đó trở đi những người thợ xây đền thờ thường xuyên vấp phải viên đá góc đã được đặt sang một bên ngay trong khu vực làm việc của họ. Đó là một hòn đá vấp phạm.
In Malachi God informs the wicked priests, also known as the foolish Laodicean virgins that he is going to and already has “cursed” them. He curses them for they will not “hear” and “lay” the Elijah message to their hearts. The Elijah message turns the fathers’ hearts to the children and the children’s hearts to the fathers. Turning their hearts represents hearing the Elijah message of fathers and children, which is the principle of first and last. Hearing the message of the first and last is not enough, it must be laid upon the heart. To accept the message of Elijah is to lay it to your heart. If a priest will not hear that principle, he will be cursed.
Trong sách Ma-la-chi, Đức Chúa Trời báo cho những thầy tế lễ gian ác, còn gọi là các trinh nữ La-ô-đi-xê dại dột, biết rằng Ngài sẽ và đã “rủa sả” họ. Ngài rủa sả họ vì họ không chịu “nghe” và “đặt” sứ điệp của Ê-li vào lòng mình. Sứ điệp Ê-li khiến lòng cha quay về con và lòng con quay về cha. Việc quay lòng ấy tượng trưng cho việc nghe sứ điệp Ê-li về cha và con, tức là nguyên tắc “đầu và cuối”. Chỉ nghe sứ điệp về đầu và cuối là chưa đủ; nó phải được đặt vào lòng. Chấp nhận sứ điệp của Ê-li tức là đặt nó vào lòng mình. Nếu một thầy tế lễ không chịu nghe nguyên tắc đó, người ấy sẽ bị rủa sả.
They brought the curse upon themselves when in 1863 they began the process of rejecting the very first foundational truth Miller discovered and have done nothing but continue that rejection to this very day. But even though the progressive curse began in 1863, (for they are already cursed), the curse that is in the future tense, takes place when they are spewed out of the mouth of the Lord at the Sunday law. The beginning of Malachi illustrates the end, for the end represents the last warning given to the wise and foolish priests. The wise and foolish in Malachi are represented as Esau and Jacob. The elder brother representing the covenant through the birthright of being the first born, contrasted with a younger brother. The elder being the first and the younger being the last.
Họ tự chuốc lấy lời nguyền khi vào năm 1863 họ bắt đầu quá trình khước từ chân lý nền tảng đầu tiên mà Miller khám phá, và từ đó đến nay họ không làm gì khác ngoài việc tiếp tục sự khước từ ấy. Nhưng mặc dù lời nguyền mang tính diễn tiến đã bắt đầu từ năm 1863 (vì họ đã bị rủa), lời nguyền thuộc về tương lai sẽ xảy ra khi họ bị nhổ ra khỏi miệng của Chúa vào lúc luật ngày Chủ nhật. Phần mở đầu của sách Ma-la-chi minh họa phần cuối, vì phần cuối tượng trưng cho lời cảnh cáo sau cùng dành cho các thầy tế lễ khôn ngoan và ngu dại. Những người khôn và dại trong Ma-la-chi được tượng trưng bởi Ê-sau và Gia-cốp. Người anh cả đại diện cho giao ước qua quyền trưởng nam với tư cách là con đầu lòng, đối chiếu với người em. Anh là trước hết, em là sau cùng.
In Malachi both Esau and Jacob are Laodicean Adventists but the last eventually heard the “voice” of the Lord, repented and had his named changed to Israel. The elder, the first did not hear. Jacob heard the voice of the Lord the night he dreamed and saw angels ascending and descending upon the ladder, representing Christ. Jacob represents Laodicean Adventists at the end of the world who are converted from Laodiceans unto Philadelphians when they experience the first three verses of Revelation one, as illustrated by John and Jacob’s dream of the ladder of ascending and descending angels. That experience marks the beginning of Jacob’s conversion into Israel, the Philadelphian. The ending of Jacob’s conversion story is when he wrestles with Christ at Penuel. Thus Jacob’s birthright story begins in the first three verses of Revelation chapter one when the unsealing of the final warning message is taking place and it ends in the time of the seven last plagues, during the time of trouble.
Trong Ma-la-chi, cả Ê-sau lẫn Gia-cốp đều là những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, nhưng người sau rốt cuộc đã nghe “tiếng” của Chúa, ăn năn và được đổi tên thành Y-sơ-ra-ên. Người anh, người đầu tiên, thì không nghe. Gia-cốp đã nghe tiếng phán của Chúa trong đêm ông chiêm bao và thấy các thiên sứ lên xuống trên chiếc thang, chiếc thang ấy tượng trưng cho Đấng Christ. Gia-cốp đại diện cho những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê vào thời kỳ cuối cùng của thế gian, là những người được hoán cải từ La-ô-đi-xê sang Phi-la-đen-phi khi họ trải nghiệm ba câu đầu của Khải Huyền đoạn một, như được minh họa qua Giăng và giấc mơ về chiếc thang có các thiên sứ lên xuống của Gia-cốp. Trải nghiệm ấy đánh dấu sự khởi đầu cho sự hoán cải của Gia-cốp thành Y-sơ-ra-ên, người Phi-la-đen-phi. Kết thúc câu chuyện hoán cải của Gia-cốp là khi ông vật lộn với Đấng Christ tại Phê-nu-ên. Do đó, câu chuyện về quyền trưởng nam của Gia-cốp bắt đầu trong ba câu đầu của Khải Huyền đoạn một, khi việc mở ấn sứ điệp cảnh cáo sau cùng đang diễn ra, và kết thúc trong thời kỳ bảy tai vạ sau cùng, tức thời kỳ hoạn nạn.
All four sets of beginnings and endings, “line upon line” give testimony to the message of the Revelation of Jesus Christ. The question is whether the foolish priests will hear or not hear.
Cả bốn bộ phần mở đầu và kết thúc, “dòng trên dòng”, đều làm chứng cho sứ điệp trong Khải Huyền của Giê-su Christ. Vấn đề là liệu các tư tế dại dột có nghe hay không.
Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:3.
Phước cho người đọc, và những ai nghe những lời của lời tiên tri này, và tuân giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 1:3.
The wise priests who hear what the Spirit says to the churches, hear the message of Elijah. Miller was Elijah, and some heard, but others refused.
Các tư tế khôn ngoan, những người nghe điều Thần Khí phán với các hội thánh, thì nghe sứ điệp của Êlia. Miller là Êlia, và một số người đã nghe, nhưng những người khác thì từ chối.
“Thousands were led to embrace the truth preached by William Miller, and servants of God were raised up in the spirit and power of Elijah to proclaim the message. Like John, the forerunner of Jesus, those who preached this solemn message felt compelled to lay the ax at the root of the tree, and call upon men to bring forth fruits meet for repentance. Their testimony was calculated to arouse and powerfully affect the churches and manifest their real character. And as the solemn warning to flee from the wrath to come was sounded, many who were united with the churches received the healing message; they saw their backslidings, and with bitter tears of repentance and deep agony of soul, humbled themselves before God. And as the Spirit of God rested upon them, they helped to sound the cry, ‘Fear God, and give glory to Him; for the hour of His judgment is come.’” Early Writings, 233.
Hàng ngàn người đã được dẫn dắt để chấp nhận lẽ thật mà William Miller rao giảng, và các đầy tớ của Đức Chúa Trời đã được dấy lên trong linh và quyền năng của Ê-li để công bố sứ điệp. Giống như Giăng, người đi trước dọn đường cho Đức Chúa Jêsus, những người rao giảng sứ điệp trang nghiêm này cảm thấy bị thôi thúc phải đặt rìu vào gốc cây và kêu gọi người ta kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Lời chứng của họ nhằm đánh thức và tác động mạnh mẽ đến các hội thánh, và bày tỏ bản chất thật của họ. Và khi lời cảnh cáo nghiêm trọng phải chạy trốn cơn thịnh nộ sắp đến được vang ra, nhiều người vốn hiệp với các hội thánh đã tiếp nhận sứ điệp chữa lành; họ thấy sự sa sút của mình, và với những giọt nước mắt ăn năn cay đắng cùng nỗi thống khổ sâu xa trong linh hồn, họ hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời. Và khi Thần của Đức Chúa Trời ngự trên họ, họ góp phần vang lên tiếng kêu: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến.” Early Writings, 233.
Miller was typified by both Elijah and John the Baptist, for John the Baptist prepared the way for Christ’s first coming and Miller prepared the way for Christ to come to the Most Holy Place of the heavenly sanctuary on October 22, 1844. Malachi directly identifies John and Miller’s work.
Miller được cả Ê-li và Giăng Báp-tít tiêu biểu, vì Giăng Báp-tít đã dọn đường cho lần giáng lâm thứ nhất của Đấng Christ, còn Miller đã dọn đường cho Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh của đền thánh trên trời vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Sách Ma-la-chi trực tiếp chỉ ra công việc của Giăng Báp-tít và Miller.
Behold, I will send my messenger, and he shall prepare the way before me: and the Lord, whom ye seek, shall suddenly come to his temple, even the messenger of the covenant, whom ye delight in: behold, he shall come, saith the Lord of hosts. But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. And I will come near to you to judgment; and I will be a swift witness against the sorcerers, and against the adulterers, and against false swearers, and against those that oppress the hireling in his wages, the widow, and the fatherless, and that turn aside the stranger from his right, and fear not me, saith the Lord of hosts. For I am the Lord, I change not; therefore ye sons of Jacob are not consumed. Malachi 3:1–6.
Này, Ta sẽ sai sứ giả của Ta, và người sẽ dọn đường trước mặt Ta; còn Chúa, Đấng các ngươi tìm kiếm, sẽ thình lình đến đền của Ngài, tức là sứ giả của giao ước, Đấng các ngươi ưa thích. Kìa, Ngài sẽ đến, Đức Giê-hô-va vạn quân phán. Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Ai sẽ đứng vững khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, như thuốc tẩy của thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và tẩy sạch bạc; Ngài sẽ thanh tẩy các con trai Lê-vi, luyện lọc họ như vàng và bạc, để họ dâng cho Đức Giê-hô-va lễ vật trong sự công chính. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va, như trong những ngày xưa, như những năm thuở trước. Ta sẽ đến gần các ngươi để xét đoán; Ta sẽ làm chứng mau lẹ chống lại các phù thủy, các kẻ ngoại tình, các kẻ thề dối, và những kẻ áp bức người làm công về tiền công, áp hiếp góa phụ và kẻ mồ côi, và làm trái công lý đối với người ngoại kiều, mà không kính sợ Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán. Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Ta chẳng đổi thay; bởi đó, các con cháu Gia-cốp không bị diệt mất. Ma-la-chi 3:1-6.
As the ‘watchman’ for his history, Miller’s work represented raising the foundations of the temple. His work in the beginning must illustrate a work that represents the finishing of the temple. That final work requires another watchman to give the trumpet a certain sound. Miller and the message of the first angel announced the opening of judgment, and the watchman who Miller typifies at the end of Adventism will announce the close of judgment.
Là “người canh gác” trong thời kỳ của mình, công việc của Miller tượng trưng cho việc dựng lại nền móng của đền thờ. Công việc ban đầu của ông phải minh họa cho một công cuộc đại diện cho việc hoàn tất đền thờ. Công cuộc cuối cùng đó đòi hỏi một người canh gác khác thổi lên tiếng kèn rõ ràng. Miller cùng sứ điệp của thiên sứ thứ nhất đã công bố việc khai mở cuộc phán xét, và người canh gác mà Miller tiêu biểu cho vào thời kỳ kết thúc của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm sẽ công bố sự kết thúc của cuộc phán xét.
In Malachi the Lord promises to bring judgment “against the sorcerers, and against the adulterers, and against false swearers, and against those that oppress the hireling in his wages, the widow, and the fatherless, and that turn aside the stranger from his right, and fear not me.” Those that are being identified here are those who “fear not” “the Lord of hosts.” William Miller is the messenger of the first angel which calls for men to “fear God.” Rejecting the foundations is to reject the fear of God.
Trong sách Ma-la-chi, Đức Chúa Trời hứa sẽ đem sự phán xét “nghịch cùng những kẻ phù thủy, những kẻ ngoại tình, những kẻ thề dối, những kẻ bóc lột người làm công về tiền công, người góa bụa và trẻ mồ côi, những kẻ tước đoạt quyền lợi của người ngoại kiều, và chẳng kính sợ Ta.” Những người được nêu ra ở đây là những kẻ “không kính sợ” “Đức Giê-hô-va vạn quân.” William Miller là sứ giả của thiên sứ thứ nhất, thiên sứ kêu gọi người ta “hãy kính sợ Đức Chúa Trời.” Khước từ các nền tảng tức là khước từ sự kính sợ Đức Chúa Trời.
For, behold, the day cometh, that shall burn as an oven; and all the proud, yea, and all that do wickedly, shall be stubble: and the day that cometh shall burn them up, saith the Lord of hosts, that it shall leave them neither root nor branch. But unto you that fear my name shall the Sun of righteousness arise with healing in his wings; and ye shall go forth, and grow up as calves of the stall. And ye shall tread down the wicked; for they shall be ashes under the soles of your feet in the day that I shall do this, saith the Lord of hosts. Remember ye the law of Moses my servant, which I commanded unto him in Horeb for all Israel, with the statutes and judgments. Behold, I will send you Elijah the prophet before the coming of the great and dreadful day of the Lord: And he shall turn the heart of the fathers to the children, and the heart of the children to their fathers, lest I come and smite the earth with a curse. Malachi 4:1–6.
Vì này, ngày ấy đến, sẽ cháy như lò lửa; mọi kẻ kiêu ngạo, phải, hết thảy những kẻ làm điều gian ác, sẽ như rơm rạ; và ngày đến ấy sẽ thiêu đốt chúng, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, đến nỗi chẳng để lại cho chúng gốc rễ hay nhánh nào. Nhưng đối với các ngươi là những người kính sợ danh ta, Mặt Trời công nghĩa sẽ mọc lên với sự chữa lành trong cánh của Ngài; các ngươi sẽ ra đi và lớn lên như bê con trong chuồng. Và các ngươi sẽ giày đạp những kẻ ác; vì chúng sẽ là tro dưới lòng bàn chân các ngươi trong ngày ta làm điều ấy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán. Hãy nhớ luật pháp của Môi-se, tôi tớ ta, mà ta đã truyền cho người tại Hô-rếp cho cả Y-sơ-ra-ên, cùng với các luật lệ và phán quyết. Này, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến với các ngươi trước khi ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va đến; người sẽ làm cho lòng của các cha quay về cùng con cái, và lòng của con cái quay về cùng cha ông họ, kẻo ta đến mà giáng lời nguyền rủa trên đất. Ma-la-chi 4:1-6.
-
The beginning of the Bible (Genesis) and the end of the Bible (Revelation).
Phần đầu của Kinh Thánh (Sáng Thế Ký) và phần cuối của Kinh Thánh (Khải Huyền).
-
The beginning of the Old Testament (Genesis) and the end of the Old Testament (Malachi).
Khởi đầu của Cựu Ước (Sáng Thế Ký) và kết thúc của Cựu Ước (Ma-la-chi).
-
The beginning of the New Testament (Matthew) and the end of the New Testament (again Revelation).
Khởi đầu Tân Ước (Mát-thêu) và kết thúc Tân Ước (lại là Khải Huyền).
-
The beginning of John’s testimony (the gospel of John) and the end of John’s testimony (again Revelation).
Khởi đầu lời chứng của Gioan (Tin Mừng theo Gioan) và kết thúc lời chứng của Gioan (lại là Khải Huyền).
-
The beginning of Malachi and the end of Malachi.
Phần đầu của Malachi và phần cuối của Malachi.
-
The beginning of Matthew’s gospel and the end of Matthew’s gospel.
Khởi đầu của Tin Mừng theo Mát-thêu và kết thúc của Tin Mừng theo Mát-thêu.
-
The beginning of John’s gospel and the end of John’s gospel.
Khởi đầu Tin Mừng theo Gioan và kết thúc Tin Mừng theo Gioan.
-
The beginning of the four gospels and the end of the four gospels.
Phần đầu của bốn sách Tin Mừng và phần cuối của bốn sách Tin Mừng.
When we remove the prophetic beginnings or endings that are referenced more than once, it equals eight prophetic lines that are to be brought together and placed upon the first three verses of Revelation. What about the end of Genesis?
Khi chúng ta loại bỏ những phần mở đầu hoặc kết thúc mang tính tiên tri được nhắc đến nhiều hơn một lần, thì còn lại tám dòng lời tiên tri cần được gom lại và đặt lên ba câu đầu của sách Khải Huyền. Vậy còn phần kết của Sáng Thế Ký thì sao?
Genesis chapter fifty ends with the death of Joseph.
Sáng Thế Ký chương năm mươi kết thúc bằng cái chết của Giô-sép.
So Joseph died, being an hundred and ten years old: and they embalmed him, and he was put in a coffin in Egypt. Genesis 50:26.
Vậy Giô-sép qua đời, khi ông được một trăm mười tuổi; người ta ướp xác ông, và đặt ông trong một quan tài tại Ai Cập. Sáng thế ký 50:26.
Chapter forty-eight identifies the death of Jacob. The death of Jacob being first in chapter forty-eight leading to the death of Joseph in chapter fifty’s closing verses place the signature of the Alpha and Omega upon the last three chapters of Genesis as the ending of the book of Genesis.
Chương bốn mươi tám nêu ra cái chết của Jacob. Việc cái chết của Jacob xuất hiện trước ở chương bốn mươi tám, rồi dẫn đến cái chết của Joseph trong những câu kết của chương năm mươi, đã đặt dấu ấn của Alpha và Omega lên ba chương cuối của Genesis như phần kết của sách Genesis.
Those two deaths are used as symbols of the beginning and ending of Israel’s captivity in Egypt. In the beginning, Jacob’s body is taken back to be buried with his fathers, and when Moses comes out of Egypt, he brings Joseph’s body to be buried in the burial place of his fathers.
Hai cái chết đó được dùng như những biểu tượng cho sự khởi đầu và kết thúc của thời kỳ nô lệ của dân Israel tại Ai Cập. Ban đầu, thi hài của Jacob được đưa về để chôn cất cùng với cha ông; và khi Moses ra khỏi Ai Cập, ông mang thi hài của Joseph để chôn cất trong mộ phần của cha ông mình.
And Moses took the bones of Joseph with him: for he had straitly sworn the children of Israel, saying, God will surely visit you; and ye shall carry up my bones away hence with you. Exodus 13:19.
Và Môi-se đem hài cốt của Giô-sép theo mình; vì ông đã buộc con cái Y-sơ-ra-ên thề cách nghiêm trọng rằng: Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ thăm viếng các ngươi; và các ngươi sẽ đem hài cốt ta rời khỏi đây cùng với các ngươi. Xuất Ê-díp-tô Ký 13:19.
The ending of Genesis is the last three chapters. In chapter forty-eight Jacob (Israel) pronounces blessings upon his twelve sons that are directly identified as prophecies of what happens to those twelve tribes in the “last days” of the investigative judgment.
Phần kết của Sáng Thế Ký là ba chương cuối. Trong chương bốn mươi tám, Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên) công bố các phước lành trên mười hai người con trai của mình, và những phước lành ấy được xác định trực tiếp là các lời tiên tri về những gì sẽ xảy ra cho mười hai chi phái đó trong “những ngày sau rốt” của sự phán xét điều tra.
And Jacob called unto his sons, and said, Gather yourselves together, that I may tell you that which shall befall you in the last days. Gather yourselves together, and hear, ye sons of Jacob; and hearken unto Israel your father. Genesis 49:1, 2.
Và Gia-cốp gọi các con trai mình đến và nói: Hãy nhóm lại, để ta cho các con biết điều sẽ xảy đến cho các con trong những ngày sau rốt. Hỡi các con trai của Gia-cốp, hãy nhóm lại và nghe; hãy lắng tai nghe Y-sơ-ra-ên, cha các con. Sáng-thế Ký 49:1, 2.
In the “last days” of the investigative judgment the Lord promises to gather his twelve sons, who are represented as the one hundred and forty-four thousand in the book of Revelation. These are they who John represents in the book of Revelation. They are gathered by a call from Jacob, a call from their beginning history that they are told to “hear,” and “hearken” unto. In the last days, those typified by Jacob’s sons “hear” a message and “hearken” or as John says “keep” those things that are written therein. It’s a call from the father to the children, it is the Elijah message. Those called are called the “son[‘s] of Jacob,” and are also to “hearken unto Israel” their father.
Trong những "ngày sau rốt" của sự phán xét điều tra, Chúa hứa sẽ nhóm họp mười hai người con trai của Ngài, là những người được biểu tượng bằng con số một trăm bốn mươi bốn nghìn trong sách Khải Huyền. Chính họ là những người mà Giăng mô tả trong sách Khải Huyền. Họ được nhóm lại bởi một lời kêu gọi từ Gia-cốp—một lời kêu gọi từ buổi khởi đầu lịch sử của họ—mà họ được bảo phải "nghe" và "vâng nghe". Trong những ngày sau rốt, những người được tiêu biểu bởi các con trai của Gia-cốp "nghe" một sứ điệp và "vâng nghe", hay như Giăng nói, "giữ" những điều được chép ở trong đó. Đó là một lời kêu gọi của người cha gửi đến các con; đó là sứ điệp Ê-li. Những người được kêu gọi ấy được gọi là "các con trai của Gia-cốp", và cũng phải "vâng nghe Y-sơ-ra-ên", là cha của họ.
Esau and Jacob in Malachi represent the wise and foolish virgins. The call is from their father Jacob and their father Israel, identifying that when the last call is made everyone is a Laodicean Adventist and the choice is placed into their own hands whether to be a son of Jacob the deceiver or Israel the overcomer. What allows them to make a choice is the creative power within the message. If the message is read, heard and kept, then through the identical creative power that brought all things into existence they will be changed unto a son of Israel. To refuse to hear, is to retain the experience of Jacob, the deceiver.
Ê-sau và Gia-cốp trong sách Ma-la-chi tượng trưng cho những trinh nữ khôn ngoan và khờ dại. Lời kêu gọi xuất phát từ cha của họ, Gia-cốp, và từ cha của họ, Y-sơ-ra-ên, cho thấy rằng khi lời kêu gọi sau cùng vang lên, mọi người đều là những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, và sự lựa chọn được đặt vào chính tay họ: sẽ là con của Gia-cốp, kẻ lừa dối, hay của Y-sơ-ra-ên, người đắc thắng. Điều cho phép họ có thể chọn lựa là quyền năng sáng tạo ở trong sứ điệp. Nếu sứ điệp được đọc, được nghe và được giữ, thì nhờ chính quyền năng sáng tạo đã khiến muôn vật hiện hữu, họ sẽ được biến đổi để trở nên con của Y-sơ-ra-ên. Từ chối lắng nghe tức là giữ lại kinh nghiệm của Gia-cốp, kẻ lừa dối.
The gathering call by Jacob, which is also the gathering call of the message that is unsealed in Revelation is an important symbol to understand. The “seven times” of Leviticus twenty-six teaches that there is no gathering, unless there is previously a scattering. The one hundred and forty-four thousand are those who were scattered in advance of the calling. This truth is repeatedly identified in the Bible.
Lời kêu gọi quy tụ của Gia-cốp, cũng là lời kêu gọi quy tụ của sứ điệp được mở ấn trong sách Khải Huyền, là một biểu tượng quan trọng cần được hiểu. "Bảy lần" trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu dạy rằng sẽ không có sự quy tụ, nếu trước đó không có sự tản lạc. Một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người đã bị tản lạc trước khi lời kêu gọi được đưa ra. Lẽ thật này được khẳng định lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh.
Hear the word of the Lord, O ye nations, and declare it in the isles afar off, and say, He that scattered Israel will gather him, and keep him, as a shepherd doth his flock. Jeremiah 31:10.
Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời của Chúa, và hãy công bố tại các hải đảo xa xăm rằng: Đấng đã làm tan tác Israel sẽ nhóm họ lại và gìn giữ họ như người chăn giữ bầy chiên của mình. Giê-rê-mi 31:10.
The covenant that is renewed with the one hundred and forty-four thousand includes the promise that God will write his law upon our hearts. But those who have this creative act performed for them by the Lord have been previously scattered.
Giao ước được đổi mới với một trăm bốn mươi bốn ngàn bao gồm lời hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ viết luật pháp của Ngài trong lòng chúng ta. Nhưng những ai được Chúa thực hiện hành động sáng tạo này cho thì trước đó đã bị tản lạc.
Again the word of the Lord came unto me, saying, Son of man, thy brethren, even thy brethren, the men of thy kindred, and all the house of Israel wholly, are they unto whom the inhabitants of Jerusalem have said, Get you far from the Lord: unto us is this land given in possession. Therefore say, Thus saith the Lord God; Although I have cast them far off among the heathen, and although I have scattered them among the countries, yet will I be to them as a little sanctuary in the countries where they shall come. Therefore say, Thus saith the Lord God; I will even gather you from the people, and assemble you out of the countries where ye have been scattered, and I will give you the land of Israel. And they shall come thither, and they shall take away all the detestable things thereof and all the abominations thereof from thence. And I will give them one heart, and I will put a new spirit within you; and I will take the stony heart out of their flesh, and will give them an heart of flesh. Ezekiel 11:14–19.
Lại có lời Đức Giê-hô-va đến cùng ta, phán rằng: Hỡi con người, anh em ngươi, chính anh em ngươi, những người cùng huyết thống ngươi, và cả nhà Y-sơ-ra-ên hết thảy, là những người mà dân cư Giê-ru-sa-lem đã nói rằng: “Hãy ở xa Đức Giê-hô-va; đất này đã được ban cho chúng ta làm sản nghiệp.” Vậy hãy nói: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Dầu ta đã đuổi họ đi xa giữa các dân ngoại, và dầu ta đã làm họ tản lạc trong các xứ, nhưng ta sẽ cho họ như một nơi thánh nhỏ trong các xứ mà họ sẽ đến. Vậy hãy nói: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ nhóm các ngươi lại từ giữa các dân, và hiệp các ngươi ra khỏi các xứ nơi các ngươi đã bị tản lạc, và ta sẽ ban cho các ngươi đất Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ đến đó và dẹp bỏ khỏi đó mọi vật đáng ghê tởm cùng mọi điều gớm ghiếc của nó. Ta sẽ ban cho họ một tấm lòng, và đặt trong các ngươi một thần linh mới; ta sẽ cất khỏi xác thịt của họ tấm lòng bằng đá, và ban cho họ một tấm lòng bằng thịt. Ê-xê-chi-ên 11:14-19.
More is to be said about the gathering of the one hundred and forty-four thousand in relation to the “scattering,” but we first need to bring together the consideration of the signature of Alpha and Omega in these nine references we are considering.
Còn nhiều điều để nói về sự quy tụ của một trăm bốn mươi bốn nghìn liên quan đến "sự tản lạc", nhưng trước hết chúng ta cần tổng hợp việc khảo sát dấu ấn của Anpha và Ômêga trong chín chỗ tham chiếu mà chúng ta đang xem xét.
Two classes are represented in the last three chapters of Genesis. A class of rebels and a class of the wise. Both classes hear a voice that says this is the way walk ye in it, but one class refused to hearken to the trumpet and walk in the old paths. The class of rebels in Genesis forty-eight through fifty are represented by the thirteenth tribe.
Hai hạng người được trình bày trong ba chương cuối của Sáng Thế Ký. Một hạng người phản nghịch và một hạng người khôn ngoan. Cả hai hạng đều nghe một tiếng nói rằng đây là đường, hãy đi theo, nhưng một hạng đã từ chối lắng nghe tiếng kèn và bước đi trên các nẻo xưa. Hạng phản nghịch trong Sáng Thế Ký, từ chương 48 đến 50, được đại diện bởi chi phái thứ mười ba.
At the beginning of ancient Israel there were thirteen tribes and at the beginning of modern Israel there were thirteen disciples. The one disciple that is distinguished from the other twelve disciples, (as was Ephraim distinguished from the other tribes) are both symbols of rebellion. Sister White directly calls Judas a foolish virgin.
Lúc khởi đầu của Israel cổ đại có mười ba chi phái, và lúc khởi đầu của Israel hiện đại có mười ba môn đồ. Người môn đồ duy nhất được phân biệt với mười hai môn đồ còn lại (cũng như Êpraim được phân biệt với các chi phái khác), cả hai đều là biểu tượng của sự phản nghịch. Bà White trực tiếp gọi Giu-đa là một trinh nữ dại.
“There have been and always will be tares among the wheat, the foolish virgins with the wise, those who have no oil in their vessels with their lamps. There was a covetous Judas in the church Christ formed on earth, and there will be Judases in the church in every stage of her history.” Signs of the Times, October 23, 1879.
Xưa nay đã có và mãi sẽ có cỏ lùng lẫn trong lúa mì, những cô trinh nữ dại bên cạnh những cô trinh nữ khôn, những người không có dầu trong bình để dùng với đèn của mình. Đã có một Giu-đa tham lam trong hội thánh mà Chúa Kitô đã lập trên đất, và sẽ có những Giu-đa trong hội thánh qua mọi giai đoạn lịch sử của hội thánh. Signs of the Times, ngày 23 tháng 10 năm 1879.
Judas Iscariot was a foolish virgin; he was a tare and if a foolish virgin, then also a Laodicean.
Giu-đa Iscariốt là một trinh nữ dại; ông ta là cỏ lùng, và nếu là một trinh nữ dại, thì cũng là một người La-ô-đi-xê.
“The state of the Church represented by the foolish virgins, is also spoken of as the Laodicean state.” Review and Herald, August 19, 1890.
Tình trạng của Hội Thánh được tượng trưng bởi các trinh nữ dại, cũng được gọi là tình trạng La-ô-đi-xê. Review and Herald, ngày 19 tháng 8, 1890.
Joseph’s two sons both received a blessing from Jacob in chapter forty-eight of Genesis, and from that point on they are referred to as “half tribes.” Half tribes or not, they were still tribes. Judas Iscariot was replaced by Matthias in order to fill in the twelfth place formerly held by Judas Iscariot. Judas was a disciple, and in this sense—there were thirteen disciples at the end of ancient Israel, just as there were thirteen tribes at the beginning.
Hai người con trai của Joseph đều nhận được lời chúc phúc từ Jacob trong chương bốn mươi tám của sách Sáng thế ký, và từ đó trở đi họ được gọi là "nửa chi phái." Dù có là nửa chi phái hay không, họ vẫn là chi phái. Judas Iscariot được thay thế bởi Matthias để lấp vào vị trí thứ mười hai trước đây do Judas Iscariot nắm giữ. Judas là một môn đồ, và theo nghĩa này—đã có mười ba môn đồ vào cuối thời Israel cổ đại, cũng như có mười ba chi phái vào lúc ban đầu.
Joseph’s son Ephraim (the thirteenth tribe) became the symbol of the rebellion when the northern ten tribes rallied in support of Jeroboam and divided the kingdom into ten northern tribes and two southern tribes. Why do I identify Ephraim the son of Joseph as the symbol of rebellion instead of his brother Manasseh? The rebellion associated with Ephraim begins in chapter forty-eight, before Jacob blesses his twelve sons. In chapter forty-eight Jacob first blesses Joseph’s two sons. Because Manasseh was the first-born Joseph expects that the first blessing of his sons should go upon Manasseh, and Joseph rebels against Jacob choosing Ephraim.
Con trai của Joseph, Ephraim (chi phái thứ mười ba), trở thành biểu tượng của sự phản loạn khi mười chi phái miền bắc tập hợp ủng hộ Jeroboam và chia vương quốc thành mười chi phái miền bắc và hai chi phái miền nam. Tại sao tôi xác định Ephraim, con của Joseph, là biểu tượng của sự phản loạn thay vì anh ông là Manasseh? Sự phản loạn gắn với Ephraim bắt đầu ở chương bốn mươi tám, trước khi Jacob chúc phước cho mười hai người con của mình. Trong chương bốn mươi tám, Jacob trước hết chúc phước cho hai con trai của Joseph. Vì Manasseh là con đầu lòng, Joseph mong đợi rằng phước lành đầu tiên dành cho các con trai của mình phải thuộc về Manasseh, và Joseph phản đối việc Jacob chọn Ephraim.
The beginning of Ephraim as a representative of God’s elect possesses a testimony of rebellion, and the end of Ephraim is Leviticus twenty-six’s scattering of “seven times” from 723 BC through to 1798. In 723 BC the northern ten tribes, the kingdom of Ephraim, (also known as Israel) received a deadly wound as a kingdom of Bible prophecy. That deadly wound began a time prophecy that concluded with the papal power and its kingdom receiving a deadly wound in 1798. The deadly wound of the papal power in 1798 typifies the final fall of Babylon when the king of the north will “come to his end with none to help” in Daniel eleven verse forty-five. The rebellion and fall of Babylon in the last days was typified by the rebellion and fall of the papal power in 1798, which in turn was typified by the rebellion and fall of the kingdom of Ephraim (Israel) in 723 BC, which was typified by Joseph’s rebellion to his father’s prophetic inspiration as identified in the end of Genesis.
Khởi đầu của Ephraim, với tư cách đại diện cho những người được Đức Chúa Trời chọn, mang một lời chứng về sự phản nghịch; và tận cùng của Ephraim là sự phân tán “bảy lần” theo Leviticus đoạn 26, từ năm 723 TCN đến năm 1798. Vào năm 723 TCN, mười chi phái phương bắc, vương quốc Ephraim (cũng được gọi là Israel), đã nhận một vết thương chí tử với tư cách là một vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh. Vết thương chí tử ấy khởi đầu một lời tiên tri về thời kỳ, và lời tiên tri ấy kết thúc khi quyền lực giáo hoàng cùng vương quốc của nó nhận một vết thương chí tử vào năm 1798. Vết thương chí tử của quyền lực giáo hoàng vào năm 1798 là hình bóng cho sự sụp đổ cuối cùng của Babylon, khi vua phương bắc “đi đến chỗ cuối cùng mà không ai giúp đỡ” trong Daniel đoạn mười một, câu bốn mươi lăm. Sự phản nghịch và sụp đổ của Babylon trong những ngày cuối cùng được làm hình bóng bởi sự phản nghịch và sụp đổ của quyền lực giáo hoàng vào năm 1798; điều này lại được làm hình bóng bởi sự phản nghịch và sụp đổ của vương quốc Ephraim (Israel) vào năm 723 TCN; và điều ấy lại được làm hình bóng bởi sự phản nghịch của Joseph đối với sự cảm hứng tiên tri của cha mình, như được nêu ở phần cuối của Genesis.
The rebellion that Ephraim is a symbol of started with his father’s rebellion (Joseph) against his father (Jacob). It ultimately leads to the rebellion of the ten northern tribes, which leads to the “scattering represented” as “seven times” in Leviticus twenty-six. The period of the time the northern kingdom was scattered is divided into two periods. One ending in the year 538, the next period ending in 1798, and all pointing to the message that is unsealed just before probation closes in the book of Revelation. That message identifies the final fall of Babylon. At each waymark of Ephraim’s prophetic history rebellion is marked. Just as is the rebellion of the thirteenth disciple, Judas Iscariot. This is two of the witnesses that identify the number thirteen as a symbol of rebellion. But none of these sacred truths can be recognized if a person isn’t standing on the foundations of Adventism that were built upon the first truth Miller discovered and the first truth discarded by Adventism.
Sự phản nghịch mà Ê-phra-im là biểu tượng đã bắt đầu từ sự phản nghịch của cha ông, Giô-sép, đối với cha mình, Gia-cốp. Rốt cuộc điều đó dẫn đến cuộc phản nghịch của mười chi phái phương bắc, điều đưa đến sự “tản lạc được tượng trưng” là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn 26. Khoảng thời gian vương quốc phương bắc bị tản lạc được chia thành hai giai đoạn. Một giai đoạn kết thúc vào năm 538, giai đoạn kế tiếp kết thúc vào năm 1798, và tất cả đều chỉ đến sứ điệp được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại trong sách Khải Huyền. Sứ điệp ấy nêu rõ sự sụp đổ cuối cùng của Ba-by-lôn. Ở mỗi cột mốc trong lịch sử tiên tri của Ê-phra-im đều có dấu ấn của sự phản nghịch; cũng như cuộc phản nghịch của môn đồ thứ mười ba, Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Đây là hai trong số những nhân chứng cho thấy con số mười ba là biểu tượng của sự phản nghịch. Nhưng không một lẽ thật thánh thiêng nào trong các lẽ thật ấy có thể được nhận biết nếu người ta không đứng trên những nền tảng của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, những nền tảng được xây trên lẽ thật đầu tiên mà Miller khám phá và lẽ thật đầu tiên bị phong trào Phục Lâm loại bỏ.
The ending of Genesis agrees with all the other lines that we have been considering. In summation:
Phần kết của Sáng Thế Ký nhất quán với tất cả các dòng lập luận khác mà chúng ta đã xem xét. Tóm lại:
In the beginning the heavenly trio of the Father, Son and Holy Spirit witnessed the creation of the heavens and earth that was accomplished by the Son, who is also the Word. The Word became the channel of communication from the Father, to mankind, and the Word is the only avenue for mankind to communicate with the Father. The Father’s message was given by the Son to the angel Gabriel, who replaced Lucifer (the light bearer) after Lucifer’s rebellion in heaven. Gabriel receives the light, or message and delivers it to a prophet, who is the holy created being assigned with passing the message from the Father to the fallen created family. The message given to the prophet is written out and then conveyed to mankind. At every step in the communication process the message is holy, and for this reason the prophets, who are fallen human beings are to be holy. At the point that the holy message is transferred into the hands of fallen humanity, humanity has the potential of handling a holy message with unsanctified hands. Thus, the light of the holy message produces both light and darkness. When the message is received by those in the family of fallen man it contains the identical creative power that created all things, which is the power that justifies that being. The beginning of the communication process illustrates the end of the communication process. Therefore, if the message is heard, read and kept, the message recreates fallen mankind into the image of the Son.
Ban đầu, bộ ba thiên thượng gồm Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh đã chứng kiến việc sáng tạo trời và đất, việc ấy do Đức Con thực hiện, cũng chính là Ngôi Lời. Ngôi Lời trở thành kênh thông truyền từ Đức Cha đến nhân loại, và Ngôi Lời là con đường duy nhất để nhân loại giao tiếp với Đức Cha. Sứ điệp của Đức Cha được Đức Con trao cho thiên sứ Gabriel, người đã thay thế Lucifer (kẻ mang ánh sáng) sau khi Lucifer phản nghịch trên trời. Gabriel nhận lấy ánh sáng, tức sứ điệp, và chuyển cho một nhà tiên tri, là thọ tạo thánh khiết được giao phó nhiệm vụ truyền đạt sứ điệp từ Đức Cha cho gia đình thọ tạo đã sa ngã. Sứ điệp được ban cho nhà tiên tri được chép lại rồi truyền đạt cho nhân loại. Ở mọi bước của tiến trình truyền thông, sứ điệp đều là thánh; vì thế các nhà tiên tri, vốn là con người sa ngã, phải nên thánh. Khi sứ điệp thánh được chuyển vào tay nhân loại sa ngã, nhân loại có nguy cơ xử lý một sứ điệp thánh bằng những bàn tay chưa được thánh hóa. Vì vậy, ánh sáng của sứ điệp thánh tạo ra cả ánh sáng lẫn bóng tối. Khi sứ điệp được những người thuộc gia đình nhân loại sa ngã tiếp nhận, nó chứa đựng cùng một quyền năng sáng tạo đã dựng nên muôn vật, là quyền năng xưng công chính cho người ấy. Khởi đầu của tiến trình truyền thông minh họa cho kết cục của tiến trình ấy. Vì thế, nếu sứ điệp được nghe, được đọc và được giữ, sứ điệp sẽ tái tạo nhân loại sa ngã theo hình ảnh của Đức Con.
Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:3.
Phước cho người đọc, và những ai nghe những lời của lời tiên tri này, và tuân giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 1:3.
John illustrates fallen mankind in the “last days” of the investigative judgment who hear a voice behind them and turn around to receive the message that leads to the past. Those that receive and make the message not a part of their life, but exclusively their life, are there and then justified. To be justified is to be made holy. When those who read and hear the message sent from the Father, accept the message and are made holy, it is through the creative power within the message. The creative power accomplishes the work of justifying men, when men believe as did Abraham. The message instructs them to turn and listen to the voice behind, which leads to the old paths, which are the foundational truths. The message guides them into all truth and as they walk the old paths, they are walking on the path of the justified.
Giăng mô tả nhân loại sa ngã trong “những ngày sau rốt” của cuộc phán xét điều tra: họ nghe một tiếng nói phía sau mình và quay lại để đón nhận sứ điệp dẫn về quá khứ. Những ai tiếp nhận và biến sứ điệp trở thành không phải chỉ một phần đời sống của họ, mà là chính đời sống của họ, thì ngay khi ấy được xưng công chính. Được xưng công chính tức là được nên thánh. Khi những người đọc và nghe sứ điệp do Cha gửi đến chấp nhận sứ điệp và được nên thánh, thì đó là nhờ quyền năng sáng tạo ở trong sứ điệp. Quyền năng sáng tạo ấy thực hiện công việc xưng công chính cho con người khi con người tin như Abraham đã tin. Sứ điệp dạy họ quay lại và lắng nghe tiếng nói phía sau, dẫn đến những nẻo xưa, là những lẽ thật nền tảng. Sứ điệp dẫn họ vào mọi lẽ thật, và khi họ bước đi trên những nẻo xưa, họ đang bước trên con đường của những người được xưng công chính.
But the path of the just is as the shining light, that shineth more and more unto the perfect day. The way of the wicked is as darkness: they know not at what they stumble. My son, attend to my words; incline thine ear unto my sayings. Let them not depart from thine eyes; keep them in the midst of thine heart. For they are life unto those that find them, and health to all their flesh. Keep thy heart with all diligence; for out of it are the issues of life. Put away from thee a froward mouth, and perverse lips put far from thee. Let thine eyes look right on, and let thine eyelids look straight before thee. Ponder the path of thy feet, and let all thy ways be established. Turn not to the right hand nor to the left: remove thy foot from evil. Proverbs 4:18–27.
Nhưng nẻo của người công chính như ánh sáng rạng rỡ, càng chiếu sáng hơn cho đến ngày trọn vẹn. Đường của kẻ ác thì như bóng tối; chúng chẳng biết mình vấp phải điều gì. Con ơi, hãy chú ý đến lời ta; hãy nghiêng tai nghe những lời dạy của ta. Đừng để chúng rời khỏi mắt con; hãy giữ chúng ở giữa lòng con. Vì chúng là sự sống cho những ai tìm được, và là sức khỏe cho toàn thân họ. Hãy hết sức gìn giữ lòng con, vì từ đó nguồn mạch của sự sống tuôn ra. Hãy cất khỏi con miệng quanh co; để môi gian tà xa khỏi con. Mắt con hãy nhìn thẳng, và mí mắt con hãy nhìn ngay trước mặt. Hãy cân nhắc lối bước chân con, và khiến mọi đường lối con được vững chắc. Đừng nghiêng qua bên hữu hay bên tả; hãy giữ chân con khỏi điều ác. Châm Ngôn 4:18-27.
Those justified by the message conveyed walk on the path that represents an ever-increasing light, but that very light makes the path of the wicked correspondingly darker. Light separates from darkness. The creative power that commanded for there to be light in the beginning produces the same effect upon mankind at the end as light did in the beginning. The class that refuses to hear the voice behind, and therefore choose to walk the darkened path “stumble” at his Word, for they stumble on the foundation stone, the old tried stone. The voice is Alpha and Omega, and when the justified hear those words and incline their hearts unto those words they keep those words in the midst of their hearts, for the Alpha and Omega turns their hearts to the fathers, (the past) and the hearts of the fathers point to the end.
Những người được xưng công chính bởi sứ điệp được truyền đạt bước đi trên con đường tượng trưng cho ánh sáng mỗi lúc một rạng rỡ hơn, nhưng chính ánh sáng ấy lại làm cho con đường của kẻ ác tương ứng mà tối tăm hơn. Ánh sáng tách biệt khỏi bóng tối. Quyền năng sáng tạo đã truyền lệnh phải có ánh sáng từ ban đầu tạo ra cùng một hiệu quả trên nhân loại vào cuối cùng như ánh sáng đã tạo ra lúc ban đầu. Hạng người từ chối lắng nghe tiếng nói phía sau lưng, và vì thế chọn đi trên con đường u tối, thì “vấp ngã” trước Lời của Ngài, vì họ vấp trên hòn đá nền tảng, hòn đá xưa đã được thử luyện. Tiếng nói ấy là Alpha và Omega, và khi những người được xưng công chính nghe những lời ấy và nghiêng lòng về những lời ấy, họ giữ những lời ấy giữa lòng mình, vì Alpha và Omega hướng lòng họ về với các tổ phụ (quá khứ), và lòng của các tổ phụ lại chỉ về thời cuối cùng.
The way of the just is uprightness: thou, most upright, dost weigh the path of the just. Yea, in the way of thy judgments, O Lord, have we waited for thee; the desire of our soul is to thy name, and to the remembrance of thee. With my soul have I desired thee in the night; yea, with my spirit within me will I seek thee early: for when thy judgments are in the earth, the inhabitants of the world will learn righteousness. Isaiah 26:7–9.
Đường của người công chính là ngay thẳng; Ngài, Đấng rất ngay thẳng, cân nhắc con đường của người công chính. Phải, trong đường lối các phán quyết của Ngài, lạy Chúa, chúng con đã trông đợi Ngài; ước ao của linh hồn chúng con là hướng về danh Ngài và sự tưởng nhớ đến Ngài. Linh hồn tôi đã ao ước Ngài trong đêm; vâng, với thần linh ở trong tôi, tôi sẽ tìm kiếm Ngài từ sớm; vì khi các phán quyết của Ngài ở trên đất, dân cư thế gian sẽ học biết sự công chính. Ê-sai 26:7-9.
God weighs, or He judges, those who walk the path of the just, and He does so in the “last days” when His judgments are in the land. The just are those who have waited for the Lord in fulfillment of the tarrying time in the parable of the ten virgins. The desire of those walking the path of increasing knowledge, is for a greater and greater understanding of God’s name, His character. Those who have waited for their Lord, are those that proclaim the final warning message, for they are those who proclaim the Midnight Cry, which is of course the first internal message of Revelation eighteen that is followed by the second, external message.
Đức Chúa Trời cân đo, hay Ngài phán xét, những người bước đi trên con đường của người công chính, và Ngài làm như vậy vào “những ngày sau rốt” khi các sự phán xét của Ngài ở trên đất. Những người công chính là những người đã chờ đợi Chúa, ứng nghiệm thời kỳ trì hoãn trong dụ ngôn mười trinh nữ. Nguyện vọng của những người bước đi trên con đường gia tăng sự hiểu biết là ngày càng hiểu biết sâu hơn về danh của Đức Chúa Trời, về bản tính của Ngài. Những người đã chờ đợi Chúa của họ là những người công bố sứ điệp cảnh cáo sau cùng, vì họ là những người công bố Tiếng Kêu Nửa Đêm, vốn là sứ điệp nội bộ thứ nhất của Khải Huyền đoạn mười tám, rồi được tiếp nối bởi sứ điệp thứ hai, bên ngoài.
And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies. And I heard another voice from heaven, saying, Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. Revelation 18:1–4.
Và sau những điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh hiển của vị thiên sứ ấy. Người kêu lớn tiếng cách mạnh mẽ rằng: Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi, và đã trở nên nơi ở của ma quỷ, chỗ giam giữ mọi tà linh ô uế, và lồng của mọi loài chim ô uế và đáng ghét. Vì muôn dân đã uống rượu cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó, các vua trên đất đã phạm tà dâm với nó, và các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa phong phú của nó. Rồi tôi nghe một tiếng khác từ trời phán rằng: Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi khỏi dự phần trong tội lỗi của nó, và khỏi nhận lãnh các tai vạ của nó. Khải Huyền 18:1-4.
When the angel of Revelation eighteen descended on September 11, 2001, the Seventh-day Adventist church refused its final call to return to the old paths. It then ceased to be the horn of true Protestantism in the United States. At that point a testing process began for those who chose to take the message of that strong voice and eat it, as typified by John when the angel of Revelation ten descended at the beginning of Adventism on August 11, 1840. The spiritual nation that had taken the mantle of true Protestantism when the first angel’s message was rejected, then followed in the footsteps of apostate Protestantism at the beginning of Adventism.
Khi thiên sứ của Khải Huyền mười tám giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy đã từ chối lời kêu gọi sau cùng để trở về những nẻo xưa. Khi ấy giáo hội không còn là sừng của chủ nghĩa Tin Lành chân chính tại Hoa Kỳ nữa. Vào thời điểm đó, một tiến trình thử luyện bắt đầu cho những ai chọn lấy sứ điệp của tiếng kêu lớn ấy và ăn lấy nó, như đã được Giăng tiêu biểu khi thiên sứ của Khải Huyền mười giáng xuống vào buổi khởi đầu của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, vào ngày 11 tháng 8 năm 1840. Dân tộc thuộc linh đã khoác lấy áo choàng của chủ nghĩa Tin Lành chân chính khi sứ điệp của thiên sứ thứ nhất bị khước từ, rồi đã bước theo dấu chân của chủ nghĩa Tin Lành bội đạo như vào buổi khởi nguyên của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm.
The true Protestant horn was then given to those who accepted the message in the little book that was in the angel’s hand in Revelation ten. The testing process at the beginning of Adventism from 1840 through 1844 represents a testing process at the end of Adventism from September 11, 2001 until the Sunday law in the United States. Within the first history of 1840 to 1844, and the testing process that began on September 11, 2001, marks a dispensational transition from the former body of believers who held the mantle of Protestantism, unto a new body of believers who take the mantle of true Protestantism.
Lúc ấy sừng Tin Lành chân chính đã được trao cho những người chấp nhận sứ điệp trong quyển sách nhỏ ở trong tay vị thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười. Quá trình thử nghiệm ở buổi đầu của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm từ năm 1840 đến 1844 tượng trưng cho một quá trình thử nghiệm ở phần cuối của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 cho đến luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ. Cả giai đoạn lịch sử đầu tiên từ 1840 đến 1844 và quá trình thử nghiệm bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đều đánh dấu một sự chuyển đổi thời kỳ từ cộng đồng tín hữu trước đây, những người mang áo choàng của Tin Lành, sang một cộng đồng tín hữu mới tiếp nhận áo choàng của Tin Lành chân chính.
More important to our consideration of the path of the justified is that within that history there is a disappointment that marks the beginning of the tarrying time. The faithful wait for their Lord in that time, which ends with the unsealing of the message of the Midnight Cry. That testing process at the beginning of Adventism ended when the message of the Midnight Cry concluded on October 22, 1844. The testing process at the end concludes for those represented by John at the Sunday law in the United States. The message of the Midnight Cry at the end, will conclude just as at the beginning, and in the beginning of Adventism the message of the Midnight Cry was unsealed in advance of the close of the testing process. The message of the Midnight Cry at the beginning is now being unsealed at the end.
Điều quan trọng hơn đối với việc chúng ta xem xét con đường của những người được xưng công chính là: trong lịch sử đó có một sự thất vọng đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ trì hoãn. Những người trung tín chờ đợi Chúa của họ trong thời kỳ ấy, và thời kỳ đó kết thúc khi sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm được mở ấn. Quá trình thử luyện ấy ở buổi đầu của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đã kết thúc khi sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm chấm dứt vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Quá trình thử luyện ở phần cuối sẽ kết thúc đối với những người được Giăng đại diện khi Luật Chủ nhật được ban hành tại Hoa Kỳ. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm vào thời cuối cũng sẽ kết thúc y như lúc ban đầu, và vào buổi đầu của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm đã được mở ấn trước khi quá trình thử luyện khép lại. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm lúc ban đầu hiện đang được mở ấn vào thời cuối.
The justified wise virgins enter into covenant with God when the wicked foolish virgins enter into a covenant of death.
Những trinh nữ khôn ngoan được xưng công chính lập giao ước với Thiên Chúa khi những trinh nữ ngu dại và gian ác lập giao ước với sự chết.
To whom he said, This is the rest wherewith ye may cause the weary to rest; and this is the refreshing: yet they would not hear. But the word of the Lord was unto them precept upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little; that they might go, and fall backward, and be broken, and snared, and taken. Wherefore hear the word of the Lord, ye scornful men, that rule this people which is in Jerusalem. Because ye have said, We have made a covenant with death, and with hell are we at agreement; when the overflowing scourge shall pass through, it shall not come unto us: for we have made lies our refuge, and under falsehood have we hid ourselves: Therefore thus saith the Lord God, Behold, I lay in Zion for a foundation a stone, a tried stone, a precious corner stone, a sure foundation: he that believeth shall not make haste. Isaiah 28:12–16.
Ngài đã phán với họ rằng: Đây là sự yên nghỉ nhờ đó các ngươi có thể làm cho kẻ mệt mỏi được nghỉ ngơi; và đây là sự phục hồi; nhưng họ chẳng chịu nghe. Nhưng lời của Chúa đã đến với họ như: mệnh lệnh trên mệnh lệnh, mệnh lệnh trên mệnh lệnh; dòng trên dòng, dòng trên dòng; chỗ này một ít, chỗ kia một ít; để họ đi, rồi ngã ngửa, bị gãy nát, bị mắc bẫy và bị bắt. Vì vậy, hỡi những kẻ nhạo báng đang cai trị dân này tại Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Chúa. Bởi vì các ngươi đã nói: Chúng ta đã lập giao ước với sự chết, và với Âm phủ chúng ta đã thỏa thuận; khi tai vạ tràn qua, nó sẽ không đụng đến chúng ta; vì chúng ta đã lấy sự dối trá làm nơi nương náu, và ẩn mình dưới sự giả dối. Vì vậy Chúa là Đức Chúa Trời phán thế này: Kìa, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá làm nền tảng, một hòn đá đã được thử luyện, một đá góc quý giá, một nền tảng vững chắc; ai tin sẽ không hấp tấp. Ê-sai 28:12-16.
The justified take the holy message of the Midnight Cry to the church and thereafter they proclaim the message of the second voice as they call mankind out of Babylon.
Những người được xưng công chính đem sứ điệp thánh của Tiếng Kêu Nửa Đêm đến cho Hội Thánh, và sau đó họ rao giảng sứ điệp của tiếng nói thứ hai, kêu gọi nhân loại ra khỏi Ba-by-lôn.
“So in the last work for the warning of the world, two distinct calls are made to the churches. The second angel’s message is, ‘Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication.’ And in the loud cry of the third angel’s message a voice is heard from heaven saying, ‘Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities.’” Review and Herald, December 6, 1892.
Vậy nên, trong công việc sau cùng nhằm cảnh báo thế gian, có hai lời kêu gọi riêng biệt được đưa ra cho các hội thánh. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là: “Ba-by-lôn đã đổ, đã đổ, thành lớn kia, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó.” Và trong tiếng kêu lớn của sứ điệp thiên sứ thứ ba, có tiếng từ trời phán rằng: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi chớ dự phần vào tội lỗi của nó, và chớ nhận lấy các tai vạ của nó. Vì tội lỗi của nó đã chất đến trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ lại các sự gian ác của nó.” Review and Herald, ngày 6 tháng 12 năm 1892.
Those who come out of Babylon and join those walking on the path of the just are accepted into the fold through the water of baptism that is represented by the name of the heavenly trio. The justified, whether it is those who are currently hearing the message delivered to John on Patmos, or those who thereafter are called out of Babylon are all justified by receiving the Holy Spirit. That combination of the Holy Spirit’s divinity and man’s humanity was accomplished, as set forth as an example when Christ took upon himself human nature. The one hundred and forty-four thousand were represented upon two witnesses, the twelve sons of Jacob and the twelve disciples. The wicked are represented by the thirteenth tribe and the thirteenth disciple. Both “thirteens” in either illustration were called to be priests unto God, and those who reject that calling are represented by Esau, while his younger brother Jacob represents those who accept the calling. Esau and Jacob both represent Laodicean Seventh-day Adventists at the end of the world. One class accepts the holy message conveyed through the prophet’s writings and is changed unto Israel, while Esau retains his name.
Những ai ra khỏi Ba-by-lôn và gia nhập với những người bước đi trên con đường của người công chính thì được tiếp nhận vào bầy chiên qua nước báp-têm, là điều được biểu trưng bởi danh của Ba Ngôi trên trời. Những người được xưng công chính — dù là những người hiện đang nghe sứ điệp truyền cho Giăng tại Pat-mô, hay những người về sau được kêu gọi ra khỏi Ba-by-lôn — đều được xưng công chính bằng việc tiếp nhận Đức Thánh Linh. Sự kết hợp giữa thần tính của Đức Thánh Linh và nhân tính của con người đã được thực hiện, như đã được nêu làm gương khi Đấng Christ mặc lấy bản tánh loài người. Một trăm bốn mươi bốn ngàn được đại diện bởi hai nhân chứng: mười hai con trai của Gia-cốp và mười hai môn đồ. Những kẻ ác được đại diện bởi bộ tộc thứ mười ba và môn đồ thứ mười ba. Trong cả hai minh họa, cả hai “mười ba” đều được kêu gọi làm thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời; và những ai từ chối lời kêu gọi ấy được biểu trưng bởi Ê-sau, còn người em trai của ông, Gia-cốp, đại diện cho những ai tiếp nhận lời kêu gọi. Ê-sau và Gia-cốp đều đại diện cho các tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy thuộc La-ô-đi-xê vào thời kỳ cuối cùng. Một nhóm tiếp nhận sứ điệp thánh được truyền qua trước tác của vị tiên tri và được đổi tên thành Y-sơ-ra-ên, còn Ê-sau thì giữ nguyên tên mình.
There is of course much more in these nine lines of Alpha and Omega, for this was simply a brief summation of beginnings and endings in God’s Word.
Dĩ nhiên, trong chín dòng Alpha và Omega này còn nhiều điều hơn thế, vì đây chỉ là một bản tóm lược ngắn gọn về những khởi đầu và kết thúc trong Lời Đức Chúa Trời.
Nine lines of history, representing prophetic histories from the creation to the Second Coming. All nine of these prophetic lines of beginnings and endings are directly connected to the first three verses of Revelation chapter three. Those three verses identify that the Revelation of Jesus Christ, that is unsealed just before probation closes, is a manifestation of God’s creative power. What other power could construct such a complex inter-woven testimony from a variety of witnesses, who provided their testimony from the time of Moses until the time of John the Revelator?
Chín mạch lịch sử, tượng trưng cho những lịch sử tiên tri từ sự sáng tạo đến sự tái lâm. Cả chín mạch tiên tri về khởi đầu và kết thúc này đều trực tiếp gắn liền với ba câu đầu của Khải Huyền chương ba. Ba câu ấy xác định rằng sự mạc khải của Đức Chúa Giê-su Christ, vốn được tháo ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại, là sự bày tỏ quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời. Có quyền năng nào khác có thể dệt nên một lời chứng đan xen phức tạp như vậy từ nhiều nhân chứng khác nhau, những người đã làm chứng từ thời Môi-se cho đến thời sứ đồ Giăng, người ghi sách Khải Huyền?
Take off your shoes, for this is holy ground.
Hãy cởi giày ra, vì đây là đất thánh.