The book of Isaiah and especially Isaiah’s final prophetic narrative found in chapters forty through sixty-six is a presentation that emphasizes a handful of important prophetic truths connected directly to the Revelation of Jesus Christ, which is now being unsealed as we approach the close of human probation. One of those truths is the revelation of Alpha and Omega. No other book in the Bible comes close to Isaiah’s testimony of the element of God’s character which illustrates the end of a thing with the beginning of a thing.
Sách Ê-sai, đặc biệt là phần tường thuật tiên tri sau cùng trong các chương bốn mươi đến sáu mươi sáu, trình bày và nhấn mạnh một vài lẽ thật tiên tri quan trọng liên hệ trực tiếp đến Sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, vốn hiện đang được mở ấn khi chúng ta tiến gần đến sự kết thúc thời kỳ ân điển của loài người. Một trong những lẽ thật ấy là sự mặc khải về An-pha và Ô-mê-ga. Không có sách nào khác trong Kinh Thánh sánh kịp lời chứng của Ê-sai về khía cạnh trong bản tính của Đức Chúa Trời, vốn minh họa cái kết của một điều qua chính sự khởi đầu của nó.
Who hath wrought and done it, calling the generations from the beginning? I the Lord, the first, and with the last; I am he. Isaiah 41:4.
Ai đã làm nên và thực hiện điều ấy, gọi các thế hệ từ buổi ban đầu? Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng trước hết, và ở cùng những người sau rốt; chính Ta là Đấng ấy. Ê-sai 41:4.
It is in Isaiah, that God identifies what it is that proves God is God.
Chính trong sách Ê-sai, Đức Chúa Trời chỉ ra điều gì chứng tỏ Ngài là Đức Chúa Trời.
Thus saith the Lord the King of Israel, and his redeemer the Lord of hosts; I am the first, and I am the last; and beside me there is no God. And who, as I, shall call, and shall declare it, and set it in order for me, since I appointed the ancient people? and the things that are coming, and shall come, let them show unto them. Fear ye not, neither be afraid: have not I told thee from that time, and have declared it? ye are even my witnesses. Is there a God beside me? yea, there is no God; I know not any. Isaiah 44:6–8.
Đức Giê-hô-va, Vua của Y-sơ-ra-ên, và Đấng Cứu Chuộc của nó, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán như vầy: Ta là Đấng thứ nhất, và Ta là Đấng sau rốt; ngoài Ta ra không có Đức Chúa Trời nào. Ai như Ta có thể gọi, công bố điều đó, và sắp đặt nó cho Ta, từ khi Ta lập dân xưa? Còn những điều sắp đến, những việc sẽ xảy ra, hãy để họ tỏ cho người ta biết. Đừng sợ, cũng đừng khiếp đảm; há chẳng phải từ khi ấy Ta đã bảo cho ngươi và đã công bố sao? Chính các ngươi là chứng nhân của Ta. Có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Ta chăng? Phải, chẳng có Đức Chúa Trời nào; Ta không biết một ai. Ê-sai 44:6-8.
Isaiah’s final prophetic narrative emphasizes the perfect and final fulfillment of the arrival of the Comforter that Jesus promised.
Bản tường thuật tiên tri cuối cùng của Ê-sai nhấn mạnh sự ứng nghiệm trọn vẹn và cuối cùng về sự đến của Đấng An Ủi mà Chúa Giê-xu đã hứa.
Hearken to me, ye that follow after righteousness, ye that seek the Lord: look unto the rock whence ye are hewn, and to the hole of the pit whence ye are digged. Look unto Abraham your father, and unto Sarah that bare you: for I called him alone, and blessed him, and increased him. For the Lord shall comfort Zion: he will comfort all her waste places; and he will make her wilderness like Eden, and her desert like the garden of the Lord; joy and gladness shall be found therein, thanksgiving, and the voice of melody. Isaiah 51:1–3.
Hãy lắng nghe ta, hỡi những ai theo đuổi sự công bình, những ai tìm kiếm Đức Giê-hô-va: hãy nhìn vào tảng đá từ nơi các ngươi đã được đục ra, và vào hố hầm từ nơi các ngươi đã được đào lên. Hãy nhìn Áp-ra-ham, cha của các ngươi, và Sa-ra, người đã sinh ra các ngươi; vì Ta đã gọi một mình ông, ban phước cho ông, và làm cho ông thêm nhiều. Vì Đức Giê-hô-va sẽ yên ủi Si-ôn; Ngài sẽ yên ủi mọi nơi hoang tàn của nó; và Ngài sẽ khiến đồng hoang của nó như Ê-đen, sa mạc của nó như vườn của Đức Giê-hô-va; ở đó sẽ có sự vui mừng và hoan lạc, lời cảm tạ, và tiếng ca hát. Ê-sai 51:1-3.
The Comforter arrived in July of 2023. Another truth emphasized in Isaiah’s narrative is the hidden, three-step history of the seven thunders, which is the structure of “emeth,” the Hebrew word that was created by the first, thirteenth, and last letters of the Hebrew alphabet.
Đấng An Ủi đã đến vào tháng Bảy năm 2023. Một chân lý khác được nhấn mạnh trong tường thuật của Ê-sai là lịch sử ẩn giấu gồm ba bước của bảy tiếng sấm, mà chính là cấu trúc của "emeth", từ tiếng Hê-bơ-rơ được tạo nên bởi chữ cái đầu tiên, chữ cái thứ mười ba và chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ.
A voice of noise from the city, a voice from the temple, a voice of the Lord that rendereth recompense to his enemies. Isaiah 66:6.
Có tiếng ồn ào từ thành, tiếng từ đền thờ, tiếng của Chúa, Đấng báo trả các kẻ thù của Ngài. Ê-sai 66:6.
Another important truth presented in Isaiah is the role of Islam as the tool of God’s executive judgment upon first the United States, and thereafter the world for the passage of Sunday enforcement.
Một lẽ thật quan trọng khác được trình bày trong sách Ê-sai là vai trò của Hồi giáo như công cụ thi hành sự phán xét của Đức Chúa Trời, trước hết trên Hoa Kỳ, rồi sau đó trên thế giới, cho việc thông qua luật cưỡng chế giữ ngày Chủ Nhật.
In measure, when it shooteth forth, thou wilt debate with it: he stayeth his rough wind in the day of the east wind. Isaiah 27:8.
Theo chừng mực, khi nó đâm chồi, ngươi sẽ tranh tụng với nó; Ngài kìm giữ cơn gió dữ của Ngài trong ngày gió đông. Ê-sai 27:8.
All of these truths could be categorized as components of the message of the Midnight Cry, which is the parable of the ten virgin’s representation of the message of the Revelation of Jesus Christ that the Father gave to Jesus, who gave it to Gabriel, that gave it to John, who wrote it out and sent it to the churches. We have been employing Isaiah’s last narrative, to support the line of prophetic events beginning in chapter eleven of Revelation, and we have now arrived at chapter twelve, where we find the woman clothed with the sun is portrayed with the symbolism that is so soundly upheld by Isaiah, that being; that Christ illustrates the end of a thing, with the beginning of a thing.
Tất cả những lẽ thật này có thể được xếp vào các thành tố của thông điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm, vốn là dụ ngôn mười trinh nữ trình bày về sứ điệp của Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ mà Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài; Ngài trao cho Gáp-ri-ên, rồi Gáp-ri-ên trao cho Giăng, người đã chép lại và gửi cho các hội thánh. Chúng ta đã sử dụng tường thuật cuối cùng của Ê-sai để củng cố mạch các biến cố tiên tri khởi đi từ chương mười một của Khải Huyền, và nay đã đến chương mười hai, nơi chúng ta thấy người nữ mặc mặt trời được mô tả bằng biểu tượng mà Ê-sai minh chứng cách vững chắc, đó là: Đấng Christ dùng phần khởi đầu của một điều để minh họa phần kết thúc của điều ấy.
And there appeared a great wonder in heaven; a woman clothed with the sun, and the moon under her feet, and upon her head a crown of twelve stars: And she being with child cried, travailing in birth, and pained to be delivered. And there appeared another wonder in heaven; and behold a great red dragon, having seven heads and ten horns, and seven crowns upon his heads. And his tail drew the third part of the stars of heaven, and did cast them to the earth: and the dragon stood before the woman which was ready to be delivered, for to devour her child as soon as it was born. And she brought forth a man child, who was to rule all nations with a rod of iron: and her child was caught up unto God, and to his throne. Revelation 12:1–5.
Và có một điềm lớn hiện ra trên trời: một người phụ nữ, mặc mặt trời làm áo, mặt trăng ở dưới chân, và trên đầu đội mão miện mười hai ngôi sao. Bà đang mang thai, kêu la vì đau đớn chuyển dạ và quằn quại để sinh nở. Lại có một điềm khác hiện ra trên trời: kìa, một con rồng đỏ lớn, có bảy đầu và mười sừng, và trên các đầu có bảy mão miện. Đuôi nó quét đi một phần ba các ngôi sao trên trời và ném chúng xuống đất; và con rồng đứng trước người phụ nữ sắp sinh, để nuốt đứa con của bà ngay khi nó vừa chào đời. Bà sinh một con trai, đứa trẻ sẽ cai trị muôn dân bằng cây trượng sắt; và con của bà được cất lên đến cùng Đức Chúa Trời và đến ngai của Ngài. Khải Huyền 12:1-5.
The woman of Revelation twelve is a symbol of God’s chosen people throughout history. The twelve tribes of ancient literal Israel represent the beginning of God’s chosen covenant people. The twelve tribes typify the ending of ancient literal Israel, when Christ selected twelve disciples. Those twelve disciples at the end of ancient literal Israel, were also the twelve apostles at the beginning of modern spiritual Israel. Two beginning witnesses and one ending witness combine to establish three witnesses that identify the one hundred and forty-four thousand as the ending of modern spiritual Israel.
Người phụ nữ trong Khải Huyền 12 là biểu tượng cho dân tuyển của Đức Chúa Trời xuyên suốt lịch sử. Mười hai chi phái của Israel xưa theo nghĩa đen đại diện cho khởi đầu của dân giao ước được Đức Chúa Trời chọn. Mười hai chi phái ấy cũng tiêu biểu cho sự kết thúc của Israel xưa theo nghĩa đen, khi Đấng Christ chọn mười hai môn đồ. Mười hai môn đồ ấy, ở thời điểm kết thúc của Israel xưa theo nghĩa đen, cũng chính là mười hai sứ đồ ở khởi đầu của Israel thuộc linh thời hiện đại. Hai chứng nhân khởi đầu và một chứng nhân kết thúc hợp lại để thiết lập ba chứng nhân, qua đó xác định rằng một trăm bốn mươi bốn ngàn là sự kết thúc của Israel thuộc linh thời hiện đại.
The one hundred and forty-four thousand are also the ensign that was cast out by their brethren. They are the ensign that was a valley of dead dry bones lying in the street of the great city of Sodom and Egypt, who were murdered by the beast that ascended out of the bottomless pit. They are the ensign, that are the stones of the crown, which the woman is wearing upon her head.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn cũng là cờ hiệu đã bị chính anh em của họ xua đuổi. Họ là cờ hiệu, là một thung lũng những bộ xương khô chết nằm trên đường phố của thành lớn Sô-đôm và Ai Cập, những kẻ đã bị con thú đi lên từ vực không đáy giết hại. Họ là cờ hiệu, là những viên đá của mão miện mà người đàn bà đang đội trên đầu.
And the Lord their God shall save them in that day as the flock of his people: for they shall be as the stones of a crown, lifted up as an ensign upon his land. Zechariah 9:16.
Và Chúa, Đức Chúa Trời của họ, sẽ cứu họ trong ngày ấy như bầy chiên của dân Ngài; vì họ sẽ như những viên đá của mão triều thiên, được giương cao như cờ hiệu trên đất của Ngài. Xa-cha-ri 9:16.
The ensign, which is the one hundred and forty-four thousand are stones, as is Christ.
Kỳ hiệu, tức là một trăm bốn mươi bốn nghìn, là những viên đá, cũng như Đấng Christ là đá.
And did all drink the same spiritual drink: for they drank of that spiritual Rock that followed them: and that Rock was Christ. 1 Corinthians 10:4.
Và hết thảy đều uống cùng một thứ thức uống thiêng liêng; vì họ đã uống từ tảng đá thiêng liêng đi theo họ; và tảng đá ấy chính là Đấng Christ. 1 Cô-rinh-tô 10:4.
Christ typifies the one hundred and forty-four thousand, and Peter agrees with Paul that Christ is the “living stone” that was disallowed, and Peter also identified that God’s people are also “lively stones.”
Đấng Christ tiêu biểu cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, và Phi-e-rơ đồng ý với Phao-lô rằng Đấng Christ là "viên đá sống" đã bị loại bỏ, và Phi-e-rơ cũng xác nhận rằng dân của Đức Chúa Trời cũng là "những viên đá sống."
To whom coming, as unto a living stone, disallowed indeed of men, but chosen of God, and precious, Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:4, 5.
Đến với Ngài, là hòn đá sống, bị loài người quả thật loại bỏ, nhưng được Đức Chúa Trời chọn lựa và quý báu; anh em cũng vậy, như những viên đá sống, được xây nên làm nhà thiêng liêng, thành một chức tế lễ thánh, để dâng những của lễ thiêng liêng, đẹp lòng Đức Chúa Trời nhờ Chúa Giê-xu Christ. 1 Phi-e-rơ 2:4, 5.
The one hundred and forty-four thousand are not only the stones in the woman’s crown, they are the crown itself.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn không chỉ là những viên đá trên vương miện của người phụ nữ, mà chính là bản thân vương miện.
For Zion’s sake will I not hold my peace, and for Jerusalem’s sake I will not rest, until the righteousness thereof go forth as brightness, and the salvation thereof as a lamp that burneth. And the Gentiles shall see thy righteousness, and all kings thy glory: and thou shalt be called by a new name, which the mouth of the Lord shall name. Thou shalt also be a crown of glory in the hand of the Lord, and a royal diadem in the hand of thy God. Isaiah 62:1–3.
Vì cớ Si-ôn, ta sẽ chẳng nín lặng; vì cớ Giê-ru-sa-lem, ta sẽ chẳng yên nghỉ, cho đến khi sự công chính của nó phát ra như ánh sáng, và sự cứu rỗi của nó như ngọn đèn cháy sáng. Các dân ngoại sẽ thấy sự công chính của ngươi, và mọi vua chúa sẽ thấy vinh quang của ngươi; ngươi sẽ được gọi bằng một tên mới, do chính miệng Đức Chúa đặt. Ngươi cũng sẽ là một mão vinh hiển trong tay Đức Chúa, và là một mũ miện hoàng gia trong tay Đức Chúa Trời của ngươi. Ê-sai 62:1-3.
Christ typifies the one hundred and forty-four thousand. He is the Rock, and they are “stones.” They are a “crown of glory in the hand of the Lord,” and Christ is the crown of glory.
Đấng Christ tiêu biểu cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Ngài là Vầng Đá, và họ là "những viên đá." Họ là "mão triều thiên vinh hiển trong tay Chúa," và Đấng Christ là mão triều thiên vinh hiển.
In that day shall the Lord of hosts be for a crown of glory, and for a diadem of beauty, unto the residue of his people, And for a spirit of judgment to him that sitteth in judgment, and for strength to them that turn the battle to the gate. Isaiah 28:5, 6.
Trong ngày ấy, Chúa các đạo binh sẽ là mão triều vinh hiển và vương miện diễm lệ cho phần còn sót lại của dân Ngài, và là thần khí phán xét cho người ngồi xử án, và là sức mạnh cho những kẻ đẩy lui trận chiến đến tận cổng thành. Ê-sai 28:5, 6.
When considering the number twelve in the context of beginning and ending, the woman represents the chosen covenant people from ancient Israel at mount Sinai, until the history of the one hundred and forty-four thousand. They have been typified by Christ, and His birth typified the resurrection of the dead dry bones from the street where they had been murdered on July 18, 2020. The two-step process that Ezekiel thirty-seven so succinctly identifies, that brings those two prophets to life, is ‘first mentioned’ in the creation of Adam.
Khi xem xét con số mười hai trong bối cảnh khởi đầu và kết thúc, người nữ đại diện cho dân giao ước được chọn từ Israel cổ đại tại Núi Sinai, cho đến lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Họ đã được tiêu biểu bởi Đấng Christ, và sự giáng sinh của Ngài tiêu biểu cho sự phục sinh của những bộ xương khô đã chết trên đường phố nơi họ bị sát hại vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Tiến trình hai bước mà Ê-xê-chi-ên 37 trình bày rất súc tích, làm cho hai vị tiên tri ấy sống lại, được “nhắc đến lần đầu” trong sự tạo dựng A-đam.
Adam was created in two steps. He was first formed, then Christ breathed the breath of life into him, just as the breath from the four winds in Ezekiel brought the dry bones to life. Adam was created a fully mature man, but his creation was none the less, his birth. The one hundred and forty-four thousand are born after three and a half symbolic days of lying dead in the street that runs through the valley of death. The one hundred and forty-four thousand are born by the woman that gave birth to the “man child: that was to rule with an iron rod.” As the symbol of the church throughout history, the woman of Revelation twelve represents the same symbolism as the “mountain” of Daniel two.
A-đam được tạo dựng qua hai giai đoạn. Trước hết ông được nắn nên, rồi Đấng Christ thổi hơi sự sống vào ông, giống như hơi thở từ bốn phương gió trong Ê-xê-chi-ên đã khiến các xương khô sống lại. A-đam được tạo dựng như một người trưởng thành hoàn toàn, nhưng việc tạo dựng ấy dẫu vậy vẫn là sự sinh ra của ông. Một trăm bốn mươi bốn nghìn được sinh ra sau ba ngày rưỡi mang tính biểu tượng nằm chết trên con đường chạy qua thung lũng sự chết. Một trăm bốn mươi bốn nghìn được sinh ra bởi người nữ đã sinh ra “đứa con trai: người sẽ cai trị bằng cây gậy sắt.” Là biểu tượng của Hội Thánh xuyên suốt lịch sử, người nữ trong Khải Huyền đoạn mười hai mang cùng ý nghĩa biểu tượng như “ngọn núi” trong Đa-ni-ên đoạn hai.
“Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 9, 8.
"Khải Huyền là một quyển sách được niêm phong, nhưng cũng là một quyển sách mở. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những giáo huấn của quyển sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri được tiếp nối như trong sách Đa-ni-ên. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng chúng cần được coi trọng. Chúa không lặp lại những điều không mấy hệ trọng." Manuscript Releases, tập 9, 8.
The same line of prophecy that is found in Daniel is taken up in the Revelation. Daniel’s stone, that is cut out of the mountain without hands, is Peter’s “lively stones,” who “are built up a spiritual house, an holy priesthood,” and Daniel’s stone also represents, the one hundred and forty-four thousand. The mountain is God’s church through history.
Cùng một mạch tiên tri được tìm thấy trong sách Đa-ni-ên lại được tiếp tục trong sách Khải Huyền. Hòn đá trong sách Đa-ni-ên, được đục ra khỏi núi mà không do tay người, chính là “những viên đá sống” của Phi-e-rơ, những người “được xây dựng thành một ngôi nhà thuộc linh, một chức tế lễ thánh”; và hòn đá ấy trong Đa-ni-ên cũng tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Ngọn núi ấy là Hội thánh của Đức Chúa Trời trong suốt lịch sử.
And in the days of these kings shall the God of heaven set up a kingdom, which shall never be destroyed: and the kingdom shall not be left to other people, but it shall break in pieces and consume all these kingdoms, and it shall stand for ever. Forasmuch as thou sawest that the stone was cut out of the mountain without hands, and that it brake in pieces the iron, the brass, the clay, the silver, and the gold; the great God hath made known to the king what shall come to pass hereafter: and the dream is certain, and the interpretation thereof sure. Daniel 2:44, 45.
Và trong những ngày của các vua ấy, Đức Chúa Trời trên trời sẽ lập một vương quốc, vương quốc ấy sẽ không bao giờ bị hủy diệt; và vương quốc ấy sẽ không bị trao cho một dân khác, nhưng sẽ đập tan và tiêu diệt mọi vương quốc này, và sẽ đứng vững đời đời. Bởi vì ngươi đã thấy hòn đá được đục ra từ núi mà không phải bởi tay người, và nó đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc và vàng; Đức Chúa Trời vĩ đại đã cho vua biết điều sẽ xảy ra về sau; và giấc mộng ấy là chắc thật, còn lời giải nghĩa của nó là vững chắc. Đa-ni-ên 2:44, 45.
The Midnight Cry message of the one hundred and forty-four thousand is also represented as the latter rain, and it is in the time of the latter rain that God ‘sets up’ the kingdom represented by Daniel’s stone.
Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm của một trăm bốn mươi bốn ngàn cũng được ví như mưa cuối mùa, và chính trong thời kỳ mưa cuối mùa mà Đức Chúa Trời 'lập nên' vương quốc được tượng trưng bởi hòn đá của Đa-ni-ên.
“The latter rain is coming on those that are pure—all then will receive it as formerly.
Mưa cuối mùa đang giáng xuống trên những người trong sạch—bấy giờ hết thảy đều sẽ nhận lãnh nó như thuở trước.
“When the four angels let go, Christ will set up His kingdom. None receive the latter rain but those who are doing all they can. Christ would help us. All could be overcomers by the grace of God, through the blood of Jesus. All heaven is interested in the work. Angels are interested.” Spalding and Magan, 3.
Khi bốn thiên sứ buông tay, Đấng Christ sẽ lập Nước Ngài. Chỉ những ai đang làm hết sức mình mới nhận được mưa muộn. Đấng Christ sẽ giúp chúng ta. Tất cả đều có thể đắc thắng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, qua huyết của Đức Chúa Giê-xu. Cả thiên đàng đều quan tâm đến công việc ấy. Các thiên sứ cũng quan tâm. Spalding and Magan, 3.
The four winds of Islam are released at the Sunday law, and then Christ sets up His kingdom. It takes place in the days of the spiritual kingdoms of Daniel chapter two. The last four spiritual kingdoms in Nebuchadnezzar’s dream, were typified by the first four literal kingdoms. Literal Babylon, Medo-Persia, Greece and Rome represent spiritual Babylon, Medo-Persia, Greece and Rome.
Bốn ngọn gió của Hồi giáo được thả ra vào thời điểm luật ngày Chủ nhật được ban hành, và rồi Đấng Christ thiết lập vương quốc của Ngài. Điều đó diễn ra trong thời kỳ các vương quốc thuộc linh của chương hai sách Đa-ni-ên. Bốn vương quốc thuộc linh sau cùng trong giấc chiêm bao của Nê-bu-cát-nết-sa được tiêu biểu bởi bốn vương quốc hữu hình đầu tiên. Ba-by-lôn hữu hình, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp và La Mã tượng trưng cho Ba-by-lôn thuộc linh, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp và La Mã.
Spiritual Babylon is the head of gold, that received a deadly wound in 1798, as typified by Nebuchadnezzar being temporarily removed from power for “seven times.” When the three-fold union of the dragon, the beast and the false prophet form the eighth kingdom, that is of the seven, it will be made up of all the spiritual kingdoms, represented in Nebuchadnezzar’s image of chapter two. The papacy dead and the papacy resurrected, are the spiritual head of gold in the beginning and the ending of four spiritual kingdoms of the image. The United States, as the second of the four kingdoms, is represented as spiritual Medo-Persia. The United Nations, as the third of the four kingdoms is represented as spiritual Greece and together, they all make up the three-fold union of the dragon, the beast and the false prophet to establish the eighth kingdom, that is of the seven. The papacy is the antichrist and seeks to counterfeit Christ. In this regard; of the last four spiritual kingdoms, the papacy is the first and the last.
Ba-by-lôn thuộc linh là cái đầu bằng vàng, đã nhận một vết thương chí tử vào năm 1798, như được tiêu biểu bởi việc Nê-bu-cát-nết-sa bị tạm thời truất quyền trong “bảy thì”. Khi liên minh ba phần giữa con rồng, con thú và tiên tri giả hình thành vương quốc thứ tám, vốn thuộc về bảy, nó sẽ bao gồm tất cả các vương quốc thuộc linh được đại diện trong hình tượng của Nê-bu-cát-nết-sa ở chương hai. Giáo quyền La Mã đã chết và đã phục sinh, là cái đầu bằng vàng thuộc linh ở lúc khởi đầu và lúc kết thúc của bốn vương quốc thuộc linh trong hình tượng. Hoa Kỳ, với tư cách là vương quốc thứ hai trong bốn vương quốc, được đại diện như Mê-đi Ba Tư thuộc linh. Liên Hợp Quốc, là vương quốc thứ ba trong bốn, được đại diện như Hy Lạp thuộc linh; và cùng nhau, tất cả họ hợp thành liên minh ba phần giữa con rồng, con thú và tiên tri giả để thiết lập vương quốc thứ tám, vốn thuộc về bảy. Giáo quyền La Mã là kẻ chống Đấng Christ và tìm cách giả mạo Đấng Christ. Về phương diện này, trong bốn vương quốc thuộc linh sau cùng, giáo quyền La Mã là thứ nhất và là sau rốt.
The stone cut out of the mountain, becomes a kingdom that fills the whole earth, and it is set up as an ensign in “the days of these kings,” for all of the spiritual kingdoms of the image are actively represented in “the last days.” The lifting up of the ensign, which is the setting up of Christ’s kingdom takes place when the four winds of Islam are released, and the latter rain is poured out without measure at the Sunday law.
Hòn đá được cắt ra khỏi núi trở thành một vương quốc đầy dẫy khắp đất, và nó được dựng làm cờ hiệu trong “những ngày của các vua ấy”, vì tất cả các vương quốc thuộc linh của hình tượng đều đang hiện diện và hoạt động trong “những ngày sau rốt”. Sự giương cao cờ hiệu ấy, tức là sự thiết lập vương quốc của Đấng Christ, diễn ra khi bốn luồng gió của Hồi giáo được thả ra, và mưa muộn được đổ ra không chừng mực vào thời điểm luật ngày Chủ nhật.
The stone cut out of the mountain will break in pieces all of earth’s spiritual kingdoms, represented by “the iron, the brass, the clay, the silver, and the gold.” The one hundred and forty-four thousand represent Christ, who in Revelation twelve is “the man child,” whose birth typified the birth of the one hundred and forty-four thousand. The “man child” is to “rule all nations with a rod of iron.” With that rod, he will break the nations.
Hòn đá được đục ra khỏi núi sẽ đập vỡ tất cả các vương quốc thuộc linh trên đất thành từng mảnh, được biểu trưng bởi “sắt, đồng, đất sét, bạc và vàng.” Một trăm bốn mươi bốn nghìn tượng trưng cho Đấng Christ, Đấng mà trong Khải Huyền chương mười hai là “trai nam”; sự chào đời của Ngài tiêu biểu cho sự chào đời của một trăm bốn mươi bốn nghìn. “Trai nam” sẽ “cai trị muôn dân bằng cây gậy sắt.” Với cây gậy ấy, Ngài sẽ đập tan các dân tộc.
I will declare the decree: the Lord hath said unto me, Thou art my Son; this day have I begotten thee. Ask of me, and I shall give thee the heathen for thine inheritance, and the uttermost parts of the earth for thy possession. Thou shalt break them with a rod of iron; thou shalt dash them in pieces like a potter’s vessel. Psalm 2:7–9.
Ta sẽ công bố chiếu chỉ: Đức Chúa phán với ta: Con là Con Ta; hôm nay Ta đã sinh ra con. Hãy xin Ta, Ta sẽ ban cho con các dân ngoại làm cơ nghiệp, và những nơi tận cùng của đất làm sản nghiệp cho con. Con sẽ dùng gậy sắt mà đập tan chúng; con sẽ đập vỡ chúng như đồ gốm của thợ gốm. Thi Thiên 2:7-9.
The Son of God was begotten of the Father. Many take this truth and wrest it to their own destruction. “Begotten” means to give birth, but we know there was never a time when Christ was not in existence.
Con Đức Chúa Trời đã được Cha sinh ra. Nhiều người lấy lẽ thật này và xuyên tạc nó đến sự hư mất của chính mình. “Begotten” có nghĩa là sinh ra, nhưng chúng ta biết rằng chưa từng có lúc nào Đấng Christ không hiện hữu.
“‘Now the Spirit speaketh expressly, that in the latter times some shall depart from the faith, giving heed to seducing spirits, and doctrines of devils; speaking lies in hypocrisy; having their conscience seared with a hot iron.’ Before the last developments of the work of apostasy there will be a confusion of faith. There will not be clear and definite ideas concerning the mystery of God. One truth after another will be corrupted. ‘And without controversy great is the mystery of godliness: God was manifest in the flesh, justified in the Spirit, seen of angels, preached unto the Gentiles, believed on in the world, received up into glory.’ There are many who deny the preexistence of Christ, and therefore deny his divinity; they do not accept him as a personal Saviour. This is a total denial of Christ. He was the only-begotten Son of God, who was one with the Father from the beginning. By him the worlds were made.” Signs of the Times, May 28, 1894.
'Hiện nay Đức Thánh Linh phán cách tỏ tường rằng trong thời kỳ sau rốt sẽ có kẻ lìa bỏ đức tin, lắng nghe các tà linh lừa dối và những giáo lý của ma quỷ; nói dối cách giả hình; lương tâm họ như bị sắt nung đỏ in dấu.' Trước những diễn tiến cuối cùng của công cuộc bội đạo sẽ có sự rối loạn về đức tin. Sẽ không còn những ý niệm rõ ràng và dứt khoát về mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Hết lẽ thật này đến lẽ thật khác sẽ bị làm sai lệch. 'Và không chối cãi được, mầu nhiệm của sự tin kính là rất lớn: Đức Chúa Trời đã hiện ra trong xác thịt, được xưng công bình trong Thánh Linh, được các thiên sứ nhìn thấy, được rao giảng cho các dân ngoại, được tin trong thế gian, được cất lên trong vinh hiển.' Có nhiều người chối bỏ sự hiện hữu có trước của Đấng Christ, vì thế chối bỏ thần tính của Ngài; họ không tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa cá nhân. Đó là sự chối bỏ Đấng Christ một cách trọn vẹn. Ngài là Con độc sanh của Đức Chúa Trời, Đấng hiệp một với Đức Cha từ ban đầu. Nhờ Ngài mà các thế giới đã được dựng nên. Signs of the Times, ngày 28 tháng 5, 1894.
When Christ is identified as the “begotten” of the Father, it is identifying a truth associated with Christ, a truth that is destroyed, if it is forced into the model of human parenthood. We cannot evaluate God from our human perspective. We can only evaluate God as He presents us with His evaluation of Himself.
Khi Đức Kitô được xác định là “được sinh ra” bởi Chúa Cha, điều ấy xác nhận một chân lý gắn liền với Đức Kitô—một chân lý sẽ bị phá hủy nếu bị ép vào mô hình làm cha mẹ của con người. Chúng ta không thể đánh giá Thiên Chúa từ quan điểm của con người. Chúng ta chỉ có thể đánh giá Thiên Chúa theo cách Ngài trình bày cho chúng ta sự tự đánh giá của Ngài về chính mình.
Let the wicked forsake his way, and the unrighteous man his thoughts: and let him return unto the Lord, and he will have mercy upon him; and to our God, for he will abundantly pardon. For my thoughts are not your thoughts, neither are your ways my ways, saith the Lord. For as the heavens are higher than the earth, so are my ways higher than your ways, and my thoughts than your thoughts. Isaiah 55:7–9.
Hãy để kẻ gian ác từ bỏ đường lối mình, người bất nghĩa từ bỏ ý tưởng mình; hãy trở về với Chúa, Ngài sẽ thương xót; trở về với Đức Chúa Trời của chúng ta, vì Ngài sẽ rộng lượng tha thứ. Vì ý tưởng của ta không phải là ý tưởng của các ngươi, đường lối của các ngươi cũng không phải là đường lối của ta, Chúa phán. Vì như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối của ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi bấy nhiêu, và ý tưởng của ta cao hơn ý tưởng của các ngươi bấy nhiêu. Ê-sai 55:7-9.
To wrest the word “begotten” in order to identify that there was a time when the Father gave birth to Christ, is to give “heed to seducing spirits, and doctrines of devils.” For the purpose of our current study, I am simply identifying that the woman of Revelation twelve was to give birth to the “man child” that is to rule the nations with a rod of iron. The one hundred and forty-four thousand will also rule the nations with a rod of iron.
Vặn vẹo ý nghĩa của từ "begotten" để khẳng định rằng đã có lúc Cha sinh ra Đấng Christ là nghe theo "các linh lừa dối và những giáo lý của ma quỷ." Cho mục đích của nghiên cứu hiện tại của chúng ta, tôi chỉ nêu rằng người nữ trong Khải Huyền mười hai sẽ sinh ra "con trai" là Đấng sẽ cai trị các dân bằng cây gậy sắt. Một trăm bốn mươi bốn nghìn người cũng sẽ cai trị các dân bằng cây gậy sắt.
The church of Thyatira returns when the papacy’s deadly wound is healed at the Sunday law. In that history, the promise given to God’s people is that those who overcome will rule the “nations” with “a rod of iron.”
Hội thánh Thi-a-ti-ra trở lại khi vết thương chí tử của giáo quyền La Mã được chữa lành vào lúc luật ngày Chủ nhật được ban hành. Trong bối cảnh lịch sử ấy, lời hứa dành cho dân của Đức Chúa Trời là những ai đắc thắng sẽ cai trị 'các dân tộc' bằng 'cây gậy sắt'.
And he that overcometh, and keepeth my works unto the end, to him will I give power over the nations: And he shall rule them with a rod of iron; as the vessels of a potter shall they be broken to shivers: even as I received of my Father. Revelation 2:26, 27.
Ai thắng và giữ các việc làm của ta cho đến cùng, ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân tộc; người ấy sẽ cai trị họ bằng cây gậy sắt; họ sẽ bị đập vỡ vụn như những bình của thợ gốm; cũng như ta đã nhận từ Cha ta. Khải Huyền 2:26, 27.
God’s people who are in the final manifestation of the church of Thyatira, are the one hundred and forty-four thousand. The woman in the beginning gave birth to Christ and in the end, she gives birth to the one hundred and forty-four thousand, who follow the Lamb.
Dân của Đức Chúa Trời ở trong sự bày tỏ cuối cùng của Hội thánh Thyatira chính là một trăm bốn mươi bốn ngàn. Người nữ lúc ban đầu đã sinh Đấng Christ, và về sau cùng, bà sinh ra một trăm bốn mươi bốn ngàn, là những người theo Chiên Con.
And they sung as it were a new song before the throne, and before the four beasts, and the elders: and no man could learn that song but the hundred and forty and four thousand, which were redeemed from the earth. These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. Revelation 14:3, 4.
Và họ hát như thể một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con thú và các trưởng lão; và không ai có thể học bài ca ấy, ngoại trừ một trăm bốn mươi bốn nghìn, là những người đã được chuộc ra khỏi đất. Ấy là những người không làm ô uế mình với đàn bà; vì họ là đồng trinh. Ấy là những người theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi. Họ đã được chuộc từ giữa loài người, làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Khải Huyền 14:3, 4.
Christ was born “first”, and the one hundred and forty-four thousand follow the Lamb, so they are born “last”. Christ was “caught up to God”, just as were the two witnesses of Revelation eleven. Both of her children ascend to the Father.
Đấng Christ được sinh ra "trước hết", và một trăm bốn mươi bốn nghìn người theo Chiên Con, nên họ được sinh ra "sau cùng". Đấng Christ đã được "cất lên đến Đức Chúa Trời", cũng như hai nhân chứng trong Khải Huyền mười một. Cả hai con của bà đều lên với Cha.
And she brought forth a man child, who was to rule all nations with a rod of iron: and her child was caught up unto God, and to his throne. Revelation 2:5.
Và bà sinh ra một con trai, người sẽ cai trị mọi dân tộc bằng cây gậy bằng sắt; và đứa con của bà được cất lên đến Đức Chúa Trời và đến ngai của Ngài. Khải Huyền 2:5.
Christ, as the Lord of Hosts, is also the “portion of Jacob,” and Israel is “the rod of his inheritance,” and Israel is also His “battle ax and” His “weapons of war” who He uses to “break in pieces the nations.”
Đấng Christ, với tư cách là Chúa các đạo binh, cũng là “phần của Gia-cốp”, và Israel là “cây gậy cơ nghiệp của Ngài”, và Israel cũng là “rìu chiến” và “vũ khí chiến tranh” của Ngài, mà Ngài dùng để “nghiền nát các dân tộc.”
The portion of Jacob is not like them; for he is the former of all things: and Israel is the rod of his inheritance: the Lord of hosts is his name. Thou art my battle ax and weapons of war: for with thee will I break in pieces the nations, and with thee will I destroy kingdoms. Jeremiah 51:19, 20.
Phần Gia-cốp chẳng giống như chúng; vì Ngài là Đấng dựng nên muôn vật; và Y-sơ-ra-ên là cây gậy cơ nghiệp của Ngài; Đức Giê-hô-va vạn quân là danh Ngài. Ngươi là búa chiến và khí giới chiến tranh của ta; vì bởi ngươi ta sẽ đập tan các nước, và bởi ngươi ta sẽ hủy diệt các vương quốc. Giê-rê-mi 51:19, 20.
Christ and the one hundred and forty-four thousand both rule and break the nations in pieces with a rod of iron. Christ is the “portion of Jacob,” but so too are His people.
Cả Đấng Christ và một trăm bốn mươi bốn ngàn đều cai trị và đập nát các dân tộc bằng cây gậy sắt. Đấng Christ là "phần của Gia-cốp", nhưng dân sự của Ngài cũng vậy.
For the Lord’s portion is his people; Jacob is the lot of his inheritance. Deuteronomy 32:9.
Vì phần của Chúa là dân Ngài; Gia-cốp là phần cơ nghiệp của Ngài. Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:9.
The stone cut out of the mountain, representing God’s church is the final manifestation of His church that fills the earth with His glory, and they are used as God’s battle ax to strike the feet of the image and turn those kingdoms into the “chaff of the summer threshing floors.” Those kingdoms are blown away by the wind.
Hòn đá được đục ra khỏi núi, tượng trưng cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời, là sự bày tỏ sau cùng của Hội Thánh Ngài, làm đầy khắp đất bằng vinh quang của Ngài, và được dùng làm búa chiến của Đức Chúa Trời để đánh vào bàn chân của pho tượng và biến những vương quốc ấy thành "trấu trên sân đập lúa mùa hè." Những vương quốc ấy bị gió thổi bay đi.
Then was the iron, the clay, the brass, the silver, and the gold, broken to pieces together, and became like the chaff of the summer threshingfloors; and the wind carried them away, that no place was found for them: and the stone that smote the image became a great mountain, and filled the whole earth. Daniel 2:35.
Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều cùng bị đập vỡ tan tành, trở nên như trấu trên sân đập lúa mùa hè; gió cuốn chúng đi, đến nỗi không còn chỗ nào cho chúng nữa; còn hòn đá đã đập vào tượng thì trở nên một núi lớn và đầy khắp cả đất. Đa-ni-ên 2:35.
It was needful to place the symbolism of the woman in the context of the ensign that is lifted up to heaven, for Revelation chapter twelve identifies the beginning of a war between Christ and Satan that began in heaven, and in so doing it is identifying a war in heaven that identifies the end of the great controversy between Christ and Satan. Revelation chapters twelve and thirteen illustrate the final war of the great controversy, and they do so by illustrating Satan’s representatives and the one hundred and forty-four thousand battling in the heavens.
Cần phải đặt biểu tượng về người nữ trong bối cảnh của kỳ hiệu được giương lên hướng về trời, vì Khải Huyền chương mười hai xác định sự khởi đầu của một cuộc chiến giữa Đấng Christ và Sa-tan đã bắt đầu trên trời; và qua đó cũng chỉ ra một cuộc chiến trên trời đánh dấu sự kết thúc của cuộc đại tranh chiến giữa Đấng Christ và Sa-tan. Khải Huyền chương mười hai và mười ba minh họa trận chiến cuối cùng của cuộc đại tranh chiến, bằng cách trình bày các đại diện của Sa-tan và một trăm bốn mươi bốn ngàn đang giao chiến trên cõi trời.
In the next article, we will proceed to address the war in heaven in the “last days” that was typified by the war in heaven that began in the beginning.
Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến cuộc chiến trên trời trong “những ngày sau rốt”, vốn được tiêu biểu bởi cuộc chiến trên trời đã khởi từ thuở ban đầu.
And I beheld another beast coming up out of the earth; and he had two horns like a lamb, and he spake as a dragon. And he exerciseth all the power of the first beast before him, and causeth the earth and them which dwell therein to worship the first beast, whose deadly wound was healed. And he doeth great wonders, so that he maketh fire come down from heaven on the earth in the sight of men, And deceiveth them that dwell on the earth by the means of those miracles which he had power to do in the sight of the beast; saying to them that dwell on the earth, that they should make an image to the beast, which had the wound by a sword, and did live. And he had power to give life unto the image of the beast, that the image of the beast should both speak, and cause that as many as would not worship the image of the beast should be killed. And he causeth all, both small and great, rich and poor, free and bond, to receive a mark in their right hand, or in their foreheads: And that no man might buy or sell, save he that had the mark, or the name of the beast, or the number of his name. Here is wisdom. Let him that hath understanding count the number of the beast: for it is the number of a man; and his number is Six hundred threescore and six. Revelation 13:11–18.
Và tôi thấy một con thú khác từ dưới đất lên; nó có hai sừng như chiên con, nhưng nói như rồng. Nó thi hành mọi quyền lực của con thú thứ nhất trước mặt nó, và khiến đất cùng những kẻ ở trên đó thờ lạy con thú thứ nhất, là con thú có vết thương chí tử đã được chữa lành. Nó làm những dấu kỳ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trời giáng xuống đất trước mắt người ta, và dùng những phép lạ mà nó được quyền làm trước mặt con thú để lừa dối những kẻ cư trú trên đất; bảo những kẻ ở trên đất làm một tượng cho con thú đã bị thương bởi gươm mà vẫn sống. Nó cũng được quyền ban sinh khí cho tượng của con thú, để tượng của con thú có thể nói, và khiến tất cả những ai không thờ lạy tượng của con thú đều bị giết. Nó khiến mọi người, cả nhỏ lẫn lớn, giàu hay nghèo, tự do hay nô lệ, phải nhận một dấu nơi tay phải hoặc trên trán; và để không ai có thể mua hay bán, nếu không có dấu ấy, hoặc tên của con thú, hoặc số tên nó. Đây là sự khôn ngoan. Ai có trí hiểu hãy tính số của con thú, vì đó là số của một người; và số ấy là sáu trăm sáu mươi sáu. Khải Huyền 13:11-18.