The prophetic history that has been opened up within the seven thunders identifies the history we are now in. The secret was hidden until the history it represented arrived. It is the time when the Comforter, the Spirit of “truth” reveals the truth that John called the Revelation of Jesus Christ, for Jesus Christ is the Truth. It is not simply that the word “truth” represents the character of God. And it is not simply a revelation of the wonderful linguist, that the Hebrew word “truth” is used in such profound ways throughout the Scriptures. But is also the amazing miracle that when understood becomes the key for opening the prophecies of the book of Revelation, and in so doing it opens the entire Bible. But it is only for those willing to see, hear, and keep those things written therein for the time is at hand.

Lịch sử tiên tri đã được mở ra trong bảy tiếng sấm xác định thời kỳ lịch sử mà chúng ta đang sống. Điều bí mật ấy đã bị che giấu cho đến khi lịch sử mà nó đại diện xuất hiện. Đây là thời điểm Đấng An Ủi, Thánh Linh của “lẽ thật”, bày tỏ lẽ thật mà Giăng gọi là Sự Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, vì Đức Chúa Giê-su Christ chính là Lẽ Thật. Không chỉ đơn thuần là việc từ “lẽ thật” đại diện cho bản tính của Đức Chúa Trời. Và cũng không chỉ là một mặc khải ngôn ngữ tuyệt diệu rằng từ Hê-bơ-rơ “lẽ thật” được dùng theo những cách sâu nhiệm khắp Kinh Thánh. Nhưng đó còn là phép lạ kỳ diệu mà khi được hiểu sẽ trở thành chìa khóa để mở các lời tiên tri trong sách Khải Huyền, và qua đó mở ra toàn bộ Kinh Thánh. Tuy nhiên, điều ấy chỉ dành cho những ai sẵn lòng thấy, nghe và giữ những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần.

In order for men to recognize the “truth” in such a way to be sanctified by it, requires the presence of the Holy Spirit. Men can intellectually understand the word “truth,” and even be amazed at the significance of it, but the “truth” must be eaten. It must be internalized and made a part of a person’s experience, for the word conveys the creative power of God to those who seek to be transformed into the image of Christ. One of the starting places of my personal investigation of the Hebrew word translated as “truth” was the Hebrew scholars, who also address the amazing nature of the word “truth” and its usage in the Bible. But there is no reason to believe that their intellectual understanding of the word “truth” has led them to Christ.

Để con người nhận biết "lẽ thật" theo cách khiến họ được thánh hóa bởi nó, cần có sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Con người có thể hiểu "lẽ thật" một cách trí tuệ, thậm chí kinh ngạc trước ý nghĩa của nó, nhưng "lẽ thật" phải được ăn nuốt. Nó phải được thấm nhuần và trở thành một phần trong kinh nghiệm của mỗi người, vì Lời truyền đạt quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời cho những ai tìm kiếm sự biến đổi để nên giống hình ảnh của Đấng Christ. Một trong những điểm khởi đầu cho việc nghiên cứu cá nhân của tôi về từ Hê-bơ-rơ được dịch là "lẽ thật" là các học giả Do Thái, những người cũng bàn đến bản chất kỳ diệu của từ "lẽ thật" và cách nó được dùng trong Kinh Thánh. Nhưng không có lý do gì để tin rằng sự hiểu biết mang tính trí thức của họ về từ "lẽ thật" đã dẫn họ đến với Đấng Christ.

The prophetic fact that the word needs to be eaten with the presence of the Holy Spirit echoes of Sister White’s definition of the “oil” in the parable of the ten virgins, and also her description of the two classes of virgins that are waiting for the Bridegroom.

Sự thật mang tính tiên tri rằng Lời cần được ăn lấy trong sự hiện diện của Đức Thánh Linh gợi lại định nghĩa của Bà White về “dầu” trong dụ ngôn mười trinh nữ, và cũng gợi lại mô tả của bà về hai hạng trinh nữ đang chờ chàng rể.

A symbol most often has more than one meaning, and the meaning is to be defined by the context where the symbol is located. It is not to be defined by the grammatical expert’s definition of the word or by the historical time frame when the word was written. Those two approaches are what the theologians of Adventism have grasped in order to deny the “truth.” A symbol is defined by the context where it is employed. Within the Spirit of Prophecy, the word “oil” in the parable of the ten virgins represents at least a few different things depending on the context of the passage where the “oil” is found. Why does one class of virgins possess the oil and the other not?

Một biểu tượng thường mang nhiều hơn một ý nghĩa, và ý nghĩa ấy được xác định bởi ngữ cảnh nơi biểu tượng xuất hiện. Không nên xác định theo định nghĩa của chuyên gia ngữ pháp về từ ngữ hay theo khung thời gian lịch sử khi từ ấy được viết ra. Chính hai cách tiếp cận đó đã được các nhà thần học của Cơ Đốc Phục Lâm vin vào để phủ nhận “sự thật.” Một biểu tượng được xác định bởi ngữ cảnh nơi nó được sử dụng. Trong Tinh thần của Lời Tiên tri, từ “dầu” trong dụ ngôn mười trinh nữ tượng trưng cho ít nhất vài điều khác nhau tùy theo ngữ cảnh của đoạn văn nơi “dầu” xuất hiện. Vì sao một nhóm trinh nữ có dầu còn nhóm kia thì không?

“There is a world lying in wickedness, in deception, and delusion, in the very shadow of death,—asleep, asleep. Who are feeling travail of soul to awaken them? What voice can reach them? My mind is carried to the future when the signal will be given, ‘Behold the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him.’ But some will have delayed to obtain the oil for replenishing their lamps, and too late they will find that character, which is represented by the oil, is not transferable. That oil is the righteousness of Christ. It represents character, and character is not transferable. No man can secure it for another. Each must obtain for himself a character purified from every stain of sin.” Bible Echo, May 4, 1896.

“Có một thế giới đang nằm trong sự gian ác, lừa dối và mê lầm, ngay dưới bóng của sự chết—ngủ mê, ngủ mê. Ai đang chịu nỗi thống khổ trong linh hồn để đánh thức họ? Tiếng nói nào có thể chạm đến họ? Tâm trí tôi hướng về tương lai, khi tín hiệu sẽ được phát ra: ‘Kìa Chàng Rể đến; hãy đi ra đón Ngài.’ Nhưng có người sẽ chậm trễ trong việc lấy dầu để châm thêm cho đèn mình, và đến khi quá muộn họ mới thấy rằng tính cách—điều được tượng trưng bởi dầu ấy—không thể truyền cho nhau. Dầu ấy chính là sự công bình của Đấng Christ. Nó tượng trưng cho tính cách, và tính cách thì không thể truyền cho người khác. Không ai có thể đạt được nó thay cho người khác. Mỗi người phải tự mình có được một tính cách được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi.” Bible Echo, ngày 4 tháng 5, 1896.

The foolish virgins do not possess the character necessary to succeed in the soon-coming crisis. They lack Christ’s righteousness. But the oil is also a message, and the oil in the parable of the ten virgins in the “last days” is the final warning message represented by the Revelation of Jesus Christ that is to be heard, read and kept.

Những trinh nữ khờ dại không có phẩm chất cần thiết để đứng vững trong cuộc khủng hoảng sắp xảy ra. Họ thiếu sự công bình của Đấng Christ. Nhưng dầu cũng là một thông điệp, và dầu trong dụ ngôn mười trinh nữ trong “những ngày sau rốt” là thông điệp cảnh báo cuối cùng được thể hiện qua Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, mà phải được nghe, đọc và gìn giữ.

“The anointed ones standing by the Lord of the whole earth, have the position once given to Satan as covering cherub. By the holy beings surrounding his throne, the Lord keeps up a constant communication with the inhabitants of the earth. The golden oil represents the grace with which God keeps the lamps of believers supplied, that they shall not flicker and go out. Were it not that this holy oil is poured from heaven in the messages of God’s Spirit, the agencies of evil would have entire control over men.

Những người được xức dầu đứng bên Chúa của toàn cõi đất có địa vị từng được ban cho Sa-tan như một chê-ru-bim che phủ. Qua các hữu thể thánh vây quanh ngai Ngài, Chúa duy trì sự liên lạc thường xuyên với cư dân trên đất. Dầu vàng tượng trưng cho ân điển, nhờ đó Đức Chúa Trời giữ cho những ngọn đèn của người tin luôn được cung ứng, để chúng không chập chờn rồi tắt. Nếu không vì dầu thánh này được tuôn đổ từ trời trong các sứ điệp của Thánh Linh Đức Chúa Trời, thì các thế lực của sự ác sẽ nắm trọn quyền kiểm soát loài người.

“God is dishonored when we do not receive the communications which he sends us. Thus we refuse the golden oil which he would pour into our souls to be communicated to those in darkness. When the call shall come, ‘Behold, the bridegroom cometh; go ye out to meet him,’ those who have not received the holy oil, who have not cherished the grace of Christ in their hearts, will find, like the foolish virgins, that they are not ready to meet their Lord. They have not, in themselves, the power to obtain the oil, and their lives are wrecked. But if God’s Holy Spirit is asked for, if we plead, as did Moses, ‘Show me thy glory,’ the love of God will be shed abroad in our hearts. Through the golden pipes, the golden oil will be communicated to us. ‘Not by might, nor by power, but by my Spirit, saith the Lord of Hosts.’ By receiving the bright beams of the Sun of Righteousness, God’s children shine as lights in the world.” Review and Herald, July 20, 1897.

Đức Chúa Trời bị xúc phạm khi chúng ta không tiếp nhận những thông điệp mà Ngài gửi cho chúng ta. Như vậy, chúng ta khước từ dầu vàng mà Ngài muốn đổ vào linh hồn chúng ta để truyền đến cho những người ở trong bóng tối. Khi tiếng gọi vang lên: “Kìa, chàng rể đến; hãy ra đón Ngài,” những ai chưa nhận dầu thánh, chưa trân quý ân điển của Đấng Christ trong lòng mình, sẽ thấy, như những trinh nữ dại, rằng họ không sẵn sàng để gặp Chúa mình. Tự họ không có năng lực để có được dầu ấy, và đời sống họ bị hủy hoại. Nhưng nếu chúng ta xin Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta nài xin như Môi-se: “Xin cho con thấy vinh quang của Ngài,” thì tình yêu của Đức Chúa Trời sẽ tuôn tràn trong lòng chúng ta. Qua những ống dẫn bằng vàng, dầu vàng sẽ được chuyển đến cho chúng ta. “Không phải bởi quyền thế, cũng không phải bởi sức mạnh, nhưng bởi Thánh Linh Ta, Đức Giê-hô-va Vạn Quân phán.” Khi tiếp nhận những tia sáng rực rỡ từ Mặt Trời Công Chính, con cái Đức Chúa Trời tỏa sáng như những đèn soi trong thế gian. Review and Herald, ngày 20 tháng 7 năm 1897.

The “oil” is the final message, which once again, is the Revelation of Jesus Christ. In the passage those who wish to have the oil need to plead to God as did Moses in Horeb’s cave. But notice that if we are to “plead, as did Moses” that God would “show” us His “glory,” we must first ask for the Holy Spirit who is the Comforter. If we do, then by angels and the two golden pipes we shall receive of Christ righteousness. We deceive ourselves if we think we can pray and plead for Christ’s character as the traditions and customs of Laodicean Adventism suggests should be done, while at the same time we are refusing the message of the Revelation of Jesus Christ. His righteousness is conveyed to us through the “messages of God’s Spirit,” that are conveyed by the two anointed ones that stand before God’s throne. When we reject his message, we reject His righteousness.

“Dầu” là thông điệp sau rốt, và một lần nữa, chính là sự mạc khải của Chúa Giê-xu Christ. Trong phân đoạn ấy, những ai muốn có dầu cần phải nài xin Đức Chúa Trời như Môi-se đã làm trong hang núi Hô-rếp. Nhưng hãy lưu ý rằng nếu chúng ta phải “nài xin, như Môi-se đã làm” để Đức Chúa Trời “tỏ” cho chúng ta “vinh hiển” của Ngài, thì trước hết chúng ta phải xin Đức Thánh Linh, là Đấng Yên Ủi. Nếu làm như vậy, thì qua các thiên sứ và hai ống vàng, chúng ta sẽ nhận lãnh sự công bình của Đấng Christ. Chúng ta tự lừa dối mình nếu nghĩ rằng có thể cầu nguyện và nài xin tính cách của Đấng Christ như các truyền thống và tập tục của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê gợi ý nên làm, trong khi đồng thời lại khước từ sứ điệp về sự mạc khải của Chúa Giê-xu Christ. Sự công bình của Ngài được chuyển đến chúng ta qua “các sứ điệp của Thánh Linh Đức Chúa Trời,” do hai đấng được xức dầu đứng trước ngai của Đức Chúa Trời truyền đạt. Khi chúng ta khước từ sứ điệp của Ngài, chúng ta khước từ sự công bình của Ngài.

Then answered I, and said unto him, What are these two olive trees upon the right side of the candlestick and upon the left side thereof? And I answered again, and said unto him, What be these two olive branches which through the two golden pipes empty the golden oil out of themselves? And he answered me and said, Knowest thou not what these be? And I said, No, my lord. Then said he, These are the two anointed ones, that stand by the Lord of the whole earth. Zechariah 4:11–14.

Bấy giờ tôi đáp và nói với ngài: Hai cây ô-liu này là gì, một cây ở bên hữu chân đèn và một cây ở bên tả nó? Tôi lại đáp và nói với ngài: Hai nhánh ô-liu này là gì, tức những nhánh qua hai ống vàng mà tuôn đổ dầu vàng ra từ chính mình? Ngài đáp với tôi và nói: Ngươi há chẳng biết những điều ấy là gì sao? Tôi thưa: Thưa ngài, không. Bấy giờ ngài nói: Ấy là hai người được xức dầu, đứng kề bên Chúa của toàn cõi đất. Xa-cha-ri 4:11-14.

The two “anointed ones, that stand by the Lord of the whole earth,” are also represented as the two witnesses of Revelation eleven.

Hai “người được xức dầu, đứng bên Chúa của toàn cõi đất,” cũng được mô tả như hai nhân chứng trong Khải Huyền đoạn mười một.

“Concerning the two witnesses the prophet declares further: ‘These are the two olive trees, and the two candlesticks standing before the God of the earth.’ ‘Thy word,’ said the psalmist, ‘is a lamp unto my feet, and a light unto my path.’ Revelation 11:4; Psalm 119:105. The two witnesses represent the Scriptures of the Old and the New Testament.” The Great Controversy, 267.

Về hai chứng nhân ấy, nhà tiên tri còn nói thêm: “Ấy là hai cây ô-liu, và hai chân đèn đứng trước mặt Đức Chúa Trời của đất.” “Lời Chúa,” thi thiên gia nói, “là ngọn đèn cho chân tôi, là ánh sáng cho đường lối tôi.” Khải Huyền 11:4; Thi Thiên 119:105. Hai chứng nhân ấy tượng trưng cho Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Cuộc Đại Tranh Chiến, 267.

Whether we consider Zechariah’s or John’s testimony of the two witnesses, the context of either testimony is the communication process that is the very first truth mentioned in association with the message of the Revelation of Jesus Christ in Revelation chapter one and verse one. From the Father, to the Son, to the angels, to a prophet to the church. The process in which Christ speaks to mankind is a major understanding that He seeks to reveal within the final warning message. This corresponds with the emphasis in the presentation of both the first and third angel’s messages.

Dù chúng ta xét lời chứng của Xa-cha-ri hay của Giăng về hai nhân chứng, bối cảnh của mỗi lời chứng đều là tiến trình truyền đạt — lẽ thật đầu tiên được nhắc đến liên hệ với sứ điệp Khải Huyền của Đức Chúa Jêsus Christ trong Khải Huyền chương một, câu một. Từ Đức Chúa Cha, đến Đức Chúa Con, đến các thiên sứ, đến một nhà tiên tri, rồi đến hội thánh. Tiến trình qua đó Đấng Christ phán với loài người là một lẽ thật trọng yếu mà Ngài muốn bày tỏ trong sứ điệp cảnh báo sau cùng. Điều này tương hợp với sự nhấn mạnh trong cách trình bày cả sứ điệp của thiên sứ thứ nhất lẫn của thiên sứ thứ ba.

The message of the first angel is represented by William Miller. Miller possesses several prophetic characteristics that must be recognized. He was the “Father” of the movement, which in terms of the Alpha and Omega demands that there would be a son. He represented a movement represented by the name “Millerite,” which is the word for a type of rock. He was used to organize a set of biblical rules of prophetic interpretation. Those rules become a major component of the communication of the messages of God’s Spirit that were either refused or accepted as those of Miller’s generation chose whether to retain their foolish Laodicean condition or to become wise Philadelphians. As the father of the message of the first angel, he typifies a movement that will proclaim the message of the third angel’s message, and that movement’s understanding of the message will be directed by a special set of biblical rules of prophetic interpretation that establish the message of the third angel as soundly as Miller was used to establish the message of the first angel. God never changes, Jesus Christ the same yesterday, today and forever.

Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất được thể hiện qua William Miller. Miller có nhiều đặc điểm mang tính tiên tri cần được nhận biết. Ông là “Cha” của phong trào, điều mà, xét theo Anpha và Ômêga, đòi hỏi rằng phải có một người con. Ông đại diện cho một phong trào mang tên “Millerite”, vốn cũng là tên của một loại đá. Ông được dùng để hệ thống hóa một bộ quy tắc Kinh Thánh về việc giải nghĩa lời tiên tri. Những quy tắc ấy trở thành thành phần chủ yếu trong việc truyền đạt các thông điệp của Đức Thánh Linh, là những thông điệp hoặc bị khước từ hoặc được tiếp nhận, khi thế hệ của Miller lựa chọn hoặc giữ tình trạng La-ô-đi-xê ngu muội hoặc trở nên những người Phi-la-đen-phi khôn ngoan. Với tư cách là cha của sứ điệp thiên sứ thứ nhất, ông là hình bóng cho một phong trào sẽ rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba, và sự hiểu biết của phong trào đó về sứ điệp sẽ được định hướng bởi một bộ quy tắc Kinh Thánh đặc thù về việc giải nghĩa lời tiên tri, bộ quy tắc ấy thiết lập sứ điệp của thiên sứ thứ ba một cách vững vàng như Miller đã được dùng để thiết lập sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi; Đức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời vẫn y nguyên.

Do not err, my beloved brethren. Every good gift and every perfect gift is from above, and cometh down from the Father of lights, with whom is no variableness, neither shadow of turning. Of his own will begat he us with the word of truth, that we should be a kind of firstfruits of his creatures. James 1:16–18.

Hỡi anh em yêu dấu của tôi, đừng lầm lạc. Mọi ân ban tốt lành và mọi tặng phẩm trọn vẹn đều đến từ trên cao, từ Cha của muôn ánh sáng mà xuống; nơi Ngài chẳng có sự thay đổi, cũng không có bóng của sự xoay chuyển. Theo ý muốn của chính Ngài, Ngài đã sinh chúng ta bằng lời của lẽ thật, để chúng ta trở nên một thứ trái đầu mùa trong các tạo vật của Ngài. Gia-cơ 1:16-18.

In the beginning or the end of Adventism, the messages of God’s Spirit which are represented by the oil, are conveyed through the two witnesses. At the beginning with the Millerites the two witnesses were the Old and New Testaments and at the end they are the Bible and the Spirit of Prophecy. This is the reason why John, who most perfectly illustrates the end of God’s people in the last days of the investigative judgment was in the isle of Patmos.

Trong thời kỳ khởi đầu cũng như ở đoạn kết của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, các sứ điệp của Đức Thánh Linh, được tượng trưng bằng dầu, được truyền đạt qua hai chứng nhân. Lúc khởi đầu với những người theo Miller, hai chứng nhân là Cựu Ước và Tân Ước; còn về sau, đó là Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri. Đây là lý do vì sao Giăng, người minh họa cách trọn vẹn nhất giai đoạn kết thúc của dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau cùng của cuộc phán xét điều tra, đã ở trên đảo Patmos.

I John, who also am your brother, and companion in tribulation, and in the kingdom and patience of Jesus Christ, was in the isle that is called Patmos, for the word of God, and for the testimony of Jesus Christ. Revelation 1:9.

Tôi, Giăng, là anh em và bạn đồng chịu hoạn nạn với anh em, cùng dự phần trong vương quốc và sự nhẫn nại của Đức Chúa Giê-xu Christ, đã ở trên đảo gọi là Pat-mô, vì lời của Đức Chúa Trời và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ. Khải Huyền 1:9.

The prophetic setting of Patmos represents that John is being persecuted. He was being persecuted for receiving the messages of God’s spirit that identify the Revelation of Jesus Christ through the Bible and Spirit of Prophecy.

Bối cảnh tiên tri tại Patmos cho thấy rằng Giăng đang bị bách hại. Ông bị bách hại vì đã nhận các sứ điệp của Đức Thánh Linh, những sứ điệp chỉ ra Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ qua Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri.

The persecution of God’s “last day” people is also represented in Revelation eleven when the two witnesses are slain in the streets, and everyone celebrates their death. In chapter eleven those two witnesses are Elijah and Moses. They have given their testimony for three and a half years and then they are slain, but they were thereafter resurrected.

Sự bách hại dân “những ngày cuối cùng” của Đức Chúa Trời cũng được mô tả trong Khải Huyền đoạn 11, khi hai nhân chứng bị giết trên các đường phố và mọi người ăn mừng cái chết của họ. Trong đoạn 11, hai nhân chứng ấy là Ê-li và Môi-se. Họ đã làm chứng trong ba năm rưỡi rồi bị giết, nhưng sau đó họ được sống lại.

All the prophets speak more of the last days than they do their own history, so if there is ever a book that is speaking of the last days it is the book of Revelation where all the books of the Bible meet and end. There must therefore be a “message” in the last days that is slain, and thereafter resurrected. Revelation eleven illustrated the history of the French Revolution, but it more directly illustrates an attack against the message of the third angel in the last days. The message and the movement that was typified by Miller’s message and movement suffered that attack and died on July 18, 2020. According to Revelation eleven that attack would be carried out by the beast that ascended up out of the bottomless pit.

Tất cả các nhà tiên tri nói nhiều về những ngày sau rốt hơn là về lịch sử của chính họ; vì vậy, nếu có một cuốn sách nói về những ngày sau rốt thì đó chính là sách Khải Huyền, nơi mọi sách trong Kinh Thánh hội tụ và kết thúc. Vì thế, hẳn phải có một "sứ điệp" trong những ngày sau rốt bị giết và sau đó được sống lại. Khải Huyền đoạn 11 đã minh họa lịch sử Cách mạng Pháp, nhưng trực tiếp hơn, nó minh họa một cuộc tấn công nhằm vào sứ điệp của thiên sứ thứ ba trong những ngày sau rốt. Sứ điệp và phong trào, mà sứ điệp và phong trào của Miller là kiểu mẫu, đã chịu cuộc tấn công đó và chết vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Theo Khải Huyền đoạn 11, cuộc tấn công ấy sẽ do con thú từ vực sâu không đáy đi lên thực hiện.

And when they shall have finished their testimony, the beast that ascendeth out of the bottomless pit shall make war against them, and shall overcome them, and kill them. And their dead bodies shall lie in the street of the great city, which spiritually is called Sodom and Egypt, where also our Lord was crucified. Revelation 11:8, 9.

Và khi họ đã hoàn tất lời chứng của mình, con thú từ vực sâu không đáy đi lên sẽ giao chiến với họ, đánh bại họ và giết họ. Thi thể họ sẽ nằm trên đường phố của đại thành, thành mà về phương diện thuộc linh được gọi là Sô-đôm và Ai Cập, cũng là nơi Chúa chúng ta đã bị đóng đinh. Khải Huyền 11:8, 9.

Sister White informs us that the “bottomless pit” represents a new manifestation of satanic power.

Bà White cho chúng ta biết rằng "hố không đáy" tượng trưng cho một sự biểu hiện mới của quyền lực Sa-tan.

“‘When they shall have finished [are finishing] their testimony.’ The period when the two witnesses were to prophesy clothed in sackcloth ended in 1798. As they were approaching the termination of their work in obscurity, war was to be made upon them by the power represented as ‘the beast that ascendeth out of the bottomless pit.’ In many of the nations of Europe the powers that ruled in Church and State had for centuries been controlled by Satan, through the medium of the papacy. But here is brought to view a new manifestation of Satanic power.” The Great Controversy, 268.

"‘Khi họ đã hoàn tất [đang hoàn tất] lời chứng của họ.’ Thời kỳ mà hai nhân chứng phải nói tiên tri, mặc bao gai, đã kết thúc vào năm 1798. Khi họ sắp kết thúc công việc âm thầm của mình, một thế lực được mô tả là ‘con thú đi lên từ vực không đáy’ sẽ phát động chiến tranh chống lại họ. Ở nhiều quốc gia châu Âu, các quyền lực cai trị trong Giáo hội và Nhà nước suốt nhiều thế kỷ đã bị Sa-tan khống chế, thông qua chế độ giáo hoàng. Nhưng ở đây xuất hiện một biểu hiện mới của quyền lực Sa-tan." Đại Tranh Chiến, 268.

There are three powers identified in the book of Revelation that come from the bottomless pit, the first mentioned is Islam in Revelation chapter nine verse two, the second is atheism of the French Revolution in chapter eleven verse eight and the third is modern Rome in chapter seventeen verse eight. The “new manifestation” in the last days that will not only attack the movement typified by the Millerite movement, but also attack the world is the counterfeit awakening of the counterfeit Midnight Cry known as “Woke-ism.” Woke-ism represents a “new manifestation of satanic power” which is upheld by the current Jesuit antichrist and is promoted through the merchants, the political leaders of the United Nations, the liberal representatives in the fallen churches of Protestantism in the United States, and the Democratic party in conjunction with the RINO-Republicans who either promote or permit the promotion of all the variations of the deviant lifestyles of the homosexual community as represented in chapter eleven as “Sodom.” These three powers are what lead the world to Armageddon, and they are also represented by “Egypt,” the symbol of atheism and worldliness. Set within the anarchy of the French Revolution, which is another element of these three powers that make up what Sister White calls the “evil confederacy,” either directly promote or allow Woke-ism. Woke-ism is the satanic counterfeit of the awakening of the ten virgins. We have more to discuss on these lines, but we need first to address the aftermath of the murder in the street that was accomplished on July 18, 2020.

Trong sách Khải Huyền có ba quyền lực được xác định là đến từ vực sâu không đáy; quyền lực đầu tiên được nhắc đến là Hồi giáo ở Khải Huyền chương chín câu hai, quyền lực thứ hai là chủ nghĩa vô thần của Cách mạng Pháp ở chương mười một câu tám, và quyền lực thứ ba là Rô-ma hiện đại ở chương mười bảy câu tám. “Biểu hiện mới” trong những ngày cuối cùng, không chỉ tấn công phong trào được tiêu biểu bởi phong trào Millerite mà còn tấn công thế giới, là cuộc thức tỉnh giả mạo của tiếng Kêu Nửa Đêm giả mạo, được gọi là “Woke-ism.” Woke-ism đại diện cho một “biểu hiện mới của quyền lực Sa-tan”, được hậu thuẫn bởi Phản Kitô Dòng Tên đương thời và được quảng bá thông qua giới thương nhân, các lãnh đạo chính trị của Liên Hợp Quốc, các đại diện cấp tiến trong những hội thánh Tin Lành đã sa ngã ở Hoa Kỳ, và Đảng Dân chủ phối hợp với những RINO-Republicans, những người hoặc cổ xúy hoặc cho phép cổ xúy mọi biến thể của các lối sống lệch lạc của cộng đồng đồng tính luyến ái như được mô tả ở chương mười một là “Sô-đôm.” Chính ba quyền lực này dẫn dắt thế giới đến Armageddon, và chúng cũng được biểu trưng bởi “Ai Cập”, biểu tượng của chủ nghĩa vô thần và tính thế gian. Được đặt trong bối cảnh vô chính phủ của Cách mạng Pháp — vốn là một yếu tố khác của ba quyền lực này, hợp thành điều mà Bà White gọi là “liên minh tà ác” — các quyền lực ấy hoặc trực tiếp cổ xúy, hoặc dung túng cho Woke-ism. Woke-ism là sự giả mạo mang tính Sa-tan của cuộc thức tỉnh của mười trinh nữ. Chúng ta còn nhiều điều để bàn theo hướng này, nhưng trước hết cần đề cập đến hậu quả của vụ giết người trên đường phố đã xảy ra vào ngày 18 tháng 7 năm 2020.

And also, dear Reader, please understand I have no support to offer to the Republican party. There is no political persuasion that I have any confidence in. It is simply the prophetic dynamics that exist in the United States, the United Nations and the Papacy that I am pointing out. Those dynamics will be more specifically addressed when we begin to directly address the two horns that parallel each other from 1798 until the Sunday law.

Và nữa, bạn đọc thân mến, xin hãy hiểu rằng tôi không có sự ủng hộ nào dành cho Đảng Cộng hòa. Tôi không đặt niềm tin vào bất kỳ khuynh hướng chính trị nào. Tôi chỉ đang chỉ ra những động lực mang tính tiên tri đang tồn tại trong Hoa Kỳ, Liên Hợp Quốc và chế độ Giáo hoàng. Những động lực đó sẽ được trình bày cụ thể hơn khi chúng ta bắt đầu trực tiếp bàn về hai sừng song hành với nhau từ năm 1798 cho đến luật ngày Chủ nhật.

The satanic Woke-ism that represents a counterfeit Midnight Cry precedes the actual Midnight Cry and before the time of the genuine Midnight Cry, those that have been slain in the streets will ultimately evolve into either a foolish or wise virgin. The period of time when the binding off of our characters into either the bundle destined for the fire of destruction or as the bundle for the heavenly garner is now here.

Chủ nghĩa Woke mang tính Sa-tan, đại diện cho một Tiếng Kêu Nửa Đêm giả mạo, đi trước Tiếng Kêu Nửa Đêm thực sự; và trước thời điểm của Tiếng Kêu Nửa Đêm chân chính, những người đã bị giết trên đường phố cuối cùng sẽ trở thành hoặc là trinh nữ dại dột hoặc là trinh nữ khôn ngoan. Khoảng thời gian khi tính cách của chúng ta được buộc chặt lại thành hoặc là bó dành cho lửa hủy diệt, hoặc là bó dành cho kho lẫm thiên thượng, nay đã đến.

Sister White identifies that in the tarrying time the foolish virgins of the Millerite history reacted to the testing disappointment differently than the wise virgins, thus suggesting that by the tarrying time their characters were already settled. But Jeremiah’s testimony informs us that we can choose to return to God and He will not only return to us, but He will make us a fenced brazen wall against the wicked and the terrible as we are used as his mouth piece in the ensuing crisis. It is at that prophetic point that Jesus promises to comfort us. This is the significance of John’s four chapters that are set within our current history.

Bà White nhận định rằng trong thời kỳ trì hoãn, các trinh nữ dại trong lịch sử phong trào Miller đã phản ứng trước sự thất vọng mang tính thử thách khác với các trinh nữ khôn ngoan, qua đó cho thấy rằng đến thời kỳ trì hoãn thì tính cách của họ đã được định hình rồi. Nhưng lời chứng của Giê-rê-mi cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể chọn trở về với Đức Chúa Trời, và Ngài không những sẽ trở về với chúng ta mà còn làm cho chúng ta trở nên một bức tường đồng kiên cố chống lại những kẻ hung ác và đáng sợ, khi chúng ta được dùng làm miệng lưỡi của Ngài trong cuộc khủng hoảng sắp tới. Chính tại thời điểm tiên tri ấy, Chúa Giê-su hứa sẽ an ủi chúng ta. Đó là ý nghĩa của bốn chương của Giăng được đặt trong bối cảnh lịch sử hiện nay của chúng ta.

The oil is the Holy Spirit, it is character and it is the messages of God’s Spirit. God’s Spirit is the “Comforter.” As God so loved the world that He gave His only-begotten Son, and as Jesus sacrificed His godly being to willingly accept the humanity he had created as part of Himself for eternity, so too the Holy Spirit that is given in this period of time will abide with us forever.

Dầu ấy là Đức Thánh Linh, là phẩm chất, và là những sứ điệp của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Thánh Linh của Đức Chúa Trời là "Đấng An Ủi." Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, và như Chúa Giê-xu đã hy sinh thần tính của Ngài để sẵn lòng chấp nhận nhân tính mà chính Ngài đã tạo dựng như một phần của chính Ngài đời đời, thì cũng vậy, Đức Thánh Linh được ban trong thời kỳ này sẽ ở với chúng ta đời đời.

If ye love me, keep my commandments. And I will pray the Father, and he shall give you another Comforter, that he may abide with you forever; Even the Spirit of truth; whom the world cannot receive, because it seeth him not, neither knoweth him: but ye know him; for he dwelleth with you, and shall be in you. I will not leave you comfortless: I will come to you. John 14:15–18.

Nếu các con yêu mến Ta, hãy giữ các điều răn của Ta. Ta sẽ cầu xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác, để Ngài ở với các con đời đời; tức là Thần Lẽ thật, mà thế gian không thể nhận, vì chẳng thấy cũng chẳng biết Ngài; nhưng các con biết Ngài, vì Ngài đang ở với các con và sẽ ở trong các con. Ta sẽ không để các con mồ côi; Ta sẽ đến cùng các con. Giăng 14:15-18.

This sacrifice of the Spirit in choosing to abide with human beings forever, parallels the sacrifice of the other two persons of the heavenly trio. Perhaps as significant as the sacrifice of the Spirit in His willingness to live within each of the redeemed for eternity is that the arrival of the “Comforter” in this particular history identifies when God’s people are sealed for eternity.

Sự hy sinh của Thánh Linh khi chọn ở cùng con người đời đời tương tự với sự hy sinh của hai ngôi vị còn lại trong bộ ba thiên thượng. Có lẽ điều quan trọng không kém sự hy sinh của Thánh Linh, khi Ngài sẵn lòng ngự trong mỗi người được cứu chuộc đến đời đời, là việc sự xuất hiện của “Đấng An Ủi” trong giai đoạn lịch sử cụ thể này xác định thời điểm dân của Đức Chúa Trời được đóng ấn cho cõi đời đời.

And grieve not the holy Spirit of God, whereby ye are sealed unto the day of redemption. Ephesians 4:30.

Đừng làm buồn Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nhờ đó anh em được đóng ấn cho đến ngày cứu chuộc. Ê-phê-sô 4:30.

In the history where the promise of the Comforter is perfectly fulfilled, which is the history of the one hundred and forty-four thousand the Spirit will “abide” in us “forever.” Every Christian that met the requirements of the gospel received the Holy Spirit and was therefore “sealed unto the day of redemption,” but that sealing simply points forward to the time when the one hundred and forty-four thousand are to be sealed during this current history. In Ephesians those that are sealed unto the day of redemption are contrasted with those who “grieve” the “Holy Spirit.” They grieve the Holy Spirit by refusing to accept the communications of God’s Spirit, and thus refuse the golden oil. When Christ promises to send us the “Comforter” “the Spirit of truth” in this period of disappointment, He is promising to place His seal upon us, and His seal represents the keeping of His commandments, particularly the Sabbath commandment, which is the day that John received the revelation and which is the issue that is about to confront the world.

Trong lịch sử mà lời hứa về Đấng An Ủi được ứng nghiệm cách trọn vẹn, tức là lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn, thì Đức Thánh Linh sẽ "ở trong" chúng ta "đời đời." Mọi Cơ Đốc nhân đáp ứng các điều kiện của Tin Lành đều đã nhận lãnh Đức Thánh Linh và vì thế được "ấn chứng cho đến ngày cứu chuộc", nhưng sự ấn chứng ấy chỉ hướng về thời điểm khi một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ được đóng ấn trong lịch sử hiện tại này. Trong thư Ê-phê-sô, những người được ấn chứng cho đến ngày cứu chuộc được đặt đối nghịch với những người "làm buồn" "Đức Thánh Linh." Họ làm buồn Đức Thánh Linh bằng cách từ chối tiếp nhận những sự cảm thúc của Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và như vậy từ chối dầu vàng. Khi Đấng Christ hứa sẽ sai đến cho chúng ta "Đấng An Ủi", "Thần lẽ thật" trong thời kỳ thất vọng này, Ngài đang hứa đặt dấu ấn của Ngài trên chúng ta; và dấu ấn ấy biểu thị việc giữ các điều răn của Ngài, đặc biệt là điều răn về ngày Sa-bát, là ngày mà Giăng đã nhận được sự khải thị và là vấn đề sắp đối diện với thế giới.

The sealing of the wise virgins is accomplished before the test of the Sunday law, for it is there that the characters of both the wise and foolish will be manifested, and character is never developed in a crisis, it is simply manifested. The sealing represents, among other things a transformation from the mind of a Laodicean into the mind of a Philadelphian. The problem is that for that transformation to be accomplished, the first test for each of us is to genuinely understand that heretofore we have been Laodiceans, for as Laodiceans our primary spiritual attitude is that everything is alright, when everything is actually all wrong. That attitude must be set aside, it is one of the vile things that must be separated from the precious.

Sự đóng ấn cho các trinh nữ khôn ngoan được hoàn tất trước thử thách của luật ngày Chủ nhật, vì chính tại đó phẩm cách của cả người khôn lẫn kẻ dại sẽ được bày tỏ, và phẩm cách không bao giờ được hình thành trong cơn khủng hoảng; nó chỉ được bày tỏ mà thôi. Sự đóng ấn, ngoài những điều khác, còn tượng trưng cho một sự biến đổi từ tâm trí của người La-ô-đi-xê sang tâm trí của người Phi-la-đen-phi. Vấn đề là, để sự biến đổi ấy được thực hiện, bài thử thách đầu tiên cho mỗi người chúng ta là thật sự nhận ra rằng bấy lâu nay chúng ta đã là người La-ô-đi-xê; vì là người La-ô-đi-xê, thái độ thuộc linh chủ đạo của chúng ta là cho rằng mọi sự đều ổn, trong khi thực tế mọi sự lại hoàn toàn sai trật. Thái độ đó phải được gạt bỏ; đó là một trong những điều hèn cần phải được tách khỏi điều quý báu.

“Just as soon as the people of God are sealed in their foreheads—it is not any seal or mark that can be seen, but a settling into the truth, both intellectually and spiritually, so they cannot be moved—just as soon as God’s people are sealed and prepared for the shaking, it will come. Indeed, it has begun already; the judgments of God are now upon the land, to give us warning, that we may know what is coming.” Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 4, 1161.

"Ngay khi dân sự của Đức Chúa Trời được đóng ấn trên trán họ—đó không phải là một ấn tín hay dấu hiệu có thể nhìn thấy, mà là sự vững định trong lẽ thật, cả về trí tuệ lẫn thuộc linh, đến nỗi họ không thể bị lung lay—ngay khi dân Đức Chúa Trời được đóng ấn và được chuẩn bị cho cuộc sàng sảy, thì nó sẽ đến. Quả thật, nó đã bắt đầu rồi; các sự phán xét của Đức Chúa Trời hiện đang giáng trên đất, để cảnh báo chúng ta, hầu chúng ta biết điều gì sắp đến." Chú Giải Kinh Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 4, 1161.

The “Comforter” that Jesus promises to His disciples who comforts them in the time of disappointment guides His people into all truth, and it is through a “settling into the truth” that we are sealed. The “truth” which God’s people are to settle into at this point is the “truth” that is unsealed just before probation closes, for the “time is at hand.” That truth is the structure of the hidden history of the seven thunders, and that hidden history identifies the history where the Revelation of Jesus Christ is opened up. The hidden history of the seven thunders will be fulfilled at the very time that “truth” represented as the hidden history is unsealed. The unsealing of the “truth” is what seals those who receives the message that has been previously sealed.

“Đấng An Ủi” mà Đức Chúa Giê-su hứa với các môn đồ Ngài, Đấng an ủi họ trong lúc thất vọng, dẫn dắt dân Ngài vào mọi lẽ thật; và chính qua việc “vững vàng trong lẽ thật” mà chúng ta được đóng ấn. “Lẽ thật” mà dân Đức Chúa Trời cần phải vững vàng trong thời điểm này là “lẽ thật” được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, vì “thì giờ đã gần.” Lẽ thật ấy là cấu trúc của lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm, và lịch sử ẩn giấu ấy xác định giai đoạn lịch sử trong đó Sự mạc khải về Đức Chúa Giê-su Christ được mở ra. Lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm sẽ được ứng nghiệm đúng vào lúc “lẽ thật”—được biểu trưng như lịch sử ẩn giấu—được mở ấn. Việc mở ấn “lẽ thật” chính là điều đóng ấn cho những ai tiếp nhận sứ điệp đã từng được niêm ấn trước đó.

God’s people are sealed in their foreheads in advance of the shaking of the angry nations that occurs at the Sunday law, thus initiating national ruin. The Revelation of Jesus Christ is the “sayings of the prophecy of” the book of Revelation that are no longer to be sealed, for the time is at hand. It is the truth that now is to be read, heard and most importantly to be kept, if we are to be blessed.

Dân sự của Đức Chúa Trời được đóng ấn nơi trán họ trước cuộc rúng động của các dân tộc nổi giận xảy ra khi luật ngày Chủ nhật được ban hành, qua đó khởi đầu sự bại vong của quốc gia. Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ là "những lời của lời tiên tri" trong sách Khải Huyền, những điều không còn phải bị niêm phong nữa, vì thì giờ đã gần. Đó là lẽ thật mà giờ đây phải được đọc, được nghe, và quan trọng nhất là phải vâng giữ, nếu chúng ta muốn được phước.

Judas saith unto him, not Iscariot, Lord, how is it that thou wilt manifest thyself unto us, and not unto the world? Jesus answered and said unto him, If a man love me, he will keep my words: and my Father will love him, and we will come unto him, and make our abode with him. He that loveth me not keepeth not my sayings: and the word which ye hear is not mine, but the Father’s which sent me. These things have I spoken unto you, being yet present with you. But the Comforter, which is the Holy Ghost, whom the Father will send in my name, he shall teach you all things, and bring all things to your remembrance, whatsoever I have said unto you. John 14:22–26.

Giu-đa (không phải Ích-ca-ri-ốt) thưa với Ngài: “Lạy Chúa, vì sao Chúa sẽ tỏ mình cho chúng con mà không tỏ cho thế gian?” Đức Chúa Giê-xu đáp: “Nếu ai yêu mến ta, người ấy sẽ giữ lời ta; Cha ta sẽ yêu thương người ấy, và chúng ta sẽ đến với người ấy và cư ngụ cùng người ấy. Ai không yêu mến ta thì không giữ lời ta; và lời các ngươi nghe không phải là của ta, nhưng là của Cha, Đấng đã sai ta. Ta đã nói với các ngươi những điều này khi còn ở với các ngươi. Nhưng Đấng An Ủi, là Đức Thánh Linh, Đấng mà Cha sẽ sai đến nhân danh ta, Ngài sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự và nhắc các ngươi nhớ lại mọi điều ta đã nói với các ngươi.” Giăng 14:22-26.

For those who keep the message that is being unsealed, the promise is that the Comforter will “teach” us “all things” “whatsoever” Jesus has said “unto you.” This is the promise that was fulfilled to the disciples of Emmaus and thereafter the eleven disciples. When Christ removed his hand from “holden” the Emmaus disciples’ eyes and thereafter “opened” the eleven disciples’ “understanding” so they could fully “understand the scriptures,” He was recording a promise for those living in the “last days” who will return from their disappointment, repent of their Laodicean condition and accept the “truth.” The “Comforter” in the “last days” will “bring all things to” our “remembrance” as he teaches us “all things.” Just as significant as bringing past truths to our remembrance as He teaches us all things, He will also “show us things to come.”

Đối với những ai giữ lấy sứ điệp đang được mở ấn, lời hứa là Đấng An Ủi sẽ "dạy" chúng ta "mọi sự", "mọi điều" Đức Chúa Jêsus đã phán "cùng các ngươi". Đây là lời hứa đã được ứng nghiệm nơi các môn đồ Em-ma-út và sau đó nơi mười một môn đồ. Khi Đấng Christ cất tay Ngài khỏi đôi mắt "bị cầm giữ" của các môn đồ Em-ma-út, và sau đó "mở" "tâm trí" của mười một môn đồ để họ có thể "hiểu Kinh Thánh" cách trọn vẹn, Ngài đang ghi lại một lời hứa cho những người sống trong "những ngày sau rốt" sẽ quay lại từ nỗi thất vọng của mình, ăn năn về tình trạng La-ô-đi-xê và chấp nhận "lẽ thật". "Đấng An Ủi" trong "những ngày sau rốt" sẽ "làm cho" "chúng ta nhớ lại mọi điều" khi Ngài dạy chúng ta "mọi sự". Quan trọng không kém việc khiến chúng ta nhớ lại các lẽ thật trong quá khứ khi Ngài dạy chúng ta mọi sự, Ngài cũng sẽ "cho chúng ta thấy những điều sẽ đến".

Nevertheless I tell you the truth; It is expedient for you that I go away: for if I go not away, the Comforter will not come unto you; but if I depart, I will send him unto you. And when he is come, he will reprove the world of sin, and of righteousness, and of judgment: Of sin, because they believe not on me; Of righteousness, because I go to my Father, and ye see me no more; Of judgment, because the prince of this world is judged. I have yet many things to say unto you, but ye cannot bear them now. Howbeit when he, the Spirit of truth, is come, he will guide you into all truth: for he shall not speak of himself; but whatsoever he shall hear, that shall he speak: and he will show you things to come. He shall glorify me: for he shall receive of mine, and shall show it unto you. John 16:7–14.

Dù vậy, ta nói thật với các con: điều ích lợi cho các con là ta ra đi; vì nếu ta không đi, Đấng An Ủi sẽ không đến với các con; nhưng nếu ta đi, ta sẽ sai Ngài đến với các con. Khi Ngài đến, Ngài sẽ cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình, và về sự xét đoán: Về tội lỗi, vì họ không tin ta; Về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha ta, và các con sẽ chẳng thấy ta nữa; Về sự xét đoán, vì kẻ cai trị thế gian này đã bị xét đoán. Ta còn nhiều điều muốn nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể chịu nổi. Nhưng khi Ngài, tức Thần Lẽ Thật, đến, Ngài sẽ dẫn dắt các con vào mọi lẽ thật; vì Ngài sẽ không tự mình nói, nhưng điều gì Ngài nghe, Ngài sẽ nói; và Ngài sẽ tỏ cho các con những điều sắp đến. Ngài sẽ tôn vinh ta, vì Ngài sẽ nhận từ nơi ta mà tỏ cho các con. Giăng 16:7-14.

At this time the Comforter shall “guide” us into “truth,” “teach us all things,” including “things to come,” for at this time Jesus still has “many things to say unto” us. Those things whether they be things from our “remembrance,” “things to come” or the many “things” he has “yet” to say unto us is what seals us for the coming crisis. It does so, for his truth represents his creative power. He seals us in advance of the coming crisis, for He intends that we should be forewarned of the greatest period of persecution against His people that ever takes place in sacred history. That persecution specifically identifies that the words and actions which we have done in the past will be remembered and used against us as Christ’s words were twisted against him. Never-the-less we are to present the message as a witness against their rebellion as represented by Ezekiel and Christ.

Vào lúc này, Đấng An Ủi sẽ “dẫn dắt” chúng ta vào “lẽ thật”, “dạy chúng ta mọi điều”, kể cả “những điều sẽ đến”, vì lúc này Chúa Giê-xu vẫn còn “nhiều điều muốn phán với” chúng ta. Những điều ấy, dù là từ “sự ghi nhớ” của chúng ta, “những điều sẽ đến” hay nhiều “điều” Ngài “vẫn còn” muốn phán với chúng ta, chính là điều đóng ấn chúng ta cho cơn khủng hoảng sắp tới. Điều đó như vậy, vì lẽ thật của Ngài bày tỏ quyền năng sáng tạo của Ngài. Ngài đóng ấn chúng ta trước cơn khủng hoảng sắp đến, vì Ngài muốn chúng ta được cảnh báo trước về giai đoạn bắt bớ lớn nhất chống lại dân sự của Ngài từng xảy ra trong lịch sử thánh. Sự bắt bớ đó cho thấy rõ rằng những lời nói và hành động mà chúng ta đã làm trong quá khứ sẽ bị ghi nhớ và dùng để chống lại chúng ta, như lời của Đấng Christ đã bị bóp méo chống lại Ngài. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải trình bày sứ điệp như một lời chứng chống lại sự phản nghịch của họ, như được thể hiện bởi Ê-xê-chi-ên và Đấng Christ.

Remember the word that I said unto you, The servant is not greater than his lord. If they have persecuted me, they will also persecute you; if they have kept my saying, they will keep yours also. But all these things will they do unto you for my name’s sake, because they know not him that sent me. If I had not come and spoken unto them, they had not had sin: but now they have no cloak for their sin. He that hateth me hateth my Father also. If I had not done among them the works which none other man did, they had not had sin: but now have they both seen and hated both me and my Father. But this cometh to pass, that the word might be fulfilled that is written in their law, They hated me without a cause. But when the Comforter is come, whom I will send unto you from the Father, even the Spirit of truth, which proceedeth from the Father, he shall testify of me. John 15:20–26.

Hãy nhớ lời mà ta đã nói với các ngươi: Đầy tớ không lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, họ cũng sẽ bắt bớ các ngươi; nếu họ đã giữ lời ta, họ cũng sẽ giữ lời các ngươi. Nhưng tất cả những điều ấy họ sẽ làm đối với các ngươi vì danh ta, bởi họ không biết Đấng đã sai ta. Nếu ta đã chẳng đến và phán với họ, thì họ đã không có tội; nhưng bây giờ họ không còn có cớ cho tội lỗi mình. Kẻ ghét ta cũng ghét Cha ta. Nếu ta đã chẳng làm giữa họ những việc không ai khác từng làm, thì họ đã không có tội; nhưng nay họ đã thấy và đã ghét cả ta lẫn Cha ta. Nhưng điều ấy xảy ra để ứng nghiệm lời đã chép trong luật pháp của họ: “Họ ghét ta vô cớ.” Nhưng khi Đấng An Ủi đến, là Đấng ta sẽ sai đến cùng các ngươi từ nơi Cha, tức là Thần lẽ thật, từ Cha mà ra, Ngài sẽ làm chứng về ta. Giăng 15:20-26.

The “Spirit of truth” who is the “Comforter” will “testify of” Christ, who is the “truth.” And the “truth” is the Alpha and Omega, the first and the last, the beginning and the ending. The hidden history of the seven thunders that is now being unsealed is the sealing message of the one hundred and forty-four thousand. In the aftermath of July 18, 2020 Jeremiah provides an example that we may choose to return to Him that first loved us. In accomplishing that work of returning we have the responsibility of separating the precious from the vile. If we work out our salvation, with fear and trembling and accomplish that work we will be sealed and immediately enter into the greatest crisis of earth’s history. We will also have the privilege of experiencing the history that prophets, kings and righteous men have desired to see.

"Thần lẽ thật", là "Đấng An Ủi", sẽ "làm chứng về" Đấng Christ, là "lẽ thật". Và "lẽ thật" là Anpha và Ômêga, đầu tiên và cuối cùng, khởi đầu và kết thúc. Lịch sử ẩn giấu của bảy tiếng sấm hiện đang được mở ấn chính là sứ điệp ấn chứng của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Sau ngày 18 tháng 7 năm 2020, Giê-rê-mi nêu một tấm gương để chúng ta có thể chọn trở về với Đấng đã yêu chúng ta trước. Khi thực hiện công việc trở về ấy, chúng ta có trách nhiệm phân rẽ điều quý báu khỏi điều dơ bẩn. Nếu chúng ta làm nên sự cứu rỗi của mình với lòng kính sợ và run rẩy, và hoàn tất công việc ấy, chúng ta sẽ được ấn chứng và lập tức bước vào cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử trái đất. Chúng ta cũng sẽ có đặc ân được kinh nghiệm lịch sử mà các tiên tri, các vua và những người công chính đã ao ước được thấy.

Those that take up that work and return “will walk in the light proceeding from the throne of God,” and by “means of the angels there will be constant communication between heaven and earth,” which is the communication process identified in the opening verse of the book of Revelation.

Những ai đảm nhận công việc ấy và trở lại "sẽ bước đi trong ánh sáng phát ra từ ngai của Đức Chúa Trời," và "nhờ các thiên sứ sẽ có sự liên lạc liên tục giữa trời và đất," điều này là quá trình liên lạc được nêu trong câu mở đầu của sách Khải Huyền.

“Not all in this world have taken sides with the enemy against God. Not all have become disloyal. There are a faithful few who are true to God; for John writes: ‘Here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus.’ Revelation 14:12. Soon the battle will be waged fiercely between those who serve God and those who serve Him not. Soon everything that can be shaken will be shaken, that those things that cannot be shaken may remain.

Không phải tất cả mọi người trên thế giới này đã đứng về phía kẻ thù chống lại Đức Chúa Trời. Không phải tất cả đều đã trở nên bất trung. Vẫn còn một số ít trung tín với Đức Chúa Trời; vì Giăng viết: “Đây là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ đức tin của Đức Chúa Giê-su.” Khải Huyền 14:12. Chẳng bao lâu nữa, trận chiến sẽ diễn ra dữ dội giữa những người hầu việc Đức Chúa Trời và những kẻ không hầu việc Ngài. Chẳng bao lâu nữa, mọi sự có thể bị rúng động sẽ bị rúng động, để những điều không thể bị rúng động được còn lại.

“Satan is a diligent Bible student. He knows that his time is short, and he seeks at every point to counterwork the work of the Lord upon this earth. It is impossible to give any idea of the experience of the people of God who shall be alive upon the earth when celestial glory and a repetition of the persecutions of the past are blended. They will walk in the light proceeding from the throne of God. By means of the angels there will be constant communication between heaven and earth. And Satan, surrounded by evil angels, and claiming to be God, will work miracles of all kinds, to deceive, if possible, the very elect. God’s people will not find their safety in working miracles, for Satan will counterfeit the miracles that will be wrought. God’s tried and tested people will find their power in the sign spoken of in Exodus 31:12–18. They are to take their stand on the living word: ‘It is written.’ This is the only foundation upon which they can stand securely. Those who have broken their covenant with God will in that day be without God and without hope.

Sa-tan là một người học Kinh Thánh siêng năng. Hắn biết rằng thời gian của mình chẳng còn bao lâu, và hắn tìm mọi cách để chống lại công việc của Chúa trên đất này. Không thể hình dung được kinh nghiệm của dân sự Đức Chúa Trời, những người sẽ còn sống trên đất, khi vinh quang thiên thượng hòa lẫn với sự lặp lại những cuộc bắt bớ trong quá khứ. Họ sẽ bước đi trong ánh sáng phát ra từ ngai của Đức Chúa Trời. Qua các thiên sứ sẽ có sự liên lạc liên tục giữa trời và đất. Còn Sa-tan, vây quanh bởi các thiên sứ ác và tự xưng là Đức Chúa Trời, sẽ làm đủ thứ phép lạ để lừa dối, nếu có thể, ngay cả những người được chọn. Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ không tìm thấy sự an toàn nơi việc làm phép lạ, vì Sa-tan sẽ giả mạo những phép lạ được thực hiện. Những người của Đức Chúa Trời đã trải qua thử thách sẽ tìm thấy quyền năng trong dấu được nói đến trong Xuất Ê-díp-tô Ký 31:12-18. Họ phải đứng vững trên lời sống động: 'Có chép rằng.' Đây là nền tảng duy nhất trên đó họ có thể đứng vững chắc. Trong ngày ấy, những ai đã phá vỡ giao ước với Đức Chúa Trời sẽ không có Đức Chúa Trời và không có hy vọng.

“The worshipers of God will be especially distinguished by their regard for the fourth commandment, since this is the sign of God’s creative power and the witness to His claim upon man’s reverence and homage. The wicked will be distinguished by their efforts to tear down the Creator’s memorial and to exalt the institution of Rome. In the issue of the conflict all Christendom will be divided into two great classes, those who keep the commandments of God and the faith of Jesus, and those who worship the beast and his image, and receive his mark. Although church and state will unite their power to compel all, ‘both small and great, rich and poor, free and bond,’ to receive the mark of the beast, yet the people of God will not receive it. Revelation 13:16. The prophet of Patmos beholds ‘them that had gotten the victory over the beast, and over his image, and over his mark, and over the number of his name, stand on the sea of glass, having the harps of God,’ and singing the song of Moses and the Lamb. Revelation 15:2.

Những người thờ phượng Đức Chúa Trời sẽ được nhận biết cách đặc biệt bởi sự coi trọng điều răn thứ tư, vì đây là dấu hiệu của quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời và là chứng cớ cho quyền đòi hỏi của Ngài đối với sự tôn kính và thờ phượng của con người. Kẻ ác sẽ được nhận biết bởi những nỗ lực nhằm phá bỏ dấu kỷ niệm của Đấng Tạo Hóa và tôn cao thiết chế của Rô-ma. Trong cuộc xung đột này, toàn thể Cơ Đốc giới sẽ bị chia thành hai nhóm lớn: những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Chúa Giê-xu, và những người thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, và nhận dấu của nó. Mặc dù giáo hội và nhà nước sẽ hiệp sức để ép buộc mọi người, “cả nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự do và nô lệ,” nhận dấu của con thú, nhưng dân của Đức Chúa Trời sẽ không nhận nó. Khải Huyền 13:16. Vị tiên tri ở Bát-mô thấy “những kẻ đã đắc thắng con thú, và hình tượng nó, và dấu của nó, và số của tên nó, đứng trên biển bằng thủy tinh, cầm những cây đàn hạc của Đức Chúa Trời,” và hát bài ca của Môi-se và của Chiên Con. Khải Huyền 15:2.

“Fearful tests and trials await the people of God. The spirit of war is stirring the nations from one end of the earth to the other. But in the midst of the time of trouble that is coming,—a time of trouble such as has not been since there was a nation,—God’s chosen people will stand unmoved. Satan and his host cannot destroy them, for angels that excel in strength will protect them.” Testimonies, volume 9, 15–17.

"Những thử thách và gian truân đáng sợ đang chờ đợi dân sự của Đức Chúa Trời. Tinh thần chiến tranh đang khuấy động các dân tộc từ đầu này đến đầu kia của trái đất. Nhưng giữa thời kỳ hoạn nạn đang đến—một thời kỳ hoạn nạn chưa từng có kể từ khi có các dân tộc—dân sự được chọn của Đức Chúa Trời sẽ đứng vững không lay chuyển. Sa-tan và đạo binh của nó không thể tiêu diệt họ, vì các thiên sứ mạnh sức sẽ bảo vệ họ." Chứng Ngôn, tập 9, 15-17.

It is worthwhile to recognize that this passage is the ending of a chapter that begins on page eleven of Testimonies volume nine, which can be recognized as representing nine-eleven. It is worthwhile to take note that the title is about the coming Bridegroom, and also to the charts of Habakkuk which is where Paul derived the verse he wrote in the book of Hebrews. The beginning of the chapter is marking the history that began on September 11, 2001, the two tables of the covenant of prophecy that was entered into at the beginning of Adventism, and that the title is the last crisis, which identifies the last Midnight Cry. The end of the chapter is in complete agreement with the beginning, for both the beginning and end address the final crisis.

Đáng lưu ý rằng đoạn này là phần kết của một chương bắt đầu ở trang mười một của Chứng Ngôn tập chín, điều có thể được hiểu là tượng trưng cho 9/11. Cũng đáng chú ý rằng tựa đề nói về Chàng Rể sắp đến, và cũng nhắc đến các tấm bảng của Ha-ba-cúc, là nơi Phao-lô đã rút ra câu Kinh Thánh ông viết trong sách Hê-bơ-rơ. Phần mở đầu của chương đánh dấu lịch sử bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai tấm bảng của giao ước về lời tiên tri đã được lập vào buổi đầu của phong trào Phục Lâm, và rằng tựa đề là cuộc khủng hoảng cuối cùng, điều này xác định Tiếng Kêu Nửa Đêm cuối cùng. Phần kết của chương hoàn toàn nhất quán với phần mở đầu, vì cả phần đầu lẫn phần cuối đều đề cập đến cuộc khủng hoảng cuối cùng.

“Section 1—For the Coming of the King

Phần 1-Cho sự giá lâm của Đức Vua

“Yet a little while, and He that shall come will come, and will not tarry.’ Hebrews 10:37.

Còn ít lâu nữa, Đấng phải đến sẽ đến, và sẽ không trì hoãn.' Hê-bơ-rơ 10:37.

“The Last Crisis

Cuộc khủng hoảng cuối cùng

“We are living in the time of the end. The fast-fulfilling signs of the times declare that the coming of Christ is near at hand. The days in which we live are solemn and important. The Spirit of God is gradually but surely being withdrawn from the earth. Plagues and judgments are already falling upon the despisers of the grace of God. The calamities by land and sea, the unsettled state of society, the alarms of war, are portentous. They forecast approaching events of the greatest magnitude.” Testimonies, volume 9, 11.

"Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Những dấu hiệu của thời cuộc đang nhanh chóng ứng nghiệm, tuyên bố rằng sự tái lâm của Đấng Christ đã gần kề. Những ngày chúng ta đang sống thật trang nghiêm và hệ trọng. Thần của Đức Chúa Trời đang dần dần nhưng chắc chắn rút khỏi thế gian. Các tai vạ và các sự phán xét đã bắt đầu giáng trên những kẻ khinh thường ân điển của Đức Chúa Trời. Những tai ương trên đất liền và biển cả, tình trạng xã hội bất ổn, những tiếng báo động về chiến tranh, đều là những điềm báo. Chúng báo trước những biến cố trọng đại nhất đang đến gần." Chứng Ngôn, quyển 9, 11.

If we return and accept the high calling of being God’s “mouth” as represented by Jeremiah, we will very soon participate in the greatest ingathering of sacred history.

Nếu chúng ta trở về và chấp nhận sự kêu gọi cao cả trở nên "miệng" của Đức Chúa Trời như được tiêu biểu qua Giê-rê-mi, thì chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ tham gia vào sự quy tụ vĩ đại nhất trong lịch sử thánh.

“He spoke to them also words of hope and courage. ‘Let not your heart be troubled,’ He said; ‘ye believe in God, believe also in Me. In My Father’s house are many mansions: if it were not so, I would have told you. I go to prepare a place for you. And if I go and prepare a place for you, I will come again, and receive you unto Myself; that where I am, there ye may be also. And whither I go ye know, and the way ye know.’ John 14:1–4. For your sake I came into the world; for you I have been working. When I go away I shall still work earnestly for you. I came to the world to reveal Myself to you, that you might believe. I go to My Father and yours to co-operate with Him in your behalf.

Ngài cũng nói với họ những lời hy vọng và khích lệ. ‘Đừng để lòng anh em xao xuyến,’ Ngài nói; ‘anh em tin Đức Chúa Trời thì cũng hãy tin Ta. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; nếu không phải như vậy, Ta đã nói cho anh em rồi. Ta đi để dọn chỗ cho anh em. Và nếu Ta đi và dọn chỗ cho anh em, Ta sẽ trở lại và rước anh em về với Ta, để Ta ở đâu, anh em cũng ở đó. Anh em biết Ta đi đâu, và biết đường đi.’ Giăng 14:1-4. Vì anh em, Ta đã đến thế gian; vì anh em, Ta đã làm việc. Khi Ta đi, Ta vẫn sẽ hết lòng làm việc vì anh em. Ta đến thế gian để tỏ bày chính Mình cho anh em, hầu cho anh em tin. Ta đi đến cùng Cha Ta và Cha của anh em để cùng Ngài hành động vì anh em.

“‘Verily, verily, I say unto you, He that believeth on Me, the works that I do shall he do also; and greater works than these shall he do; because I go unto My Father.’ John 14:12. By this, Christ did not mean that the disciples would make more exalted exertions than He had made, but that their work would have greater magnitude. He did not refer merely to miracle working, but to all that would take place under the agency of the Holy Spirit. ‘When the Comforter is come,’ He said, ‘whom I will send unto you from the Father, even the Spirit of truth, which proceedeth from the Father, He shall testify of Me: and ye also shall bear witness, because ye have been with Me from the beginning.’ John 15:26, 27.

"'Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi: Ai tin Ta, thì những việc Ta làm, người ấy cũng sẽ làm; lại còn làm những việc lớn hơn nữa; vì Ta đi về cùng Cha Ta.' Giăng 14:12. Qua đó, Đấng Christ không có ý nói rằng các môn đồ sẽ thực hiện những việc làm cao trọng hơn Ngài đã làm, nhưng rằng công việc của họ sẽ có quy mô lớn hơn. Ngài không chỉ nói đến việc làm phép lạ, mà đến mọi điều sẽ xảy ra dưới tác động của Đức Thánh Linh. 'Khi Đấng An ủi đến,' Ngài phán, 'là Đấng Ta sẽ sai đến với các ngươi từ nơi Cha, tức là Thần lẽ thật bởi Cha mà ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta; và các ngươi cũng sẽ làm chứng, vì các ngươi đã ở với Ta từ lúc ban đầu.' Giăng 15:26, 27."

“Wonderfully were these words fulfilled. After the descent of the Holy Spirit, the disciples were so filled with love for Him and for those for whom He died, that hearts were melted by the words they spoke and the prayers they offered. They spoke in the power of the Spirit; and under the influence of that power, thousands were converted.” Acts of the Apostles, 21, 22.

"Những lời này đã được ứng nghiệm một cách kỳ diệu. Sau khi Đức Thánh Linh giáng xuống, các môn đồ tràn đầy tình yêu đối với Ngài và đối với những người mà vì họ Ngài đã chết, đến nỗi lòng người mềm lại trước những lời họ nói và những lời cầu nguyện họ dâng lên. Họ nói trong quyền năng của Đức Thánh Linh; và dưới tác động của quyền năng ấy, hàng ngàn người đã được hoán cải." Công vụ các sứ đồ, 21, 22.