William Miller was given great light upon the seven churches, the seven seals and the seven trumpets in the book of Revelation. He placed those prophetic symbols within the framework of the two desolating powers of paganism followed by papalism. He did not see every prophetic characteristic of those symbols, but what he did see established the foundational understanding of the internal history and external history of God’s church from the time of apostles until the end of the world. The internal history was represented by the churches, and the churches’ external history was represented by the seals. He saw that the trumpets were symbols of God’s judgment upon Rome, that typified God’s judgment upon Rome at the end of the world, though he did not see that Rome at the end of the world was made up of a threefold union.
William Miller đã được ban cho ánh sáng lớn lao về bảy hội thánh, bảy ấn và bảy tiếng kèn trong sách Khải Huyền. Ông đặt những biểu tượng tiên tri ấy trong khuôn khổ của hai quyền lực gây hoang tàn: ngoại giáo trước, rồi đến chế độ giáo hoàng. Ông không thấy hết mọi đặc điểm tiên tri của các biểu tượng ấy, nhưng điều ông thấy đã đặt nền tảng cho sự hiểu biết về lịch sử bên trong và lịch sử bên ngoài của Hội Thánh của Đức Chúa Trời từ thời các sứ đồ cho đến tận thế. Lịch sử bên trong được tượng trưng bởi các hội thánh, và lịch sử bên ngoài của các hội thánh được tượng trưng bởi các ấn. Ông thấy rằng các tiếng kèn là biểu tượng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời trên La Mã, điều ấy làm hình bóng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời trên La Mã vào thời kỳ tận thế, mặc dù ông không thấy rằng La Mã vào thời tận thế được cấu thành bởi một liên minh ba phần.
The book written by Uriah Smith titled Daniel and Revelation, contains some erroneous ideas, but it was identified by Sister White as, “God’s helping hand.” She identified that it should be circulated along with The Great Controversy, Patriarchs and Prophets, and The Desire of Ages. Her strong endorsement did not mean that the book was on the same inspired level as her books, but that the book contained “grand instruction,” and had been responsible for “bringing many precious souls to a knowledge of the truth.”
Cuốn sách do Uriah Smith viết, nhan đề Daniel and Revelation, có một số ý tưởng sai lầm, nhưng đã được Bà White xem là “cánh tay trợ giúp của Đức Chúa Trời.” Bà cho rằng nó nên được lưu hành cùng với The Great Controversy, Patriarchs and Prophets, và The Desire of Ages. Sự ủng hộ mạnh mẽ của bà không có nghĩa cuốn sách ở cùng mức độ được linh cảm như các sách của bà, mà là cuốn sách chứa đựng “sự chỉ dạy cao quý” và đã “đưa nhiều linh hồn quý báu đến sự hiểu biết về lẽ thật.”
The book employs Millerite prophetic logic, accompanied with concepts of prophecy that were unseen before October 22, 1844. We will refer to passages in the book as we set forth the triple application of the three Woes.
Cuốn sách vận dụng lập luận tiên tri theo phái Millerite, kèm theo những khái niệm về lời tiên tri vốn chưa từng được thấy trước ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khi trình bày sự áp dụng ba lần của Ba Tai Họa, chúng tôi sẽ trích dẫn các đoạn trong sách.
Miller stated that the “seven trumpets are a history of seven peculiar and heavy judgments sent upon the earth, or Roman kingdom.” The first four trumpets represent the judgments that were brought upon pagan Rome, and the fifth and sixth trumpets were God’s judgments that were brought upon papal Rome, but Miller would not have recognized that the seventh trumpet represented God’s judgment upon Modern Rome. Speaking of the seven seals and seven trumpets of Revelation, Uriah Smith wrote:
Miller tuyên bố rằng “bảy tiếng kèn là một lịch sử về bảy sự phán xét đặc biệt và nặng nề giáng trên trái đất, hay là vương quốc La Mã.” Bốn tiếng kèn đầu tượng trưng cho những sự phán xét đã giáng trên La Mã ngoại giáo, và tiếng kèn thứ năm và thứ sáu là những sự phán xét của Đức Chúa Trời đã giáng trên La Mã giáo hoàng, nhưng Miller đã không nhận ra rằng tiếng kèn thứ bảy tượng trưng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời trên La Mã hiện đại. Khi bàn về bảy ấn và bảy tiếng kèn trong sách Khải Huyền, Uriah Smith đã viết:
“Having taken the book, the Lamb proceeds at once to open the seals; and the attention of the apostle is called to the scenes that transpire under each seal. The number seven has already been noticed as denoting in the Scriptures completeness and perfection. The seven seals therefore embrace the whole of a certain class of events, reaching down perhaps to the time of Constantine, and the seven trumpets another series from that time farther on, cannot be correct. The trumpets denote a series of events which transpire contemporaneously with the events of the seals, but of an entirely different character. A trumpet is a symbol of war; hence the trumpets denote great political commotions to take place among the nations during the gospel age. The seals denote events of a religious character, and contain the history of the church from the opening of the Christian era to the coming of Christ.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 431.
Khi đã cầm lấy quyển sách, Chiên Con liền mở các ấn; và sự chú ý của sứ đồ được hướng đến những cảnh tượng diễn ra dưới mỗi ấn. Con số bảy đã được ghi nhận trong Kinh Thánh là biểu thị sự trọn vẹn và hoàn hảo. Vì vậy, quan niệm cho rằng bảy ấn bao quát toàn bộ một loại biến cố nhất định, có lẽ kéo dài đến thời Constantine, còn bảy kèn là một loạt khác kể từ thời ấy trở về sau, là không thể đúng. Các kèn chỉ một chuỗi biến cố diễn ra đồng thời với các biến cố của các ấn, nhưng có tính chất hoàn toàn khác. Kèn là biểu tượng của chiến tranh; vì thế các kèn chỉ những biến động chính trị lớn sẽ xảy ra giữa các dân tộc trong thời kỳ Phúc Âm. Các ấn chỉ những sự kiện mang tính tôn giáo, và chứa đựng lịch sử của hội thánh từ buổi khai mở thời đại Cơ Đốc cho đến khi Đấng Christ đến. Uriah Smith, Daniel and Revelation, 431.
A trumpet is a symbol of war and political commotion. Speaking of verse two of chapter eight of Revelation Smith states:
Kèn là biểu tượng của chiến tranh và biến động chính trị. Khi bàn về câu hai của chương tám trong sách Khải Huyền, Smith phát biểu:
“‘VERSE 2. And I saw the seven angels which stood before God; and to them were given seven trumpets.’
'Câu 2. Và tôi thấy bảy thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời; và họ được ban cho bảy chiếc kèn.'
“This verse introduces a new and distinct series of events. In the seals we have had the history of the church during what is called the gospel dispensation. In the seven trumpets, now introduced, we have the principal political and warlike events which were to transpire during the same time.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 476.
Câu này mở ra một chuỗi biến cố mới và riêng biệt. Trong các ấn, chúng ta đã có lịch sử của Hội Thánh trong điều được gọi là thời kỳ Phúc Âm. Trong bảy tiếng kèn, nay được giới thiệu, chúng ta có những biến cố chính yếu về chính trị và chiến tranh sẽ diễn ra trong cùng khoảng thời gian đó. Uriah Smith, Đa-ni-ên và Khải Huyền, 476.
The seventh seal is opened in the first six verses of Revelation chapter eight, and in the backdrop of the opening of the seventh seal, seven angels with seven trumpets are prepared to blow.
Ấn thứ bảy được mở ra trong sáu câu đầu của chương tám Sách Khải Huyền, và trong bối cảnh việc mở ra ấn thứ bảy, bảy thiên sứ với bảy chiếc kèn được chuẩn bị để thổi.
And when he had opened the seventh seal, there was silence in heaven about the space of half an hour. And I saw the seven angels which stood before God; and to them were given seven trumpets. And another angel came and stood at the altar, having a golden censer; and there was given unto him much incense, that he should offer it with the prayers of all saints upon the golden altar which was before the throne. And the smoke of the incense, which came with the prayers of the saints, ascended up before God out of the angel’s hand. And the angel took the censer, and filled it with fire of the altar, and cast it into the earth: and there were voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake. And the seven angels which had the seven trumpets prepared themselves to sound. Revelation 8:1–6.
Khi Ngài mở ấn thứ bảy, có sự im lặng trên trời khoảng nửa giờ. Tôi thấy bảy thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời; và người ta ban cho họ bảy chiếc kèn. Một thiên sứ khác đến và đứng bên bàn thờ, tay cầm một lư hương bằng vàng; người ta trao cho thiên sứ ấy nhiều hương, để dâng cùng với những lời cầu nguyện của hết thảy các thánh đồ trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngai. Khói hương, cùng với những lời cầu nguyện của các thánh đồ, bay lên trước mặt Đức Chúa Trời từ tay thiên sứ. Thiên sứ lấy lư hương, đổ đầy lửa từ bàn thờ rồi ném xuống đất; bèn có những tiếng, những tiếng sấm, những tia chớp, và một trận động đất. Bấy giờ bảy thiên sứ có bảy chiếc kèn chuẩn bị để thổi kèn. Khải Huyền 8:1-6.
There is a prophetic anomaly that we have been identifying in previous articles, but which we have not yet specifically addressed its particular prophetic phenomenon. That anomaly is that symbols that represent a sequence of waymarks in prophetic history, are all brought together in the conclusion of the history they represent. We have shown that the four generations of Laodicean Adventism that is represented by the four abominations of Ezekiel chapter eight marked specific waymarks, but that each of them, as a test, repeat in the history of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. This anomaly is also found in the seven trumpets, for though they represent specific judgments upon pagan, papal and modern Rome, they all come together again when the executive judgment upon modern Rome begins at the soon-coming Sunday law.
Có một dị thường tiên tri mà chúng tôi đã nhận diện trong các bài viết trước, nhưng chúng tôi vẫn chưa trực tiếp bàn đến hiện tượng tiên tri đặc thù của nó. Dị thường ấy là: các biểu tượng vốn đại diện cho một chuỗi các mốc trong lịch sử tiên tri lại được tập hợp vào phần kết của chính lịch sử mà chúng đại diện. Chúng tôi đã cho thấy rằng bốn thế hệ của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đixê, được biểu trưng bởi bốn sự gớm ghiếc trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám, đánh dấu những mốc cụ thể; nhưng mỗi điều trong số đó, như một bài thử, lại lặp lại trong lịch sử về việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn. Dị thường này cũng được thấy trong bảy tiếng kèn, vì tuy chúng đại diện cho những sự phán xét cụ thể trên La Mã ngoại giáo, La Mã giáo hoàng và La Mã hiện đại, tất cả lại hội tụ một lần nữa khi cuộc phán xét thi hành trên La Mã hiện đại khởi sự tại đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến.
The seven trumpets have specific dates when they were fulfilled in the past, but Sister White also places the seven angels with seven trumpets in Revelation chapter eight, in the history of the soon coming Sunday law.
Bảy tiếng kèn có những mốc thời gian cụ thể khi chúng đã được ứng nghiệm trong quá khứ, nhưng Bà White cũng đặt bảy thiên sứ với bảy tiếng kèn trong Sách Khải Huyền, chương tám, trong lịch sử của luật Chủ nhật sắp đến.
“‘And when he had opened the fifth seal, I saw under the altar the souls of them that were slain for the word of God, and for the testimony which they held: and they cried with a loud voice, saying, How long, O Lord, Holy and true, doest Thou not judge and avenge our blood on them that dwell on the earth? And white robes were given unto every one of them [They were pronounced pure and holy]; and it was said unto them, that they should rest yet for a little season, until their fellowservants also and their brethren, that should be killed as they were, should be fulfilled’ [Revelation 6:9–11]. Here were scenes presented to John that were not in reality but that which would be in a period of time in the future.
"'Và khi Ngài mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ các linh hồn của những người đã bị giết vì lời Đức Chúa Trời và vì lời chứng mà họ giữ; và họ kêu lớn tiếng mà nói rằng: Lạy Chúa, Đấng Thánh và Chân thật, đến bao giờ Ngài còn chưa xét đoán và báo thù huyết chúng tôi trên những kẻ ở trên đất? Và áo choàng trắng đã được ban cho mỗi người trong họ [Họ được tuyên bố là tinh sạch và thánh khiết]; và người ta nói với họ rằng họ hãy còn nghỉ ngơi ít lâu nữa, cho đến khi số những người đồng tôi tớ của họ và anh em của họ, những người cũng sẽ bị giết như họ, được trọn đủ’ [Khải Huyền 6:9-11]. Ở đây là những cảnh được trình bày cho Giăng, không phải là hiện thực, mà là điều sẽ xảy ra trong một thời kỳ ở tương lai."
“Revelation 8:1–4 quoted.” Manuscript Releases, volume 20, 197.
"Khải Huyền 8:1-4 được trích dẫn." Manuscript Releases, tập 20, trang 197.
In the previous passage Sister White applies the dialogue and fulfillment of the fifth seal to the period when the seven angels are about to sound in chapter eight, but she also places the same representation at the history of the two voices of Revelation chapter eighteen.
Trong đoạn trước, Bà White áp dụng cuộc đối thoại và sự ứng nghiệm của ấn thứ năm cho thời kỳ khi bảy thiên sứ sắp thổi kèn trong chương tám, nhưng bà cũng đặt cùng một sự trình bày ấy vào lịch sử của hai tiếng nói trong Khải Huyền chương mười tám.
“When the fifth seal was opened, John the Revelator in vision saw beneath the altar the company that were slain for the Word of God and the testimony of Jesus Christ. After this came the scenes described in the eighteenth of Revelation, when those who are faithful and true are called out from Babylon. [Revelation 18:1–5, quoted.]” Manuscript Releases, volume 20, 14.
"Khi ấn thứ năm được mở ra, Giăng, người nhận khải thị, trong khải tượng thấy dưới bàn thờ có đoàn người đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ. Sau đó là những cảnh tượng được mô tả trong đoạn mười tám của sách Khải Huyền, khi những người trung tín và chân thật được gọi ra khỏi Babylon. [Khải Huyền 18:1-5, trích dẫn.]" Manuscript Releases, quyển 20, 14.
The seven trumpets represent God’s judgment in the history of pagan, papal and Modern Rome, but they are also represented in the history of September 11, 2001, and the second voice of the soon-coming Sunday law. After addressing the first six verses of Revelation chapter eight, Uriah Smith begins to present the first four trumpets’ historical fulfillments.
Bảy tiếng kèn tượng trưng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời trong lịch sử La Mã ngoại giáo, La Mã giáo hoàng và La Mã hiện đại, nhưng chúng cũng được thể hiện trong lịch sử của ngày 11 tháng 9 năm 2001 và tiếng nói thứ hai của luật ngày Chủ nhật sắp đến. Sau khi bàn về sáu câu đầu của chương tám sách Khải Huyền, Uriah Smith bắt đầu trình bày sự ứng nghiệm lịch sử của bốn tiếng kèn đầu tiên.
“The subject of the seven trumpets is here resumed, and occupies the remainder of this chapter and all of chapter 9. The seven angels prepare themselves to sound. Their sounding comes in as a complement to the prophecy of Daniel 2 and 7, commencing with the breaking up of the old Roman empire into its ten divisions, of which, in the first four trumpets, we have a description.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 477.
"Chủ đề về bảy kèn được nối lại tại đây và bao trùm phần còn lại của chương này cùng toàn bộ chương 9. Bảy thiên sứ chuẩn bị thổi kèn. Việc họ thổi kèn được đưa vào như một sự bổ sung cho lời tiên tri trong Đa-ni-ên 2 và 7, bắt đầu với sự tan rã của cựu đế quốc La Mã thành mười phần, điều này được mô tả trong bốn kèn đầu tiên." Uriah Smith, Đa-ni-ên và Khải Huyền, tr. 477.
Smith identifies that the first four trumpets were God’s judgments upon pagan Rome. He quotes verse seven that identifies the prophetic characteristics of the first trumpet, and then identifies its historical fulfillment.
Smith cho rằng bốn tiếng kèn đầu tiên là những sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên La Mã ngoại giáo. Ông trích câu bảy, câu này xác định những đặc điểm tiên tri của tiếng kèn thứ nhất, và sau đó ông xác định sự ứng nghiệm lịch sử của nó.
“The first sore and heavy judgment which fell on Western Rome in its downward course, was the war with the Goths under Alaric, who opened the way for later inroads. The death of Theodosius, the Roman emperor, occurred in January, 395, and before the end of the winter the Goths under Alaric were in arms against the empire.
Tai họa nặng nề đầu tiên giáng xuống Đế quốc La Mã phương Tây trên đà suy tàn là cuộc chiến với người Goth do Alaric chỉ huy, người đã mở đường cho những cuộc xâm nhập về sau. Cái chết của Theodosius, hoàng đế La Mã, xảy ra vào tháng 1 năm 395, và trước khi mùa đông kết thúc, người Goth dưới quyền Alaric đã cầm vũ khí chống lại đế quốc.
“The first invasion under Alaric ravaged Thrace, Macedonia, Attica, and the Peloponnesus, but did not reach the city of Rome. On his second invasion, however, the Gothic chieftain crossed the Alps and the Apennines and appeared before the walls of the ‘eternal city,’ which soon fell a prey to the fury of the barbarians.
Cuộc xâm lược đầu tiên do Alaric chỉ huy đã tàn phá Thrace, Macedonia, Attica và Peloponnesus, nhưng không tới được thành Roma. Tuy nhiên, trong cuộc xâm lược thứ hai, vị thủ lĩnh người Goth đã vượt qua dãy Alps và dãy Apennines và xuất hiện trước tường thành của 'thành phố vĩnh cửu', nơi chẳng bao lâu sau đã trở thành nạn nhân của cơn cuồng nộ bọn man rợ.
“The blast of the first trumpet has its location about the close of the fourth century and onward, and refers to these desolating invasions of the Roman empire under the Goths.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 478.
"Tiếng kèn thứ nhất được đặt vào thời điểm khoảng cuối thế kỷ thứ tư trở đi, và đề cập đến những cuộc xâm lược tàn phá Đế quốc La Mã do người Goth tiến hành." Uriah Smith, Daniel and Revelation, 478.
Smith identifies Alaric as the symbol of God’s judgment upon pagan Rome represented by the first trumpet. Each of the trumpets have a historical figure that represents the trumpet, Alaric represents the arrival of the first trumpet from the end of the fourth century. Miller could not have seen that this trumpet was brought upon Rome because of Sunday enforcement, for Miller was a Sunday keeper. Smith missed this fact also, but Smith did recognize that the first enforced Sunday law was instituted by Constantine in the year 321. The prophetic rule of thumb associated with Sunday enforcement is always the same, for God never changes, and that rule is that “national apostasy is followed by national ruin”. Alaric represents the beginning of national ruin which began in the very period that Constantine passed the first Sunday law.
Smith xác định Alaric là biểu tượng của sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên La Mã ngoại giáo, được biểu thị qua tiếng kèn thứ nhất. Mỗi tiếng kèn đều có một nhân vật lịch sử đại diện cho nó; Alaric đại diện cho sự xuất hiện của tiếng kèn thứ nhất vào cuối thế kỷ thứ tư. Miller đã không thể nhìn thấy rằng tiếng kèn này giáng trên La Mã là vì sự áp đặt ngày Chủ nhật, bởi Miller là người giữ ngày Chủ nhật. Smith cũng bỏ lỡ thực tế này, nhưng ông có nhận ra rằng luật Chủ nhật cưỡng bách đầu tiên đã được Constantinô ban hành vào năm 321. Nguyên tắc tổng quát trong lời tiên tri liên quan đến việc áp đặt ngày Chủ nhật luôn luôn như nhau, vì Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi, và nguyên tắc ấy là: “bội đạo quốc gia thì sau đó là suy vong quốc gia”. Alaric đại diện cho sự khởi đầu của sự suy vong quốc gia, vốn bắt đầu ngay trong giai đoạn Constantinô ban hành luật Chủ nhật đầu tiên.
Smith continues on by quoting verse eight, which identifies the second trumpet, and then continues his commentary:
Smith tiếp tục bằng cách trích dẫn câu tám, câu này xác định tiếng kèn thứ hai, rồi tiếp tục phần chú giải của ông:
“The Roman empire, after Constantine, was divided into three parts; and hence the frequent remark, ‘a third part of men,’ etc., in allusion to the third part of the empire which was under the scourge. This division of the Roman kingdom was made at the death of Constantine, among his three sons, Constantius, Constantine II, and Constans. Constantius possessed the East, and fixed his residence at Constantinople, the metropolis of the empire. Constantine the Second held Britain, Gaul, and Spain. Constans held Illyricum, Africa, and Italy. (See Sabine’s Ecclesiastical History, p. 155.) Of this well-known historical fact, Elliott, as quoted by Albert Barnes, in his notes on Rev.12:4, says: ‘Twice, at least, before the Roman empire became divided permanently into the two parts, the Eastern and the Western, there was a tripartite division of the empire. The first occurred in A.D. 311, when it was divided between Constantine, Licinius, and Maximin; the other, A.D. 337, on the death of Constantine, Constans and Constantius.’” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 480.
Đế quốc La Mã, sau thời Constantine, bị chia thành ba phần; và vì vậy thường thấy lời nhận xét, 'một phần ba loài người', v.v., ám chỉ đến một phần ba của đế quốc đang chịu sự trừng phạt. Việc phân chia đế quốc La Mã này được thực hiện khi Constantine qua đời, giữa ba con trai ông là Constantius, Constantine II và Constans. Constantius chiếm giữ phương Đông và đặt nơi cư trú tại Constantinople, thủ đô của đế quốc. Constantine Đệ Nhị nắm giữ Britain, Gaul và Spain. Constans nắm giữ Illyricum, Africa và Italy. (Xem Lịch sử Giáo hội của Sabine, tr. 155.) Về sự kiện lịch sử quen thuộc này, Elliott, được Albert Barnes trích dẫn trong các ghi chú của ông về Khải Huyền 12:4, nói: 'Ít nhất là hai lần, trước khi Đế quốc La Mã bị chia vĩnh viễn thành hai phần, Đông và Tây, đã có sự phân chia đế quốc thành ba phần. Lần thứ nhất xảy ra vào năm 311 sau Công nguyên, khi nó được chia giữa Constantine, Licinius và Maximin; lần kia, năm 337 sau Công nguyên, khi Constantine qua đời, nó được chia giữa Constans và Constantius.' Uriah Smith, Daniel và Khải Huyền, 480.
The historical phenomenon of Rome being divided into three parts, and also two parts that is referenced by the historians which Smith cites, are the elements of Rome that identify the threefold union of Modern Rome, that makes up a structure that is divided into two, representing the combination of church and state. When Smith continues he then identifies the historical figure associated with the second trumpet.
Hiện tượng lịch sử Rôma bị chia thành ba phần, cũng như thành hai phần, mà các sử gia được Smith trích dẫn đề cập đến, là những yếu tố của Rôma giúp nhận diện liên minh ba phần của Rôma hiện đại; liên minh này tạo nên một cấu trúc được chia làm hai, đại diện cho sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước. Khi tiếp tục, Smith xác định nhân vật lịch sử gắn với tiếng kèn thứ hai.
“The history illustrative of the sounding of the second trumpet evidently relates to the invasion and conquest of Africa, and afterward of Italy, by the terrible Genseric. His conquests were for the most part NAVAL; and his triumphs were “as it were a great mountain burning with fire, cast into the sea.” What figure would better, or even so well, illustrate the collision of navies, and the general havoc of war on the maritime coasts? In explaining this trumpet, we are to look for some events which will have a particular bearing on the commercial world. The symbol used naturally leads us to look for agitation and commotion. Nothing but a fierce maritime warfare would fulfil the prediction. If the sounding of the first four trumpets relates to four remarkable events which contributed to the downfall of the Roman empire, and the first trumpet refers to the ravages of the Goths under Alaric, in this we naturally look for the next succeeding act of invasion which shook the Roman power and conduced to its fall. The next great invasion was that of “the terrible Genseric,” at the head of the Vandals. His career occurred during the years A.D. 428–468. This great Vandal chief had his headquarters in Africa. . ..
Phần lịch sử minh họa cho tiếng kèn thứ hai rõ ràng liên quan đến cuộc xâm lược và chinh phục châu Phi, và sau đó là Ý, bởi Genseric khủng khiếp. Các cuộc chinh phục của ông phần lớn diễn ra trên biển; và những chiến thắng của ông “như thể một ngọn núi lớn đang bốc lửa bị ném xuống biển.” Hình ảnh nào có thể minh họa tốt hơn, hay thậm chí tương xứng, sự va chạm của các hạm đội hải quân và sự tàn phá chung của chiến tranh trên các vùng duyên hải? Khi giải thích tiếng kèn này, chúng ta phải tìm những biến cố có tác động đặc biệt đến thế giới thương mại. Biểu tượng được dùng tự nhiên dẫn chúng ta đến việc tìm kiếm sự xáo động và náo loạn. Chỉ một cuộc chiến tranh trên biển khốc liệt mới có thể ứng nghiệm lời tiên tri. Nếu tiếng vang của bốn chiếc kèn đầu tiên liên quan đến bốn biến cố đáng chú ý góp phần vào sự sụp đổ của Đế quốc La Mã, và chiếc kèn thứ nhất nói về những tàn phá của người Goth dưới quyền Alaric, thì ở đây chúng ta tự nhiên sẽ tìm kiếm hành động xâm lược kế tiếp đã làm rung chuyển quyền lực La Mã và góp phần vào sự sụp đổ của nó. Cuộc xâm lược lớn tiếp theo là của “Genseric khủng khiếp,” đứng đầu người Vandal. Sự nghiệp của ông diễn ra trong các năm 428–468 sau Công nguyên. Vị thủ lĩnh Vandal vĩ đại này đặt tổng hành dinh ở châu Phi. . ..
“Concerning the important part which this bold corsair acted in the downfall of Rome, Mr. Gibbon uses this significant language: ‘Genseric, a name which, in the destruction of the Roman empire, has deserved an equal rank with the names of Alaric and Attila.’” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 481, 484.
Về vai trò quan trọng của tên hải tặc táo bạo này trong sự sụp đổ của La Mã, ông Gibbon đã dùng những lời lẽ đầy ý nghĩa như sau: "Genseric, một cái tên mà, trong sự hủy diệt Đế quốc La Mã, đã xứng đáng được xếp ngang hàng với các tên tuổi Alaric và Attila." Uriah Smith, Daniel and Revelation, 481, 484.
Smith, while quoting the historian Gibbon, who pointed out the historical symbols of the first three trumpets, identified that Genseric was the second trumpet and then said that Genseric, “deserved equal rank with Alaric and Attila.” Alaric is the first trumpet, Genseric the second and Attila the Hun was the third trumpet, which is addressed in verse ten. Smith pointed out that the second trumpet, represented by Genseric, represented the history of “428-468.” Then Smith quotes verse ten which identifies the third trumpet, and continues his narrative:
Trong khi trích dẫn sử gia Gibbon, người đã chỉ ra các biểu tượng lịch sử của ba tiếng kèn đầu tiên, Smith xác định rằng Genseric là tiếng kèn thứ hai và rồi nói rằng Genseric, "xứng đáng có địa vị ngang hàng với Alaric và Attila." Alaric là tiếng kèn thứ nhất, Genseric là tiếng kèn thứ hai và Attila người Hun là tiếng kèn thứ ba, được nói đến trong câu mười. Smith chỉ ra rằng tiếng kèn thứ hai, do Genseric đại diện, tượng trưng cho giai đoạn lịch sử "428-468." Rồi Smith trích câu mười, câu xác định tiếng kèn thứ ba, và tiếp tục tường thuật của mình:
“In the interpretation and application of this passage, we are brought to the third important event which resulted in the subversion of the Roman empire. And in finding a historical fulfilment of this third trumpet, we shall be indebted to the Notes of Dr. Albert Barnes for a few extracts. In explaining this scripture, it is necessary, as this commentator says, ‘That there should be some chieftain or warrior who might be compared to a blazing meteor; whose course would be singularly brilliant; who would appear suddenly LIKE a blazing star, and then disappear like a star whose light was quenched in the waters.’— Notes on Revelation 8.
Trong việc diễn giải và áp dụng đoạn văn này, chúng ta được đưa đến sự kiện quan trọng thứ ba dẫn đến sự sụp đổ của Đế quốc La Mã. Và để tìm ra sự ứng nghiệm lịch sử của tiếng kèn thứ ba này, chúng ta sẽ trích dẫn một vài đoạn từ bộ Ghi chú của Tiến sĩ Albert Barnes. Khi giải thích phần Kinh Thánh này, điều cần thiết, như nhà chú giải ấy nói, là ‘phải có một thủ lĩnh hoặc chiến binh nào đó có thể được ví như một sao băng rực lửa; đường đi của người ấy sẽ đặc biệt rực rỡ; người ấy sẽ xuất hiện đột ngột như một ngôi sao bừng cháy, rồi biến mất như một ngôi sao có ánh sáng bị dập tắt trong nước.’ - Ghi chú về Khải Huyền 8.
“It is here premised that this trumpet has allusion to the desolating wars and furious invasions of Attila against the Roman power, which he carried on at the head of his hordes of Huns. . ..
Ở đây giả định rằng tiếng kèn này ám chỉ đến những cuộc chiến tranh tàn phá và những cuộc xâm lược dữ dội của Attila chống lại quyền lực La Mã, mà ông ta tiến hành khi đứng đầu các đạo quân Hung Nô của mình. . ..
“‘And the Name of the Star is Called Wormwood [denoting the bitter consequences].’ These words—which are more intimately connected with the preceding verse, as even the punctuation in our version denotes—recall us for a moment to the character of Attila, to the misery of which he was the author or the instrument, and to the terror that was inspired by his name.
'Và tên của ngôi sao được gọi là Ngải đắng [chỉ những hậu quả cay đắng].' Những lời này- vốn liên hệ mật thiết hơn với câu trước, như ngay cả dấu câu trong bản dịch của chúng ta cũng cho thấy- nhắc chúng ta, trong chốc lát, về con người của Attila, về nỗi khốn khổ mà ông là kẻ gây ra hoặc là công cụ gây nên, và về nỗi kinh hoàng mà chính cái tên của ông đã gieo rắc.
“‘Total extirpation and erasure,’ are terms which best denote the calamities he inflicted.’ He styled himself, ‘The Scourge of God.’” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 484, 487.
"'Diệt trừ tận gốc và xóa sạch,' là những thuật ngữ diễn tả tốt nhất những tai họa ông ta đã gây ra.' Ông ta tự xưng là 'Cây roi của Đức Chúa Trời.'" Uriah Smith, Daniel và Khải Huyền, 484, 487.
The history of the third trumpet, represented by Attila the Hun, was the year 441, unto his death in the year 453. Smith then quotes verse twelve, which presents the fourth trumpet and describes the barbarian monarch Odoacer, where the threefold symbolism of Western Rome is represented by the sun, the moon and the stars. He identifies the three symbols as symbols of the “sun, moon, and stars—for they are undoubtedly here used as symbols—evidently denote the great luminaries of the Roman government,—its emperors, senators, and consuls. Bishop Newton remarks that the last emperor of Western Rome was Romulus, who in derision was called Augustulus, or the “diminutive Augustus.” Western Rome fell A.D. 476. Still, however, though the Roman sun was extinguished, its subordinate luminaries shone faintly while the senate and consuls continued. But after many civil reverses and changes of political fortune, at length, A.D. 566, the whole form of the ancient government was subverted, and Rome itself was reduced form being the empress of the world to a poor dukedom tributary to the Exarch of Ravenna.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 487.
Lịch sử của tiếng kèn thứ ba, được tiêu biểu bởi Attila người Hun, bắt đầu vào năm 441, kéo dài cho đến khi ông qua đời vào năm 453. Smith sau đó trích câu mười hai, câu trình bày tiếng kèn thứ tư và mô tả vị quân vương man tộc Odoacer, trong đó bộ ba biểu tượng của Tây La Mã được biểu thị bằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Ông xác định ba biểu tượng ấy là biểu tượng của “mặt trời, mặt trăng và các vì sao—vì không nghi ngờ gì nữa ở đây chúng được dùng như những biểu tượng—rõ ràng là chỉ những thiên thể lớn của chính quyền La Mã—các hoàng đế, các nghị sĩ và các quan chấp chính.” Giám mục Newton nhận xét rằng vị hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã là Romulus, người bị chế giễu gọi là Augustulus, tức “Augustus nhỏ.” Tây La Mã sụp đổ vào năm 476 sau Công nguyên. Tuy vậy, dù mặt trời La Mã đã tắt, các thiên thể phụ thuộc của nó vẫn le lói trong khi viện nguyên lão và các quan chấp chính còn tiếp tục tồn tại. Nhưng sau nhiều biến cố nội bộ và những thay đổi vận mệnh chính trị, rốt cuộc, vào năm 566 sau Công nguyên, toàn bộ hình thái của chính quyền cổ xưa đã bị lật đổ, và bản thân Roma bị hạ từ địa vị nữ hoàng của thế giới xuống thành một công quốc nghèo lệ thuộc Tổng trấn Ravenna.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 487.
Here we find another witness to the threefold division of Rome, that prefigures the threefold union of modern Rome. With eastern Rome and emperor Constantine the threefold division was represented by his three sons, but with western Rome it was their threefold form of government. Smith then identifies that the sun, moon, and stars represent a specific order in which western Rome was brought down. He concludes his narrative with the following introduction of the last three trumpets.
Ở đây chúng ta tìm thấy một bằng chứng khác về sự phân chia ba phần của La Mã, điều báo trước sự liên hiệp ba phần của La Mã hiện đại. Đối với La Mã phương Đông và hoàng đế Constantine, sự phân chia ba phần được biểu trưng bởi ba người con trai của ông; còn đối với La Mã phương Tây, đó là chính thể ba phần của họ. Smith sau đó chỉ ra rằng mặt trời, mặt trăng và các vì sao tượng trưng cho một trật tự cụ thể theo đó La Mã phương Tây bị đánh đổ. Ông kết thúc tường thuật của mình bằng lời dẫn nhập sau đây về ba tiếng kèn cuối cùng.
“Fearful as were the calamities brought upon the empire by the first incursions of these barbarians, they were comparatively light as contrasted with the calamities which were to follow. They were but as the preliminary drops of a shower before the torrent which was soon to fall upon the Roman world. The three remaining trumpets are overshadowed with a cloud of woe, as set forth in the following verses.
Đáng sợ như những tai họa mà các cuộc xâm nhập đầu tiên của những người man rợ đã giáng xuống đế quốc, chúng vẫn tương đối nhẹ nếu so với những tai họa sẽ nối tiếp. Chúng chỉ như những giọt mưa báo trước của một cơn mưa rào, trước dòng thác lũ sẽ sớm đổ ập xuống thế giới La Mã. Ba tiếng kèn còn lại bị phủ bóng bởi một đám mây tai ương, như được trình bày trong những câu sau đây.
“‘VERSE 13. And I beheld, and heard an angel flying through the midst of heaven, saying with a loud voice, Woe, woe, woe, to the inhabiters of the earth by reason of the other voices of the trumpet of the three angels, which are yet to sound.’
'CÂU 13. Tôi nhìn xem, và nghe một thiên sứ bay giữa trời, lớn tiếng kêu rằng: Khốn thay, khốn thay, khốn thay cho những người ở trên đất, bởi cớ các tiếng kèn khác của ba thiên sứ, là những tiếng còn chưa thổi.'
“This angel is not one of the series of the seven trumpet angels, but simply one who announces that the three remaining trumpets are woe trumpets, on account of the more terrible events to transpire under their sounding. Thus the next, or fifth trumpet, is the first woe; the sixth trumpet, the second woe; and the seventh, the last one in this series of seven trumpets, is the third woe.” Uriah Smith, Daniel and Revelation, 493.
"Thiên sứ này không phải là một trong loạt bảy thiên sứ thổi kèn, mà chỉ là một vị loan báo rằng ba tiếng kèn còn lại là những tiếng kèn tai họa, vì những biến cố kinh khiếp hơn sẽ xảy ra khi chúng vang lên. Vì vậy, tiếng kèn kế tiếp, tức tiếng kèn thứ năm, là tai họa thứ nhất; tiếng kèn thứ sáu là tai họa thứ hai; và tiếng kèn thứ bảy, tiếng kèn cuối cùng trong loạt bảy tiếng kèn này, là tai họa thứ ba." Uriah Smith, Đa-ni-ên và Khải Huyền, 493.
We will continue with the three trumpet Woes in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục với ba tai họa của các tiếng kèn trong bài viết tiếp theo.
“The calamities of imperial Rome, in its downfall, were told to the very last of them, till Rome was without an emperor, a consul, or a senate. ‘Under the Exarchs of Ravenna, Rome was degraded to the second rank.’ The third part of the sun was smitten, and the third part of the moon, and the third part of the stars. The race of the Caesars was not extinct with the emperors of the West. Rome, before its fall, possessed but a portion of the imperial power. Constantinople divided with it the empire of the world. And neither Goths nor Vandals lorded over that still imperial city, the emperor of which, after the first transference of the seat of empire by Constantine, often held the emperor of Rome as his nominee and vicegerent. And the fate of Constantinople was reserved till other ages, and was announced by other trumpets. Of the sun, the moon, and the stars, as yet but the third part was smitten.
Những tai ương của La Mã đế quốc, trong cơn suy vong, đã được tường thuật đến tận cùng, cho đến khi La Mã không còn hoàng đế, quan chấp chính hay Viện Nguyên lão. 'Dưới thời các Tổng trấn Ravenna, La Mã bị giáng xuống hàng thứ hai.' Một phần ba mặt trời bị đánh, một phần ba mặt trăng, và một phần ba các vì sao. Dòng dõi các Caesar không chấm dứt cùng với các hoàng đế phương Tây. Trước khi sụp đổ, La Mã chỉ nắm giữ một phần quyền lực đế quốc. Constantinople chia sẻ với La Mã quyền cai trị thế giới. Và cả người Goth lẫn người Vandal đều không làm chủ thành phố vẫn là đế đô ấy, mà hoàng đế của thành đó, sau lần dời đô đầu tiên do Constantine thực hiện, thường coi hoàng đế La Mã như người do mình bổ nhiệm và là đại diện thay quyền. Và số phận của Constantinople được dành cho những thời đại khác, và được loan báo bởi những tiếng kèn khác. Về mặt trời, mặt trăng và các vì sao, cho đến lúc ấy mới chỉ có một phần ba bị đánh.
“The concluding words of the Fourth Trumpet imply the future restoration of the Western Empire: ‘The day shone not for the third part of it, and the night likewise.’ In respect to civil authority, Rome became subject to Ravenna, and Italy was a conquered province of the Eastern Empire. But, as more appropriately pertaining to other prophecies, the defense of the worship of images first brought the spiritual and temporal powers of the pope and of the emperor into violent collision; and, by conferring on the pope all authority over the churches, Justinian laid his helping hand to the promotion of the papal supremacy, which afterward assumed the power of creating monarchs. In the year of our Lord 800, the pope conferred on Charlemagne the title of Emperor of the Romans.’—Keith. That title was again transferred from the king of France to the king of Germany. And by the Emperor Francis the Second even this fiction was finally and forever renounced, Aug. 6, 1806.” A. T. Jones, The Great Nations of Today, 54.
Những lời kết của Kèn Thứ Tư hàm ý về sự phục hồi trong tương lai của Đế quốc Tây phương: 'Ngày không chiếu sáng một phần ba, và đêm cũng vậy.' Về mặt quyền lực dân sự, Rô-ma trở thành lệ thuộc Ravenna, và Ý là một tỉnh bị chinh phục của Đế quốc Đông phương. Nhưng, như thích hợp hơn với các lời tiên tri khác, việc bênh vực sự thờ ảnh tượng trước hết đã khiến quyền lực thiêng liêng của giáo hoàng và thế quyền của hoàng đế va chạm dữ dội; và, bằng việc trao cho giáo hoàng mọi thẩm quyền đối với các giáo hội, Justinian đã góp tay thúc đẩy quyền tối thượng của giáo hoàng, vốn về sau nắm lấy quyền lập nên các quân vương. Năm 800 sau Công nguyên, giáo hoàng ban cho Charlemagne danh hiệu 'Hoàng đế La Mã.' — Keith. Danh hiệu ấy lại được chuyển từ vua Pháp sang vua Đức. Và Hoàng đế Francis II đã từ bỏ dứt khoát và vĩnh viễn ngay cả hư cấu này vào ngày 6 tháng 8 năm 1806." A. T. Jones, Các Quốc Gia Vĩ Đại Ngày Nay, 54.