In chapter ten Daniel is touched three times, and those three touches correspond to the three times Daniel personally experiences the “mareh,” vision. The first and last appearances were of Gabriel, the messenger of the Revelation of Jesus Christ. Gabriel is the one who takes the message from Christ, that was given Him by the Father, and delivers it to the prophet, who is to send it to the churches.
Trong chương mười, Đa-ni-ên được chạm đến ba lần, và ba lần chạm ấy tương ứng với ba lần chính Đa-ni-ên đích thân kinh nghiệm “mareh,” tức khải tượng. Sự hiện ra thứ nhất và thứ ba là của Ga-bri-ên, sứ giả của Sự Mặc Khải của Đức Chúa Jêsus Christ. Chính Ga-bri-ên là Đấng nhận sứ điệp từ Đấng Christ, là điều đã được Đức Cha ban cho Ngài, rồi truyền đạt sứ điệp ấy cho nhà tiên tri, là người sẽ gửi nó đến các hội thánh.
But I will show thee that which is noted in the scripture of truth: and there is none that holdeth with me in these things, but Michael your prince. Daniel 10:21.
Nhưng ta sẽ cho ngươi biết điều đã được ghi chép trong sách chân lý; và chẳng có ai đứng về phía ta trong những việc này, chỉ có Mi-ca-ên, vị thủ lãnh của các ngươi. Đa-ni-ên 10:21.
Gabriel knows he is a created being, and this is why he straightly informed John not to worship him in the book of Revelation.
Gabriel biết mình là một loài thọ tạo, nên ông đã thẳng thắn bảo Giăng đừng thờ lạy mình trong sách Khải Huyền.
And I fell at his feet to worship him. And he said unto me, See thou do it not: I am thy fellowservant, and of thy brethren that have the testimony of Jesus: worship God: for the testimony of Jesus is the spirit of prophecy. Revelation 19:10.
Tôi liền sấp mình dưới chân người để thờ lạy người. Nhưng người nói với tôi: Đừng làm thế! Ta là bạn đồng tôi tớ với ngươi và với các anh em của ngươi, những người có lời chứng của Giê-xu. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời, vì lời chứng của Giê-xu là tinh thần của lời tiên tri. Khải Huyền 19:10.
The student of prophecy is therefore to understand that the reason Gabriel identifies that there is none above him in connection with what “is noted in the scripture of truth,” has a specific prophetic purpose. When he identifies the fact that only Christ understands the scriptures better than himself, he identifies Christ as “Michael your prince.” But Michael is not only a prince, he is the archangel.
Vì vậy, người nghiên cứu lời tiên tri cần hiểu rằng lý do Gabriel nói rằng không có ai vượt trên ông liên quan đến điều “được ghi trong Kinh sách của lẽ thật” là nhằm một mục đích tiên tri cụ thể. Khi ông nêu rõ rằng chỉ có Đấng Christ hiểu Kinh Thánh thấu suốt hơn chính mình, ông xác định Đấng Christ là “Michael, hoàng tử của các ngươi.” Nhưng Michael không chỉ là một hoàng tử; mà còn là tổng lãnh thiên sứ.
Yet Michael the archangel, when contending with the devil he disputed about the body of Moses, durst not bring against him a railing accusation, but said, The Lord rebuke thee. Jude 7.
Tuy vậy, tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, khi tranh chấp với ma quỷ về thi hài của Môi-se, đã không dám đưa ra lời buộc tội lăng mạ nó, nhưng nói: “Nguyện Chúa quở trách ngươi.” Giu-đe 7.
All three touches are therefore angelic touches, and the three times Daniel experiences the “mareh,” vision it is angelic. The third time Daniel is touched it is to be strengthened, for previously, at the second touch he lost his strength.
Vì vậy, cả ba lần chạm đều là sự chạm của thiên sứ, và cả ba lần Daniel trải nghiệm “mareh”, tức khải tượng, thì đó là khải tượng thiên sứ. Lần thứ ba Daniel được chạm là để được mạnh mẽ lại, vì trước đó, ở lần chạm thứ hai, ông đã mất hết sức lực.
Then there came again and touched me one like the appearance of a man, and he strengthened me, And said, O man greatly beloved, fear not: peace be unto thee, be strong, yea, be strong. And when he had spoken unto me, I was strengthened, and said, Let my lord speak; for thou hast strengthened me. Then said he, Knowest thou wherefore I come unto thee? and now will I return to fight with the prince of Persia: and when I am gone forth, lo, the prince of Grecia shall come. Daniel 10:18–20.
Bấy giờ lại có một đấng giống như hình dạng một người đến và chạm vào tôi, làm cho tôi mạnh mẽ, và nói: Hỡi người rất được yêu mến, đừng sợ; bình an cho ngươi; hãy mạnh mẽ, phải, hãy mạnh mẽ. Khi người đã nói với tôi, tôi được mạnh mẽ và thưa: Xin chúa tôi cứ nói, vì ngài đã làm cho tôi mạnh mẽ. Bấy giờ người nói: Ngươi có biết vì sao ta đến cùng ngươi chăng? Bây giờ ta sẽ trở lại để chiến đấu với vương công Ba Tư; và khi ta đi ra, kìa, vương công Hy Lạp sẽ đến. Đa-ni-ên 10:18-20.
Gabriel reminds Daniel that he had “come to make” Daniel “understand what shall befall thy people in the latter days,” when he asked Daniel if he “knowest thou wherefore I come unto thee?” In agreement with what he had taught Daniel of the latter days, Gabriel then states that he would then “return to fight with the prince of Persia: and when I am gone forth, lo, the prince of Grecia shall come.” He then begins the prophetic narrative of chapter eleven, that describes what befalls the one hundred and forty-four thousand in the latter days. That prophetic narrative is placed in the context of the battle with “the prince of Persia” and “the prince of Grecia”.
Gabriel nhắc cho Đa-ni-ên nhớ rằng ông đã “đến để khiến” Đa-ni-ên “hiểu điều sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt,” khi ông hỏi Đa-ni-ên rằng: “Ngươi có biết vì sao ta đến cùng ngươi chăng?” Phù hợp với điều ông đã dạy Đa-ni-ên về những ngày sau rốt, Gabriel tiếp đó tuyên bố rằng ông sẽ “trở lại để chiến đấu với vua của Ba Tư; và khi ta đi ra, này, vua của Gờ-réc sẽ đến.” Sau đó, ông bắt đầu phần tường thuật tiên tri của chương mười một, mô tả điều xảy đến cho một trăm bốn mươi bốn ngàn người trong những ngày sau rốt. Phần tường thuật tiên tri ấy được đặt trong bối cảnh của cuộc chiến với “vua của Ba Tư” và “vua của Gờ-réc”.
The actual history between Cyrus the Great and Alexander the Great was over two hundred years. But in the great earthquake of Revelation chapter eleven, the final movements are rapid ones, and as soon as the sixth kingdom is conquered by the counterfeit king of the north, the seventh kingdom, the ten kings, represented by Greece, immediately agree to give their kingdom unto the beast.
Khoảng thời gian lịch sử thực tế giữa Cyrus Đại đế và Alexander Đại đế kéo dài hơn hai trăm năm. Nhưng trong cơn đại động đất trong Sách Khải Huyền chương mười một, những diễn biến cuối cùng diễn ra rất nhanh, và ngay khi vương quốc thứ sáu bị vua phương bắc giả mạo chinh phục, vương quốc thứ bảy, tức mười vị vua, được đại diện bởi Hy Lạp, lập tức đồng ý trao vương quốc của họ cho con thú.
At one level the “mareh” vision is employed seven times in Daniel chapter ten. We have considered four of those seven times, and identified that the first reference is Daniel identifying that before the third year of Cyrus Daniel understood the vision. In the next three references the three touches at each vision identify the experience of Daniel as he awakens from the mourning of the twenty-one days. His awakening of revival is structured upon the three-step process of the everlasting gospel, and the three steps are represented by angel’s, though step number two is Michael the archangel, who is He who raised Moses out of death, and translated him into heaven.
Ở một cấp độ, khải tượng “mareh” được dùng bảy lần trong đoạn mười của sách Đa-ni-ên. Chúng ta đã xem xét bốn trong bảy lần ấy, và đã xác định rằng lời nhắc đến thứ nhất là việc Đa-ni-ên xác nhận rằng trước năm thứ ba của Si-ru, Đa-ni-ên đã hiểu khải tượng. Trong ba lần nhắc đến kế tiếp, ba sự chạm đến tại mỗi khải tượng xác định kinh nghiệm của Đa-ni-ên khi ông thức tỉnh khỏi sự than khóc trong hai mươi mốt ngày. Sự thức tỉnh phục hưng của ông được cấu trúc trên tiến trình ba bước của tin lành đời đời, và ba bước ấy được tiêu biểu bởi các thiên sứ, mặc dù bước thứ hai là Mi-chên, thiên sứ trưởng, là Đấng đã khiến Môi-se từ cõi chết sống lại, và đem ông lên trời.
The other three times the word “vision” is located in chapter ten, is not the “mareh,” it is the “marah.” “Marah” is the feminine of “mareh.” It means a vision, and causatively a “mirror” or “looking-glass”. The key to its definition is that it is “causative.” It is the vision of “the appearance”, but it is different in its gender, thus identifying a different prophetic message. As its definition the “mirror” implies that those who see the vision, see some type of reflection. This is the element of the word that is “causative.” The definition of a causative word in the context of “marah,” is profound.
Ba lần khác mà từ “vision” xuất hiện trong chương mười không phải là “mareh,” mà là “marah.” “Marah” là dạng giống cái của “mareh.” Từ này có nghĩa là một khải tượng, và theo nghĩa tác động là một “gương” hay “kính soi”. Chìa khóa để hiểu định nghĩa của nó là ở chỗ nó mang tính “tác động”. Đó là khải tượng về “diện mạo”, nhưng khác về giống, bởi đó xác định một sứ điệp tiên tri khác. Theo định nghĩa của nó, “gương” hàm ý rằng những ai thấy khải tượng thì thấy một loại phản chiếu nào đó. Đây là yếu tố của từ ngữ mang tính “tác động”. Định nghĩa của một từ mang tính tác động trong ngữ cảnh của “marah” là sâu sắc.
The term “causative” relates to the concept of causation or the action of causing something to happen. In linguistics, specifically in verb morphology, the causative form is a grammatical construction that indicates that the subject of a verb is causing another person or thing to perform the action described by the verb. For example, in English, the verb “to read” becomes causative when we say “to make someone read.” Here, the subject is causing another person to perform the action of reading.
Thuật ngữ "causative" liên quan đến khái niệm quan hệ nhân quả hoặc hành động khiến một điều gì đó xảy ra. Trong ngôn ngữ học, cụ thể là trong hình thái học của động từ, dạng sai khiến là một cấu trúc ngữ pháp biểu thị rằng chủ ngữ của một động từ đang khiến người hoặc vật khác thực hiện hành động được động từ đó mô tả. Ví dụ, trong tiếng Anh, động từ "to read" trở thành dạng sai khiến khi ta nói "to make someone read." Ở đây, chủ ngữ đang khiến người khác thực hiện hành động đọc.
The causative form indicates that the subject is responsible for bringing about the action described by the verb. “Causative” refers to the manner in which an action or event is caused to occur. The three times Daniel uses the Hebrew word “marah,” the vision that is looked upon causes the beholder to be changed into the image he is beholding.
Thể sai khiến biểu thị rằng chủ ngữ chịu trách nhiệm làm cho hành động do động từ mô tả xảy ra. “Sai khiến” nói đến cách thức mà một hành động hay sự kiện được gây ra để xảy ra. Trong ba lần Daniel dùng từ tiếng Do Thái “marah”, khải tượng mà người ta chiêm ngưỡng khiến người chiêm ngưỡng được biến đổi thành hình ảnh mà người ấy đang chiêm ngưỡng.
And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel; Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz: His body also was like the beryl, and his face as the appearance (mareh) of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude. And I Daniel alone saw the vision (marah): for the men that were with me saw not the vision (marah); but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Therefore I was left alone, and saw this great vision (marah), and there remained no strength in me: for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength. Yet heard I the voice of his words: and when I heard the voice of his words, then was I in a deep sleep on my face, and my face toward the ground. Daniel 10:4–9.
Và vào ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi ở bên bờ sông lớn, tức là Hiddekel; bấy giờ tôi ngước mắt lên mà nhìn, thì kìa có một người mặc vải lanh, hông thắt vàng ròng của Uphaz. Thân thể người cũng giống như bích ngọc, và mặt người như vẻ (mareh) của tia chớp, mắt người như đèn lửa, cánh tay và chân người có màu như đồng đánh bóng, và tiếng lời của người như tiếng của một đoàn dân đông. Còn tôi, Đa-ni-ên, chỉ một mình tôi thấy khải tượng (marah); vì những người ở với tôi không thấy khải tượng (marah); nhưng một cơn run rẩy lớn giáng trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình. Vậy tôi còn lại một mình, và thấy khải tượng lớn này (marah), và trong tôi không còn sức lực nào: vì sắc diện tươi tốt của tôi đã đổi ra hư nát trong tôi, và tôi không còn giữ được sức lực. Dẫu vậy, tôi vẫn nghe tiếng lời của người; và khi tôi nghe tiếng lời của người, bấy giờ tôi rơi vào cơn ngủ mê, sấp mặt, mặt tôi hướng xuống đất. Đa-ni-ên 10:4-9.
At the end of the twenty-one days of mourning, which in the last days align with the three and a half days the two witnesses are dead in the street, Daniel was suddenly caused to see the appearance of Christ, and His appearance is “as the appearance (mareh) of lightning.” That event, at the end of the three and a half days of Revelation chapter eleven, produces a separation, for “the men that were with” Daniel were caused to “[see] not the vision (marah); but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Therefore” Daniel “was left alone,” but “the men that were with me [were caused to see] not the vision (marah); but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves”.
Vào cuối hai mươi mốt ngày than khóc, là những ngày sau cùng trùng khớp với ba ngày rưỡi khi hai chứng nhân nằm chết ngoài đường phố, Đa-ni-ên bỗng được cho thấy sự hiện ra của Đấng Christ, và sự hiện ra của Ngài “như vẻ (mareh) của ánh chớp.” Sự kiện ấy, vào cuối ba ngày rưỡi của Khải Huyền chương mười một, tạo ra một sự phân rẽ, vì “những người ở cùng” Đa-ni-ên đã bị khiến không thấy khải tượng (marah); nhưng một cơn rúng động lớn giáng trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình. “Vì vậy” Đa-ni-ên “còn lại một mình,” nhưng “những người ở cùng tôi không thấy khải tượng (marah); nhưng một cơn rúng động lớn giáng trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình”.
The vision that Daniel saw while he was alone was the feminine, causative vision that transformed Daniel into the image of the vision. The transformation was accomplished by Daniel’s human strength being removed, and his comeliness being turned into corruption.
Thị kiến mà Daniel thấy khi ông ở một mình là một thị kiến mang tính nữ, mang tính gây tác động, đã biến đổi Daniel thành hình ảnh của chính thị kiến ấy. Sự biến đổi ấy được thực hiện bằng việc sức lực con người của Daniel bị tước bỏ, và vẻ đẹp của ông trở nên hư nát.
“The very flesh in which the soul tabernacles and through which it works is the Lord’s. We have no right to neglect any part of the living machinery. Every portion of the living organism is the Lord’s. The knowledge of our own physical organism should teach us that every member is to do God’s service, as an instrument of righteousness.
Chính thân xác, nơi linh hồn cư ngụ và qua đó hành động, thuộc về Chúa. Chúng ta không có quyền bỏ bê bất kỳ bộ phận nào của bộ máy sống. Mọi phần của cơ thể sống đều thuộc về Chúa. Sự hiểu biết về thân thể của chính chúng ta phải dạy chúng ta rằng mọi chi thể đều phải phục vụ Đức Chúa Trời, như một khí cụ của sự công chính.
“None but God can subdue the pride of man’s heart. We cannot save ourselves. We cannot regenerate ourselves. In the heavenly courts there will be no song sung, To me that loved myself, and washed myself, redeemed myself, unto me be glory and honor, blessing and praise. But this is the keynote of the song that is sung by many here in this world. They do not know what it means to be meek and lowly in heart; and they do not mean to know this, if they can avoid it. The whole gospel is comprised in learning of Christ, His meekness and lowliness.
Không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể chế ngự sự kiêu ngạo trong lòng con người. Chúng ta không thể tự cứu mình. Chúng ta không thể tự tái sinh. Trong cõi trời sẽ không có bài ca nào được hát rằng: “Cho tôi, là kẻ tự yêu mình, tự rửa sạch mình, tự chuộc mình; vinh hiển, tôn quý, chúc tụng và ngợi khen đều thuộc về tôi.” Nhưng đó lại là điệp khúc của bài ca mà nhiều người đang hát ở thế gian này. Họ không biết hiền lành và khiêm nhường trong lòng nghĩa là gì; và nếu có thể tránh được, họ cũng chẳng muốn biết điều ấy. Trọn cả Tin Lành được gói gọn trong việc học nơi Đấng Christ, về sự hiền lành và khiêm nhường của Ngài.
“What is justification by faith? It is the work of God in laying the glory of man in the dust, and doing for man that which it is not in his power to do for himself.” Testimonies to Ministers, 456.
"Sự xưng công chính bởi đức tin là gì? Ấy là công việc của Đức Chúa Trời hạ vinh quang của con người xuống bụi đất và làm cho con người điều mà bản thân người ấy không có khả năng tự làm được." Testimonies to Ministers, 456.
The experience of justification by faith is the work of God in laying the glory of man in the dust. The vision the men that were with Daniel were caused to flee from was the “causative” feminine vision of Christ’s appearance, and immediately after Daniel’s self-righteousness was laid in the dust, the three angelic touches were applied that ultimately empowered Daniel to carry the message.
Trải nghiệm được xưng công chính bởi đức tin là công việc của Đức Chúa Trời trong việc hạ vinh quang của con người xuống bụi đất. Khải tượng đã khiến những người ở cùng Đa-ni-ên phải chạy trốn chính là khải tượng “gây khiến” thuộc giống cái về sự hiện ra của Đấng Christ, và ngay sau khi sự tự công chính của Đa-ni-ên bị đặt xuống bụi đất, ba lần chạm của thiên sứ đã được thực hiện, cuối cùng ban quyền năng cho Đa-ni-ên để truyền đạt sứ điệp.
In 1888, the mighty angel descended with the message of justification by faith, as presented by Elders Jones and Waggoner. That very same angel again descended on September 11, 2001, with the very same message of justification by faith. That marked the beginning of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. At the ending of the sealing of the one hundred and forty-four thousand, the message at the beginning is repeated, for Jesus always illustrates the end of a thing, with the beginning of a thing.
Năm 1888, thiên sứ quyền năng đã giáng xuống với sứ điệp về sự xưng công chính bởi đức tin, như được trình bày bởi các Trưởng lão Jones và Waggoner. Chính thiên sứ ấy lại giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, với cùng một sứ điệp về sự xưng công chính bởi đức tin. Điều đó đánh dấu sự khởi đầu của việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Đến khi kết thúc việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn người, sứ điệp ban đầu được lặp lại, vì Chúa Giê-su luôn dùng phần khởi đầu để minh họa phần kết thúc của một sự việc.
On August 11, 1840 that very same angel descended and began the three-steps that were accomplished from 1840 to 1844. Those three steps began with the empowerment of the first angel on August 11, 1840, the arrival of the second angel on April 19, 1844, and the arrival of the third angel on October 22, 1844. That history prefigured the descent of the first of three angels on September 11, 2001, which was followed by the second angel at the disappointment of July 18, 2020, and that concludes with the arrival of the third angel at the soon coming Sunday law.
Vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, chính thiên sứ đó đã giáng xuống và khởi đầu ba bước được hoàn tất từ năm 1840 đến 1844. Ba bước ấy bắt đầu với việc ban quyền năng cho thiên sứ thứ nhất vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, sự xuất hiện của thiên sứ thứ hai vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, và sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Lịch sử đó đã báo trước sự giáng xuống của thiên sứ thứ nhất trong ba thiên sứ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, tiếp theo là thiên sứ thứ hai tại biến cố thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020, và kết thúc với sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba khi luật Chủ nhật sắp tới được ban hành.
At the end of that history, when Michael descends to resurrect Moses and Elijah after the three and a half days of death in the streets, as represented in Revelation chapter eleven, and as also represented by Daniel’s twenty-one days of mourning, Christ again descends. He first presents the vision of His glory, the vision which lays the glory of man in the dust, and produces a separation. Once Daniel is in the dust, and after Daniel has become changed by beholding the “causative” feminine vision, he is touched by Gabriel the first time, and placed upon his trembling feet.
Vào cuối của lịch sử ấy, khi Mi-ca-ên giáng xuống để làm cho Môi-se và Ê-li-a sống lại sau ba ngày rưỡi chết nơi các đường phố, như được trình bày trong Khải Huyền đoạn mười một, và cũng như được thể hiện qua hai mươi mốt ngày than khóc của Đa-ni-ên, Đấng Christ lại giáng xuống. Trước hết, Ngài trình bày khải tượng về vinh quang của Ngài, khải tượng khiến vinh quang của con người nằm xuống bụi đất và tạo ra sự phân rẽ. Khi Đa-ni-ên đã ở trong bụi đất, và sau khi Đa-ni-ên được biến đổi bởi việc chiêm ngưỡng khải tượng nữ tính “gây khiến”, ông được Ga-bri-ên chạm đến lần thứ nhất và được đỡ đứng trên đôi chân run rẩy của mình.
Then Michael the archangel descends to “resurrect Moses” and touches Daniel the second time, leaving him powerless for being overwhelmed with the reality that he was actually speaking to his Lord. Then Gabriel comes and touches him the third time, and strengthens him for the work of being the ensign in the soon-coming Sunday law. The three touches are symbols of the three angels of Revelation fourteen, though they occur in a single day.
Rồi Mi-ca-ên, tổng lãnh thiên sứ, giáng xuống để “làm sống lại Môi-se” và chạm vào Đa-ni-ên lần thứ hai, khiến ông không còn sức lực vì choáng ngợp trước thực tế rằng ông thực sự đang nói với Chúa của mình. Sau đó Gáp-ri-ên đến và chạm vào ông lần thứ ba, và thêm sức cho ông để làm cờ hiệu cho luật ngày Chủ nhật sắp đến. Ba lần chạm là những biểu tượng của ba thiên sứ trong Khải Huyền mười bốn, dù chúng xảy ra trong cùng một ngày.
The experience of the first angel includes the appearance of Christ as lightning, the “causative” vision that separates, and the first touch that raises Daniel out of the dust of his human glory. The first angel possesses all three steps included in the first, for it represents the first message. It is not an accident that the first touch is recorded in verses NINE to ELEVEN.
Kinh nghiệm của thiên sứ thứ nhất bao gồm sự xuất hiện của Đấng Christ như chớp, khải tượng “gây nên” sự phân rẽ, và cú chạm đầu tiên nâng Đa-ni-ên ra khỏi bụi đất của vinh quang loài người ông. Thiên sứ thứ nhất sở hữu cả ba bước được bao gồm trong điều thứ nhất, vì nó đại diện cho sứ điệp thứ nhất. Không phải ngẫu nhiên mà cú chạm đầu tiên được ghi lại trong các câu CHÍN đến MƯỜI MỘT.
Yet heard I the voice of his words: and when I heard the voice of his words, then was I in a deep sleep on my face, and my face toward the ground. And, behold, an hand touched me, which set me upon my knees and upon the palms of my hands. And he said unto me, O Daniel, a man greatly beloved, understand the words that I speak unto thee, and stand upright: for unto thee am I now sent. And when he had spoken this word unto me, I stood trembling. Daniel 10:9–11.
Nhưng tôi vẫn nghe tiếng nói của người ấy; và khi tôi nghe tiếng nói của người ấy, tôi liền chìm vào giấc ngủ sâu, sấp mặt xuống đất. Kìa, một bàn tay chạm vào tôi, đỡ tôi dậy để tôi quỳ gối và chống hai bàn tay. Người nói với tôi: Hỡi Đa-ni-ên, người rất được yêu chuộng, hãy hiểu những lời ta nói với ngươi và đứng thẳng dậy; vì bây giờ ta được sai đến với ngươi. Khi người nói lời này với tôi, tôi đứng lên run rẩy. Đa-ni-ên 10:9-11.
The experience of the second touch, which was administered by Christ Himself, changes Daniel from being unable to speak, to being able to speak with his Lord. In the second touch, Daniel has no breath, so he is here represented at the point of Ezekiel’s first message in chapter thirty-seven.
Trải nghiệm của lần chạm thứ hai, do chính Đấng Christ thực hiện, đã biến đổi Đa-ni-ên từ chỗ không thể nói thành có thể nói chuyện với Chúa của mình. Trong lần chạm thứ hai, Đa-ni-ên không có hơi thở, nên ở đây ông được mô tả như đang ở giai đoạn của sứ điệp thứ nhất trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy.
And when he had spoken such words unto me, I set my face toward the ground, and I became dumb. And, behold, one like the similitude of the sons of men touched my lips: then I opened my mouth, and spake, and said unto him that stood before me, O my lord, by the vision my sorrows are turned upon me, and I have retained no strength. For how can the servant of this my lord talk with this my lord? for as for me, straightway there remained no strength in me, neither is there breath left in me. Daniel 10:15–17.
Và khi người đã nói những lời ấy với tôi, tôi cúi mặt xuống đất và câm lặng. Kìa, một người có hình dạng như con cái loài người chạm vào môi tôi; bấy giờ tôi mở miệng, nói, và thưa với đấng đứng trước mặt tôi: Thưa chúa tôi, bởi khải tượng này mà nỗi buồn khổ của tôi ập trên tôi, và tôi không còn giữ được sức lực nào. Vì làm sao đầy tớ của chúa tôi này có thể nói chuyện với chúa tôi? Phần tôi, tức thì chẳng còn sức lực nào ở trong tôi; hơi thở cũng chẳng còn ở trong tôi. Đa-ni-ên 10:15-17.
In the second message of Ezekiel, a message from the four winds is to be breathed upon the bones, that they might live and stand up as a mighty army. The empowerment of that army is represented by the third touch.
Trong thông điệp thứ hai của Ê-xê-chi-ên, một thông điệp từ bốn phương gió sẽ được thổi trên những bộ xương, để chúng sống và đứng dậy như một đạo quân hùng mạnh. Sự ban quyền năng cho đạo quân ấy được biểu trưng bởi lần chạm thứ ba.
Then there came again and touched me one like the appearance of a man, and he strengthened me, And said, O man greatly beloved, fear not: peace be unto thee, be strong, yea, be strong. And when he had spoken unto me, I was strengthened, and said, Let my lord speak; for thou hast strengthened me. Then said he, Knowest thou wherefore I come unto thee? and now will I return to fight with the prince of Persia: and when I am gone forth, lo, the prince of Grecia shall come. But I will show thee that which is noted in the scripture of truth: and there is none that holdeth with me in these things, but Michael your prince. Also I in the first year of Darius the Mede, even I, stood to confirm and to strengthen him. And now will I show thee the truth. Behold, there shall stand up yet three kings in Persia; and the fourth shall be far richer than they all: and by his strength through his riches he shall stir up all against the realm of Grecia. Daniel 10:18–11:2.
Bấy giờ lại có một đấng có hình dạng như một người đến và chạm vào tôi, và làm cho tôi vững mạnh, và nói: Hỡi người rất được yêu dấu, chớ sợ; bình an cho ngươi; hãy mạnh mẽ, phải, hãy mạnh mẽ. Khi người đã nói với tôi, tôi được vững mạnh, và thưa: Xin chúa tôi cứ nói, vì ngài đã làm cho tôi vững mạnh. Người lại nói: Ngươi có biết vì sao ta đến cùng ngươi chăng? Bây giờ ta sẽ trở về để chiến đấu với vương tử của Ba Tư; và khi ta đi ra, kìa, vương tử của Hy Lạp sẽ đến. Nhưng ta sẽ chỉ cho ngươi điều đã ghi trong sách của lẽ thật; và chẳng có ai đứng cùng ta trong những việc này, ngoại trừ Mi-ca-ên, vương tử của các ngươi. Còn ta, trong năm thứ nhất của Đa-ri-út người Mê-đi, chính ta đã đứng lên để củng cố và làm cho người ấy vững mạnh. Bây giờ ta sẽ tỏ cho ngươi biết lẽ thật: Kìa, sẽ còn có ba vua nữa đứng lên tại Ba Tư; và người thứ tư sẽ giàu có hơn hết thảy họ; nhờ sức mạnh do sự giàu có của mình, người ấy sẽ khuấy động hết thảy chống lại vương quốc Hy Lạp. Đa-ni-ên 10:18-11:2.
The message that brings the two witnesses to life in Ezekiel chapter thirty-seven is the message of Islam of the third woe, but line upon line, the message that Gabriel identifies in the illustration of Michael raising Moses up and taking him up into heaven as an ensign, is the message of the final president of the United States. It is the message of the sixth president (the Republican horn) who was slain in 2020, as had been the true Protestant horn. In Daniel’s narrative the resurrection from the days of mourning for the true Protestant horn, led into the identification of the resurrection of the Republican horn.
Sứ điệp đem hai chứng nhân đến sự sống trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy là sứ điệp của Hồi giáo thuộc tai vạ thứ ba; nhưng từng hàng nối tiếp từng hàng, sứ điệp mà Gáp-ri-ên xác định trong minh họa về việc Mi-ca-ên khiến Môi-se sống lại và đem ông lên trời như một cờ hiệu, là sứ điệp của vị tổng thống cuối cùng của Hoa Kỳ. Đó là sứ điệp của vị tổng thống thứ sáu (cái sừng Cộng hòa), là kẻ đã bị giết vào năm 2020, cũng như cái sừng Tin Lành chân thật đã từng bị giết. Trong tường thuật của Đa-ni-ên, sự phục sinh từ những ngày than khóc vì cái sừng Tin Lành chân thật đã dẫn đến việc nhận diện sự phục sinh của cái sừng Cộng hòa.
Seven times in Daniel chapter ten, the word “vision” or “appearance” is employed. Those seven references are identified by the same Hebrew word, with the exception that three of those times the word is in the feminine tense and the other four it is in the masculine tense. Seven being the number of perfection, and the three-four combination that equals seven is a primary characteristic of the book of Revelation where the last three of the seven churches, and the last three of the seven seals, and the last three of the seven trumpets are specifically distinguished from the first four.
Bảy lần trong chương mười của Đa-ni-ên, từ “khải tượng” hoặc “sự hiện ra” được sử dụng. Bảy chỗ ấy được xác định bằng cùng một từ Hê-bơ-rơ, ngoại trừ rằng ba lần trong số đó từ ấy ở giống cái, còn bốn lần kia ở giống đực. Số bảy là con số của sự trọn vẹn, và sự kết hợp ba-bốn bằng bảy là một đặc điểm chủ yếu của sách Khải Huyền, nơi ba Hội thánh cuối cùng trong bảy Hội thánh, ba ấn cuối cùng trong bảy ấn, và ba tiếng kèn cuối cùng trong bảy tiếng kèn được phân biệt cách đặc biệt với bốn phần đầu.
The books of Daniel and Revelation are the same book, and in this sense Daniel and John are the same last day symbol. The vision of Christ in chapter ten, is the vision of Christ in Revelation chapter one.
Các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền là cùng một sách, và theo nghĩa này Đa-ni-ên và Giăng là cùng một biểu tượng về ngày sau rốt. Khải tượng về Đấng Christ trong chương mười là khải tượng về Đấng Christ trong Khải Huyền chương một.
In Revelation chapter one, John hears a voice behind him and turns to see the one who is speaking.
Trong Sách Khải Huyền chương một, Giăng nghe một tiếng nói phía sau lưng mình và quay lại để xem người đang nói.
I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet, Saying, I am Alpha and Omega, the first and the last: and, What thou seest, write in a book, and send it unto the seven churches which are in Asia; unto Ephesus, and unto Smyrna, and unto Pergamos, and unto Thyatira, and unto Sardis, and unto Philadelphia, and unto Laodicea. Revelation 1:10, 11.
Tôi ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu tiên và là cuối cùng; điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách, và gửi cho bảy hội thánh ở A-si-a: Ê-phê-sô, Si-miếc-nơ, Bẹt-gam, Thi-a-ti-ra, Sạt-đê, Phi-la-đen-phi, và Lao-đi-xê. Khải Huyền 1:10, 11.
Whether it is the three touches in Daniel chapter ten, or the same vision in chapter one of Revelation, or the two messages of Ezekiel in chapter thirty-seven, or Isaiah being touched with a live coal from off the altar, the experience is identifying the empowering of the final warning message, and that message begins at the resurrection of the two witnesses in July of 2023. Daniel, John, Ezekiel and Isaiah all represent a messenger that hears the “voice” from the “old paths” behind him, which asks, “whom shall I send?” When that messenger responds, “here am I, send me,” he is strengthened and raises his voice, as one who is crying in the wilderness. “He that hath an ear, let him hear what the Spirit saith unto the churches.”
Dù là ba lần chạm đến trong Đa-ni-ên chương mười, hay cùng một khải tượng ấy trong chương một của Khải Huyền, hay hai sứ điệp của Ê-xê-chi-ên trong chương ba mươi bảy, hay Ê-sai được chạm bằng than hồng lấy từ trên bàn thờ, thì kinh nghiệm ấy đều xác định sự ban năng lực cho sứ điệp cảnh báo cuối cùng, và sứ điệp ấy bắt đầu tại sự phục sinh của hai nhân chứng vào tháng Bảy năm 2023. Đa-ni-ên, Giăng, Ê-xê-chi-ên và Ê-sai đều đại diện cho một sứ giả nghe “tiếng” từ “các đường xưa” ở phía sau mình, tiếng ấy hỏi rằng: “Ta sẽ sai ai?” Khi sứ giả ấy đáp lại: “Có tôi đây, xin sai tôi,” người được thêm sức và cất tiếng mình lên, như một kẻ kêu trong đồng vắng. “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh.”
We will continue this study in our next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo của chúng tôi.
“Upon the occasion just described, the angel Gabriel imparted to Daniel all the instruction which he was then able to receive. A few years afterward, however, the prophet desired to learn more of subjects not yet fully explained, and again set himself to seek light and wisdom from God. ‘In those days I Daniel was mourning three full weeks. I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all…. Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz. His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude’ (Daniel 10:2–6).
Trong dịp vừa được thuật lại, thiên sứ Gabriel đã truyền đạt cho Đa-ni-ên mọi lời chỉ dạy mà lúc ấy ông có thể tiếp nhận. Tuy nhiên, vài năm sau, vị tiên tri mong muốn hiểu thêm về những điều vẫn chưa được giải bày trọn vẹn, và lại dốc lòng tìm kiếm ánh sáng và sự khôn ngoan từ Đức Chúa Trời. “Trong những ngày ấy, tôi, Đa-ni-ên, than khóc đủ ba tuần lễ. Tôi không ăn bánh ngon, thịt và rượu cũng chẳng vào miệng tôi, cũng không hề xức dầu cho mình... Bấy giờ tôi ngước mắt lên nhìn, và kìa, có một người mặc áo vải gai, lưng thắt đai vàng tinh ròng của Uphaz. Thân thể người giống như bích ngọc, mặt như ánh chớp, mắt như đèn lửa, cánh tay và chân như sắc đồng đánh bóng, và tiếng lời người như tiếng của một đoàn đông” (Đa-ni-ên 10:2-6).
“This description is similar to that given by John when Christ was revealed to him upon the Isle of Patmos. No less a personage than the Son of God appeared to Daniel. Our Lord comes with another heavenly messenger to teach Daniel what would take place in the latter days.
Sự mô tả này tương tự như điều Giăng đã thuật lại khi Đấng Christ được tỏ ra cho ông trên đảo Patmos. Chính Con Đức Chúa Trời đã hiện ra với Đa-ni-ên. Chúa chúng ta đến cùng với một thiên sứ khác để dạy Đa-ni-ên biết những điều sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt.
“The great truths revealed by the world’s Redeemer are for those who search for truth as for hid treasures. Daniel was an aged man. His life had been passed amid the fascinations of a heathen court, his mind cumbered with the affairs of a great empire. Yet he turns aside from all these to afflict his soul before God, and seek a knowledge of the purposes of the Most High. And in response to his supplications, light from the heavenly courts was communicated for those who should live in the latter days. With what earnestness, then, should we seek God, that He may open our understanding to comprehend the truths brought to us from heaven.
Những lẽ thật lớn lao mà Đấng Cứu Chuộc của thế gian đã bày tỏ là dành cho những ai tìm kiếm lẽ thật như tìm kho báu chôn giấu. Đa-ni-ên là một người đã cao tuổi. Đời ông đã trôi qua giữa những quyến rũ của một triều đình ngoại giáo, tâm trí ông vướng bận với các công việc của một đế quốc lớn. Thế nhưng ông gác qua tất cả để hãm mình trước mặt Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự hiểu biết về những ý định của Đấng Tối Cao. Và đáp lại những lời khẩn nguyện của ông, ánh sáng từ các triều đình trên trời đã được truyền đạt cho những người sẽ sống trong những ngày sau rốt. Vậy thì chúng ta phải sốt sắng tìm kiếm Đức Chúa Trời biết bao, hầu cho Ngài mở trí hiểu của chúng ta để lĩnh hội những lẽ thật được đem đến cho chúng ta từ trời.
“‘I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves…. And there remained no strength in me: for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength’ (verses 7, 8). All who are truly sanctified will have a similar experience. The clearer their views of the greatness, glory, and perfection of Christ, the more vividly will they see their own weakness and imperfection. They will have no disposition to claim a sinless character; that which has appeared right and comely in themselves will, in contrast with Christ’s purity and glory, appear only as unworthy and corruptible. It is when men are separated from God, when they have very indistinct views of Christ, that they say, ‘I am sinless; I am sanctified.’
"'Chỉ một mình tôi, Đa-ni-ên, thấy khải tượng; vì những người ở với tôi không thấy khải tượng; nhưng một cơn run rẩy lớn ập đến trên họ, đến nỗi họ bỏ chạy để ẩn mình.... Và trong tôi chẳng còn chút sức lực nào; vì vẻ đẹp nơi tôi đã biến thành sự hư hoại, và tôi chẳng giữ lại được chút sức lực nào' (câu 7, 8). Tất cả những ai thật sự được thánh hóa sẽ có kinh nghiệm tương tự. Cái nhìn của họ về sự vĩ đại, vinh quang và trọn vẹn của Đấng Christ càng rõ ràng bao nhiêu, họ càng thấy rõ sự yếu đuối và thiếu sót của chính mình bấy nhiêu. Họ sẽ không có khuynh hướng tự nhận mình là vô tội; điều từng có vẻ đúng và đẹp đẽ nơi chính họ, khi đặt bên cạnh sự tinh sạch và vinh quang của Đấng Christ, sẽ chỉ hiện ra là không xứng đáng và hư hoại. Chính khi con người xa cách Đức Chúa Trời, khi họ có cái nhìn rất mơ hồ về Đấng Christ, họ mới nói: 'Tôi vô tội; tôi được thánh hóa.'"
“Gabriel now appeared to the prophet, and thus addressed him: ‘Oh Daniel, a man greatly beloved, understand the words that I speak unto thee, and stand upright: for unto thee am I now sent. And when he had spoken this word unto me, I stood trembling. Then said he unto me, Fear not, Daniel: for from the first day that thou didst set thine heart to understand, and to chasten thyself before thy God, thy words were heard, and I am come for thy words’ (verses 11, 12).
Bấy giờ Gabriel hiện ra với vị tiên tri và nói với ông rằng: “Hỡi Đa-ni-ên, người rất được yêu dấu, hãy hiểu những lời ta nói với ngươi và đứng thẳng dậy, vì nay ta được sai đến cùng ngươi.” Khi ngài nói lời này với tôi, tôi run rẩy đứng dậy. Rồi ngài bảo tôi: “Đừng sợ, Đa-ni-ên, vì từ ngày đầu ngươi để lòng tìm hiểu và tự hạ mình trước Đức Chúa Trời của ngươi, lời của ngươi đã được nghe, và vì lời ngươi mà ta đã đến” (câu 11, 12).
“What great honor is shown to Daniel by the Majesty of heaven! He comforts His trembling servant and assures him that his prayer has been heard in heaven. In answer to that fervent petition the angel Gabriel was sent to affect the heart of the Persian king. The monarch had resisted the impressions of the Spirit of God during the three weeks while Daniel was fasting and praying, but heaven’s Prince, the Archangel, Michael, was sent to turn the heart of the stubborn king to take some decided action to answer the prayer of Daniel.
Biết bao vinh dự lớn lao đã được Đấng Uy Nghi của thiên đàng tỏ ra cho Đa-ni-ên! Ngài an ủi người đầy tớ đang run rẩy của Ngài và quả quyết với ông rằng lời cầu nguyện của ông đã được nghe trên thiên đàng. Để đáp lại lời thỉnh nguyện sốt sắng ấy, thiên sứ Gáp-ri-ên đã được sai đến để tác động lòng vua Ba Tư. Vị quân vương đã chống lại những cảm động của Thánh Linh Đức Chúa Trời suốt ba tuần lễ khi Đa-ni-ên kiêng ăn và cầu nguyện, nhưng Vị Vương Tử của thiên đàng, Tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, đã được sai đến để xoay chuyển lòng của vị vua cứng cỏi hầu ông có hành động dứt khoát nhằm đáp lời cầu nguyện của Đa-ni-ên.
“‘And when he had spoken such words unto me, I set my face toward the ground, and I became dumb. And, behold, one like the similitude of the sons of men touched my lips…. And said, O man greatly beloved, fear not: peace be unto thee, be strong, yea, be strong. And when he had spoken unto me, I was strengthened, and said, Let my Lord speak; for thou hast strengthened me’ (verses 15–19). So great was the divine glory revealed to Daniel that he could not endure the sight. Then the messenger of heaven veiled the brightness of his presence and appeared to the prophet as ‘one like the similitude of the sons of men’ (verse 16). By his divine power he strengthened this man of integrity and of faith, to hear the message sent to him from God.
"Và khi ngài đã nói với tôi những lời như vậy, tôi cúi mặt xuống đất và trở nên câm lặng. Kìa, một người giống như hình dạng con cái loài người chạm đến môi tôi.... Và nói: Hỡi người rất được yêu dấu, đừng sợ; bình an cho ngươi; hãy mạnh mẽ, phải, hãy mạnh mẽ. Và khi ngài đã nói cùng tôi, tôi được thêm sức, và nói: Xin chúa tôi hãy phán; vì ngài đã thêm sức cho tôi" (câu 15-19). Vinh quang thiêng liêng được tỏ ra cho Đa-ni-ên lớn lao đến nỗi ông không thể chịu nổi cảnh tượng ấy. Bấy giờ thiên sứ từ trời che khuất sự chói sáng của sự hiện diện mình và hiện ra với nhà tiên tri như "một người giống như hình dạng con cái loài người" (câu 16). Bằng quyền năng thiêng liêng của mình, ngài thêm sức cho người này, một người ngay thẳng và có đức tin, để nghe sứ điệp Đức Chúa Trời sai đến cho ông.
“Daniel was a devoted servant of the Most High. His long life was filled up with noble deeds of service for his Master. His purity of character and unwavering fidelity are equaled only by his humility of heart and his contrition before God. We repeat, The life of Daniel is an inspired illustration of true sanctification.” Sanctified Life, 49–52.
"Đa-ni-ên là một tôi tớ tận tâm của Đấng Tối Cao. Cuộc đời dài lâu của ông tràn đầy những việc làm cao quý phục vụ Chúa của mình. Sự trong sạch trong nhân cách và lòng trung tín không lay chuyển của ông chỉ sánh được với sự khiêm nhường trong lòng và sự ăn năn thống hối trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng tôi nhắc lại: Cuộc đời của Đa-ni-ên là một minh họa được linh hứng về sự thánh hóa chân thật." Đời Sống Nên Thánh, 49-52.