The vision of Christ in Daniel chapter ten, is the same vision which John saw in the Revelation. It was the “marah” vision, which is the feminine expression of the “mareh” vision of Christ’s appearance. “Mareh” is the vision of the twenty-three hundred years, and its primary meaning is “appearance.” The “appearance” of Christ with both Daniel and John were both visions of the glorified Christ.

Khải tượng về Đấng Christ trong Đa-ni-ên chương mười là cùng một khải tượng mà Giăng đã thấy trong sách Khải Huyền. Đó là khải tượng "marah", tức hình thức giống cái của khải tượng "mareh" về sự xuất hiện của Đấng Christ. "Mareh" là khải tượng về hai nghìn ba trăm năm, và nghĩa chính của nó là "sự xuất hiện". Sự "xuất hiện" của Đấng Christ mà cả Đa-ni-ên lẫn Giăng thấy đều là những khải tượng về Đấng Christ vinh hiển.

And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel; Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz: His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude. Daniel 10:4–6.

Đến ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi đang ở bên bờ sông lớn, tức là sông Hiddekel; bấy giờ tôi ngước mắt lên và nhìn, kìa có một người mặc vải gai, hông thắt bằng vàng ròng của Uphaz. Thân thể người giống như bích ngọc, mặt người như ánh chớp, mắt người như những ngọn đuốc lửa, cánh tay và chân người có màu như đồng đánh bóng, và tiếng nói của người như tiếng của một đám đông. Đa-ni-ên 10:4-6.

The word “mareh” which means “appearance” is translated as “the appearance of lightning,” in the passage. The word is used four times in chapter ten, and two times it is translated as “vision”, and two times as “appearance.” It’s used three other times in its feminine form. The word “marah” is the feminine expression of the “appearance” vision. It is defined as “a looking glass”, and it is a “causative” adverb that causes something to happen when it is seen.

Từ "mareh", có nghĩa là "hình dạng", được dịch là "dáng vẻ của tia chớp" trong đoạn văn. Từ này được dùng bốn lần trong chương mười; hai lần được dịch là "khải tượng", và hai lần là "hình dạng". Ngoài ra, nó còn được dùng ba lần nữa ở dạng giống cái. Từ "marah" là cách diễn đạt giống cái của thị kiến "hình dạng". Nó được định nghĩa là "một tấm gương soi", và nó là một trạng từ "gây khiến" làm cho điều gì đó xảy ra khi nó được nhìn thấy.

A causative adverb is derived from an adjective that causes something to happen or produces an effect. In language and grammar, it often refers to verbs or constructions that express the idea of causing someone or something to perform an action or experience a state.

Trạng từ sai khiến được hình thành từ một tính từ có khả năng khiến điều gì đó xảy ra hoặc tạo ra một tác động. Trong ngôn ngữ và ngữ pháp, thuật ngữ này thường chỉ các động từ hoặc cấu trúc diễn đạt ý nghĩa về việc khiến ai đó hoặc cái gì đó thực hiện một hành động hoặc trải qua một trạng thái.

For example, in the sentence “She made him laugh,” the verb “made” is causative because it indicates that the subject (she) caused the object (him) to perform the action (laughing).

Ví dụ, trong câu “She made him laugh,” động từ “made” là động từ sai khiến vì nó cho thấy rằng chủ ngữ (she) đã khiến tân ngữ (him) thực hiện hành động (cười).

“I had my car repaired.” (In this sentence, the subject “I” caused someone else to perform the action of repairing the car.)

Tôi đã cho sửa xe của mình. (Trong câu này, chủ ngữ “tôi” nhờ người khác thực hiện việc sửa xe.)

“She made her students study for the exam.” (Here, the subject “She” caused her students to engage in the action of studying for the exam.)

"Cô ấy khiến các học sinh của mình ôn tập cho kỳ thi." (Ở đây, chủ ngữ "Cô ấy" khiến các học sinh của mình thực hiện hành động ôn tập cho kỳ thi.)

“He got his hair cut.” (In this case, the subject “He” caused someone else to perform the action of cutting his hair.)

"Anh ấy đã nhờ người ta cắt tóc." (Trong trường hợp này, chủ ngữ "He" khiến người khác thực hiện hành động cắt tóc cho anh ấy.)

“The company had the building renovated.” (In this sentence, the company caused someone else to carry out the action of renovating the building.)

Công ty đã cho cải tạo tòa nhà. (Trong câu này, công ty cho người khác thực hiện việc cải tạo tòa nhà.)

“We’ll get the children to help with the chores.” (Here, the subject “We” plans to cause the children to participate in the action of helping with the chores.) In each of these examples, the causative verbs (had, made, got, get) indicate that the subject causes someone else to perform the action specified by the main verb (repaired, study, cut, renovated, help).

Chúng tôi sẽ khiến những đứa trẻ phụ giúp việc nhà. (Ở đây, chủ ngữ “chúng tôi” dự định khiến những đứa trẻ tham gia vào hành động phụ giúp việc nhà.) Trong mỗi ví dụ này, các động từ sai khiến (had, made, got, get) chỉ ra rằng chủ ngữ khiến người khác thực hiện hành động được nêu bởi động từ chính (repaired, study, cut, renovated, help).

The “mareh” vision of the appearance, when expressed in feminine tense “marah”, and as defined as “a looking glass” identifies that the vision of the glorified Christ, is reproduced in those who behold the vision. When Daniel saw the “appearance” of Christ as lightning, a class of persons fled in fear, but for Daniel it produced a miraculous change within him.

Khải tượng “mareh” về vẻ hiện ra, khi được diễn tả ở dạng giống cái “marah” và được định nghĩa là “một tấm gương soi”, cho thấy rằng khải tượng về Đấng Christ vinh hiển được tái hiện nơi những ai chiêm ngưỡng khải tượng ấy. Khi Daniel thấy “vẻ hiện ra” của Đấng Christ như tia chớp, một số người đã hoảng sợ bỏ chạy, nhưng đối với Daniel, điều đó đã tạo nên một sự thay đổi kỳ diệu trong chính ông.

And I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Therefore I was left alone, and saw this great vision, and there remained no strength in me: for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength. Daniel 10:7, 8.

Chỉ mình tôi, Đa-ni-ên, thấy khải tượng; những người ở với tôi thì không thấy khải tượng, nhưng một cơn run rẩy lớn ập đến trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình. Vì vậy tôi còn lại một mình và thấy khải tượng lớn ấy; trong tôi chẳng còn sức lực nào, vì sắc diện tốt đẹp của tôi đã biến thành tàn tạ, và tôi chẳng còn chút sức nào. Đa-ni-ên 10:7, 8.

The truth is represented by the Hebrew word “truth,” which is created by the first, thirteenth and last letter of the Hebrew alphabet. The first letter and the last letter are always the same for Christ, as Alpha and Omega, always represents the end with the beginning. The middle or thirteenth letter represents rebellion. Daniel states, “I Daniel alone saw the vision,” but the men who were with Daniel, who were living in rebellion, “saw not the vision.” Therefore Daniel “alone” “saw the great vision.” At the beginning and the ending Daniel alone saw the vision, and the second reference caused those who fled to manifest their rebellion. Daniel is representing God’s people in the last days who are changed unto the image of Christ through the process of beholding His image. We are to look at the “looking glass” vision.

Lẽ thật được tiêu biểu bởi từ Hê-bơ-rơ “lẽ thật,” được cấu thành bởi chữ cái thứ nhất, thứ mười ba, và chữ cái cuối cùng của bảng mẫu tự Hê-bơ-rơ. Chữ cái thứ nhất và chữ cái cuối cùng luôn luôn là như nhau đối với Đấng Christ, vì Alpha và Omega luôn tiêu biểu cho sự cuối cùng với sự khởi đầu. Chữ cái ở giữa, hay chữ cái thứ mười ba, tiêu biểu cho sự phản nghịch. Đa-ni-ên tuyên bố: “Chỉ một mình ta là Đa-ni-ên đã thấy sự hiện thấy,” nhưng những người ở cùng Đa-ni-ên, là những kẻ đang sống trong sự phản nghịch, thì “đã không thấy sự hiện thấy.” Vậy nên Đa-ni-ên “một mình” “đã thấy sự hiện thấy lớn ấy.” Vào lúc khởi đầu và lúc kết thúc, chỉ một mình Đa-ni-ên thấy sự hiện thấy, và chỗ đề cập thứ hai đã khiến những kẻ chạy trốn bày tỏ sự phản nghịch của họ. Đa-ni-ên tiêu biểu cho dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, là những người được biến đổi theo ảnh tượng của Đấng Christ qua tiến trình ngắm xem ảnh tượng của Ngài. Chúng ta phải nhìn vào sự hiện thấy “tấm gương soi.”

“We must have a knowledge of God by living experience. If we follow on to know the Lord, we shall know that His goings forth are prepared as the morning. Christ calls upon us to be filled with all the fulness of God. Then we can truly represent the perfection of the Christian religion. ‘Whosoever drinketh of the water that I shall give him,’ the Saviour declares, ‘shall never thirst; but the water that I shall give him shall be in him a well of water springing up into everlasting life.’ Christ wants us to be co-laborers with Him. When we are emptied of self, He will give us His grace to impart to others. The two olive branches, which through the two golden pipes empty the golden oil out of themselves, will surely supply the cleansed vessels with light and comfort and hope and love for those who are in need. We must render God more than fitful service. But we can do this only by learning of Jesus, cherishing His meekness and lowliness of heart. Let us hide ourselves in God. Let us have confidence in Him. Let us abide in Christ. Then we all ‘with open face beholding as in a glass the glory of the Lord, are changed into the same image from glory to glory,’—from character to character. God does not expect impossibilities from you or me. Beholding Him, we may be changed into His image.” Signs of the Times, April 25, 1900.

Chúng ta phải có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời qua trải nghiệm sống động. Nếu chúng ta tiếp tục theo đuổi để biết Chúa, chúng ta sẽ biết rằng sự xuất hiện của Ngài chắc chắn như rạng đông. Đấng Christ kêu gọi chúng ta được đầy dẫy mọi sự viên mãn của Đức Chúa Trời. Khi ấy chúng ta mới có thể thật sự bày tỏ sự trọn vẹn của tôn giáo Cơ Đốc. “Ai uống nước mà Ta sẽ cho,” Đấng Cứu Thế phán, “sẽ chẳng bao giờ khát nữa; nhưng nước Ta sẽ cho sẽ trở nên trong người ấy một mạch nước vọt lên cho sự sống đời đời.” Đấng Christ muốn chúng ta làm người đồng công với Ngài. Khi chúng ta rỗng không khỏi cái tôi, Ngài sẽ ban ân điển của Ngài cho chúng ta để ban phát cho người khác. Hai nhánh ô-liu, qua hai ống vàng tuôn đổ dầu vàng từ chính mình, chắc chắn sẽ cung ứng cho những bình đã được thanh tẩy ánh sáng, sự an ủi, hy vọng và tình yêu để phục vụ những người đang cần. Chúng ta không được chỉ phục vụ Đức Chúa Trời một cách thất thường, lúc có lúc không. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm điều ấy bằng cách học nơi Chúa Giê-xu, trân quý sự nhu mì và khiêm nhường trong lòng của Ngài. Hãy ẩn mình trong Đức Chúa Trời. Hãy đặt lòng tin nơi Ngài. Hãy ở trong Đấng Christ. Bấy giờ tất cả chúng ta, “mặt không che màn, như soi gương mà ngắm vinh hiển Chúa, thì đều được biến hóa nên cùng một ảnh tượng, từ vinh hiển đến vinh hiển”—từ phẩm chất này đến phẩm chất khác. Đức Chúa Trời không trông đợi những điều không thể nơi bạn hay tôi. Khi chiêm ngưỡng Ngài, chúng ta có thể được biến đổi nên giống ảnh tượng của Ngài. Dấu Hiệu của Thời Đại, ngày 25 tháng 4, 1900.

In Daniel chapter ten and chapter nine, Gabriel provides the interpretation of the external and internal visions of prophecy to Daniel, and Daniel’s first statement in verse one of chapter ten, is that he had understanding of both visions, represented as the “thing” and the “vision.” He received that understanding at the end of twenty-one days in which he had been in mourning. That twenty-one days concluded with the arrival of Michael the archangel. The number two hundred and twenty, and the number twenty-two, which is a tenth or tithe of two hundred and twenty is a symbol for the combination of Divinity with humanity, and it was on the twenty-second day that Daniel was changed into the image of Christ.

Trong Đa-ni-ên chương mười và chương chín, Gáp-ri-ên ban cho Đa-ni-ên lời giải nghĩa về các khải tượng tiên tri bên ngoài và bên trong, và lời phát biểu đầu tiên của Đa-ni-ên trong câu một của chương mười là ông đã hiểu cả hai khải tượng ấy, được biểu thị là “điều ấy” và “khải tượng.” Ông đã nhận được sự hiểu biết đó vào cuối hai mươi mốt ngày ông ở trong sự than khóc. Hai mươi mốt ngày ấy kết thúc với sự xuất hiện của thiên sứ trưởng Mi-ca-ên. Con số hai trăm hai mươi, và con số hai mươi hai, là một phần mười hay phần mười dâng của hai trăm hai mươi, là biểu tượng cho sự kết hợp giữa Thần tính với nhân tính, và chính vào ngày thứ hai mươi hai mà Đa-ni-ên đã được biến đổi nên giống hình ảnh của Đấng Christ.

I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all, till three whole weeks were fulfilled. And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel; Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz. Daniel 10:3–5.

Tôi không ăn bánh ngon; thịt và rượu cũng chẳng vào miệng tôi; tôi cũng chẳng xức dầu chút nào, cho đến khi trọn ba tuần lễ. Đến ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi đang ở bên bờ con sông lớn, tức là Hiddekel; bấy giờ tôi ngước mắt lên và nhìn, kìa có một người mặc vải lanh, hông thắt đai bằng vàng ròng của Uphaz. Daniel 10:3-5.

Daniel represents God’s people of the last days who have recognized through God’s prophetic Word that they have been scattered, and who are mourning their scattered condition and seeking for light. Their scattered condition is illustrated as a valley of dead dry bones in Ezekiel chapter thirty-seven. The bones are dead, and they are scattered, but they are identified as the house of Israel. The house of Israel of the last days is the one hundred and forty-four thousand. They are scattered, just as Daniel recognized from the books of Jeremiah and Moses. In Ezekiel the dead identify that they recognize their condition.

Đa-ni-ên tượng trưng cho dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, là những người, qua Lời tiên tri của Đức Chúa Trời, đã nhận ra rằng mình đã bị tan lạc, và đang than khóc về tình trạng tan lạc ấy cùng tìm kiếm ánh sáng. Tình trạng tan lạc của họ được minh họa như một trũng đầy những xương khô chết trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy. Những xương ấy đã chết, và chúng bị tan lạc, nhưng chúng được xác định là nhà Y-sơ-ra-ên. Nhà Y-sơ-ra-ên của những ngày sau rốt là một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Họ bị tan lạc, đúng như Đa-ni-ên đã nhận biết từ các sách của Giê-rê-mi và Môi-se. Trong Ê-xê-chi-ên, tình trạng chết cho thấy rằng họ nhận biết tình trạng của mình.

Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Ezekiel 37:11.

Bấy giờ Ngài phán với ta: Hỡi con người, những xương cốt này là cả nhà Y-sơ-ra-ên; kìa, họ nói: “Xương cốt chúng tôi đã khô, niềm hy vọng của chúng tôi đã mất; chúng tôi đã bị dứt tuyệt.” Ê-xê-chi-ên 37:11.

The house of Israel, which is the bones, proclaims that they are “cut off for our parts.” They have recognized their scattered condition. The house of Israel of the last days fulfills the parable of the ten virgins to the very letter, and in the Millerite history the fulfillment of recognizing that they were cut off from their parts, identified when the wise virgins came to understand that they were in the tarrying time, and also that the tarrying time was a specific period of the parable. Those in Ezekiel who recognize their scattered condition are those who after the first disappointment recognized they were in the tarrying time.

Nhà Israel, vốn là các xương cốt, tuyên bố rằng: “Chúng ta bị cắt đứt khỏi phần của mình.” Họ đã nhận ra tình trạng tản lạc của mình. Nhà Israel trong những ngày sau rốt ứng nghiệm dụ ngôn mười trinh nữ đúng như từng chữ, và trong lịch sử Millerite, sự ứng nghiệm của việc nhận biết rằng họ đã bị cắt đứt khỏi phần của mình được xác định khi các trinh nữ khôn ngoan hiểu ra rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn, và rằng thời kỳ trì hoãn ấy là một giai đoạn cụ thể trong dụ ngôn. Những người trong Ê-xê-chi-ên nhận ra tình trạng tản lạc của mình chính là những người sau sự thất vọng lần thứ nhất đã nhận ra rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn.

Both, Ezekiel’s bones, and the wise of the parable of the ten virgins, are represented by Daniel’s mourning during the twenty-one days. After the twenty-one days, on day twenty two, Michael descended, and Daniel was given a vision of the glorified Christ that changed Daniel into the image of Christ. The wise virgins and the dead bones must also go through the transformation accomplished by the looking-glass vision.

Cả xương cốt của Ê-xê-chi-ên lẫn những người khôn ngoan trong ngụ ngôn mười trinh nữ đều được biểu trưng bởi sự than khóc của Đa-ni-ên trong suốt hai mươi mốt ngày. Sau hai mươi mốt ngày, vào ngày thứ hai mươi hai, Mi-ca-ên đã giáng xuống, và Đa-ni-ên được ban cho một khải tượng về Đấng Christ vinh hiển, khải tượng đã biến đổi Đa-ni-ên theo hình ảnh của Đấng Christ. Những trinh nữ khôn ngoan và những bộ xương chết cũng phải trải qua sự biến đổi được thực hiện bởi khải tượng gương soi.

Daniel, Ezekiel’s dead bones, and the wise virgins of Millerite history, all align with the two witnesses who are slain in Revelation chapter eleven. Moses and Elijah were slain, but they were to be resurrected at the end of three and a half symbolic days. Moses was resurrected by Michael as identified in the book of Jude.

Đa-ni-ên, những bộ xương khô của Ê-xê-chi-ên, và các trinh nữ khôn ngoan trong lịch sử Millerite, tất cả đều tương ứng với hai nhân chứng bị giết trong Khải Huyền chương mười một. Môi-se và Ê-li đã bị giết, nhưng họ sẽ được sống lại vào cuối ba ngày rưỡi tượng trưng. Môi-se đã được Mi-ca-ên làm cho sống lại, như được nêu trong thư Giu-đe.

Yet Michael the archangel, when contending with the devil he disputed about the body of Moses, durst not bring against him a railing accusation, but said, The Lord rebuke thee. Jude 1:9.

Tuy nhiên, tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, khi tranh cãi với ma quỷ về thi thể của Môi-se, đã không dám đưa ra lời cáo buộc lăng mạ chống lại hắn, nhưng nói: Chúa quở trách ngươi. Giu-đe 1:9.

In Daniel chapter ten, Daniel receives the looking glass vision when Michael descends after the twenty-one days of mourning. It is the voice of Michael that raises the dead.

Trong chương mười của sách Daniel, Daniel nhận được khải tượng gương soi khi Michael giáng xuống sau hai mươi mốt ngày than khóc. Chính tiếng của Michael khiến kẻ chết sống lại.

For the Lord himself shall descend from heaven with a shout, with the voice of the archangel, and with the trump of God: and the dead in Christ shall rise first. 1 Thessalonians 4:16.

Vì chính Chúa sẽ từ trời giáng xuống, có tiếng kêu lớn, tiếng của thiên sứ trưởng và tiếng kèn của Đức Chúa Trời; rồi những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16.

Daniel chapter ten identifies the transition of the Laodicean movement of the third angel to the Philadelphian movement of the third angel. It aligns with the two witnesses of Revelation chapter eleven, the dead bones of Ezekiel chapter thirty-seven, the wise virgins in the parable of the ten virgins, and the Millerites who fulfilled the parable. Gabriel provided the interpretation of the great looking-glass vision, while finishing the work of interpretation he had begun in chapter nine. The interpretation was accomplished by Gabriel identifying the prophetic history found in chapter eleven, that actually continues into the first three verses of chapter twelve. Then in verse four of chapter twelve, Daniel is told to seal up his book.

Chương mười của sách Đa-ni-ên xác định sự chuyển tiếp từ phong trào La-ô-đi-xê của thiên sứ thứ ba sang phong trào Phi-la-đen-phi của thiên sứ thứ ba. Điều này phù hợp với hai chứng nhân trong Khải Huyền chương mười một, những xương khô trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy, các trinh nữ khôn ngoan trong dụ ngôn mười trinh nữ, và những người theo phái Miller đã ứng nghiệm dụ ngôn. Gáp-ri-ên đã đưa ra lời giải nghĩa về khải tượng chiếc gương lớn, đồng thời hoàn tất công việc giải nghĩa mà ông đã bắt đầu ở chương chín. Việc giải nghĩa được hoàn tất khi Gáp-ri-ên xác định lịch sử tiên tri được tìm thấy ở chương mười một, vốn thực ra tiếp tục sang ba câu đầu của chương mười hai. Rồi ở câu bốn của chương mười hai, Đa-ni-ên được bảo hãy đóng ấn quyển sách của mình.

In Daniel chapter ten, “line upon line”, Daniel represents God’s last day people who are also represented in Daniel chapter two as earnestly seeking (under the threat of death), to understand the external prophetic message represented by Nebuchadnezzar’s secret image of beasts. He is also seeking to understand the vision of the internal prophetic message represented by the twenty-three hundred days. After the twenty-one symbolic days of mourning in chapter ten, he is finally represented as understanding both revelations. His understanding is accomplished when the archangel descends, and he is touched three times.

Trong Daniel chương mười, "hết dòng này đến dòng khác", Daniel đại diện cho dân sự những ngày sau rốt của Đức Chúa Trời, là những người cũng được trình bày trong Daniel chương hai như đang sốt sắng tìm kiếm (dưới mối đe dọa tử hình) để hiểu sứ điệp tiên tri bên ngoài được biểu trưng bởi hình tượng bí mật về các loài thú của Nebuchadnezzar. Ông cũng đang tìm cách hiểu khải tượng về sứ điệp tiên tri nội tại được biểu trưng bởi hai nghìn ba trăm ngày. Sau hai mươi mốt ngày than khóc mang tính biểu tượng trong chương mười, cuối cùng ông được mô tả là đã hiểu cả hai sự mặc khải. Sự hiểu biết của ông được hoàn tất khi tổng lãnh thiên sứ giáng xuống và ông được chạm vào ba lần.

His experience with Michael, the vision of Michael that he alone sees, prepares him to receive the full interpretation of both the internal and external visions of prophecy. That experience is set forth, line upon line, in a very detailed fashion when combined with Ezekiel chapter thirty-seven, Revelation chapter eleven and Isaiah chapter six. The verse in chapter eleven where Gabriel brings the two visions together is verse ten, for there the king of the north proceeds up to the fortress, but no further. The fortress is the nation, or the capital, or the king of Egypt in the verse, as defined by Isaiah in chapter seven.

Kinh nghiệm của ông với Mi-ca-ên, khải tượng về Mi-ca-ên mà chỉ mình ông nhìn thấy, chuẩn bị cho ông tiếp nhận sự giải nghĩa đầy đủ cho cả các khải tượng bên trong lẫn bên ngoài của lời tiên tri. Kinh nghiệm đó được trình bày, từng dòng nối tiếp, một cách rất chi tiết khi kết hợp với Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy, Khải Huyền chương mười một và Ê-sai chương sáu. Câu trong chương mười một, nơi Ga-bri-ên đem hai khải tượng lại với nhau, là câu mười, vì tại đó vua phương bắc tiến lên đến đồn lũy, nhưng không tiến xa hơn. Đồn lũy trong câu ấy là quốc gia, hoặc thủ đô, hoặc vua Ai Cập, như Ê-sai định nghĩa ở chương bảy.

For the head of Syria is Damascus, and the head of Damascus is Rezin; and within threescore and five years shall Ephraim be broken, that it be not a people. And the head of Ephraim is Samaria, and the head of Samaria is Remaliah’s son. If ye will not believe, surely ye shall not be established. Isaiah 7:8, 9.

Vì đầu của Sy-ri là Đa-mách, và đầu của Đa-mách là Rê-xin; và trong vòng sáu mươi lăm năm, Êp-ra-im sẽ bị bẻ gãy đến nỗi không còn là một dân. Và đầu của Êp-ra-im là Sa-ma-ri, và đầu của Sa-ma-ri là con trai của Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không tin, chắc chắn các ngươi sẽ không đứng vững. Ê-sai 7:8, 9.

In verse ten, of chapter eleven of Daniel, the king of the north comes up to the border of Egypt, and the verse defines that as the “fortress” of Egypt (the king of the south). Verse ten, can be shown to be representing 1989, when the Soviet Union was swept away by the papacy and its proxy army, the United States. It was the first of three proxy wars, which ultimately becomes World War III at the third proxy war (Panium). The second proxy war is represented by verses eleven and twelve, and is now taking place in the Ukraine, where Russia is representing the king of the south, just as the Soviet Union represented the king of the south in its defeat in 1989.

Trong câu mười của chương mười một sách Đa-ni-ên, vua phương bắc tiến đến biên giới của Ai Cập, và câu ấy xác định điều đó là “đồn lũy” của Ai Cập (vua phương nam). Có thể chứng minh rằng câu mười tượng trưng cho năm 1989, khi Liên Xô bị cuốn phăng bởi quyền giáo hoàng và đội quân ủy nhiệm của nó là Hoa Kỳ. Đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm đầu tiên trong ba cuộc, cuối cùng trở thành Thế Chiến Thứ Ba ở cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ ba (Panium). Cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ hai được tượng trưng bởi câu mười một và câu mười hai, và hiện đang diễn ra tại Ukraine, nơi Nga đang đại diện cho vua phương nam, cũng như Liên Xô đã đại diện cho vua phương nam trong sự thất bại của mình vào năm 1989.

I have used the expression “cold war” in the past to make the distinction between these three proxy wars and world wars. There is actually genuine warfare taking place in Ukraine, so it is not actually a cold war, but it is a proxy war between the papacy and its allies and Russia. But there is to be a third world war, where virtually every nation will be considered a target.

Trước đây, tôi đã dùng cách diễn đạt “chiến tranh lạnh” để phân biệt ba cuộc chiến tranh ủy nhiệm này với các cuộc thế chiến. Thực tế hiện đang có chiến sự thật sự diễn ra tại Ukraine, nên đó không thực sự là một cuộc chiến tranh lạnh, nhưng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa giáo hoàng quyền cùng các đồng minh của nó và Nga. Nhưng sẽ có một cuộc thế chiến thứ ba, trong đó hầu như mọi quốc gia đều sẽ bị xem là mục tiêu.

“O that God’s people had a sense of the impending destruction of thousands of cities, now almost given to idolatry! . ..

Ôi, ước gì dân của Đức Chúa Trời ý thức được sự hủy diệt sắp ập đến trên hàng nghìn thành phố, giờ đây hầu như đã phó mình cho việc thờ thần tượng! ...

“Transgression has almost reached its limit. Confusion fills the world, and a great terror is soon to come upon human beings. The end is very near. We who know the truth should be preparing for what is soon to break upon the world as an overwhelming surprise.” Review and Herald, September 10, 1903.

“Sự gian ác đã gần đạt đến mức tột cùng. Sự hỗn loạn bao trùm thế giới, và một nỗi kinh hoàng lớn sắp giáng xuống loài người. Hồi kết đã rất gần. Chúng ta, những người biết lẽ thật, nên chuẩn bị cho điều sắp ập xuống thế giới như một sự bất ngờ choáng ngợp.” Review and Herald, ngày 10 tháng 9 năm 1903.

In verses eleven and twelve, Russia, the king of the south, will defeat the papacy’s proxy army, represented by the Nazi regime that is directing the Ukrainian war effort, and that is supported by the previous proxy army of the papacy, the United States. In World War II, the proxy army of the papacy, the king of the north, against Communist Russia was Germany’s Nazi regime, and that proxy army lost, just as it will lose again in the Ukraine in the near future.

Trong các câu mười một và mười hai, Nga, vua phương nam, sẽ đánh bại đạo quân ủy nhiệm của chế độ giáo hoàng, được tượng trưng bởi chế độ Đức Quốc xã đang chỉ đạo nỗ lực chiến tranh của Ukraine, và được hậu thuẫn bởi đạo quân ủy nhiệm trước đó của chế độ giáo hoàng là Hoa Kỳ. Trong Thế Chiến II, đạo quân ủy nhiệm của chế độ giáo hoàng, tức vua phương bắc, chống lại nước Nga Cộng sản là chế độ Đức Quốc xã của Đức, và đạo quân ủy nhiệm ấy đã thất bại, cũng như nó sẽ lại thất bại tại Ukraine trong tương lai gần.

The third proxy war is represented in verses thirteen through fifteen, and was fulfilled in ancient history by the battle of Panium. The third proxy war will be carried out by the United States, the proxy army of the papacy, and the king of the north will prevail in that battle against atheism, as it did in the first proxy war (cold war). In the first and the third proxy war, the king of the north–the papacy–defeats the king of the south (the Soviet Union), and then defeats the United Nations. Its proxy army in those two battles was and will be again, the United States.

Cuộc chiến ủy nhiệm thứ ba được trình bày trong các câu mười ba đến mười lăm, và đã được ứng nghiệm trong lịch sử cổ đại bởi trận Panium. Cuộc chiến ủy nhiệm thứ ba sẽ được tiến hành bởi Hoa Kỳ, đạo quân ủy nhiệm của giáo hoàng, và vua phương bắc sẽ thắng thế trong trận chiến ấy chống lại chủ nghĩa vô thần, như đã từng trong cuộc chiến ủy nhiệm thứ nhất (chiến tranh lạnh). Trong cuộc chiến ủy nhiệm thứ nhất và thứ ba, vua phương bắc—giáo hoàng—đánh bại vua phương nam (Liên Xô), rồi sau đó đánh bại Liên Hiệp Quốc. Đạo quân ủy nhiệm của nó trong hai trận chiến ấy đã là, và sẽ lại là, Hoa Kỳ.

After the victory of Putin in the Ukraine, Trump will be reelected as the eighth president, that is of the seven presidents that have reigned in the United States since the first proxy war (cold war) was fulfilled in 1989, which was the time of the end for the reform movement of the third angel. Trump is representing the Republican horn on the earth beast, and he received a deadly wound at the hands of the beast of “woke” atheism in 2020, in fulfillment of the Revelation chapter eleven’s two witnesses being slain in the street.

Sau chiến thắng của Putin tại Ukraine, Trump sẽ được tái đắc cử với tư cách là vị tổng thống thứ tám, tức là thuộc về bảy vị tổng thống đã cai trị tại Hoa Kỳ kể từ khi cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ nhất (chiến tranh lạnh) được ứng nghiệm vào năm 1989, vốn là thời kỳ cuối cùng đối với phong trào cải chánh của thiên sứ thứ ba. Trump tượng trưng cho chiếc sừng Cộng hòa trên con thú từ đất lên, và ông đã nhận một vết thương chí tử dưới tay con thú của chủ nghĩa vô thần “woke” vào năm 2020, để ứng nghiệm việc hai chứng nhân trong chương mười một của sách Khải Huyền bị giết ngoài đường phố.

Future for America represents the true Protestant horn during the identical history, and in 2020, Future for America received a deadly wound at the hands of the beast of “woke” atheism. In 2023, twenty-two years after 2001, Michael descended to begin the process represented by Ezekiel, John, Daniel and Isaiah of resurrecting a mighty army that will be lifted up as an ensign at the soon coming Sunday law.

Future for America đại diện cho sừng Tin Lành chân chính trong cùng giai đoạn lịch sử, và vào năm 2020, Future for America đã nhận một vết thương chí tử từ tay con thú của chủ nghĩa vô thần “woke”. Năm 2023, hai mươi hai năm sau 2001, Michael đã giáng xuống để bắt đầu tiến trình được Ezekiel, John, Daniel và Isaiah mô tả về việc phục sinh một đạo quân hùng mạnh, đạo quân này sẽ được giương lên như một cờ hiệu khi đạo luật Chủ nhật sắp đến.

In 1856, the Philadelphian Millerite movement transitioned into the Laodicean Millerite movement, and there and then rejected the increased knowledge of the seven times, and then fully finalized their rebellion in 1863. The Millerites transitioned from the condition represented by the sixth church of Philadelphia, unto the experience of the seventh church, and that turning point aligns with the history of 2023, when the Laodicean movement of Future for America transitions from the experience of the seventh church, back to the experience of the sixth church of Philadelphia. In this prophetic application, the true Protestant horn, as with the Republican horn, becomes the eighth, that was of the seven.

Vào năm 1856, phong trào Millerite Philadelphian đã chuyển sang phong trào Millerite Laodicean, và ngay tại đó và lúc ấy đã chối bỏ sự gia tăng ánh sáng về bảy kỳ, rồi sau đó hoàn tất trọn vẹn sự phản nghịch của mình vào năm 1863. Những người Millerite đã chuyển từ tình trạng được tiêu biểu bởi hội thánh thứ sáu là Philadelphia sang kinh nghiệm của hội thánh thứ bảy, và bước ngoặt ấy tương ứng với lịch sử của năm 2023, khi phong trào Laodicean của Future for America chuyển từ kinh nghiệm của hội thánh thứ bảy trở lại kinh nghiệm của hội thánh thứ sáu là Philadelphia. Trong sự áp dụng lời tiên tri này, chiếc sừng Tin Lành chân thật, cũng như chiếc sừng Cộng hòa, trở thành chiếc thứ tám, vốn thuộc về bảy chiếc.

The key to recognizing that the Ukrainian war is the second proxy war, is the “fortress” of verse ten, and verse seven. In verse seven, which represented the papacy receiving its deadly wound in 1798, the king of the south entered into the “fortress,” of the king of the north, and this was fulfilled by Napoleon’s general walking into the Vatican and taking the pope captive. The king of the south had entered into the fortress. In verse ten the king of the north, representing the papacy and its proxy army the United States, swept away the structure of the Soviet Union, but it left the “fortress” standing. The “fortress” was the head, the capital—it was Russia.

Chìa khóa để nhận ra rằng cuộc chiến tranh tại Ukraine là cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ hai nằm ở “pháo đài” của câu mười, và của câu bảy. Trong câu bảy, là câu tiêu biểu cho việc giáo hoàng quyền nhận lãnh vết thương chí tử vào năm 1798, vua phương nam đã tiến vào “pháo đài” của vua phương bắc, và điều này đã được ứng nghiệm khi vị tướng của Napoléon bước vào Vatican và bắt giáo hoàng làm tù binh. Vua phương nam đã tiến vào pháo đài. Trong câu mười, vua phương bắc, tiêu biểu cho giáo hoàng quyền và đạo quân ủy nhiệm của nó là Hoa Kỳ, đã cuốn trôi cơ cấu của Liên Xô, nhưng để lại “pháo đài” vẫn đứng vững. “Pháo đài” ấy là đầu, là thủ đô—đó là Nga.

But the “head,” or fortress, can only be established upon two or three witnesses by employing Isaiah chapter seven, verses seven and eight. Isaiah seven, verse eight and nine, was the primary point of reference for Hiram Edson’s series of articles on the “seven times” that were published in 1856. The two verses that establish that Russia is the fortress that prevails in the current Ukrainian war, are also the two verses that establish the starting point for both “seven times,” against the northern and southern kingdoms of Israel. Verse ten of chapter eleven identifies the external vision, which Sister White teaches is based upon the rise and fall of kingdoms.

Nhưng “đầu”, hay pháo đài, chỉ có thể được xác lập dựa trên hai hoặc ba nhân chứng, bằng cách sử dụng Ê-sai chương bảy, câu bảy và tám. Ê-sai chương bảy, câu tám và chín, là điểm tham chiếu chính cho loạt bài viết của Hiram Edson về “bảy lần” được xuất bản năm 1856. Hai câu xác lập rằng Nga là pháo đài chiếm ưu thế trong cuộc chiến Ukraina hiện nay, cũng chính là hai câu xác lập điểm khởi đầu cho cả hai “bảy lần”, chống lại các vương quốc phương bắc và phương nam của Y-sơ-ra-ên. Câu mười của chương mười một xác định khải tượng bên ngoài, mà Chị White dạy rằng dựa trên sự hưng vong của các vương quốc.

From the rise and fall of nations as made plain in the books of Daniel and the Revelation, we need to learn how worthless is mere outward and worldly glory. Babylon, with all its power and magnificence, the like of which our world has never since beheld,—power and magnificence which to the people of that day seemed so stable and enduring,—how completely has it passed away! As ‘the flower of the grass,’ it has perished. James 1:10. So perished the Medo-Persian kingdom, and the kingdoms of Grecia and Rome. And so perishes all that has not God for its foundation. Only that which is bound up with His purpose, and expresses His character, can endure. His principles are the only steadfast things our world knows.” Prophets and Kings, 548.

Qua sự hưng vong của các dân tộc, như đã được bày tỏ rõ ràng trong các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, chúng ta cần học biết rằng vinh quang chỉ bề ngoài và thuộc về thế gian là vô giá trị biết bao. Ba-by-lôn, với tất cả quyền lực và sự tráng lệ của nó, điều mà từ đó đến nay thế giới chúng ta chưa từng thấy lại - quyền lực và sự tráng lệ mà đối với người đương thời dường như rất vững chắc và bền lâu - vậy mà nó đã tiêu tan hoàn toàn! Như 'bông hoa của cỏ', nó đã tàn lụi. Gia-cơ 1:10. Đế quốc Mê-đi-Ba Tư, và các đế quốc Hy Lạp và La Mã cũng đã diệt vong như thế. Và mọi sự không có Đức Chúa Trời làm nền tảng đều tiêu vong như vậy. Chỉ những gì gắn liền với mục đích của Ngài và bày tỏ bản tính của Ngài mới có thể tồn tại. Những nguyên tắc của Ngài là những điều bền vững duy nhất mà thế giới chúng ta biết đến." Các Tiên Tri và Các Vua, 548.

The three proxy wars are “made plain in the books of Daniel and the Revelation,” and the key to this truth is the “fortress” of verse ten, of Daniel eleven. But verse ten also addresses the internal vision, for the starting point for both “seven times,” is also identified in Isaiah chapter seven verses eight and nine. The external and internal cannot be separated, and the two periods of twenty-five hundred and twenty years are also Ezekiel’s two sticks, which when joined together, represent the sealing of the one hundred and forty-four thousand, which is the combination of Divinity with humanity.

Ba cuộc chiến tranh ủy nhiệm được “làm cho rõ ràng trong các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền,” và chìa khóa của lẽ thật này là “đồn lũy” trong câu mười của Đa-ni-ên 11. Nhưng câu mười cũng đề cập đến khải tượng nội tại, vì điểm khởi đầu cho cả hai thời kỳ “bảy lần” cũng được xác định trong Ê-sai chương bảy, câu tám và chín. Điều bên ngoài và điều bên trong không thể bị tách rời, và hai giai đoạn hai nghìn năm trăm hai mươi năm cũng là hai cây gậy của Ê-xê-chi-ên, mà khi được hiệp lại với nhau, tượng trưng cho việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn người, tức là sự kết hợp giữa Thần tính và nhân tính.

Daniel’s experience with the causative “marah” vision represents the line of prophecy where Michael descends and resurrects His last-day people. That resurrection represents the steps that Christ accomplishes to combine His Divinity with His last day people’s humanity. It is accomplished by the joining of the Divine mind with the human mind so that they have one mind, and it is accomplished in the throne room, in the Most Holy Place, which is the “fortress” that Sister White identifies as the “citadel” (fortress) of the soul.

Kinh nghiệm của Đa-ni-ên với khải tượng “marah” mang tính tác động biểu trưng cho tuyến tiên tri trong đó Mi-ca-ên ngự xuống và làm sống lại dân sự của Ngài trong những ngày sau rốt. Sự sống lại ấy tiêu biểu cho các bước mà Đấng Christ thực hiện để kết hợp Thần tính của Ngài với nhân tính của dân sự Ngài trong ngày sau rốt. Điều đó được hoàn thành bởi sự hiệp nhất của trí óc Thiêng liêng với trí óc loài người để họ có cùng một tâm trí, và điều đó được hoàn thành trong phòng ngai, tại Nơi Chí Thánh, tức là “pháo đài” mà Chị White xác định là “thành lũy” (pháo đài) của linh hồn.

In the throne room God’s last-day people receive the mind of Christ and are then seated with Christ in heavenly places. The heavenly place where Christ is seated is the fortress or the head of the temple. The body temple has a lower nature, which is the flesh, or the body. It also has a higher nature, which is the mind. In verse ten of Daniel chapter eleven, the key that marks the fortress of the external vision, also marks the fortress of the internal vision, and in doing so it identifies the history where the horns of Republicanism and of Protestantism transition into the image of the beast (Republicanism), or the image of God (true Protestantism). Both horns then become the eighth that is of the seven.

Trong phòng ngai, dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời nhận lấy tâm trí của Đấng Christ và rồi được ngồi với Ngài tại các nơi trên trời. Nơi trên trời nơi Đấng Christ đang ngự là đồn lũy, hay là đầu của đền thờ. Đền thờ thân thể có một bản tính thấp hơn, tức là xác thịt hay thân xác. Nó cũng có một bản tính cao hơn, tức là tâm trí. Trong câu mười của Đa-ni-ên đoạn mười một, điểm then chốt đánh dấu đồn lũy của khải tượng bên ngoài cũng đánh dấu đồn lũy của khải tượng bên trong; và như vậy, nó xác định lịch sử nơi những chiếc sừng của Chủ nghĩa Cộng hòa và của Tin Lành chuyển thành hình ảnh của con thú (Chủ nghĩa Cộng hòa), hoặc hình ảnh của Đức Chúa Trời (Tin Lành chân chính). Rồi cả hai chiếc sừng trở thành thứ tám, vốn thuộc về bảy.

The true horn of Protestantism is then the Philadelphian horn that is Ezekiel’s mighty army, and Isaiah’s ensign that is lifted up in the warfare against the image of the beast, first in the United States and then in the world. Daniel eleven, verse ten, identifies the point in sacred history that the joining of the sticks begins. The Ukrainian war began in 2014, but it was not until 2022 that Russia began to invade the Ukraine. In 2023, twenty-two years after 2001, Michael began His work of resurrecting those who had suffered their first disappointment in fulfillment of the parable of the ten virgins in 2020. He first raised up a “voice” which is now crying in the wilderness. In July 2023, that voice began to cry, and it was the same voice that was raised up at the beginning of the reform movement of the third angel in 1989, for Jesus always illustrates the ending with the beginning.

Vậy, sừng thật của đạo Tin Lành là sừng Phi-la-đen-phi, tức là đạo binh hùng mạnh của Ê-xê-chi-ên, và là cờ hiệu của Ê-sai được dựng lên trong cuộc chiến chống lại tượng con thú, trước hết tại Hoa Kỳ rồi sau đó trên toàn thế giới. Đa-ni-ên 11:10 xác định thời điểm trong lịch sử thánh khi sự hiệp một của các cây gậy bắt đầu. Cuộc chiến tranh Ukraine khởi sự vào năm 2014, nhưng mãi đến năm 2022 Nga mới bắt đầu xâm lược Ukraine. Năm 2023, tức hai mươi hai năm sau năm 2001, Mi-ca-ên bắt đầu công việc phục sinh những người đã chịu sự thất vọng thứ nhất của mình, ứng nghiệm lời ví dụ về mười người nữ đồng trinh vào năm 2020. Trước hết, Ngài dấy lên một “tiếng” hiện đang kêu lên trong đồng vắng. Vào tháng Bảy năm 2023, tiếng ấy bắt đầu kêu lên, và đó chính là tiếng đã được dấy lên vào lúc khởi đầu của phong trào cải chánh của thiên sứ thứ ba vào năm 1989, vì Đức Chúa Jêsus luôn minh họa sự cuối cùng bằng sự khởi đầu.

The “voice” crying in the wilderness began to sound by presenting Revelation chapter one, where the combination of Divinity with humanity is represented as the Revelation of Jesus Christ, a revelation that is opened up just before probation closes. Daniel experienced that revelation in chapter ten, with the “causative” vision. The combination of Divinity with humanity in the first verses of Revelation represents the most important truth, based upon the rule of first mention. The combination of Divinity with humanity, which is the sealing of the one hundred and forty-four thousand is accomplished by the Word of God. That Word is given from the Father to the Son, who gives it to His angel, who then gives the message to a human representative. The first two steps are represented by the Divinity. Those two steps possess the distinction that the second step of divinity represents the Divinity that created all things. The next two steps are represented by God’s creatures. The first step is an unfallen angel, and the second manifestation of God’s creation was the one that had been given the power to recreate after his own kind. That fourth step, representing humanity, was then to take the message and send it to the churches, that the churches might “read and hear” those things which were written therein.

“Tiếng” kêu trong đồng vắng bắt đầu vang lên bằng cách trình bày chương một của sách Khải Huyền, nơi sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính được tiêu biểu như là Sự Khải Thị của Đức Chúa Jêsus Christ, một sự khải thị được mở ra ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt. Đa-ni-ên đã kinh nghiệm sự khải thị ấy trong chương mười, với khải tượng “causative”. Sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính trong những câu đầu của sách Khải Huyền tiêu biểu cho lẽ thật quan trọng nhất, dựa trên nguyên tắc đề cập đầu tiên. Sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, tức là việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn ngàn người, được hoàn thành bởi Lời Đức Chúa Trời. Lời ấy được ban từ Đức Cha cho Đức Con, Đấng truyền lại cho thiên sứ của Ngài, rồi vị ấy chuyển sứ điệp cho một đại diện loài người. Hai bước đầu được tiêu biểu bởi thần tính. Hai bước ấy mang nét phân biệt này: bước thứ hai của thần tính tiêu biểu cho thần tính đã dựng nên muôn vật. Hai bước kế tiếp được tiêu biểu bởi các tạo vật của Đức Chúa Trời. Bước thứ nhất là một thiên sứ chưa sa ngã, và biểu hiện thứ hai của công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời là thực thể đã được ban cho quyền tái tạo theo loài của mình. Bước thứ tư ấy, tiêu biểu cho nhân loại, sau đó phải nhận lấy sứ điệp và gửi đến các hội thánh, để các hội thánh có thể “đọc và nghe” những điều đã được chép trong đó.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to show unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. John to the seven churches which are in Asia: Grace be unto you, and peace, from him which is, and which was, and which is to come; and from the seven Spirits which are before his throne; And from Jesus Christ, who is the faithful witness, and the first begotten of the dead, and the prince of the kings of the earth. Unto him that loved us, and washed us from our sins in his own blood, And hath made us kings and priests unto God and his Father; to him be glory and dominion for ever and ever. Amen. Behold, he cometh with clouds; and every eye shall see him, and they also which pierced him: and all kindreds of the earth shall wail because of him. Even so, Amen. I am Alpha and Omega, the beginning and the ending, saith the Lord, which is, and which was, and which is to come, the Almighty. I John, who also am your brother, and companion in tribulation, and in the kingdom and patience of Jesus Christ, was in the isle that is called Patmos, for the word of God, and for the testimony of Jesus Christ. I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet, Saying, I am Alpha and Omega, the first and the last: and, What thou seest, write in a book, and send it unto the seven churches which are in Asia; unto Ephesus, and unto Smyrna, and unto Pergamos, and unto Thyatira, and unto Sardis, and unto Philadelphia, and unto Laodicea. Revelation 1:1–11.

Sự mạc khải của Đức Chúa Giê-su Christ, điều Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài, để bày tỏ cho các tôi tớ Ngài những điều phải mau chóng xảy ra; Ngài đã sai thiên sứ của Ngài đến tỏ ra cho tôi tớ Ngài là Giăng, người đã làm chứng về lời Đức Chúa Trời, về lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ, và về mọi điều mình đã thấy. Phước cho kẻ đọc và những người nghe các lời của lời tiên tri này, và giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Giăng gửi cho bảy hội thánh ở A-si-a: Nguyền xin ân điển và bình an ban cho anh em từ Đấng hiện có, đã có, và sẽ đến; và từ bảy Thần ở trước ngôi Ngài; và từ Đức Chúa Giê-su Christ, là chứng nhân thành tín, là trưởng tử từ trong kẻ chết, và là Chúa tể của các vua trên đất. Đấng đã yêu thương chúng ta và lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và khiến chúng ta làm các vua và các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, là Cha Ngài; nguyện vinh hiển và quyền trị thuộc về Ngài đời đời vô cùng. A-men. Kìa, Ngài đến giữa những đám mây; mọi mắt sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài nữa; và mọi chi tộc trên đất sẽ kêu than vì cớ Ngài. Dẫu vậy, A-men. Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu và cuối, Chúa phán, Đấng hiện có, đã có, và sẽ đến, là Đấng Toàn Năng. Ta, Giăng, cũng là anh em của anh em và là người cùng chia sẻ hoạn nạn, vương quốc và sự nhẫn nại trong Đức Chúa Giê-su Christ, đã ở trên hòn đảo gọi là Bát-mô, vì lời Đức Chúa Trời và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ. Ta ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe phía sau ta có một tiếng lớn như tiếng kèn, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu tiên và cuối cùng; điều ngươi thấy, hãy chép vào một sách và gửi cho bảy hội thánh ở A-si-a: Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-ra, Sạt-đê, Phi-la-đen-phi, và La-ô-đi-xê. Khải Huyền 1:1-11.