Sister White often identifies the golden image on the plain of Dura as the Sunday law.

Bà White thường xem tượng vàng trên đồng bằng Dura là luật ngày Chủ nhật.

“An idol sabbath has been set up, as the golden image was set up in the plains of Dura. And as Nebuchadnezzar, the king of Babylon, issued a decree that all who would not bow down and worship this image should be killed, so a proclamation will be made that all who will not reverence the Sunday institution will be punished with imprisonment and death. Thus the Sabbath of the Lord is trampled underfoot. But the Lord has declared, ‘Woe unto them that decree unrighteous decrees, and write grievousness which they have prescribed’ [Isaiah 10:1]. [Zephaniah 1:14–18; 2:1–3, quoted.]” Manuscript Releases, volume 14, 91.

"Một ngày Sa-bát thờ hình tượng đã được lập ra, như tượng vàng đã được dựng lên trên đồng bằng Đu-ra. Và như Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã ban một sắc lệnh rằng tất cả những ai không quỳ xuống và thờ lạy hình tượng này phải bị giết, thì cũng sẽ có một bản tuyên cáo rằng tất cả những ai không tôn kính thiết chế ngày Chủ nhật sẽ bị phạt tù và tử hình. Như vậy, ngày Sa-bát của Chúa bị chà đạp dưới chân. Nhưng Chúa đã phán: 'Khốn thay cho những kẻ ra các sắc lệnh bất công, và viết những điều hà khắc mà họ đã định' [Ê-sai 10:1]. [Sô-phô-ni 1:14-18; 2:1-3, trích dẫn.]" Manuscript Releases, tập 14, 91.

In this particular passage Sister White references the book of Zephaniah, and in so doing she adds to the prophetic connection of Daniel chapter two and chapter three. Zephaniah identifies that God’s people are to gather together before the decree. He also identifies a trumpet message, which is a symbol of a warning message that is directed against the cities (States) and towers (Churches). He identifies a gathering, which is the element of the “seven times,” that occurs when the Leviticus twenty-six prayer is offered. He identifies a “nation that is not desired,” all the while emphasizing the arrival of God’s executive judgment that begins at the Sunday law and escalates through to the Second Coming of Christ.

Trong đoạn này, Bà White nhắc đến sách Sô-phô-ni, và qua đó bà bổ sung vào mối liên hệ tiên tri của Đa-ni-ên chương hai và chương ba. Sô-phô-ni xác định rằng dân của Đức Chúa Trời phải nhóm lại trước khi sắc lệnh được ban hành. Ông cũng nêu ra một sứ điệp kèn, là biểu tượng cho sứ điệp cảnh báo nhắm vào các thành (quyền lực nhà nước) và các tháp (giáo hội). Ông chỉ ra một sự nhóm lại, vốn là yếu tố của “bảy lần”, xảy ra khi lời cầu nguyện theo Lê-vi Ký hai mươi sáu được dâng lên. Ông đề cập đến một “dân tộc không được mong muốn”, đồng thời nhấn mạnh sự bắt đầu của sự phán xét thi hành của Đức Chúa Trời, khởi đầu từ luật ngày Chủ nhật và leo thang cho đến Sự Tái Lâm của Đấng Christ.

What precedes the decree of the Sunday law is the formation of the image of the beast. The formation of the image of the beast is the visual test that confronts those of God’s people, who have previously passed the dietary test. Before the decree, which is the third (the litmus test), God’s people, who Zephaniah identifies as a “nation that is not desired,” are called to gather together. The first prophecy of Ezekiel is the gathering message, but it is only accomplished for those who recognize their scattered condition and pray the Leviticus twenty-six prayer, as did Daniel, in chapter nine.

Điều đi trước sắc lệnh về Luật Chủ nhật là sự hình thành hình tượng con thú. Sự hình thành hình tượng con thú là phép thử hữu hình mà những người của Đức Chúa Trời, là những người trước đó đã vượt qua phép thử về chế độ ăn uống, phải đối diện. Trước sắc lệnh ấy, vốn là điều thứ ba (phép thử quyết định), dân sự của Đức Chúa Trời, mà Sô-phô-ni gọi là “một dân tộc không được mong muốn,” được kêu gọi tập hợp lại. Lời tiên tri thứ nhất của Ê-xê-chi-ên là sứ điệp quy tụ, nhưng điều đó chỉ được thực hiện cho những ai nhận ra tình trạng bị tản lạc của mình và cầu nguyện lời cầu nguyện Lê-vi Ký hai mươi sáu, như Đa-ni-ên đã làm trong chương chín.

The great day of the Lord is near, it is near, and hasteth greatly, even the voice of the day of the Lord: the mighty man shall cry there bitterly. That day is a day of wrath, a day of trouble and distress, a day of wasteness and desolation, a day of darkness and gloominess, a day of clouds and thick darkness, A day of the trumpet and alarm against the fenced cities, and against the high towers. And I will bring distress upon men, that they shall walk like blind men, because they have sinned against the Lord: and their blood shall be poured out as dust, and their flesh as the dung. Neither their silver nor their gold shall be able to deliver them in the day of the Lord’s wrath; but the whole land shall be devoured by the fire of his jealousy: for he shall make even a speedy riddance of all them that dwell in the land. Gather yourselves together, yea, gather together, O nation not desired; Before the decree bring forth, before the day pass as the chaff, before the fierce anger of the Lord come upon you, before the day of the Lord’s anger come upon you. Seek ye the Lord, all ye meek of the earth, which have wrought his judgment; seek righteousness, seek meekness: it may be ye shall be hid in the day of the Lord’s anger. Zephaniah 1:14–2:3.

Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần, đã gần, và đến rất gấp; kìa, tiếng của ngày Đức Giê-hô-va! Người mạnh bạo sẽ kêu khóc thảm thiết tại đó. Ngày ấy là ngày thịnh nộ, ngày hoạn nạn và khốn quẫn, ngày hoang vu và điêu tàn, ngày tối tăm và u ám, ngày mây mù và tối tăm dày đặc, một ngày có tiếng kèn và tiếng báo động nghịch cùng các thành có tường lũy và các tháp canh cao. Ta sẽ khiến sự hoạn nạn giáng trên loài người, đến nỗi họ sẽ đi như người mù, vì họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va; huyết họ sẽ bị đổ ra như bụi, và thịt họ như phân. Bạc của họ hay vàng của họ đều không thể cứu họ trong ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va; nhưng cả đất sẽ bị lửa ghen tuông của Ngài thiêu nuốt; vì Ngài sẽ chóng diệt sạch tất cả những kẻ cư ngụ trong đất. Hỡi dân không được yêu chuộng, hãy nhóm lại, phải, hãy nhóm lại; trước khi sắc lệnh phát ra, trước khi ngày kia qua như rơm rác, trước khi cơn giận dữ dữ dội của Đức Giê-hô-va giáng trên các ngươi, trước khi ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đến trên các ngươi. Hỡi hết thảy những kẻ nhu mì trên đất, là những người đã làm theo phán quyết của Ngài, hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va; hãy tìm sự công chính, hãy tìm sự khiêm nhu: có lẽ các ngươi sẽ được ẩn giấu trong ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va. Sô-phô-ni 1:14–2:3.

A “mighty man” in the Scriptures is a man of power, and the first reference to a “mighty man” is Gideon.

Một "dũng sĩ" trong Kinh Thánh là một người đầy sức mạnh, và lần đề cập đầu tiên đến một "dũng sĩ" là Gideon.

And there came an angel of the Lord, and sat under an oak which was in Ophrah, that pertained unto Joash the Abiezrite: and his son Gideon threshed wheat by the winepress, to hide it from the Midianites. And the angel of the Lord appeared unto him, and said unto him, The Lord is with thee, thou mighty man of valour. And Gideon said unto him, Oh my Lord, if the Lord be with us, why then is all this befallen us? and where be all his miracles which our fathers told us of, saying, Did not the Lord bring us up from Egypt? but now the Lord hath forsaken us, and delivered us into the hands of the Midianites. And the Lord looked upon him, and said, Go in this thy might, and thou shalt save Israel from the hand of the Midianites: have not I sent thee? And he said unto him, Oh my Lord, wherewith shall I save Israel? behold, my family is poor in Manasseh, and I am the least in my father’s house. And the Lord said unto him, Surely I will be with thee, and thou shalt smite the Midianites as one man. Judges 6:11–16.

Và một thiên sứ của Chúa đến, ngồi dưới một cây sồi ở Ophrah, thuộc về Joash người Abiezrite; còn con trai ông là Gideon thì đang đập lúa mì gần chỗ ép rượu để giấu khỏi người Midian. Thiên sứ của Chúa hiện ra với ông và nói: Chúa ở cùng ngươi, hỡi dũng sĩ can đảm. Gideon thưa: Ôi Chúa tôi, nếu Chúa ở cùng chúng con, thì vì sao mọi điều này đã xảy đến cho chúng con? Còn những phép lạ của Ngài mà tổ phụ chúng con đã kể lại, rằng: Há chẳng phải Chúa đã đem chúng con lên khỏi Ai Cập sao? Nhưng bây giờ Chúa đã bỏ chúng con và phó chúng con vào tay người Midian. Chúa nhìn ông và phán: Hãy đi với sức mạnh này của ngươi, ngươi sẽ giải cứu Israel khỏi tay người Midian; há chẳng phải chính Ta đã sai ngươi sao? Ông thưa: Ôi Chúa tôi, con sẽ lấy gì để cứu Israel? Kìa, gia tộc con là nghèo hèn nhất trong Manasseh, và con là người nhỏ nhất trong nhà cha con. Chúa phán với ông: Chắc chắn Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh người Midian như đánh một người vậy. Các Quan Xét 6:11-16.

In Zephaniah the mighty man, who is also Gideon, is to cry bitterly. The word “cry” is a symbol of the Midnight Cry in the last days, and the word “bitter” represents righteous indignation. Gideon, or Zephaniah’s “mighty man,” is a symbol of the Elijah message that has the responsibility of showing God’s people their sins, and of course the sins of their fathers.

Trong sách Sô-phô-ni, người dũng sĩ — cũng là Ghê-đê-ôn — sẽ cất tiếng kêu một cách cay đắng. Từ “kêu” là biểu tượng của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong những ngày sau rốt, còn từ “cay đắng” tượng trưng cho sự phẫn nộ chính đáng. Ghê-đê-ôn, tức “người dũng sĩ” của Sô-phô-ni, là biểu tượng của sứ điệp Ê-li, sứ điệp có trách nhiệm chỉ ra cho dân Đức Chúa Trời thấy tội lỗi của họ, và dĩ nhiên cả tội lỗi của cha ông họ.

Cry aloud, spare not, lift up thy voice like a trumpet, and show my people their transgression, and the house of Jacob their sins. Isaiah 58:1.

Hãy kêu to, đừng nín lặng; hãy cất tiếng ngươi lên như kèn, tỏ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ. Ê-sai 58:1.

All the prophets align with one another in the last days, so the trumpet message of Isaiah is also the “cry” of the mighty man of Zephaniah, who is Gideon, and they all are identifying the Elijah messenger and his work in the last days. In Isaiah the following verses identify their sins as presumption, for they believe they are actually worshipping and serving the Lord.

Tất cả các tiên tri đều hiệp với nhau trong những ngày sau rốt, nên sứ điệp tiếng kèn của Isaiah cũng là “tiếng kêu” của người dũng sĩ trong Zephaniah, tức Gideon, và tất cả đều đang nhận diện sứ giả Elijah cùng công việc của ông trong những ngày sau rốt. Trong Isaiah, các câu sau xác định tội lỗi của họ là sự tự phụ, vì họ tin rằng mình thật sự đang thờ phượng và phục vụ Chúa.

Yet they seek me daily, and delight to know my ways, as a nation that did righteousness, and forsook not the ordinance of their God: they ask of me the ordinances of justice; they take delight in approaching to God. Isaiah 58:2.

Dẫu vậy, mỗi ngày họ tìm kiếm ta và vui thích biết các đường lối của ta, như một dân tộc đã làm điều công chính và không bỏ luật lệ của Đức Chúa Trời mình; họ hỏi ta về các luật lệ công bình; họ vui thích đến gần Đức Chúa Trời. Ê-sai 58:2.

The bitter cry of the mighty man is the message of the Midnight Cry, which includes the revelation that July 18, 2020 was a presumptuous sin against the Lord that must be repented of and confessed. The nuts and bolts of the message of the Midnight Cry is the formation of the image of the beast, and the subsequent judgment brought upon the United States, and then the world, by Islam.

Tiếng kêu thảm thiết của người dũng sĩ là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, bao gồm sự mặc khải rằng ngày 18 tháng 7 năm 2020 là một tội lỗi cả gan chống lại Chúa cần phải ăn năn và xưng tội. Cốt lõi của sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm là sự hình thành tượng của con thú, và sự phán xét tiếp theo do Hồi giáo giáng xuống Hoa Kỳ, rồi đến thế giới.

When the Leviticus twenty-six prayer is accomplished at the end of the wilderness of the three and a half days of Revelation eleven, the precious and vile will be separated. The wise and foolish will either have the golden oil or they will not, and at that time they will be as Gideon’s “one man.” According to Zephaniah, before the Sunday law decree, Gideon, who is Elijah, who is Ezekiel, who is the mighty man will present the message of the Midnight Cry, in conjunction with the bitterness of showing God’s people their sin of participating in the prediction of July 18, 2020, and their unjustified attempt to vindicate their prediction after it utterly failed.

Khi lời cầu nguyện Lê-vi Ký 26 được hoàn tất vào cuối thời kỳ đồng vắng ba ngày rưỡi của Khải Huyền 11, điều quý báu và điều đê tiện sẽ được phân rẽ. Kẻ khôn và kẻ dại sẽ hoặc có dầu vàng hoặc không có, và lúc ấy họ sẽ như “một người” của Ghi-đê-ôn. Theo Sô-phô-ni, trước sắc lệnh về luật ngày Chủ nhật, Ghi-đê-ôn, là Ê-li, là Ê-xê-chi-ên, là dũng sĩ, sẽ trình bày sứ điệp Tiếng kêu nửa đêm, đi kèm với sự cay đắng khi chỉ ra cho dân Đức Chúa Trời tội lỗi của họ là đã tham gia vào lời dự đoán về ngày 18 tháng 7 năm 2020, và nỗ lực vô căn cứ của họ nhằm biện minh cho lời dự đoán ấy sau khi nó hoàn toàn thất bại.

Zephaniah identifies a gathering together of God’s people in the last days that precedes the Sunday law decree. The gathering together is also represented by Ezekiel’s first prophecy in chapter thirty-seven.

Sô-phô-ni chỉ ra một sự quy tụ của dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, diễn ra trước sắc lệnh ngày Chủ nhật. Sự quy tụ này cũng được mô tả trong lời tiên tri thứ nhất của Ê-xê-chi-ên ở chương ba mươi bảy.

So I prophesied as I was commanded: and as I prophesied, there was a noise, and behold a shaking, and the bones came together, bone to his bone. And when I beheld, lo, the sinews and the flesh came up upon them, and the skin covered them above: but there was no breath in them. Ezekiel 37:7, 8.

Vậy tôi nói tiên tri theo như điều tôi đã được truyền dặn; và đang khi tôi nói tiên tri, có tiếng động, kìa một sự rung chuyển, các xương kết lại với nhau, xương nào về với xương nấy. Khi tôi nhìn xem, kìa, gân và thịt mọc lên trên chúng, và da cũng phủ lên bên trên chúng; nhưng trong chúng chưa có hơi thở. Ê-xê-chi-ên 37:7, 8.

Ezekiel prophesied to the dry bones that lay dead in the street of that city of Revelation chapter eleven, where also our Lord was crucified. They are first gathered together.

Ê-xê-chi-ên đã nói tiên tri với những bộ xương khô nằm chết trên đường phố của thành ấy trong Khải Huyền chương mười một, nơi Chúa chúng ta cũng đã bị đóng đinh. Trước hết, chúng được gom lại với nhau.

And their dead bodies shall lie in the street of the great city, which spiritually is called Sodom and Egypt, where also our Lord was crucified. And they of the people and kindreds and tongues and nations shall see their dead bodies three days and an half, and shall not suffer their dead bodies to be put in graves. And they that dwell upon the earth shall rejoice over them, and make merry, and shall send gifts one to another; because these two prophets tormented them that dwelt on the earth. Revelation 11:8–10.

Và thi thể của họ sẽ nằm trên đường phố của thành phố lớn, thành mà theo nghĩa thiêng liêng được gọi là Sô-đôm và Ai Cập, nơi Chúa chúng ta cũng đã bị đóng đinh. Và những người thuộc các dân, các chi tộc, các thứ tiếng và các nước sẽ nhìn thấy thi thể của họ trong ba ngày rưỡi, và sẽ không cho phép thi thể họ được chôn trong mồ. Và những người sống trên đất sẽ vui mừng vì họ, ăn mừng, và gửi quà cho nhau; vì hai nhà tiên tri này đã làm khổ những người sống trên đất. Khải Huyền 11:8-10.

They are gathered as the three and a half days are coming to a conclusion. The three and a half days represents the tarrying time of Matthew chapter twenty-five, but it is also the scattering of the “seven times” of Leviticus twenty-six. Those that are gathered have previously been scattered, and Zephaniah identifies them as a “nation not desired.” The nation that is not desired are those who have been dead in the streets while the world rejoiced over their dead bodies, but who are gathered together and then become the nation that is the point of attack of the dragon power of the last days, who lift up the whore of Tyre as their head.

Họ được nhóm lại khi ba ngày rưỡi sắp đi đến hồi kết. Ba ngày rưỡi tượng trưng cho thời kỳ trì hoãn trong Ma-thi-ơ chương hai mươi lăm, nhưng cũng là sự tản lạc của “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu. Những người được nhóm lại trước đó đã bị tản lạc, và Sô-phô-ni gọi họ là một “dân tộc không được mong muốn.” Dân tộc không được mong muốn ấy là những người đã chết ngoài đường phố trong khi thế gian vui mừng trước xác chết của họ, nhưng họ được nhóm lại với nhau và rồi trở thành dân tộc là mục tiêu tấn công của thế lực của con rồng trong thời kỳ sau rốt, thế lực tôn gái điếm của Ty-rơ làm đầu.

A Song or Psalm of Asaph. Keep not thou silence, O God: hold not thy peace, and be not still, O God. For, lo, thine enemies make a tumult: and they that hate thee have lifted up the head. They have taken crafty counsel against thy people, and consulted against thy hidden ones. They have said, Come, and let us cut them off from being a nation; that the name of Israel may be no more in remembrance. For they have consulted together with one consent: they are confederate against thee. Psalm 83:1–5.

Một bài ca hay thi thiên của Á-sáp. Chớ nín lặng, hỡi Đức Chúa Trời; chớ làm thinh, chớ đứng yên, hỡi Đức Chúa Trời. Vì kìa, kẻ thù của Ngài gây náo động; những kẻ ghét Ngài đã ngẩng cao đầu. Chúng lập mưu xảo quyệt chống lại dân của Ngài, và bàn bạc chống lại những người Ngài che giấu. Chúng nói: Hãy đến, chúng ta diệt họ, để họ không còn là một dân nữa; để tên Israel không còn được nhớ đến. Vì chúng đã đồng lòng bàn mưu với nhau; chúng liên minh chống lại Ngài. Thi thiên 83:1-5.

Their intent is to take spiritual Israel of the last days and throw them into Nebuchadnezzar’s fiery furnace. When the dead bones first hear Isaiah’s “voice,” crying the message of the Midnight Cry, they are still in the wilderness of the three and a half days. They then must choose to receive or reject the Comforter that Christ promised to send which convicts them of their sin of July 18, 2020.

Ý định của họ là bắt Y-sơ-ra-ên thuộc linh trong những ngày sau rốt và quăng họ vào lò lửa hừng của Nê-bu-cát-nết-sa. Khi những bộ xương khô trước hết nghe “tiếng” của Ê-sai rao truyền thông điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm, họ vẫn còn ở trong đồng vắng của ba ngày rưỡi. Sau đó, họ phải chọn hoặc tiếp nhận, hoặc từ chối Đấng An Ủi mà Đấng Christ đã hứa sẽ sai đến, Đấng cáo trách họ về tội lỗi của họ vào ngày 18 tháng 7 năm 2020.

Comfort ye, comfort ye my people, saith your God. Speak ye comfortably to Jerusalem, and cry unto her, that her warfare is accomplished, that her iniquity is pardoned: for she hath received of the Lord’s hand double for all her sins. The voice of him that crieth in the wilderness, Prepare ye the way of the Lord, make straight in the desert a highway for our God. Every valley shall be exalted, and every mountain and hill shall be made low: and the crooked shall be made straight, and the rough places plain: And the glory of the Lord shall be revealed, and all flesh shall see it together: for the mouth of the Lord hath spoken it. Isaiah 40:1–5.

Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân Ta, Đức Chúa Trời của các ngươi phán. Hãy nói lời yên ủi với Giê-ru-sa-lem, và kêu lên với nó rằng: thời kỳ chiến đấu của nó đã chấm dứt, tội ác của nó đã được tha thứ; vì nó đã nhận từ tay Chúa gấp đôi cho mọi tội lỗi của mình. Có tiếng người kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường cho Chúa, hãy làm thẳng trong hoang mạc một con đường lớn cho Đức Chúa Trời chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được nâng lên, mọi núi và đồi sẽ bị hạ thấp; đường quanh co sẽ được sửa cho thẳng, nơi gồ ghề sẽ nên bằng phẳng. Vinh quang của Chúa sẽ được bày tỏ, và hết thảy loài người sẽ cùng thấy; vì chính miệng Chúa đã phán. Ê-sai 40:1-5.

The passage identifying the work of the voice crying in the wilderness has some very detailed information. His message will be based upon a revelation of Christ’s character, as represented by the fact that the “glory,” which is Christ’s character, will be revealed. The Revelation of Jesus Christ that is unsealed just before the close of probation is an unsealing of Christ’s character as represented by the element of His character that is represented as Alpha and Omega. It will also be revealed that His character is “truth.”

Đoạn văn xác định công việc của tiếng người kêu trong hoang mạc chứa một số thông tin rất chi tiết. Sứ điệp của ông sẽ dựa trên một sự khải thị về tính cách của Đấng Christ, như được thể hiện bởi thực tế rằng “vinh hiển”, tức tính cách của Đấng Christ, sẽ được bày tỏ. Sự Khải thị về Đức Chúa Giê-xu Christ được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại là một sự mở ấn về tính cách của Đấng Christ, như được biểu trưng bởi yếu tố trong tính cách của Ngài được gọi là Anpha và Ômêga. Cũng sẽ được bày tỏ rằng tính cách của Ngài là “lẽ thật”.

Another detail is that when the voice begins to cry, he is still in the wilderness of the three and a half days, for he is crying in the wilderness. Prophetically when his work begins the two witnesses are still dead in the street that runs through Ezekiel’s valley. Another specific fact is that when the voice begins his work, the entire world shall have access to the message. Another observation is that the message is given in the period of the last days when Christ is blotting out the sins of the one hundred and forty-four thousand, for their iniquity has been pardoned. The sad fact that is also revealed “line upon line,” is that only those who meet the requirements of the gospel will receive the pardon that is being accomplished in that history.

Một chi tiết khác là khi tiếng ấy bắt đầu kêu, người ấy vẫn còn ở trong hoang mạc của ba ngày rưỡi, vì người đang kêu trong hoang mạc. Về phương diện tiên tri, khi công việc của người bắt đầu, hai nhân chứng vẫn còn chết trên con đường chạy qua thung lũng của Ê-xê-chi-ên. Một thực tế cụ thể khác là khi tiếng ấy khởi sự công việc của mình, cả thế giới sẽ có thể tiếp cận sứ điệp. Một nhận xét khác là sứ điệp được ban trong thời kỳ những ngày sau rốt, khi Đấng Christ đang xóa sạch tội lỗi của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, vì gian ác của họ đã được tha. Sự thật đáng buồn cũng được bày tỏ “dòng nọ tiếp dòng kia” là chỉ những ai đáp ứng các điều kiện của Tin Lành mới nhận được sự tha thứ đang được thực hiện trong lịch sử ấy.

Only those that respond to the demands associated with the Leviticus twenty-six prayer will have their sins and their father’s sins blotted out, for they will have received “double for all her sins.” The Lord’s “hand” that is associated with their sins and the sins of their fathers is a symbol of the first disappointment, where the Lord held His hand over a mistake that produced the first disappointment. In Millerite history His hand prevented God’s people from seeing a hidden truth. His hand in that history represented His divine providence. In the last days His hand represents God’s peoples rejection of a revealed truth by God’s people, and His hand then represents His divine judgment.

Chỉ những ai đáp ứng các đòi hỏi liên quan đến lời cầu nguyện Lê-vi Ký hai mươi sáu mới được xóa sạch tội lỗi của họ và tội lỗi của cha họ, vì họ sẽ nhận "gấp đôi cho mọi tội lỗi của nàng". "Tay" của Chúa gắn với tội lỗi của họ và tội lỗi của cha họ là biểu tượng của sự thất vọng thứ nhất, trong đó Chúa đã đặt bàn tay Ngài che phủ một sai lầm đã tạo ra sự thất vọng thứ nhất. Trong lịch sử Millerite, bàn tay Ngài đã ngăn dân sự của Đức Chúa Trời thấy một lẽ thật ẩn giấu. Bàn tay Ngài trong lịch sử đó tượng trưng cho sự quan phòng thiên thượng của Ngài. Trong những ngày sau rốt, bàn tay Ngài tượng trưng cho sự từ chối của dân sự Đức Chúa Trời đối với một lẽ thật đã được bày tỏ bởi dân sự của Đức Chúa Trời, và khi ấy bàn tay Ngài tượng trưng cho sự phán xét thiên thượng của Ngài.

With the voice of Ezekiel’s first prophecy the dead are formed together, but not yet standing as a mighty army. The second prophecy of Ezekiel chapter thirty-seven, accomplishes that by bringing the breath that comes from the four winds.

Bằng lời phán trong lời tiên tri thứ nhất của Ezekiel, những người chết được tập hợp lại, nhưng chưa đứng dậy như một đạo quân hùng mạnh. Lời tiên tri thứ hai trong chương ba mươi bảy của Ezekiel hoàn thành điều đó bằng cách đem hơi thở đến từ bốn phương gió.

Then said he unto me, Prophesy unto the wind, prophesy, son of man, and say to the wind, Thus saith the Lord God; Come from the four winds, O breath, and breathe upon these slain, that they may live. So I prophesied as he commanded me, and the breath came into them, and they lived, and stood up upon their feet, an exceeding great army. Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Therefore prophesy and say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, O my people, I will open your graves, and cause you to come up out of your graves, and bring you into the land of Israel. And ye shall know that I am the Lord, when I have opened your graves, O my people, and brought you up out of your graves, And shall put my spirit in you, and ye shall live, and I shall place you in your own land: then shall ye know that I the Lord have spoken it, and performed it, saith the Lord. Ezekiel 37:9–14.

Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, hãy nói lời tiên tri với gió, hãy nói lời tiên tri và nói với gió rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi hơi thở, hãy đến từ bốn phương gió, thổi trên những kẻ đã bị giết này, để họ được sống. Vậy tôi nói lời tiên tri theo như Ngài đã truyền; hơi thở bèn vào trong họ, họ sống lại và đứng dậy, trở thành một đạo quân rất lớn. Ngài lại phán với tôi: Hỡi con người, những xương này là cả nhà Y-sơ-ra-ên; kìa, họ nói: Xương cốt chúng ta đã khô, hy vọng chúng ta đã mất; chúng ta đã bị dứt khỏi. Vậy, hãy nói lời tiên tri và nói với họ rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở các mồ mả của các ngươi, khiến các ngươi đi lên khỏi mồ mả, và đem các ngươi vào đất Y-sơ-ra-ên. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, khi Ta đã mở các mồ mả của các ngươi, hỡi dân Ta, và đã khiến các ngươi đi lên khỏi mồ mả. Ta sẽ đặt Thần Ta trong các ngươi, các ngươi sẽ sống; Ta sẽ đặt các ngươi vào đất riêng của các ngươi; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán điều đó và đã làm trọn, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-xê-chi-ên 37:9-14.

That breath of Ezekiel’s prophecy is the sealing message, for it comes from the four winds.

Hơi thở ấy của lời tiên tri Ê-xê-chi-ên là sứ điệp đóng ấn, vì nó đến từ bốn phương gió.

And after these things I saw four angels standing on the four corners of the earth, holding the four winds of the earth, that the wind should not blow on the earth, nor on the sea, nor on any tree. And I saw another angel ascending from the east, having the seal of the living God: and he cried with a loud voice to the four angels, to whom it was given to hurt the earth and the sea, Saying, Hurt not the earth, neither the sea, nor the trees, till we have sealed the servants of our God in their foreheads. Revelation 7:1–3.

Và sau những điều ấy, tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc trái đất, nắm giữ bốn luồng gió của trái đất, để gió không thổi trên đất, cũng không trên biển, cũng không trên cây cối nào. Và tôi thấy một thiên sứ khác từ phương đông đi lên, mang ấn của Đức Chúa Trời hằng sống; người ấy kêu lớn tiếng với bốn thiên sứ, là những kẻ đã được ban cho để làm hại đất và biển, rằng: Đừng làm hại đất, đừng làm hại biển, cũng đừng làm hại cây cối, cho đến khi chúng ta đã đóng ấn trên trán các tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta. Khải Huyền 7:1-3.

The four winds arise from the east, and prophetically, Islam is both “the east wind” and “the children of the east.” Ezekiel’s “breath,” which transforms the formed bodies into “a great and exceeding army” is the message that seals the one hundred and forty-four thousand. The sealing message of Revelation chapter seven, arises from the east. That message is the message of the Midnight Cry, and Zephaniah identifies it as the trumpet “alarm against the fenced cities, and against the high towers.”

Bốn luồng gió nổi lên từ phương đông, và theo lời tiên tri, Hồi giáo vừa là "gió đông" vừa là "con cái phương đông". "Hơi thở" của Ê-xê-chi-ên, vốn biến những thân thể đã được nắn nên thành "một đạo binh rất lớn và rất mạnh", chính là sứ điệp đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn. Sứ điệp đóng ấn của Khải Huyền chương bảy đến từ phương đông. Sứ điệp ấy là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, và Sô-phô-ni xác định nó là tiếng kèn "báo động chống lại các thành có tường lũy, và chống lại các tháp cao".

A tower is a symbol of the church.

Tháp là biểu tượng của nhà thờ.

“In the parable the householder represented God, the vineyard the Jewish nation, and the hedge the divine law which was their protection. The tower was a symbol of the temple.” The Desire of Ages, 597.

Trong dụ ngôn, người chủ nhà tượng trưng cho Đức Chúa Trời, vườn nho tượng trưng cho dân tộc Do Thái, và hàng rào là luật pháp thiêng liêng, vốn là sự bảo vệ của họ. Tháp là biểu tượng của đền thờ. Khát vọng của các thời đại, 597.

A city is a kingdom in Bible prophecy. The papacy is “Babylon,” “that great city.” France and thereafter the United States are “the great city,” of “Sodom and Egypt.” Jerusalem is the “great city,” that comes down out of heaven. Zephaniah’s message is against the cities and towers, or against the combination of church and state, which by definition is the image of the beast. It is the “secret” message of Daniel chapter two.

Trong lời tiên tri Kinh Thánh, một thành là một vương quốc. Giáo hoàng quyền là "Ba-by-lôn," "thành lớn kia." Nước Pháp, và sau đó là Hoa Kỳ, là "thành lớn" của "Sô-đôm và Ai Cập." Giê-ru-sa-lem là "thành lớn" từ trời giáng xuống. Sứ điệp của Sô-phô-ni là chống lại các thành và các tháp, hay chống lại sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, mà theo định nghĩa là hình tượng của con thú. Đó là sứ điệp "bí mật" của Đa-ni-ên chương hai.

Just before the Sunday law decree, that is Nebuchadnezzar’s golden image test of Daniel chapter three, the dead bodies awaken and are transformed into a mighty army to proclaim the message identifying and opposing the formation of the combination of church and state, while also identifying that Islam is the providential tool which God employs to exercise His judgment upon those who enforce Sunday worship as He has in past history. The message identifies that when the image is fully developed, and enforces the mark of the beast, the judgment will be delivered.

Ngay trước khi có sắc lệnh luật Chủ nhật, tức là cuộc thử thách về tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa trong Đa-ni-ên chương ba, các xác chết sống dậy và được biến đổi thành một đạo quân hùng mạnh để rao truyền sứ điệp nhận diện và chống lại việc hình thành sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, đồng thời cũng xác định rằng Hồi giáo là công cụ quan phòng mà Đức Chúa Trời sử dụng để thi hành sự phán xét của Ngài trên những ai áp đặt việc thờ phượng ngày Chủ nhật, như Ngài đã làm trong lịch sử trước đây. Sứ điệp chỉ ra rằng khi hình tượng được phát triển trọn vẹn và áp đặt dấu của con thú, sự phán xét sẽ được thi hành.

There is no direct reference in Daniel chapter three to the image of the beast that leads to and reaches its maturity at the Sunday law, but there cannot be a third message without a first and second, for chapter two of Daniel must be included in the revelation of the truths represented in Daniel chapter three. The “secret” of the image dream of chapter two identifies God’s people coming to recognize the life and death implications of Nebuchadnezzar’s image of the beast.

Không có sự tham chiếu trực tiếp nào trong chương ba sách Đa-ni-ên đến hình tượng của con thú vốn dẫn đến và đạt đến độ chín muồi tại thời điểm luật Chủ nhật, nhưng không thể có sứ điệp thứ ba nếu không có sứ điệp thứ nhất và thứ hai, vì chương hai của Đa-ni-ên phải được bao gồm trong sự mặc khải về các lẽ thật được trình bày trong chương ba của Đa-ni-ên. "Bí mật" của giấc chiêm bao về hình tượng ở chương hai chỉ ra rằng dân của Đức Chúa Trời đang đến chỗ nhận ra những hệ quả sống chết của hình tượng con thú của Nê-bu-cát-nết-sa.

Sanctified logic requires that when Nebuchadnezzar determined that he was going to have a dedication ceremony to his golden idol, that the idol must first be built, and the musicians would need to practice the music they would play at the ceremony. There had to be advance preparation of construction going on over a period of time with excavation, a foundation laid, scaffolding, and workmen coming and going, and that preparation was the formation of the image of Nebuchadnezzar’s dream, but Nebuchadnezzar’s pride determined to make an image of only one beast, not all the kingdoms of Bible prophecy. The construction of that image is the test that God’s people must pass before probation closes, and before they are sealed, before the music plays.

Theo lẽ phải đã được thánh hóa, khi Nê-bu-cát-nết-sa quyết định sẽ tổ chức lễ khánh thành cho tượng vàng của mình, thì trước hết tượng ấy phải được dựng nên, và các nhạc công cần luyện tập những khúc nhạc họ sẽ tấu trong buổi lễ. Hẳn phải có sự chuẩn bị xây dựng từ trước trong một khoảng thời gian: đào bới, đặt nền móng, dựng giàn giáo, thợ thuyền ra vào, và sự chuẩn bị ấy chính là quá trình hình thành hình tượng của giấc mộng Nê-bu-cát-nết-sa; nhưng vì lòng kiêu ngạo, Nê-bu-cát-nết-sa đã quyết định làm một hình tượng chỉ về một con thú, chứ không phải về tất cả các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh. Việc xây dựng hình tượng ấy là bài thử mà dân của Đức Chúa Trời phải vượt qua trước khi thời kỳ ân điển khép lại, trước khi họ được đóng ấn, trước khi âm nhạc cất lên.

Sanctified logic also identifies that Shadrach, Meshach and Abednego were not the only Hebrew slaves that witnessed the advance preparation for the dedication of the golden image. They were simply the only Hebrews that understood the implications of those preparations as a life and death warning, and made their own personal preparation for the coming crisis.

Lý luận được thánh hóa cũng chỉ ra rằng Shadrach, Meshach và Abednego không phải là những nô lệ người Do Thái duy nhất đã chứng kiến những công tác chuẩn bị từ trước cho lễ khánh thành bức tượng vàng. Họ chỉ đơn giản là những người Do Thái duy nhất hiểu được hàm ý của những sự chuẩn bị ấy như một lời cảnh báo sống chết, và đã tự mình chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng sắp tới.

In the passage from Sister White at the beginning of this article, she not only aligns Zephaniah’s decree with Nebuchadnezzar’s golden image and the Sunday law, she also identifies Isaiah’s unrighteous decree.

Trong đoạn trích của Bà White ở đầu bài viết này, bà không chỉ đặt sắc lệnh của Sô-phô-ni song song với tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa và luật ngày Chủ nhật, mà còn chỉ ra sắc lệnh bất chính của Ê-sai.

Woe unto them that decree unrighteous decrees, and that write grievousness which they have prescribed; To turn aside the needy from judgment, and to take away the right from the poor of my people, that widows may be their prey, and that they may rob the fatherless! And what will ye do in the day of visitation, and in the desolation which shall come from far? to whom will ye flee for help? and where will ye leave your glory? Isaiah 10:1–3.

Khốn thay cho những kẻ ban hành những sắc lệnh bất nghĩa, và ghi chép những điều hà khắc mà họ đã đặt ra; để đẩy người thiếu thốn khỏi công lý, và cướp đoạt quyền lợi của kẻ nghèo trong dân Ta, khiến các góa phụ trở thành mồi cho chúng, và chúng cướp bóc kẻ mồ côi! Trong ngày thăm phạt, và khi cảnh hoang tàn đến từ phương xa, các ngươi sẽ làm gì? Các ngươi sẽ chạy đến ai để cầu cứu? Và các ngươi sẽ để lại vinh quang mình ở đâu? Ê-sai 10:1-3.

Isaiah’s “unrighteous decree,” is the Sunday law, and it is “the day of visitation” and “desolation,” for the United States, for “national apostasy” is followed by “national ruin.” According to Isaiah, at the Sunday law, which is also Nebuchadnezzar’s golden image, the “desolation” “shall come from far.”

"Sắc lệnh bất nghĩa" mà Ê-sai nói đến chính là luật ngày Chủ nhật, và đó là "ngày thăm phạt" và "sự hoang tàn" cho Hoa Kỳ, vì "sự bội đạo của quốc gia" sẽ dẫn đến "sự sụp đổ của quốc gia." Theo Ê-sai, vào thời luật ngày Chủ nhật, cũng là tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa, thì "sự hoang tàn" "sẽ đến từ phương xa."

Remember this, and show yourselves men: bring it again to mind, O ye transgressors. Remember the former things of old: for I am God, and there is none else; I am God, and there is none like me, Declaring the end from the beginning, and from ancient times the things that are not yet done, saying, My counsel shall stand, and I will do all my pleasure: Calling a ravenous bird from the east, the man that executeth my counsel from a far country: yea, I have spoken it, I will also bring it to pass; I have purposed it, I will also do it. Hearken unto me, ye stouthearted, that are far from righteousness: I bring near my righteousness: it shall not be far off, and my salvation shall not tarry: and I will place salvation in Zion for Israel my glory. Isaiah 46:8–13.

Hãy nhớ điều này, và tỏ ra là bậc trượng phu; hỡi những kẻ phạm tội, hãy nhớ lại. Hãy nhớ những việc thuở xưa: vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai khác; Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta, báo trước phần cuối ngay từ lúc khởi đầu, và từ thời cổ xưa những điều chưa xảy đến, rằng: Mưu định của Ta sẽ đứng vững, và Ta sẽ làm trọn mọi điều Ta ưa thích; Ta gọi một chim săn mồi dữ từ phương đông, một người từ xứ xa thực hiện mưu định của Ta; phải, Ta đã phán thì Ta cũng sẽ làm cho thành; Ta đã định thì Ta cũng sẽ thực hiện. Hãy lắng nghe Ta, hỡi những kẻ lòng cứng cỏi, xa cách sự công chính: Ta đem sự công chính của Ta lại gần; nó sẽ không còn xa, và sự cứu rỗi của Ta sẽ không trì hoãn; và Ta sẽ đặt sự cứu rỗi tại Si-ôn, cho Y-sơ-ra-ên, vinh quang của Ta. Ê-sai 46:8-13.

Isaiah places this passage at the end of the tarrying time, for then his “salvation shall” no longer “tarry.” It is at the end of Revelation eleven’s three and a half days. The end of the tarrying time is marked by the arrival of the message of the Midnight Cry, when Ezekiel’s great army stands up. When they stand up, they are lifted up as an ensign in Revelation chapter eleven.

Ê-sai đặt đoạn này vào cuối thời kỳ trì hoãn, vì lúc bấy giờ “sự cứu rỗi sẽ” không còn “chậm trễ” nữa. Đó là vào cuối ba ngày rưỡi của Khải Huyền chương mười một. Sự kết thúc của thời kỳ trì hoãn được đánh dấu bởi sự xuất hiện của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm, khi đạo quân vĩ đại của Ê-xê-chi-ên đứng dậy. Khi họ đứng dậy, họ được giương lên như một tiêu kỳ trong Khải Huyền chương mười một.

And after three days and an half the Spirit of life from God entered into them, and they stood upon their feet; and great fear fell upon them which saw them. And they heard a great voice from heaven saying unto them, Come up hither. And they ascended up to heaven in a cloud; and their enemies beheld them. And the same hour was there a great earthquake, and the tenth part of the city fell, and in the earthquake were slain of men seven thousand: and the remnant were affrighted, and gave glory to the God of heaven. The second woe is past; and, behold, the third woe cometh quickly. Revelation 11:11–14.

Và sau ba ngày rưỡi, Thần Khí ban sự sống từ Đức Chúa Trời đã vào trong họ, và họ đứng dậy trên chân mình; và nỗi sợ hãi lớn giáng trên những người đã thấy họ. Và họ nghe một tiếng lớn từ trời phán với họ: Hãy lên đây. Và họ được cất lên trời trong một đám mây; và các kẻ thù của họ nhìn thấy họ. Ngay giờ ấy có một trận động đất lớn, và một phần mười của thành sụp đổ, và trong trận động đất có bảy nghìn người bị giết; còn những người còn lại thì khiếp sợ và tôn vinh Đức Chúa Trời ở trên trời. Tai họa thứ hai đã qua; kìa, tai họa thứ ba đến mau chóng. Khải Huyền 11:11-14.

The two witnesses of Revelation eleven ascend to heaven as the ensign, in the same hour as the earthquake, which is the Sunday law. At that time, or as John says, “in that hour,” according to Isaiah, chapter forty-six, God calls “the man” who executes His counsel, who is also “a ravenous bird from the east”. The ravenous bird, that is “the man” God employs to execute His counsel comes from “a far country”. In Isaiah chapter ten, at the time of the “unrighteous decree” which is the Sunday law, the “desolation” of the United States comes from “far.” “East” is a symbol of Islam, for in prophecy they are both “the children of the east,” and “the east wind.” A “bird” in prophecy is a religion, as represented by Babylon being a cage full of hateful and unclean birds. The “ravenous bird” that comes from a far country in the east, is the religion of Islam.

Hai nhân chứng của Khải Huyền chương mười một thăng lên trời như lá cờ hiệu, trong cùng giờ với trận động đất, tức là luật Chủ nhật. Vào thời điểm đó, hay như Giăng nói, “trong giờ ấy”, theo Ê-sai, chương bốn mươi sáu, Đức Chúa Trời gọi “người” thi hành ý định của Ngài, cũng chính là “một con chim săn mồi từ phương đông”. Con chim săn mồi ấy, tức là “người” mà Đức Chúa Trời dùng để thi hành ý định của Ngài, đến từ “một xứ xa”. Trong Ê-sai chương mười, vào thời điểm của “sắc lệnh bất chính” tức là luật Chủ nhật, “sự hoang tàn” của Hoa Kỳ đến từ “xa”. “Phương đông” là một biểu tượng của Hồi giáo, vì trong lời tiên tri họ vừa là “con cái phương đông” vừa là “gió đông”. Một “con chim” trong lời tiên tri là một tôn giáo, như được minh họa bởi Ba-by-lôn là một cái lồng đầy những loài chim đáng ghét và ô uế. “Con chim săn mồi” đến từ một xứ xa ở phương đông chính là tôn giáo Hồi giáo.

And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. Revelation 18:2.

Người kêu lớn tiếng, rằng: Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ, nhà giam của mọi tà linh ô uế, và lồng của mọi loài chim dơ bẩn và đáng ghét. Khải Huyền 18:2.

The three-fold-union of modern Babylon represents three forms of government, and also three forms of religion. The religion of the United Nations is spiritualism, the religion of the United States is apostate Protestantism and the religion of the pope is Catholicism. All those religious persuasions are sometimes symbolized as women, but also as birds. It is the religious and political force of the United Nations, with the United States as the primary king, that places the papacy on the throne of the earth. In the book of Zechariah, it is two birds that establish the pope, who is identified as that “wicked” by the apostle Paul in second Thessalonians.

Liên minh ba phần của Ba-by-lôn hiện đại tượng trưng cho ba hình thức cai trị, và cũng cho ba hình thức tôn giáo. Tôn giáo của Liên Hiệp Quốc là thuyết duy linh, tôn giáo của Hoa Kỳ là Tin Lành bội đạo và tôn giáo của giáo hoàng là Công giáo. Tất cả những khuynh hướng tôn giáo ấy đôi khi được biểu tượng như những người nữ, nhưng cũng như những con chim. Chính sức mạnh tôn giáo và chính trị của Liên Hiệp Quốc, với Hoa Kỳ là vị vua hàng đầu, đặt chế độ giáo hoàng lên ngai trên đất. Trong sách Xa-cha-ri, chính hai con chim dựng lập giáo hoàng, người mà sứ đồ Phao-lô xác định là “kẻ ác” trong II Tê-sa-lô-ni-ca.

Then the angel that talked with me went forth, and said unto me, Lift up now thine eyes, and see what is this that goeth forth. And I said, What is it? And he said, This is an ephah that goeth forth. He said moreover, This is their resemblance through all the earth. And, behold, there was lifted up a talent of lead: and this is a woman that sitteth in the midst of the ephah. And he said, This is wickedness. And he cast it into the midst of the ephah; and he cast the weight of lead upon the mouth thereof. Then lifted I up mine eyes, and looked, and, behold, there came out two women, and the wind was in their wings; for they had wings like the wings of a stork: and they lifted up the ephah between the earth and the heaven. Then said I to the angel that talked with me, Whither do these bear the ephah? And he said unto me, To build it an house in the land of Shinar: and it shall be established, and set there upon her own base. Zechariah 5:5–11.

Rồi thiên sứ đang nói với tôi bước ra và bảo tôi: Bây giờ hãy ngước mắt lên, và xem cái gì đang đi ra. Tôi hỏi: Ấy là gì? Người đáp: Ấy là một ê-pha đang đi ra. Người lại nói: Đây là hình dạng của họ trên khắp đất. Và kìa, có một ta-lâng chì được nhấc lên; và đây là một người đàn bà đang ngồi ở giữa cái ê-pha. Người nói: Ấy là sự gian ác. Rồi người ném người đàn bà ấy vào giữa cái ê-pha; và người đặt khối chì nặng lên miệng của nó. Bấy giờ tôi ngước mắt lên và nhìn; kìa, có hai người đàn bà đi ra, và trong cánh họ có gió; vì họ có cánh như cánh cò; và họ nhấc cái ê-pha lên giữa đất và trời. Tôi bèn nói với thiên sứ đang nói với tôi: Những người này mang cái ê-pha đi đâu? Người nói với tôi: Để xây cho nó một cái nhà trong xứ Si-na; và nó sẽ được lập nên, và đặt ở đó trên nền riêng của nó. Xa-cha-ri 5:5-11.

An ephah is a basket used for measuring. The two women that place the ephah, or basket that the papacy sits in the midst of, are two churches. Two religions will take the religion that is defined in the Bible as “that wicked” and build her a house in the land of Shinar. Shinar is another name for Babylon, and the Catholic church is Babylon the great in the last days.

Một ephah là một cái giỏ dùng để đo lường. Hai người phụ nữ đặt cái ephah, tức cái giỏ mà giáo quyền ngự ở giữa, là hai giáo hội. Hai tôn giáo sẽ đem tôn giáo được Kinh Thánh gọi là “kẻ gian ác ấy” và xây cho nó một ngôi nhà trong đất Shinar. Shinar là một tên khác của Babylon, và Giáo hội Công giáo là Babylon vĩ đại trong những ngày cuối cùng.

The two women that “establish” the wicked woman in Babylon, have “wind in their wings.” Those women are also birds, for they have “wings,” and their justification for placing the woman is the “wind” of Islam, for Islam brings together every man’s hand. The woman that is lifted up, has been trapped in the ephah since her deadly wound in 1798, for there had been a leaden weight placed upon the mouth of the ephah she was in. But when the music of Nebuchadnezzar’s worship ceremony begins, the two women of apostate Protestantism and Spiritualism remove the leaden weight, and lift up the eighth head, that is of the seven.

Hai người phụ nữ “lập nên” người đàn bà gian ác tại Ba-by-lôn có “gió trong đôi cánh” của họ. Những người phụ nữ ấy cũng là chim, vì họ có “cánh,” và sự biện minh của họ cho việc đặt người đàn bà ấy là “gió” của Hồi giáo, vì Hồi giáo kết hiệp tay mọi người lại với nhau. Người đàn bà được nhấc lên ấy đã bị giam trong cái ê-pha từ khi mang vết thương chí tử vào năm 1798, vì có một cái nắp bằng chì được đặt trên miệng cái ê-pha mà bà ở trong. Nhưng khi âm nhạc của nghi lễ thờ phượng của Nê-bu-cát-nết-sa bắt đầu, hai người phụ nữ của Tin Lành bội đạo và Thuyết Chiêu Hồn dỡ bỏ cái nắp bằng chì, và nâng lên cái đầu thứ tám, vốn thuộc về bảy.

“As we approach the last crisis, it is of vital moment that harmony and unity exist among the Lord’s instrumentalities. The world is filled with storm and war and variance. Yet under one headthe papal power—the people will unite to oppose God in the person of His witnesses. This union is cemented by the great apostate. While he seeks to unite his agents in warring against the truth he will work to divide and scatter its advocates. Jealousy, evil surmising, evilspeaking, are instigated by him to produce discord and dissension.” Testimonies, volume 7, 182.

"Khi chúng ta tiến gần đến cuộc khủng hoảng cuối cùng, điều tối quan trọng là giữa các khí cụ của Chúa phải có sự hòa hợp và hiệp nhất. Thế giới đầy dẫy bão tố, chiến tranh và bất hòa. Thế nhưng, dưới một quyền lãnh đạo—quyền lực giáo hoàng—mọi người sẽ hiệp lại để chống đối Đức Chúa Trời qua những nhân chứng của Ngài. Sự liên minh này được kẻ bội đạo lớn gắn kết. Trong khi hắn tìm cách hiệp nhất các tay sai của mình để gây chiến chống lại lẽ thật, hắn cũng sẽ làm việc để chia rẽ và làm tan tác những người bênh vực lẽ thật. Lòng ghen tị, những ngờ vực ác ý, lời nói xấu, đều do hắn xúi giục để gây ra bất hòa và chia rẽ." Testimonies, quyển 7, 182.

The threefold union lifts up the papacy as the head, for they intend to destroy the nation not desired.

Liên minh ba bên tôn giáo hoàng quyền lên làm đầu, vì họ nhằm tiêu diệt dân tộc không được ưa chuộng.

For, lo, thine enemies make a tumult: and they that hate thee have lifted up the head. They have taken crafty counsel against thy people, and consulted against thy hidden ones. They have said, Come, and let us cut them off from being a nation; that the name of Israel may be no more in remembrance. Psalm 83:2–4.

Vì kìa, kẻ thù của Ngài đang gây náo động; những kẻ ghét Ngài đã ngẩng cao đầu. Chúng lập mưu xảo quyệt chống lại dân Ngài, và bàn tính nghịch cùng những người được Ngài giấu kín. Chúng nói: Hãy đến, chúng ta hãy diệt trừ họ để họ không còn là một dân nữa, hầu cho tên Israel không còn được nhớ đến nữa. Thi Thiên 83:2-4.

A bird is a religion, and the “ravenous bird from the east” which God calls at the “hour” of the Sunday law, when the message of the Midnight Cry is being proclaimed, is Islam. That is why in the very hour that the resurrected dead ascend into heaven as the ensign, the “third woe” of Islam comes quickly. This is why Isaiah states in verse one of chapter ten, “Woe” unto them that declare unrighteous decrees. The “Woes” of Revelation are Islam, and Islam is the providential judgment, or tool, or staff (Isaiah 10:5) that God uses to punish the United States for enforcing Sunday worship.

Một con chim là một tôn giáo, và “con chim săn mồi từ phương đông” mà Đức Chúa Trời gọi đến vào “giờ” của luật ngày Chủ nhật, khi sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm đang được rao giảng, chính là Hồi giáo. Đó là lý do vì sao ngay trong giờ mà những người chết sống lại được cất lên trời như lá cờ hiệu, “tai vạ thứ ba” của Hồi giáo đến mau chóng. Vì vậy Ê-sai nói ở câu một của chương mười: “Khốn thay cho những kẻ ra các sắc lệnh bất công.” Những “tai vạ” trong Khải Huyền là Hồi giáo, và Hồi giáo là sự phán xét theo sự quan phòng, hay công cụ, hay cây gậy (Ê-sai 10:5) mà Đức Chúa Trời dùng để trừng phạt Hoa Kỳ vì áp đặt sự thờ phượng ngày Chủ nhật.

Isaiah chapter forty-six, identifies the “ravenous bird from the east,” as “the man that executeth my counsel.” That “man” is Islam, and he is called “from a far country,” for God “purposed” to judge the United States, and thereafter the world, for Sunday enforcement, as He did in former times with pagan Rome and the first four trumpets, and then with papal Rome in the fifth and sixth “Woe” trumpets. His purpose in Isaiah chapter forty-six is to call the “ravenous bird from the east,” and He informs His people who desire to understand His counsel and purpose “Remember the former things of old: for I am God, and there is none else; I am God, and there is none like me, Declaring the end from the beginning, and from ancient times the things that are not yet done, saying, My counsel shall stand, and I will do all my pleasure.”

Ê-sai chương bốn mươi sáu xác định “chim săn mồi từ phương đông” là “người thi hành mưu định của Ta.” “Người” ấy là Hồi giáo, và người được gọi là “từ một xứ xa,” vì Đức Chúa Trời đã “định” đoán phạt Hoa Kỳ, và sau đó cả thế giới, vì việc áp đặt luật giữ ngày Chủ nhật, như Ngài đã làm thuở trước với La Mã ngoại giáo và bốn tiếng kèn đầu tiên, rồi với La Mã giáo hoàng trong các tiếng kèn “Khốn thay” thứ năm và thứ sáu. Mục đích của Ngài trong Ê-sai chương bốn mươi sáu là kêu gọi “chim săn mồi từ phương đông,” và Ngài cho dân sự Ngài, những người mong muốn hiểu mưu định và mục đích của Ngài, biết rằng: “Hãy nhớ lại những việc thuở xưa: vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai khác; Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta; Ta tuyên bố sự cuối cùng từ ban đầu, và từ thuở xưa những việc chưa xảy đến, rằng: Mưu định Ta sẽ đứng vững, và Ta sẽ làm trọn mọi ý muốn Ta.”

In verse three Isaiah chapter ten, Isaiah records three important questions:

Trong câu ba của Ê-sai chương mười, Ê-sai ghi lại ba câu hỏi quan trọng:

And what will ye do in the day of visitation, and in the desolation which shall come from far? to whom will ye flee for help? and where will ye leave your glory? Isaiah 10:3.

Vậy các ngươi sẽ làm gì trong ngày thăm phạt, trong cảnh hoang tàn sẽ đến từ phương xa? Các ngươi sẽ chạy đến ai để cầu cứu? Và các ngươi sẽ để đâu vinh quang của mình? Ê-sai 10:3.

The final question identifies that the glorious land loses her glory at the unrighteous decree. The glory of the United States is the Constitution, which is fully overturned at the Sunday law.

Câu hỏi cuối cùng chỉ ra rằng đất vinh hiển đánh mất vinh quang của mình khi có sắc lệnh bất chính. Vinh quang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là Hiến pháp, vốn bị vô hiệu hóa hoàn toàn khi luật Chủ nhật được ban hành.

“And the Constitution guarantees to the people the right of self-government, providing that representatives elected by the popular vote shall enact and administer the laws. Freedom of religious faith was also granted, every man being permitted to worship God according to the dictates of his conscience. Republicanism and Protestantism became the fundamental principles of the nation. These principles are the secret of its power and prosperity.” The Great Controversy, 441.

Và Hiến pháp bảo đảm cho nhân dân quyền tự quản, quy định rằng các đại biểu do lá phiếu của nhân dân bầu ra sẽ ban hành và thi hành pháp luật. Quyền tự do tín ngưỡng cũng được bảo đảm, mọi người đều được phép thờ phượng Đức Chúa Trời theo tiếng nói của lương tâm mình. Chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành trở thành những nguyên tắc nền tảng của quốc gia. Những nguyên tắc này là bí quyết của sức mạnh và sự thịnh vượng của nó. Cuộc tranh cãi vĩ đại, 441.

It is the Constitution that identifies the glory that is left in the dust at the Sunday law.

Chính Hiến pháp chỉ ra vinh quang bị bỏ lại phía sau trước luật ngày Chủ nhật.

“When the nation for which God has worked in such a marvelous manner, and over which He has spread the shield of Omnipotence, abandons Protestant principles, and through its legislature gives countenance and support to Romanism in limiting religious liberty, then God will work in His own power for His people that are true. The tyranny of Rome will be exercised, but Christ is our refuge.” Testimonies to Ministers, 206.

Khi một quốc gia mà Đức Chúa Trời đã hành động cách lạ lùng đối với nó, và trên đó Ngài đã phủ tấm khiên của Đấng Toàn Năng, từ bỏ các nguyên tắc Tin Lành, và qua cơ quan lập pháp của mình dung túng và ủng hộ Giáo hội La Mã trong việc hạn chế tự do tôn giáo, thì Đức Chúa Trời sẽ hành động bằng chính quyền năng của Ngài cho dân Ngài là những người trung tín. Bạo quyền của La Mã sẽ được thực thi, nhưng Đấng Christ là nơi nương náu của chúng ta. Lời chứng cho các Mục sư, 206.

At Isaiah’s “unrighteous decree,” which is the Sunday law, the glory of the United States is gone, and it immediately answers Isaiah’s second question as it prophetically flees to the United Nations, the ten-king confederacy of Revelation chapter seventeen for help to address the attack of Islam of the third “Woe”. The first of the three questions identifies the setting of the Sunday law desolation that causes the United States to begin its next work of forcing the entire world to accept the combination of church and state, as represented by the unification of the United Nations and the Catholic Church, with the pope in control of the unholy relationship. It calls that desolation “the day of visitation”. All these prophetic realities align with Nebuchadnezzar’s dedication service for the golden image.

Khi đến “sắc lệnh bất chính” mà Ê-sai nói đến, tức là luật Chủ nhật, vinh quang của Hoa Kỳ biến mất, và Hoa Kỳ lập tức trả lời câu hỏi thứ hai của Ê-sai khi, theo lời tiên tri, chạy đến Liên Hợp Quốc, liên minh mười vua trong Khải Huyền chương mười bảy, để tìm kiếm sự trợ giúp nhằm đối phó cuộc tấn công của Hồi giáo trong “khốn nạn” thứ ba. Câu hỏi thứ nhất trong ba câu hỏi xác định bối cảnh của sự hoang tàn do luật Chủ nhật gây ra, điều khiến Hoa Kỳ bắt đầu công việc tiếp theo là ép buộc toàn thế giới chấp nhận sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, được thể hiện qua sự hợp nhất giữa Liên Hợp Quốc và Giáo hội Công giáo, với giáo hoàng nắm quyền kiểm soát mối quan hệ bất chính ấy. Nó gọi sự tàn phá đó là “ngày thăm phạt”. Tất cả những thực tại tiên tri này đều tương ứng với lễ khánh thành tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa.

We will continue chapter three of Daniel in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục chương ba của sách Daniel trong bài viết tiếp theo.

In the history of Nebuchadnezzar and Belshazzar, God speaks to the people of today. The condemnation that will fall upon the inhabitants of the earth in this day will be because of their rejection of light. Our condemnation in the judgment will not result from the fact that we have lived in error, but from the fact that we have neglected Heaven-sent opportunities for discovering truth. The means of becoming conversant with the truth are within the reach of all; but, like the indulgent, selfish king, we give more attention to the things that charm the ear, and please the eye, and gratify the palate, than to the things that enrich the mind, the divine treasures of truth. It is through the truth that we may answer the great question, ‘What must I do to be saved?’” Bible Echo, September 17, 1894.

Trong lịch sử của Nebuchadnezzar và Belshazzar, Đức Chúa Trời phán với con người ngày nay. Sự kết án sẽ giáng trên các cư dân trên đất trong thời nay sẽ là vì họ khước từ ánh sáng. Sự kết án của chúng ta trong cuộc phán xét sẽ không phải vì chúng ta đã sống trong sai lầm, mà vì chúng ta đã bỏ qua những cơ hội từ Trời ban để khám phá lẽ thật. Những phương tiện để trở nên am tường lẽ thật đều nằm trong tầm với của mọi người; nhưng, giống như vị vua buông thả, ích kỷ, chúng ta chú ý nhiều hơn đến những điều làm êm tai, đẹp mắt và thỏa vị giác, hơn là đến những điều làm giàu cho tâm trí, tức là những kho tàng thiêng liêng của lẽ thật. Chính nhờ lẽ thật mà chúng ta có thể trả lời câu hỏi lớn: “Tôi phải làm gì để được cứu?” Bible Echo, ngày 17 tháng 9, 1894.