The books of Daniel and Revelation are the same book, just as assuredly as the Old Testament and the New Testament are the same book. Just before probation closes the Revelation of Jesus Christ is unsealed.
Sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền thực chất là một cuốn, cũng chắc chắn như Cựu Ước và Tân Ước thực chất là một cuốn. Ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, sách Khải Huyền của Chúa Giê-su Christ được mở ấn.
And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. And, behold, I come quickly; and my reward is with me, to give every man according as his work shall be. I am Alpha and Omega, the beginning and the end, the first and the last. Revelation 22:10–13.
Ngài phán với tôi: Chớ niêm phong lời tiên tri của sách này, vì thì giờ đã gần. Kẻ bất nghĩa cứ còn bất nghĩa; kẻ ô uế cứ còn ô uế; người công chính cứ còn công chính; người thánh khiết cứ còn thánh khiết. Kìa, Ta đến mau chóng; và phần thưởng của Ta ở với Ta, để báo cho mỗi người tùy theo công việc của người ấy. Ta là Anpha và Ômêga, là đầu và cuối, là thứ nhất và sau cùng. Khải Huyền 22:10-13.
The biblical “rule of first mention,” which includes the truth that the end of a thing is illustrated by the beginning of a thing, emphasizes the significance of the first three chapters of the book of Daniel, for they are the first truth mentioned in the book that is the books of Daniel and Revelation. Jesus is Alpha and Omega, so the beginning of the book that is the books of Daniel and Revelation, must represent the truth which is unsealed at the end. At one level then, the truth which is unsealed is the everlasting gospel of the angels of Revelation fourteen.
Quy tắc “lần nhắc đến đầu tiên” trong Kinh Thánh, vốn bao hàm chân lý rằng kết thúc của một sự việc được minh họa bởi khởi đầu của sự việc ấy, nhấn mạnh tầm quan trọng của ba chương đầu của sách Đa-ni-ên, vì chúng là chân lý đầu tiên được nhắc đến trong quyển sách, tức các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền. Chúa Giê-xu là Alpha và Ômêga, nên phần mở đầu của quyển sách, tức các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, phải phản ánh chân lý được mở ấn ở phần cuối. Vậy, ở một mức độ nào đó, chân lý được mở ấn ấy là Tin Lành đời đời của các thiên sứ trong Khải Huyền 14.
The Revelation of Jesus Christ that is introduced in the first verse of chapter one of Revelation, is the message that is to be conveyed to the churches when the “time is at hand,” and the time that is “at hand” in chapter one of Revelation, must be the same time that is “at hand,” just before probation closes in chapter twenty-two of Revelation.
Sự Mặc khải của Đức Chúa Giê-xu Christ được nêu trong câu thứ nhất của chương một sách Khải Huyền là sứ điệp sẽ được truyền đạt cho các hội thánh khi “thì giờ đã gần”; và thời điểm “đã gần” trong chương một của Khải Huyền phải là cùng một thời điểm “đã gần”, ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại trong chương hai mươi hai của Khải Huyền.
The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to show unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:1-3.
Sự mặc khải của Đức Chúa Jesus Christ, điều Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để tỏ cho các đầy tớ Ngài những việc phải sớm xảy đến; Ngài đã sai thiên sứ của Ngài để bày tỏ điều ấy cho đầy tớ Ngài là Giăng. Người đã làm chứng về lời Đức Chúa Trời, về lời chứng của Đức Chúa Jesus Christ, và về mọi điều ông đã thấy. Phước cho người đọc, và những ai nghe những lời tiên tri này, và giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 1:1-3.
The message that is the final message, which is unsealed just before probation closes, when “the time is at hand,” is the latter rain message of the second angel and Midnight Cry. It is the truth connected with the “hidden history” of the Seven Thunders. It is the revelation of “the eighth being of the seven”, and the golden thread that weaves all these precious revelations together into the beautiful garment of Christ’s righteousness is the “precious” “seven times,” of Leviticus twenty-six. Daniel chapter one, and then again, Daniel chapters one through three, is that message. The “secret” of chapter two, is also that message.
Thông điệp sau cùng, được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, khi “thời giờ đã gần”, chính là thông điệp mưa muộn của thiên sứ thứ hai và Tiếng Kêu Nửa Đêm. Ấy là lẽ thật liên hệ với “lịch sử ẩn giấu” của Bảy Tiếng Sấm. Ấy là sự khải thị về “đấng thứ tám thuộc về bảy”, và sợi chỉ vàng dệt tất cả những khải thị quý báu này lại thành tấm áo đẹp đẽ của sự công bình của Đấng Christ chính là “quý báu” “bảy lần” trong Lê-vi Ký hai mươi sáu. Sách Đa-ni-ên chương một, và rồi nữa, các chương một đến ba của Đa-ni-ên, chính là thông điệp ấy. “Bí mật” của chương hai cũng là thông điệp ấy.
Chapter one of Daniel represents the first angel’s message, and just as all the prophetic waymarks of all three angels’ messages are represented in the first angel’s message of chapter fourteen of Revelation; all the prophetic waymarks of all three messages are represented in chapter one, of Daniel. Those elements are the three-step testing process, which in Daniel chapter one, represents a dietary test, that is followed by a visual test, which leads to a litmus test. Chapter one, when considered in relation to chapters two and three, represents the dietary test, and chapter two the visual test, and chapter three the litmus test. The three angels’ messages of Revelation fourteen, and Daniel chapters one through three, provide four witnesses to the three-step testing process.
Chương một của Đa-ni-ên tiêu biểu cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, và cũng như mọi cột mốc tiên tri của cả ba sứ điệp của các thiên sứ đều được thể hiện trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất ở chương mười bốn của Khải Huyền; thì mọi cột mốc tiên tri của cả ba sứ điệp cũng được thể hiện trong chương một của Đa-ni-ên. Những yếu tố ấy là quá trình thử thách ba bước, mà trong Đa-ni-ên chương một, là một thử thách về ăn uống, tiếp theo là một thử thách về mắt thấy, dẫn đến một bài thử quyết định. Chương một, khi xét trong mối liên hệ với chương hai và ba, là thử thách về ăn uống; chương hai là thử thách về mắt thấy; và chương ba là bài thử quyết định. Ba sứ điệp của ba thiên sứ trong Khải Huyền mười bốn, và các chương một đến ba của Đa-ni-ên, cung cấp bốn chứng nhân cho quá trình thử thách ba bước.
Chapters four and five of Daniel represent a very profound line of prophetic history. The line produced by those two chapters, contains at least six distinct prophetic lines. One of those prophetic lines, begins in the year 723 BC, and continues through to the Sunday law. Another of the six lines represents the history of 1798, through to the Sunday law, and in that line, three lines of prophecy are simultaneously represented; the line of the earth beast (the United States), then the line of the Protestant horn and also the line of the Republican horn. Together they establish a fifth line in the beginning of the prophetic line of the United States. That line marks the unsealing of chapters seven, eight and nine of Daniel in 1798. At the ending of the prophetic line of the United States, a sixth line is produced, which marks the unsealing of chapters ten, eleven and twelve in 1989.
Các chương bốn và năm của sách Đa-ni-ên trình bày một dòng lịch sử tiên tri rất sâu sắc. Dòng được tạo ra bởi hai chương đó chứa ít nhất sáu dòng tiên tri riêng biệt. Một trong những dòng tiên tri ấy bắt đầu vào năm 723 TCN và kéo dài cho đến đạo luật Chủ nhật. Một dòng khác trong sáu dòng ấy trình bày lịch sử từ năm 1798 cho đến đạo luật Chủ nhật, và trong dòng đó, ba dòng tiên tri được trình bày đồng thời: dòng của con thú từ đất (Hoa Kỳ), rồi dòng của sừng Tin Lành và cả dòng của sừng Cộng hòa. Chúng cùng nhau thiết lập một dòng thứ năm ở phần khởi đầu của dòng tiên tri về Hoa Kỳ. Dòng đó đánh dấu việc mở ấn các chương bảy, tám và chín của sách Đa-ni-ên vào năm 1798. Ở phần kết thúc của dòng tiên tri về Hoa Kỳ, một dòng thứ sáu được hình thành, đánh dấu việc mở ấn các chương mười, mười một và mười hai của sách Đa-ni-ên vào năm 1989.
The beginning of the prophetic line of the earth beast, as represented by Daniel chapter four, is marked by the symbol of the “seven times,” and the ending of the prophetic line of the earth beast is also marked by the symbol of the “seven times.” The beginning and ending of the period of history that is represented by the unsealing of chapters seven, eight and nine is also marked by the symbol of the “seven times.” The beginning and ending of the period of history that is represented by the unsealing of Daniel chapters ten, eleven and twelve is also marked by the “seven times.”
Khởi đầu của dòng tiên tri về con thú từ đất, như được trình bày trong sách Đa-ni-ên chương bốn, được đánh dấu bằng biểu tượng "bảy thời kỳ", và sự kết thúc của dòng tiên tri về con thú từ đất cũng được đánh dấu bằng biểu tượng "bảy thời kỳ". Khởi đầu và kết thúc của giai đoạn lịch sử được thể hiện bởi việc mở ấn các chương bảy, tám và chín cũng được đánh dấu bằng biểu tượng "bảy thời kỳ". Khởi đầu và kết thúc của giai đoạn lịch sử được thể hiện bởi việc mở ấn các chương mười, mười một và mười hai của sách Đa-ni-ên cũng được đánh dấu bằng biểu tượng "bảy thời kỳ".
The ending of the period of history that began when Daniel chapters seven, eight and nine were unsealed at “the time of the end” in 1798, was 1863. The beginning of the period of history that began when Daniel chapters ten, eleven and twelve was unsealed at “the time of the end” was 1989. From 1863, to 1989 equates to one hundred and twenty-six years. One hundred and twenty-six years is a tenth, or a tithe, of twelve hundred and sixty years. The number one hundred and twenty-six is therefore a symbol of the twelve hundred and sixty years, that represent the “wilderness,” which in turn is a symbol of the twenty-five hundred and twenty years of the “seven times.”
Giai đoạn lịch sử bắt đầu khi các chương bảy, tám và chín của Đa-ni-ên được mở ấn vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1798 đã kết thúc vào năm 1863. Thời điểm khởi đầu của giai đoạn lịch sử bắt đầu khi các chương mười, mười một và mười hai của Đa-ni-ên được mở ấn vào "thời kỳ cuối cùng" là năm 1989. Từ năm 1863 đến năm 1989 là một trăm hai mươi sáu năm. Một trăm hai mươi sáu năm là một phần mười, hay "phần mười", của một nghìn hai trăm sáu mươi năm. Vì vậy, con số một trăm hai mươi sáu là biểu tượng của một nghìn hai trăm sáu mươi năm, những năm này đại diện cho "đồng vắng", mà "đồng vắng" lại là một biểu tượng của hai nghìn năm trăm hai mươi năm của "bảy lần".
This reality identifies that in the history of the earth beast, in the movement of the first angel at the beginning, and then at the movement of the third angel at the ending, are both marked at their beginnings and endings with the “seven times.” And the period of time between those two movements which binds them together is also represented by the “seven times.”
Thực tại này chỉ ra rằng trong lịch sử của con thú từ đất, phong trào của thiên sứ thứ nhất lúc khởi đầu, và rồi phong trào của thiên sứ thứ ba lúc kết thúc, đều được đánh dấu ở phần khởi đầu và phần kết thúc bằng "bảy lần". Và khoảng thời gian giữa hai phong trào ấy, vốn gắn kết chúng lại với nhau, cũng được biểu trưng bằng "bảy lần".
Without applying the biblical methodology of “line upon line,” this type of revelation is impossible to see and understand, for without that methodology the sealed book, could be given to one who was educated in the art of theology, and then he could be asked for an explanation of what the book that was sealed meant. His pride of opinion would lead him to point out that the sealed book cannot be understood, for it was sealed. You could then take that sealed book and give it to one of the flock that is controlled and neutered by that enlightened one, and the flock that has become comfortable dining on the theologian’s dishes of fables, would decline from making an application of the sealed book, for they know full well that only those that are members of the theological Sanhedrin have been appointed to decide what truth is.
Không áp dụng phương pháp Kinh Thánh “dòng kề dòng” thì loại mặc khải này không thể nhìn thấy và hiểu được; vì thiếu phương pháp ấy, cuốn sách đã niêm phong có thể được trao cho một người được đào tạo trong bộ môn thần học, rồi người ấy có thể được yêu cầu giải thích ý nghĩa của cuốn sách đã niêm phong. Niềm kiêu hãnh về quan điểm của mình sẽ khiến ông ta chỉ ra rằng cuốn sách đã niêm phong thì không thể hiểu được, vì nó đã bị niêm phong. Khi ấy, bạn có thể lấy cuốn sách đã niêm phong đó trao cho một người trong bầy chiên bị vị khai sáng kia kiểm soát và vô hiệu hóa, và bầy chiên vốn đã thấy dễ chịu khi dùng những món chuyện hoang đường do nhà thần học dọn ra sẽ từ chối đem cuốn sách đã niêm phong ra áp dụng, vì họ biết rất rõ rằng chỉ những kẻ là thành viên của Thượng Hội Đồng thần học mới được chỉ định để quyết định thế nào là chân lý.
“‘Stay yourselves, and wonder, cry ye out, and cry; they are drunken but not with wine; they stagger; but not with strong drink. For the Lord hath poured out upon you the spirit of deep sleep, and hath closed your eyes; the prophets and your rulers, the seers hath he covered. And the vision of all is become unto you as the words of a book that is sealed, which men delivered to one that is learned saying, read this, I pray thee; and he saith, I am not learned.’
'Hãy dừng lại và kinh ngạc; hãy kêu la, cứ kêu la; họ say, nhưng không phải vì rượu; họ lảo đảo, nhưng không phải vì rượu mạnh. Vì Chúa đã đổ trên các ngươi thần ngủ mê sâu, và đã nhắm mắt các ngươi; các nhà tiên tri và những người lãnh đạo của các ngươi, những kẻ thấy khải tượng, Ngài đã che khuất. Và mọi khải tượng đối với các ngươi đã trở nên như lời của một cuốn sách bị niêm phong, mà người ta đưa cho một người có học và nói: Xin đọc điều này, tôi nài xin; và người ấy đáp: Tôi không có học.'
“‘Wherefore the Lord saith, Forasmuch as this people draw near me with their mouths, and with their lips do honor me, but have removed their hearts afar from me, and their fear toward me is taught by the precept of men; therefore, behold, I will proceed to do a marvelous work, and a wonder for the wisdom of their wise men shall perish, and the understanding of their prudent men shall be hid. Woe unto them that seek deep to hide their counsel from the Lord, and their works are in the dark, and they say, Who seeth us, and who knoweth us? Surely your turning of things upside down shall be esteemed as the potters clay; for shall the work say of him that made it, He made me not, or shall the thing framed say of him that framed it, He had no understanding?’
'Bởi cớ đó, Chúa phán: Vì dân này đến gần ta bằng môi miệng, và tôn kính ta bằng môi miệng, nhưng lòng chúng đã xa cách ta, và sự kính sợ ta của chúng là do điều răn của loài người dạy; cho nên, kìa, ta sẽ làm một công việc lạ lùng, một điều kỳ diệu, vì sự khôn ngoan của những người khôn ngoan sẽ tiêu mất, và sự hiểu biết của những người thận trọng sẽ bị che giấu. Khốn cho những kẻ cố ẩn giấu sâu kín mưu định của mình khỏi Chúa, và làm việc trong tối tăm mà nói: Ai thấy chúng ta, và ai biết chúng ta? Thật các ngươi đã lật ngược mọi lẽ, coi thợ gốm như đất sét; vì lẽ nào vật được làm ra lại nói về người làm nên nó: Ông đã không làm tôi, hoặc vật được nắn nên lại nói về người nắn nên nó: Ông chẳng có hiểu biết?'
“Every word of this will be fulfilled. There are those who do not humble their hearts before God, and who will not walk uprightly. They hide their true purposes, and keep in fellowship with the fallen angel, who loveth and maketh a lie. The enemy puts spirit upon the men whom he can use to deceive those who are partially in the dark. Some are becoming imbued with the darkness that prevails, and are setting the truth aside for error. The day pointed out by prophecy is come. Jesus Christ is not understood. Jesus Christ is to them a fable. At this stage of the earth’s history, many act like drunken men. ‘Stay yourselves, and wonder; cry ye out, and cry; they are drunken, but not with wine; they stagger, but not with strong drink. For the Lord hath poured out upon you the spirit of deep sleep, and hath closed your eyes. The prophets and your rulers, the seers hath he covered.’ A spiritual drunkenness is upon many who suppose they are the people who shall be exalted. Their religious faith is just as is represented in this Scripture. Under its influence, they cannot walk straight. They make crooked paths in their course of action. One and then another, they reel to and fro. They are looked upon by the Lord with great pity. The way of truth they have not known. They are scientific schemers, and those who could and should have helped, because of a clear spiritual eyesight, are themselves deceived, and are sustaining an evil work.
Từng lời một ở đây sẽ được ứng nghiệm. Có những kẻ không khiêm nhường lòng mình trước Đức Chúa Trời và không chịu bước đi ngay thẳng. Họ che giấu mục đích thật của mình và thông đồng với thiên sứ sa ngã, kẻ ưa thích và làm điều dối trá. Kẻ thù truyền thần khí trên những người mà hắn có thể dùng để lừa dối những kẻ đang phần nào ở trong bóng tối. Một số đang thấm nhiễm bóng tối đang ngự trị và đang gạt lẽ thật sang một bên để lấy điều sai lầm. Ngày mà lời tiên tri chỉ ra đã đến. Người ta không hiểu Chúa Giê-su Christ. Đối với họ, Chúa Giê-su Christ chỉ là một chuyện hoang đường. Ở giai đoạn này của lịch sử thế gian, nhiều người cư xử như những kẻ say rượu. 'Hãy dừng lại và lấy làm lạ; kêu lên, và kêu; chúng say sưa, nhưng không phải vì rượu; chúng lảo đảo, nhưng không phải vì đồ uống mạnh. Vì Đức Giê-hô-va đã đổ trên các ngươi thần ngủ mê sâu, và đã nhắm mắt các ngươi. Các đấng tiên tri của các ngươi và các lãnh tụ của các ngươi, những kẻ xem hiện thấy, Ngài đã che kín.' Một cơn say thuộc linh đang ở trên nhiều người tưởng rằng họ là dân sẽ được tôn cao. Đức tin tôn giáo của họ đúng như đoạn Kinh Thánh này mô tả. Dưới ảnh hưởng ấy, họ không thể bước đi ngay thẳng. Họ làm ra những nẻo quanh co trong đường lối hành động của mình. Hết người này đến người khác, họ lảo đảo qua lại. Chúa nhìn họ với lòng thương xót lớn lao. Đường lẽ thật họ chưa hề biết. Họ là những kẻ mưu mô theo kiểu khoa học, và những người có thể và lẽ ra phải giúp đỡ, vì có tầm nhìn thuộc linh sáng suốt, thì chính họ lại bị lừa dối và đang tiếp tay cho một công việc gian ác.
“The developments of these last days will soon become decided. When these spiritualistic deceptions are revealed to be what they really are,—the secret workings of evil spirits,—those who have acted a part in them will become as men who have lost their minds.
Những diễn biến của những ngày sau rốt này sẽ sớm được định đoạt. Khi những sự lừa dối duy linh ấy được vạch trần đúng bản chất thật của chúng—những hoạt động bí mật của các tà linh—thì những kẻ đã dự phần vào đó sẽ trở nên như những người mất trí.
“‘Wherefore the Lord saith, Forasmuch as this people draw near me with their mouth, and with their lips do honor me, but have removed their hearts far from me, and their fear toward me is taught by the precept of men therefore, behold I will proceed to do a marvelous work among this people, even a marvelous work and a wonder for the wisdom of their wise men shall perish, and the understanding of their prudent men shall be hid. Woe unto them that seek deep to hide their counsel from the Lord, and their works are in the dark, and they say, who seeth us, and who knoweth us? Surely your turning of things upside down shall be esteemed as the potter’s clay; for shall the work say of him that made it, He made me not? or shall the thing framed say of him that framed it. He had no understanding?’
'Bởi cớ đó Chúa phán: Vì dân này đến gần ta bằng miệng, và bằng môi mà tôn kính ta, nhưng lòng chúng đã xa ta, và sự kính sợ ta của chúng chỉ là điều do điều răn của loài người dạy; vì vậy, này, ta sẽ làm một công việc diệu kỳ giữa dân này, một công việc diệu kỳ và kỳ lạ, vì sự khôn ngoan của những kẻ khôn ngoan của chúng sẽ tiêu vong, và sự hiểu biết của những kẻ thận trọng của chúng sẽ bị che giấu. Khốn cho những kẻ cố giấu thật sâu mưu kế của mình khỏi Chúa, làm việc trong tối tăm và nói: Ai thấy chúng ta, ai biết chúng ta? Quả thật, sự lật ngược mọi điều của các ngươi sẽ bị coi như đất sét của thợ gốm; lẽ nào vật được làm ra lại nói về người đã làm ra nó: Ông không làm tôi sao? hoặc vật được nắn nên lại nói về người đã nắn nó: Ông không có hiểu biết sao?'
“It is presented to me that in our experience we have been and are meeting this very condition of things. Men who have had great light and wonderful privileges have taken the word of leaders who think themselves wise, who have been greatly favored and blessed by the Lord, but who have taken themselves out of the hands of God and placed themselves in the ranks of the enemy. The world is to be flooded with specious fallacies. One human mind, accepting these fallacies, will work upon other human minds, who have been turning the precious evidence of God’s truth into a lie. These men will be deceived by fallen angels, when they should have stood as faithful guardians, watching for souls, as they that must give an account. They have laid down the weapons of their warfare, and have given heed to seducing spirits. They make of no effect the counsel of God and set aside his warnings and reproofs, and are positively on Satan’s side, giving heed to seducing spirits and doctrines of devils.
Điều được bày tỏ cho tôi là, trong kinh nghiệm của chúng ta, chúng ta đã và đang đối diện với chính tình trạng này. Những người đã nhận được ánh sáng lớn lao và những đặc ân kỳ diệu đã nghe theo lời của những người lãnh đạo tự cho mình là khôn ngoan, những người đã được Chúa ưu ái và ban phước rất nhiều, nhưng lại tự tách mình khỏi tay Đức Chúa Trời và đứng vào hàng ngũ của kẻ thù. Thế giới sẽ bị tràn ngập bởi những ngụy biện có vẻ đúng. Chỉ một trí óc con người, khi chấp nhận những ngụy biện ấy, sẽ tác động lên các trí óc khác, những người đã biến những bằng chứng quý giá về lẽ thật của Đức Chúa Trời thành sự dối trá. Những người này sẽ bị các thiên sứ sa ngã lừa dối, trong khi lẽ ra họ phải đứng như những người canh giữ trung tín, tỉnh thức vì các linh hồn, như những kẻ sẽ phải khai trình. Họ đã đặt xuống vũ khí chiến đấu của mình và lắng nghe các tà linh dụ dỗ. Họ làm cho lời khuyên dạy của Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu và gạt bỏ những lời cảnh cáo cùng quở trách của Ngài, và rõ ràng đứng về phía Sa-tan, nghe theo các tà linh dụ dỗ và những giáo lý của ma quỷ.
“Spiritual drunkenness is now upon men who ought not to be staggering as men under the influence of strong drink. Crimes and irregularities, fraud, deceit, and unfair dealing fill the world, in accordance with the teaching of the leader who rebelled in the heavenly courts.
Sự say sưa thuộc linh hiện đang bao trùm những người lẽ ra không nên lảo đảo như những kẻ say rượu mạnh. Tội ác và những sai phạm, gian lận, lừa dối và giao dịch bất công đang tràn ngập thế giới, theo sự dạy dỗ của kẻ lãnh đạo đã phản nghịch trong các tòa án trên trời.
“History is to be repeated. I could specify what will be in the near future, but the time is not yet. The forms of the dead will appear, through the cunning device of Satan, and many will link up with the one who loveth and maketh a lie. I warn our people that right among us some will turn away from the faith, and give heed to seducing spirits and doctrines of devils, and by them the truth will be evil spoken of.” Battle Creek Letters, 123–125.
"Lịch sử sẽ lặp lại. Tôi có thể chỉ rõ điều gì sẽ xảy ra trong tương lai gần, nhưng chưa đến lúc. Bóng dáng của người chết sẽ xuất hiện, qua mưu chước xảo quyệt của Sa-tan, và nhiều người sẽ liên kết với kẻ yêu mến và làm ra sự dối trá. Tôi cảnh báo dân sự của chúng ta rằng ngay giữa chúng ta sẽ có người lìa bỏ đức tin, và nghe theo các linh lừa dối và các giáo lý của ma quỷ, và vì họ mà lẽ thật sẽ bị nói xấu." Battle Creek Letters, 123-125.
Daniel chapter one, representing the message of the first angel of Revelation fourteen, aligns with the beginning history of the earth beast. Daniel chapters one, two and three representing the messages of all three angels in Revelation fourteen, aligns with the ending of the United States. Nebuchadnezzar represents the history of the first angel, and the first chapter of Daniel. Belshazzar represents the history of the third angel, and the first three chapters of Daniel.
Chương một sách Đa-ni-ên, tượng trưng cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất trong Khải Huyền chương mười bốn, tương ứng với giai đoạn mở đầu trong lịch sử của con thú từ đất. Các chương một, hai và ba của Đa-ni-ên, tượng trưng cho sứ điệp của cả ba thiên sứ trong Khải Huyền chương mười bốn, tương ứng với giai đoạn kết thúc của Hoa Kỳ. Nê-bu-cát-nết-sa đại diện cho lịch sử của thiên sứ thứ nhất, và cho chương một của Đa-ni-ên. Bên-xát-sa đại diện cho lịch sử của thiên sứ thứ ba, và cho ba chương đầu của Đa-ni-ên.
“To the last ruler of Babylon, as in type to its first, had come the sentence of the divine Watcher: ‘O king, . . . to thee it is spoken; The kingdom is departed from thee.’ Daniel 4:31.” Prophets and Kings, 533.
“Lời tuyên án của Đấng Canh Thức thiêng liêng đã đến với vị vua cuối cùng của Ba-by-lôn—như, trong hình bóng, đã đến với vị vua đầu tiên của nó: ‘Hỡi vua,... lời này phán cùng ngươi: Nước đã lìa khỏi ngươi.’ Đa-ni-ên 4:31.” Prophets and Kings, 533.
We will continue our study of Nebuchadnezzar and Belshazzar in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu về Nê-bu-cát-nết-sa và Bên-xát-sa trong bài viết tiếp theo.
“Belshazzar, awed by this representation of God’s power, showing that they had a witness, though they knew it not, had had great opportunities of knowing the works of the living God, and His power, and of doing His will. He had been privileged with much light. His grandfather, Nebuchadnezzar, had been warned of his danger in forgetting God and glorifying himself. Belshazzar had a knowledge of his banishment from the society of men, and his association with the beasts of the field; and these facts, which ought to have been a lesson to him, he disregarded, as if they had never occurred; and he went on repeating the sins of his grandfather. He dared to commit the crimes which brought God’s judgments upon Nebuchadnezzar. He was condemned, not alone that he himself was doing wickedly, but that he had not availed himself of opportunities and capabilities, if cultivated, of being right.” Testimonies to Ministers, 436.
Belshazzar, kinh sợ trước sự biểu hiện quyền năng của Đức Chúa Trời này—chứng tỏ rằng họ có một nhân chứng, dù họ không hề biết—đã có những cơ hội lớn để nhận biết các công việc của Đức Chúa Trời hằng sống, quyền năng của Ngài, và để làm theo ý muốn của Ngài. Ông đã được ban cho nhiều ánh sáng. Ông nội của ông, Nebuchadnezzar, đã được cảnh báo về sự nguy hiểm của việc quên Đức Chúa Trời và tôn vinh chính mình. Belshazzar biết việc Nebuchadnezzar bị đuổi khỏi xã hội loài người và phải chung sống với thú đồng; và những sự kiện này, lẽ ra phải là bài học cho ông, thì ông lại phớt lờ, như thể chúng chưa hề xảy ra; và ông tiếp tục lặp lại các tội lỗi của ông nội mình. Ông cả gan phạm những tội ác đã khiến các sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên Nebuchadnezzar. Ông bị kết án, không chỉ vì chính mình làm điều ác, mà còn vì đã không tận dụng những cơ hội và khả năng mà, nếu được trau dồi, có thể khiến ông trở nên ngay thẳng. Testimonies to Ministers, 436.