Giấc mơ của William Miller được đưa vào trong cuốn sách Early Writings, và vì thế chịu sự phân tích và áp dụng mang tính tiên tri giống như điều được đòi hỏi phải thực hiện bởi một người học muốn giải bày đúng Lời của lẽ thật. Giấc mơ ấy đã nhiều lần được Future for America trình bày qua các năm, nhưng ở đây chúng tôi đặt nó trong khuôn khổ nghiên cứu về “sự gia tăng của tri thức,” vốn đã được mở ra vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798. Giấc mơ này đề cập đến lịch sử của sứ điệp đại diện cho tri thức đã được gia tăng. Nó minh họa mối liên kết giữa các phong trào của sứ điệp thiên sứ thứ nhất và thứ ba.
Giấc mơ của William Miller cho thấy công việc của ông, và công việc ấy được tiêu biểu bởi công việc của Môi-se vào buổi đầu của Y-sơ-ra-ên cổ đại. Sự ứng nghiệm của giấc mơ của Miller trong những ngày sau rốt lại được tiêu biểu bởi công việc của Đấng Christ trong những ngày sau rốt của Y-sơ-ra-ên cổ đại. Công việc mà Đấng Christ đã hoàn tất vào cuối thời Y-sơ-ra-ên cổ đại tượng trưng cho công việc mà Ngài thực hiện trong những ngày sau rốt của Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Trong giấc mơ của Miller, công việc được hoàn thành trong những ngày sau rốt được mô tả là do “Người Dùng Chổi Quét Bụi” thực hiện. Điều cốt yếu là phải nhìn nhận giấc mơ của Miller như một lời dự báo về sự ứng nghiệm của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong những ngày sau rốt. Cũng cốt yếu không kém là phải nhận ra rằng công việc của Đấng Christ dành cho Y-sơ-ra-ên cổ đại trong những ngày sau rốt của họ đã tiêu biểu cho công việc của “Người Dùng Chổi Quét Bụi” trong giấc mơ của Miller.
Một phương diện trong công việc của Đấng Christ đáng lưu ý là Ngài không chỉ mở ấn những lẽ thật đã bị chôn vùi từ thời của Môi-se, mà đồng thời Ngài còn làm sáng tỏ và đề cao những lẽ thật nguyên thủy ấy. Qua đó, Ngài nêu gương rằng khi dân của Đức Chúa Trời thực hiện giấc mơ của Miller trong những ngày sau rốt, những lẽ thật được thiết lập qua công việc của Miller sẽ được mở rộng vượt quá cách hiểu ban đầu.
"Vào thời của Cứu Chúa, người Do Thái đã phủ lấp những viên ngọc quý của lẽ thật bằng đống rác rưởi của truyền thống và chuyện hoang đường, đến nỗi không thể phân biệt thật với giả. Cứu Chúa đã đến để dọn sạch rác rưởi của mê tín dị đoan và những sai lầm được ôm ấp lâu ngày, và để đặt những viên ngọc của Lời Đức Chúa Trời vào khuôn khổ của lẽ thật. Cứu Chúa sẽ làm gì nếu bây giờ Ngài đến với chúng ta như Ngài đã đến với người Do Thái? Ngài cũng sẽ phải làm một công việc tương tự, dọn bỏ rác rưởi của truyền thống và nghi lễ. Khi Ngài thực hiện công việc này, người Do Thái đã rất bất bình. Họ đã không còn thấy lẽ thật ban đầu của Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Christ đã đem lẽ thật ấy hiển lộ trở lại. Công việc của chúng ta là giải phóng những lẽ thật quý báu của Đức Chúa Trời khỏi mê tín và sai lầm. Biết bao công việc được giao phó cho chúng ta trong Tin Lành!" Review and Herald, ngày 4 tháng 6, 1889.
Hôm nay, người cầm bàn chải quét bụi (Đấng Christ) đang thực hiện “một công việc tương tự trong việc dọn sạch rác rưởi của truyền thống và nghi lễ” như Sư Tử của chi phái Giu-đa (Đấng Christ) đã thực hiện vào thời người Do Thái. Trong giấc mơ của Miller, những châu báu quý của lẽ thật vốn được sắp đặt một cách hoàn hảo trong hộp đựng châu báu của Lời Đức Chúa Trời đã bị phủ đầy rác rưởi và châu báu giả. Những châu báu ấy sẽ được đưa ra khỏi đống rác và đặt trở lại vào chiếc hộp lớn hơn của Lời Đức Chúa Trời trong thời kỳ Tiếng Kêu Nửa Đêm của những ngày sau rốt, vì chính khi Miller nhìn thấy những châu báu được phục hồi trong chiếc hộp lớn hơn, ông “reo lên vì quá đỗi vui mừng, và tiếng reo ấy đã đánh thức” ông. Giấc mơ của Miller xảy ra vào năm 1847, ba năm sau Tiếng Kêu Nửa Đêm của thiên sứ thứ nhất, nên sự tỉnh thức của ông trong giấc mơ ấy chính là Tiếng Kêu Nửa Đêm của những ngày sau rốt. Tiếng Kêu Nửa Đêm đó được rao ra bởi hai nhân chứng đã bị con thú từ vực sâu không đáy đi lên giết, và đã chết nằm trên đường phố trong ba ngày rưỡi, cho đến khi họ được hiệp lại và rồi được làm cho sống trong thung lũng những xương khô chết, rồi được giương lên như một kỳ hiệu. Giấc mơ của Miller được ứng nghiệm trên chính con đường ấy, và trong cùng thung lũng mà ông gọi là “phòng của mình”.
Trong lịch sử của phong trào Millerite, Miller được Chúa dùng để thiết lập những lẽ thật ban đầu của phong trào Phục Lâm, nhưng giấc mơ của ông cho thấy rằng theo thời gian những lẽ thật ấy sẽ bị chôn vùi. Việc dẹp bỏ những rác rưởi của truyền thống và tập tục là điều Đấng Christ đã thực hiện vào thời kỳ cuối của Israel xưa, và khi làm như vậy Ngài đã làm hình bóng cho sự ứng nghiệm cuối cùng của giấc mơ William Miller.
Người Do Thái đã mất dấu “lẽ thật nguyên thủy của Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Christ đã đem nó lại cho thấy,” và Ngài xác định công việc của Ngài là “công việc của chúng ta.” Công việc của chúng ta là “giải phóng những lẽ thật quý báu của Đức Chúa Trời khỏi sự mê tín và sai lầm.” Giấc mơ của William Miller xác định việc khám phá, trình bày rồi bị bác bỏ, và việc phục hồi các lẽ thật nguyên thủy. Để hoàn thành công việc phục hồi, Đấng Christ đã đặt lẽ thật vào “khuôn khổ của lẽ thật.” “Khuôn khổ của lẽ thật” đối với William Miller là sự hiểu biết của ông về hai quyền lực gây hoang tàn của ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng. Trong thời kỳ sau rốt, “khuôn khổ của lẽ thật” là ba quyền lực gây hoang tàn: con rồng, con thú và tiên tri giả.
“Khi Đấng Christ đến thế gian để nêu gương về tôn giáo chân thật và tôn cao những nguyên tắc phải chi phối tấm lòng và hành động của con người, sự giả dối đã bám rễ sâu nơi những kẻ đã được ban cho ánh sáng lớn lao đến nỗi họ không còn hiểu được ánh sáng nữa, và cũng không có ý muốn buông bỏ truyền thống để nhường chỗ cho lẽ thật. Họ khước từ Vị Thầy từ trời, họ đã đóng đinh Chúa vinh hiển, hầu giữ lại các phong tục và những điều bày đặt của riêng mình. Chính cùng một tinh thần ấy đang bộc lộ trong thế gian ngày nay. Con người ác cảm với việc khảo sát lẽ thật, e rằng truyền thống của mình sẽ bị xáo trộn và một trật tự mới sẽ được đưa vào. Ở nhân loại luôn có nguy cơ lầm lạc, và con người bẩm sinh có khuynh hướng tôn cao quá mức những ý tưởng và tri thức của loài người, trong khi điều thiêng liêng và đời đời thì không được nhận biết hay trân trọng.” Những lời khuyên về công tác Trường Sa-bát, 47.
Nếu ngày nay Đấng Christ đến thế gian, Ngài sẽ thấy “chính cùng một tinh thần” tôn vinh các ý tưởng và tri thức của loài người, tinh thần đã đặt truyền thống thay cho lẽ thật. Trong giấc mơ của Miller, vào những ngày sau rốt, Đấng Christ đến như người cầm chổi quét bụi để thực hiện chính công việc đó. Khi công việc của Ngài với tư cách người cầm chổi quét bụi hoàn tất, những viên ngọc ban đầu sẽ tỏa sáng gấp mười lần mặt trời, và hai chứng nhân, được Miller đại diện, sẽ trỗi dậy khi tiếng kêu lớn vang lên.
Khuôn khổ chân lý được ban cho Miller đã là cấu trúc tiên tri của hai thế lực hủy diệt, và khuôn khổ chân lý được ban cho Future for America là cấu trúc tiên tri của ba thế lực hủy diệt. “Chìa khóa” được gắn vào chiếc tráp ấy chính là phương pháp luận đặc thù đã được mở ấn và ban cho Miller, và sau đó cho Future for America.
Chìa khóa của sự hiểu biết vào thời của Đấng Christ đã bị những người lẽ ra phải nắm giữ nó để mở ra kho tàng khôn ngoan trong Kinh Thánh Cựu Ước lấy đi. Các thầy rabbi và các thầy dạy đã thực chất đóng kín Nước Trời đối với những người nghèo và khốn khổ, và bỏ mặc họ cho hư mất. Trong các bài giảng của mình, Đấng Christ không trình bày quá nhiều điều trước họ cùng một lúc, kẻo làm rối trí họ. Ngài làm cho từng điểm trở nên rõ ràng và rành mạch. Ngài không coi thường việc lặp lại những lẽ thật xưa cũ và quen thuộc trong các lời tiên tri nếu điều đó phục vụ mục đích của Ngài là khắc sâu những tư tưởng.
Đấng Christ là Đấng khởi nguồn của mọi viên ngọc cổ xưa của chân lý. Qua công việc của kẻ thù, những chân lý này đã bị dời chỗ. Chúng đã bị tách khỏi vị trí chân thật của mình và bị đặt vào khuôn khổ của sự sai lầm. Công việc của Đấng Christ là điều chỉnh lại và thiết lập những viên ngọc quý ấy trong khuôn khổ của chân lý. Những nguyên tắc của chân lý mà chính Ngài đã ban để đem phước lành cho thế gian đã, thông qua sự hoạt động của Sa-tan, bị chôn vùi và dường như đã tuyệt diệt. Đấng Christ đã giải cứu chúng khỏi đống rác rưởi của sai lầm, ban cho chúng một sinh lực mới, sống động, và truyền cho chúng tỏa sáng như những viên bảo châu quý giá, đứng vững đời đời.
Chính Đấng Christ có thể sử dụng bất cứ chân lý xưa cũ nào trong số này mà không vay mượn dù chỉ mảy may, vì Ngài là Đấng đã khởi nguyên tất cả chúng. Ngài đã gieo chúng vào tâm trí và tư tưởng của từng thế hệ, và khi Ngài đến thế gian chúng ta, Ngài đã sắp xếp lại và làm sinh động những chân lý đã trở nên khô cứng, khiến chúng trở nên mạnh mẽ và có sức thuyết phục hơn vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Chính Chúa Giê-su Christ là Đấng có quyền năng giải cứu các chân lý khỏi đống rác rưởi, và một lần nữa ban chúng cho thế giới với sự tươi mới và quyền năng còn vượt hơn thuở ban đầu. Bản Thảo Phát Hành, tập 13, 240, 241.
Đáng chú ý trong đoạn cuối là chìa khóa mà Đức Chúa Giê-su Christ đã dùng vào cuối thời kỳ của dân Y-sơ-ra-ên cổ đại là để mở ra Cựu Ước. Phương pháp luận của Miller đã mở chiếc tráp của Cựu và Tân Ước, nhưng trong những ngày sau rốt, ở phần kết của giấc mơ của ông, chiếc tráp lớn hơn. Chìa khóa của phương pháp luận trong những ngày sau rốt mở ra không chỉ Cựu và Tân Ước, mà còn cả Thần Linh của Lời Tiên Tri. Việc mở ấn sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển, được thực hiện bởi Sư Tử của chi phái Giu-đa, Đấng mà trong giấc mơ của Miller được tượng trưng là người cầm chổi quét bụi. Bà White xác định rằng công việc của người cầm chổi quét bụi xảy ra ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển.
Chúa đã cho tôi một khải tượng vào ngày 26 tháng Một, mà tôi sẽ thuật lại. Tôi thấy rằng một số dân sự của Đức Chúa Trời ngu dại và mê ngủ; chỉ tỉnh một nửa, và không nhận ra thời kỳ chúng ta hiện đang sống; và rằng 'người đàn ông' với 'cái chổi quét bụi' đã bước vào, và một số người đang có nguy cơ bị quét đi. Tôi nài xin Chúa Giê-su cứu họ, dung tha họ thêm một thời gian nữa, và cho họ thấy sự nguy hiểm khủng khiếp của mình, để họ kịp sẵn sàng trước khi sẽ vĩnh viễn quá muộn. Thiên sứ nói: 'Sự hủy diệt đang đến như một trận cuồng phong mạnh mẽ.' Tôi nài xin thiên sứ thương xót và cứu những người yêu mến thế gian này, còn vương vấn với tài sản của họ, không sẵn lòng cắt đứt khỏi chúng, và dâng hiến chúng để giục giã các sứ giả lên đường nuôi dưỡng những chiên đói khát, là những kẻ đang hư mất vì thiếu lương thực thuộc linh.
Khi tôi nhìn thấy những linh hồn khốn khổ đang chết vì thiếu lẽ thật hiện tại, và một số người xưng mình tin lẽ thật lại để mặc họ chết, bằng cách giữ lại những phương tiện cần thiết để đẩy mạnh công việc của Đức Chúa Trời, cảnh tượng ấy quá đau đớn, và tôi nài xin thiên sứ cất cảnh ấy khỏi tầm mắt tôi. Tôi thấy rằng khi sự nghiệp của Đức Chúa Trời kêu gọi dùng đến một phần tài sản của họ, thì giống như chàng thanh niên đến cùng Chúa Jêsus [Ma-thi-ơ 19:16-22.], họ buồn bã bỏ đi; và rằng chẳng bao lâu tai vạ tràn lan sẽ đi qua và quét sạch hết của cải của họ, và lúc ấy thì đã quá muộn để hy sinh của cải trần thế và tích lũy một kho báu ở trên trời. Review and Herald, ngày 1 tháng 4, 1850.
“Cơn tai vạ tràn qua” là biểu tượng của luật ngày Chủ nhật sắp đến; và công việc của người cầm chổi bẩn trong giấc mơ của Miller diễn ra ngay trước khi thời kỳ ân điển kết thúc. Khi Ngài đã dọn sạch căn phòng, Ngài đổ những viên châu báu trở lại vào cái hòm lớn hơn, và rồi chúng chiếu sáng rực rỡ gấp mười lần mặt trời. Đa-ni-ên và ba người bạn của ông được xem là tốt hơn gấp mười lần những người khác.
Đến cuối những ngày mà vua đã định để đưa họ vào, thì trưởng quan hoạn quan đưa họ vào trước mặt Nebuchadnezzar. Vua nói chuyện với họ; và trong tất cả bọn họ chẳng ai sánh bằng Daniel, Hananiah, Mishael và Azariah; vì vậy họ được đứng hầu trước vua. Và trong mọi việc về sự khôn ngoan và thông hiểu mà vua hỏi họ, vua thấy họ giỏi gấp mười lần tất cả các pháp sư và chiêm tinh trong cả vương quốc của vua. Daniel 1:18-20.
“Cuối những ngày” đối với Đa-ni-ên là phép thử giấy quỳ nơi Nê-bu-cát-nết-sa đưa ra phán quyết, và phép thử ấy tiêu biểu cho luật ngày Chủ Nhật trong những ngày sau rốt. Các lẽ thật nguyên thủy và nền tảng sẽ rực sáng gấp mười lần khi được phục hồi trong những ngày sau rốt, hơn lúc chúng lần đầu được nhận biết. Các lẽ thật, và những người khôn ngoan hiểu các lẽ thật ấy trong những ngày sau rốt, sẽ rực sáng gấp mười lần trong kỳ mưa cuối mùa, là sự lặp lại của Tiếng Kêu Nửa Đêm.
"Bạn đang cho rằng sự tái lâm của Chúa còn quá xa. Tôi thấy mưa rào muộn sẽ đến [đột ngột như] tiếng kêu nửa đêm, và với sức mạnh gấp mười lần." Spalding và Magan, 5.
Sự khôi phục các lẽ thật ban đầu được thực hiện bằng việc áp dụng phương pháp luận mưa cuối mùa “dòng trên dòng.” Khi được khôi phục, những lẽ thật ban đầu tỏa sáng “mười lần” rực rỡ hơn so với khi Miller lần đầu nhìn thấy chúng. Những người khôn ngoan sử dụng chìa khóa của phương pháp luận để khôi phục các lẽ thật ban đầu sẽ có một trải nghiệm “mười lần” tốt hơn so với những người nuốt lấy phương pháp của Babylon. Những người bị người cầm chổi bụi quét đi là những người đã gắn bó với các truyền thống và tập tục che lấp lẽ thật ban đầu, và họ bị quét sạch cùng với những sai lầm của truyền thống và tập tục mà họ đã gắn bó.
Giáo lý sai lầm là ngẫu tượng.
Khi từ chối lẽ thật, người ta từ chối chính Đấng Tác Giả của nó. Khi chà đạp luật pháp của Đức Chúa Trời, họ phủ nhận thẩm quyền của Đấng Ban Luật Pháp. Việc biến các giáo lý và lý thuyết sai lầm thành hình tượng cũng dễ như tạc một hình tượng bằng gỗ hay bằng đá. The Great Controversy, 584.
Lời tuyên bố về Ephraim đánh dấu sự kết thúc thời kỳ thử thách cho Ephraim, nhấn mạnh sự thật về những gì người cầm chổi quét bụi đạt được khi ông quét sàn.
Ephraim dính chặt vào các thần tượng: hãy để nó yên. Hosea 4:17.
Bạn là những gì bạn ăn, như đã được minh chứng bởi Daniel và ba vị đáng kính. Nỗi lo lắng của Bà White về những người “ngu dốt và trì trệ” liên quan đến sự thiếu chuẩn bị của họ, và sự thiếu phân định về tầm quan trọng của “lẽ thật hiện tại”. Nỗi lo lắng ấy là sự bày tỏ mối quan tâm của Đấng Christ đối với những người Do Thái hay bắt bẻ trong thời của Ngài, những người đã hoàn toàn đánh mất tầm nhìn về các lẽ thật nguyên thủy. Giấc mơ của Miller xác định sự kết thúc của Y-sơ-ra-ên thuộc linh hiện đại, vốn đã được tiêu biểu bởi Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen thời xưa.
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tự nhận là giải thích Kinh Thánh, nhưng họ giải thích theo quan niệm và truyền thống của chính mình. Tập tục và luật lệ của họ trở nên ngày càng khắt khe. Trong ý nghĩa thuộc linh, Lời thánh đã trở nên đối với dân chúng như một cuốn sách được niêm phong, khép kín trước sự hiểu biết của họ. Signs of the Times, 17 tháng 5, 1905.
Một bóng tối ngày càng dày đặc đã bao trùm Cơ Đốc Phục Lâm Laodicê kể từ năm 1863, và Kinh Thánh cùng Thần linh của lời tiên tri đã trở nên đối với họ như một quyển sách bị niêm phong. Ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn, và điều đó tạo ra một quá trình thử thách ba bước, kết thúc bằng việc những người từ chối từ bỏ các thần tượng về phong tục và truyền thống của mình bị quét sạch khi đạo luật Chủ nhật sắp đến.
"Chúng ta có một Đấng Cứu Chuộc vô hạn, và thật quý báu biết bao những viên ngọc của lẽ thật làm chứng cho điều này trong lời của Đức Chúa Trời. Nhưng những viên ngọc quý báu này đã bị chôn vùi dưới một đống rác rưởi, những truyền thống, những tà thuyết, do chính Sa-tan bày ra. Các mưu kế của hắn đang hoạt động với một quyền lực lạ lùng trên tâm trí con người để làm lu mờ giá trị của Đấng Christ đối với những ai tin Ngài. Kẻ thù của Đức Chúa Trời và của loài người đã gây mê hoặc những kẻ tự xưng là môn đồ của Đấng Christ, đến nỗi về nhiều người có thể nói rằng: Họ không biết thời kỳ họ được thăm viếng." Review and Herald, ngày 16 tháng 8 năm 1898.
Giấc mơ của Miller minh họa lịch sử của việc thiết lập các “chân lý ban đầu”, sự khước từ chúng về sau, và cuối cùng là sự phục hồi của chúng. Ngay trước khi đóng cửa ân điển, “người cầm chổi quét bụi” xuất hiện trong bối cảnh đó, tái lập các chân lý ban đầu và làm cho chúng sáng hơn “gấp mười lần”. Điều này diễn ra trong giai đoạn lịch sử của Tiếng Kêu Nửa Đêm, vốn đi trước Tiếng Kêu Lớn của thiên sứ thứ ba tại thời điểm luật ngày Chủ nhật. Tiếng Kêu Nửa Đêm đánh thức và phân rẽ các trinh nữ trước luật ngày Chủ nhật, cũng như Tiếng Kêu Nửa Đêm đã đi trước việc mở ra cuộc phán xét điều tra trong lịch sử phong trào Millerite. Khi các viên ngọc được ném trở lại vào chiếc rương lớn hơn, đã được phục hồi, thì đã quá muộn, vì sự kiện đó diễn ra “sau khi” sàn nhà đã được quét sạch.
Bụi bặm và rác rưởi của lầm lạc đã chôn vùi những viên ngọc quý của lẽ thật, nhưng các tôi tớ của Chúa có thể vén mở những kho báu này, để hàng ngàn người chiêm ngưỡng chúng với lòng hân hoan và kính sợ. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ ở bên người công tác khiêm nhường, ban ơn và sự soi sáng thiêng liêng, và hàng ngàn người sẽ được dẫn dắt để cùng với Đa-vít cầu nguyện: 'Xin mở mắt con, để con nhìn xem những điều kỳ diệu trong luật pháp Ngài.' Những lẽ thật bao đời bị che khuất và bị bỏ qua sẽ bừng sáng từ những trang được soi rọi của Lời thánh của Đức Chúa Trời. Các hội thánh nói chung, vốn đã nghe, khước từ và chà đạp lẽ thật, sẽ còn hành ác hơn; nhưng 'những người khôn ngoan,' tức những người thành thật, sẽ hiểu biết. Quyển sách đã được mở, và lời của Đức Chúa Trời chạm đến lòng những người khao khát biết ý muốn của Ngài. Trước tiếng kêu lớn của thiên sứ từ trời hiệp cùng thiên sứ thứ ba, hàng ngàn người sẽ tỉnh dậy khỏi cơn mê muội đã giam hãm thế gian suốt bao thời đại, và sẽ thấy vẻ đẹp và giá trị của lẽ thật. Review and Herald, 15 tháng 12, 1885.
Những “hàng nghìn” người lúc ấy thức tỉnh tượng trưng cho bầy chiên khác của Đức Chúa Trời vẫn còn ở Ba-by-lôn, vì “tiếng kêu lớn” bắt đầu vào thời điểm luật ngày Chủ nhật. Công việc của “Người Cầm Chổi Quét Bụi” đã được tiến hành từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, và càng mạnh mẽ hơn kể từ tháng 7 năm 2023.
Sứ đồ nói: 'Hết thảy Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời soi dẫn và có ích cho sự dạy dỗ, quở trách, sửa trị, rèn luyện trong sự công chính, để người của Đức Chúa Trời được trọn vẹn, được trang bị đầy đủ cho mọi việc lành.' Kinh Thánh tự giải thích chính mình. Một đoạn sẽ tỏ ra là chiếc chìa khóa mở ra những đoạn khác, và theo cách ấy ánh sáng sẽ chiếu rọi ý nghĩa ẩn giấu của lời. Bằng cách so sánh những đoạn khác nhau cùng bàn về một chủ đề, xem xét mối liên hệ của chúng từ mọi phía, ý nghĩa chân thật của Kinh Thánh sẽ trở nên hiển nhiên.
Nhiều người nghĩ rằng họ phải tham khảo các sách chú giải Kinh Thánh để hiểu ý nghĩa của lời Đức Chúa Trời, và chúng tôi không chủ trương rằng không nên nghiên cứu các sách chú giải; nhưng sẽ cần rất nhiều sự phân định để khám phá lẽ thật của Đức Chúa Trời giữa cả một khối lời lẽ của loài người. Hội thánh, với tư cách là một tập thể xưng mình tin Kinh Thánh, đã làm được quá ít để gom nhặt những viên ngọc rải rác của lời Đức Chúa Trời thành một chuỗi chân lý trọn vẹn! Những viên ngọc của lẽ thật không nằm ngay trên bề mặt như nhiều người tưởng. Bộ óc chủ mưu trong liên minh của điều ác luôn hoạt động để che khuất lẽ thật và làm cho các ý kiến của những người vĩ đại hiện rõ trước mắt. Kẻ thù đang làm mọi điều trong quyền lực của nó để làm mờ ánh sáng từ trời qua các tiến trình giáo dục; vì nó không hề muốn cho loài người nghe tiếng của Chúa phán: 'Đây là đường, hãy đi theo đó.'
Những viên ngọc của lẽ thật nằm rải rác khắp cánh đồng mạc khải; nhưng chúng đã bị chôn vùi dưới những truyền thống loài người, dưới những lời dạy và các điều răn của người ta, và sự khôn ngoan từ trời hầu như đã bị phớt lờ; vì Sa-tan đã thành công trong việc khiến thế gian tin rằng lời lẽ và những thành tựu của loài người là điều hệ trọng. Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của muôn thế giới, đã ban Phúc Âm cho thế gian với cái giá vô hạn. Qua tác nhân thiêng liêng này, những mạch suối vui mừng, tươi mát của sự an ủi từ trời và niềm an ủi bền vững đã được mở ra cho những ai sẽ đến với suối nguồn sự sống. Vẫn còn những mạch lẽ thật chưa được khám phá; nhưng những điều thuộc linh được hiểu biết cách thuộc linh. Những tâm trí bị che mờ bởi điều ác không thể đánh giá đúng giá trị của lẽ thật như lẽ thật ấy ở trong Đức Chúa Giê-su. Review and Herald, ngày 1 tháng 12, năm 1891.
Công việc của Đấng Christ, như được trình bày trong giấc mơ của Miller qua hình ảnh người cầm chổi quét bụi, có hai phương diện. Đó là loại bỏ sai lầm và khôi phục các lẽ thật ban đầu. Việc loại bỏ sai lầm cũng có hai phương diện, vì khi sai lầm bị quét ra ngoài cửa sổ, nó cuốn theo những ai chọn tiếp tục bám víu vào các sai lầm ấy. Công việc tách biệt do người cầm chổi quét bụi thực hiện cũng được Giê-rê-mi đề cập, và lời chứng của ông phù hợp với Bà White, khi bà nói rằng, "những người phục vụ của Chúa có thể khai mở những kho báu này, để hàng ngàn người sẽ nhìn ngắm chúng với thích thú và kinh ngạc."
Vì vậy, Chúa phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; và nếu ngươi tách điều quý ra khỏi điều hèn ô, ngươi sẽ như miệng của Ta; hãy để họ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Giê-rê-mi 15:19.
Bối cảnh của đoạn trong sách Giê-rê-mi nhằm nói với những người đã trải qua sự thất vọng đầu tiên vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Không chỉ riêng Người Cầm Chổi Bụi tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn hạ, mà đó cũng là công việc của những người được Giê-rê-mi đại diện, những người được mô tả là đang quyết định liệu họ sẽ trở về với Chúa hay không. Rõ ràng họ đã không ở cùng Chúa, vì nếu họ đã bước đi với Ngài thì đã không có lý do để trở về. Khi họ trở về và đứng trước mặt Chúa, rồi sau đó trở thành miệng lưỡi của Ngài, họ sẽ hoàn tất một công việc tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn hạ. Công việc của "Người Cầm Chổi Bụi" đòi hỏi sự tham gia của những người khôn ngoan. Công việc của "Người Cầm Chổi Bụi" trong giấc mơ của Miller cũng được minh họa khi Đấng Christ làm sạch sân đạp lúa của Ngài qua một tiến trình tinh luyện.
“Tôi không thể nói rõ quá trình thanh luyện này sẽ bắt đầu sớm đến mức nào, nhưng nó sẽ không bị trì hoãn lâu. Đấng cầm nia trong tay sẽ thanh tẩy đền thờ của Ngài khỏi sự ô uế về đạo đức. Ngài sẽ thanh tẩy triệt để sân lúa của Ngài.” Testimonies to Ministers, 372, 373.
Quá trình "tinh luyện" cuối cùng bắt đầu vào tháng 7 năm 2023, và đó là quá trình tinh luyện trong chương ba sách Ma-la-chi.
Ma-la-chi 3:1-4 được trích dẫn.
Một tiến trình luyện lọc, thanh tẩy đang diễn ra giữa dân sự của Đức Chúa Trời, và Chúa các đạo binh đã ra tay thực hiện công việc này. Tiến trình này vô cùng thử thách đối với linh hồn, nhưng là điều cần thiết để mọi ô uế được loại bỏ. Những thử thách là điều thiết yếu để chúng ta được đưa lại gần Cha trên trời, thuận phục ý muốn Ngài, hầu chúng ta có thể dâng lên Chúa một của lễ trong sự công chính. Công việc luyện lọc và thanh tẩy linh hồn của Đức Chúa Trời phải tiếp diễn cho đến khi các tôi tớ Ngài trở nên hết mực khiêm nhu, hoàn toàn chết đối với bản ngã, để khi được kêu gọi bước vào công tác thực tiễn, họ một lòng chỉ nhắm đến vinh hiển của Đức Chúa Trời. Review and Herald, 10 tháng 4, 1894.
Giấc mơ thứ hai của Miller chỉ ra sự khôi phục các lẽ thật ban đầu, đồng thời khôi phục một dân đã bị tản lạc. Giấc mơ thứ hai của Nebuchadnezzar chỉ ra sự khôi phục vương quốc của ông. Giấc mơ của Miller đề cập đến việc các lẽ thật ban đầu bị chôn vùi, được diễn tả như những lẽ thật bị "tản lạc". Từ "tản lạc" là một biểu tượng của "bảy thời kỳ". Giấc mơ của Nebuchadnezzar nói về sự "tản lạc" của "bảy thời kỳ". Nebuchadnezzar được đặt vào thời kỳ cuối cùng năm 1798, và tại đó ông đại diện cho một người đã hoán cải. Miller là biểu tượng của "những người khôn ngoan" vào năm 1798.
Chúng tôi sẽ tiếp tục giấc mơ của Miller trong bài viết tiếp theo.
Khi chúng ta phải bất đồng với người khác, hoặc người khác bày tỏ sự khác biệt với ý kiến của chúng ta, chúng ta nên bày tỏ tinh thần Cơ Đốc và nhớ rõ rằng chúng ta có thể yên tâm mà giữ thái độ điềm tĩnh và công bằng; vì lẽ thật luôn đứng vững trước sự khảo xét. Càng được nghiên cứu, ánh sáng của nó càng rạng tỏ. Chúa không ưng thuận mọi điều nhuốm mùi gay gắt và khắc nghiệt, và Ngài quở trách những ai khinh miệt, sỉ nhục những người bất đồng ý kiến với họ, cố tình đặt họ dưới ánh sáng tệ hại nhất. Cả Thiên Đàng nhìn những kẻ làm như vậy như đã nhìn người Pha-ri-si, và phán rằng họ thiếu hiểu biết về cả Kinh Thánh lẫn quyền năng của Đức Chúa Trời. Kẻ thù của lẽ thật không thể biến lẽ thật thành sai lầm. Họ có thể chà đạp lẽ thật, và tưởng rằng vì đã quật đổ nó và chôn vùi nó dưới đống rác rưởi, nó đã bị đánh bại; nhưng Đức Chúa Trời sẽ cảm động một số người trung tín của Ngài làm như Đấng Christ đã làm khi Ngài ở thế gian—phủi sạch rác rưởi ấy, và phục hồi lẽ thật vào vị trí thích hợp của nó trong khuôn khổ của lẽ thật.
Trong những nhóm nơi lẽ thật là vấn đề đem ra bàn cãi, sẽ có những người chống đối mọi điều mà họ chưa từng xem là lẽ thật; và trong khi tự cho rằng mình chỉ đang chiến đấu với sai lầm, họ cần lắng nghe với đôi tai không thành kiến, để họ có thể hiểu đâu là lẽ thật, và không xuyên tạc hay hiểu sai điều đã được nói. Họ có trước mắt gương của những người trong mọi thời đại đã chống lại lẽ thật, và khi làm như vậy, đã khước từ hội đồng (sic) của Đức Chúa Trời chống lại chính mình họ. Gánh trách nhiệm nặng nề sẽ đổ trên những người đã có ánh sáng lớn lao và cơ hội lớn lao, nhưng vẫn thất bại trong việc đứng trọn về phía Chúa. Nếu họ dám đứng trọn về phía Chúa, họ sẽ được giữ gìn trong sự chính trực, ngay cả khi họ được kêu gọi phải đứng một mình. Ngài sẽ khiến họ có thể đứng cách can đảm, trong sự thanh khiết và công bằng, tranh đấu cho những nguyên tắc không bị bại hoại của sự công chính. Ngài sẽ nâng đỡ họ trong cuộc chiến cho điều phải chỉ vì đó là điều phải, dù công lý có ngã gục nơi đường phố, và lẽ công bình không thể bước vào. Họ sẽ hiểu điều gì là tinh sạch và không vết nhơ, phù hợp với đời sống của Đấng Christ, và sẽ không quay khỏi những nguyên tắc tinh ròng nhất của Cơ Đốc giáo trong tâm thần, lời nói, hay hành động, dẫu họ đứng đối nghịch không chỉ với sự ngu dốt, mà còn với những người có học thức và từng trải, dùng vũ khí ngụy biện để buộc họ im tiếng. Trải qua mọi cuộc tranh chiến của sai lầm chống lại lẽ thật ấy, họ sẽ được gìn giữ và được ban năng lực để giữ một đường lối khiến kẻ thù của họ không thể chối cãi hay chống cự. Họ sẽ đứng vững như đá vì nguyên tắc, từ chối thỏa hiệp với bất kỳ ai, nhưng vẫn giữ tinh thần vốn là đặc trưng của mọi Cơ Đốc nhân.
Ai là môn đồ của Đấng Christ sẽ phân biệt giữa điều thánh và điều phàm tục, và sẽ giữ lấy bằng chứng xác thực về tư cách và công việc của một người, vì Đấng Christ đã phán: “Cứ xem quả, các ngươi sẽ biết họ.” Người Cơ Đốc sẽ tiến bước giữa mọi thứ chống đối. Người ấy sẽ khinh bỉ sự nịnh hót vì nó bắt nguồn từ Sa-tan. Người ấy sẽ ghê tởm sự cáo buộc vì đó là vũ khí của kẻ ác. Họ sẽ không nuôi dưỡng lòng ghen tị hay chiều theo sự tự đề cao mình, vì đó là những đặc tính của kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời và loài người. Họ sẽ không làm kẻ do thám; vì Sa-tan đã dùng những người Do Thái bị khinh rẻ để làm công việc này chống lại Đức Chúa Giê-su. Họ sẽ không theo anh em mình với một tràng câu hỏi, như người Do Thái đã theo Đấng Christ nhằm gài bẫy Ngài trong lời nói, và xúi giục Ngài nói về nhiều điều để họ có thể gán tội cho Ngài chỉ vì một lời. Home Missionary, ngày 1 tháng 9 năm 1894.