William Miller’s dream was placed within the book Early Writings, and therefore subject to the same prophetic analysis and application that is required to be accomplished by a student who seeks to rightly divide the Word of truth. The dream has been presented many times through the years by Future for America, but here we are putting it into the study of the “increase of knowledge,” that was opened up at “the time of the end” in 1798. The dream addresses the history of the message that represented the knowledge that was increased. It illustrates a link between the movements of the first and third angel’s messages.

Giấc mơ của William Miller được đưa vào trong cuốn sách Early Writings, và vì thế chịu sự phân tích và áp dụng mang tính tiên tri giống như điều được đòi hỏi phải thực hiện bởi một người học muốn giải bày đúng Lời của lẽ thật. Giấc mơ ấy đã nhiều lần được Future for America trình bày qua các năm, nhưng ở đây chúng tôi đặt nó trong khuôn khổ nghiên cứu về “sự gia tăng của tri thức,” vốn đã được mở ra vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798. Giấc mơ này đề cập đến lịch sử của sứ điệp đại diện cho tri thức đã được gia tăng. Nó minh họa mối liên kết giữa các phong trào của sứ điệp thiên sứ thứ nhất và thứ ba.

William Miller’s dream identifies his work, and his work was typified by the work of Moses at the beginning of ancient Israel. The fulfillment of Miller’s dream in the last days, was typified by the work of Christ, in the last days of ancient Israel. The work that Christ accomplished at the end of ancient Israel, represented the work Christ accomplishes in the last days of spiritual Israel. In Miller’s dream the work accomplished in the last days is represented as being performed by the “Dirt Brush Man”. It is essential to recognize Miller’s dream as a prediction of the fulfillment of the Midnight Cry in the last days. It is also essential to recognize that the work of Christ for ancient Israel in their last days typified the work of the “Dirt Brush Man” in Miller’s dream.

Giấc mơ của William Miller cho thấy công việc của ông, và công việc ấy được tiêu biểu bởi công việc của Môi-se vào buổi đầu của Y-sơ-ra-ên cổ đại. Sự ứng nghiệm của giấc mơ của Miller trong những ngày sau rốt lại được tiêu biểu bởi công việc của Đấng Christ trong những ngày sau rốt của Y-sơ-ra-ên cổ đại. Công việc mà Đấng Christ đã hoàn tất vào cuối thời Y-sơ-ra-ên cổ đại tượng trưng cho công việc mà Ngài thực hiện trong những ngày sau rốt của Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Trong giấc mơ của Miller, công việc được hoàn thành trong những ngày sau rốt được mô tả là do “Người Dùng Chổi Quét Bụi” thực hiện. Điều cốt yếu là phải nhìn nhận giấc mơ của Miller như một lời dự báo về sự ứng nghiệm của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong những ngày sau rốt. Cũng cốt yếu không kém là phải nhận ra rằng công việc của Đấng Christ dành cho Y-sơ-ra-ên cổ đại trong những ngày sau rốt của họ đã tiêu biểu cho công việc của “Người Dùng Chổi Quét Bụi” trong giấc mơ của Miller.

One element of the work of Christ that is important to note is that He not only unsealed the buried truths from the time of Moses, but Christ simultaneously magnified those original truths. In doing so, He set an example that when God’s people fulfill Miller’s dream in the last days, the truths established through the work of Miller, will be expanded beyond their original understanding.

Một phương diện trong công việc của Đấng Christ đáng lưu ý là Ngài không chỉ mở ấn những lẽ thật đã bị chôn vùi từ thời của Môi-se, mà đồng thời Ngài còn làm sáng tỏ và đề cao những lẽ thật nguyên thủy ấy. Qua đó, Ngài nêu gương rằng khi dân của Đức Chúa Trời thực hiện giấc mơ của Miller trong những ngày sau rốt, những lẽ thật được thiết lập qua công việc của Miller sẽ được mở rộng vượt quá cách hiểu ban đầu.

“In the time of the Savior, the Jews had so covered over the precious jewels of truth with the rubbish of tradition and fable, that it was impossible to distinguish the true from the false. The Savior came to clear away the rubbish of superstition and long-cherished errors, and to set the jewels of God’s word in the framework of truth. What would the Savior do if he should come to us now as he did to the Jews? He would have to do a similar work in clearing away the rubbish of tradition and ceremony. The Jews were greatly disturbed when he did this work. They had lost sight of the original truth of God, but Christ brought it again to view. It is our work to free the precious truths of God from superstition and error. What a work is committed to us in the gospel!” Review and Herald, June 4, 1889.

"Vào thời của Cứu Chúa, người Do Thái đã phủ lấp những viên ngọc quý của lẽ thật bằng đống rác rưởi của truyền thống và chuyện hoang đường, đến nỗi không thể phân biệt thật với giả. Cứu Chúa đã đến để dọn sạch rác rưởi của mê tín dị đoan và những sai lầm được ôm ấp lâu ngày, và để đặt những viên ngọc của Lời Đức Chúa Trời vào khuôn khổ của lẽ thật. Cứu Chúa sẽ làm gì nếu bây giờ Ngài đến với chúng ta như Ngài đã đến với người Do Thái? Ngài cũng sẽ phải làm một công việc tương tự, dọn bỏ rác rưởi của truyền thống và nghi lễ. Khi Ngài thực hiện công việc này, người Do Thái đã rất bất bình. Họ đã không còn thấy lẽ thật ban đầu của Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Christ đã đem lẽ thật ấy hiển lộ trở lại. Công việc của chúng ta là giải phóng những lẽ thật quý báu của Đức Chúa Trời khỏi mê tín và sai lầm. Biết bao công việc được giao phó cho chúng ta trong Tin Lành!" Review and Herald, ngày 4 tháng 6, 1889.

Today the dirt brush man (Christ) is accomplishing “a similar work in clearing away the rubbish of tradition and ceremony” as did the Lion of the tribe of Judah (Christ) accomplish in the time of the Jews. In Miller’s dream, the precious jewels of truth that were perfectly arranged in the casket of God’s word, became covered with rubbish and counterfeit jewels. Those jewels were to be brought out from the rubbish and placed back into the larger casket of God’s Word during the period of the Midnight Cry of the last days, for it was when Miller looked upon the restored jewels in the larger casket that he “shouted with very joy, and that shout awoke” him. Miller’s dream occurred in 1847, three years after the Midnight Cry of the first angel, so his awakening in the dream is the Midnight Cry of the last days. That Midnight Cry is proclaimed by the two witnesses who had been slain by the beast that ascended out of the bottomless pit, and were dead in the street for three and a half days, until they were formed together and then brought to life in the valley of dead dry bones and then lifted up as an ensign. Miller’s dream is fulfilled on that street, and in the same valley that he identifies as “his room”.

Hôm nay, người cầm bàn chải quét bụi (Đấng Christ) đang thực hiện “một công việc tương tự trong việc dọn sạch rác rưởi của truyền thống và nghi lễ” như Sư Tử của chi phái Giu-đa (Đấng Christ) đã thực hiện vào thời người Do Thái. Trong giấc mơ của Miller, những châu báu quý của lẽ thật vốn được sắp đặt một cách hoàn hảo trong hộp đựng châu báu của Lời Đức Chúa Trời đã bị phủ đầy rác rưởi và châu báu giả. Những châu báu ấy sẽ được đưa ra khỏi đống rác và đặt trở lại vào chiếc hộp lớn hơn của Lời Đức Chúa Trời trong thời kỳ Tiếng Kêu Nửa Đêm của những ngày sau rốt, vì chính khi Miller nhìn thấy những châu báu được phục hồi trong chiếc hộp lớn hơn, ông “reo lên vì quá đỗi vui mừng, và tiếng reo ấy đã đánh thức” ông. Giấc mơ của Miller xảy ra vào năm 1847, ba năm sau Tiếng Kêu Nửa Đêm của thiên sứ thứ nhất, nên sự tỉnh thức của ông trong giấc mơ ấy chính là Tiếng Kêu Nửa Đêm của những ngày sau rốt. Tiếng Kêu Nửa Đêm đó được rao ra bởi hai nhân chứng đã bị con thú từ vực sâu không đáy đi lên giết, và đã chết nằm trên đường phố trong ba ngày rưỡi, cho đến khi họ được hiệp lại và rồi được làm cho sống trong thung lũng những xương khô chết, rồi được giương lên như một kỳ hiệu. Giấc mơ của Miller được ứng nghiệm trên chính con đường ấy, và trong cùng thung lũng mà ông gọi là “phòng của mình”.

In the history of the Millerites, Miller was used by the Lord to establish the original truths of Adventism, but his dream identified that over time those truths would be buried. This phenomenon of clearing away the rubbish of tradition and custom is what Christ accomplished at the end of ancient Israel, and in so doing he typified the final fulfillment of William Miller’s dream.

Trong lịch sử của phong trào Millerite, Miller được Chúa dùng để thiết lập những lẽ thật ban đầu của phong trào Phục Lâm, nhưng giấc mơ của ông cho thấy rằng theo thời gian những lẽ thật ấy sẽ bị chôn vùi. Việc dẹp bỏ những rác rưởi của truyền thống và tập tục là điều Đấng Christ đã thực hiện vào thời kỳ cuối của Israel xưa, và khi làm như vậy Ngài đã làm hình bóng cho sự ứng nghiệm cuối cùng của giấc mơ William Miller.

The Jews had lost sight of “the original truth of God, but Christ brought it again to view,” and identified His work as “our work.” Our work is “to free the precious truths of God from superstition and error.” William Miller’s dream identifies the discovery, presentation and rejection, and restoration of the original truths. In order to accomplish the work of restoration, Christ placed the truth into “the framework of truth.” The “framework of truth” for William Miller was his understanding of the two desolating powers of paganism and papalism. In the last days the “framework of truth” is the three desolating powers of the dragon, the beast, and the false prophet.

Người Do Thái đã mất dấu “lẽ thật nguyên thủy của Đức Chúa Trời, nhưng Đấng Christ đã đem nó lại cho thấy,” và Ngài xác định công việc của Ngài là “công việc của chúng ta.” Công việc của chúng ta là “giải phóng những lẽ thật quý báu của Đức Chúa Trời khỏi sự mê tín và sai lầm.” Giấc mơ của William Miller xác định việc khám phá, trình bày rồi bị bác bỏ, và việc phục hồi các lẽ thật nguyên thủy. Để hoàn thành công việc phục hồi, Đấng Christ đã đặt lẽ thật vào “khuôn khổ của lẽ thật.” “Khuôn khổ của lẽ thật” đối với William Miller là sự hiểu biết của ông về hai quyền lực gây hoang tàn của ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng. Trong thời kỳ sau rốt, “khuôn khổ của lẽ thật” là ba quyền lực gây hoang tàn: con rồng, con thú và tiên tri giả.

“When Christ came into the world to exemplify true religion, and to exalt the principles that should govern the hearts and actions of men, falsehood had taken so deep a hold upon those who had had so great light, that they no longer comprehended the light, and had no inclination to yield up tradition for truth. They rejected the heavenly Teacher, they crucified the Lord of glory, that they might retain their own customs and inventions. The very same spirit is manifested in the world today. Men are averse to investigating truth, lest their traditions should be disturbed, and a new order of things should be brought in. There is with humanity a constant liability to err, and men are naturally inclined to highly exalt human ideas and knowledge, while the divine and eternal is not discerned or appreciated.” Counsels on Sabbath School Work, 47.

“Khi Đấng Christ đến thế gian để nêu gương về tôn giáo chân thật và tôn cao những nguyên tắc phải chi phối tấm lòng và hành động của con người, sự giả dối đã bám rễ sâu nơi những kẻ đã được ban cho ánh sáng lớn lao đến nỗi họ không còn hiểu được ánh sáng nữa, và cũng không có ý muốn buông bỏ truyền thống để nhường chỗ cho lẽ thật. Họ khước từ Vị Thầy từ trời, họ đã đóng đinh Chúa vinh hiển, hầu giữ lại các phong tục và những điều bày đặt của riêng mình. Chính cùng một tinh thần ấy đang bộc lộ trong thế gian ngày nay. Con người ác cảm với việc khảo sát lẽ thật, e rằng truyền thống của mình sẽ bị xáo trộn và một trật tự mới sẽ được đưa vào. Ở nhân loại luôn có nguy cơ lầm lạc, và con người bẩm sinh có khuynh hướng tôn cao quá mức những ý tưởng và tri thức của loài người, trong khi điều thiêng liêng và đời đời thì không được nhận biết hay trân trọng.” Những lời khuyên về công tác Trường Sa-bát, 47.

If Christ came into the world today He would find “the very same spirit” of exaltation of human ideas and knowledge, that placed tradition in place of truth. In Miller’s dream, in the last days, Christ comes as the dirt brush man to accomplish that identical work. When His work as the dirt brush man is accomplished, the original jewels will shine ten times brighter than the sun, as the two witnesses, represented by Miller, awake at the shout of the loud cry.

Nếu ngày nay Đấng Christ đến thế gian, Ngài sẽ thấy “chính cùng một tinh thần” tôn vinh các ý tưởng và tri thức của loài người, tinh thần đã đặt truyền thống thay cho lẽ thật. Trong giấc mơ của Miller, vào những ngày sau rốt, Đấng Christ đến như người cầm chổi quét bụi để thực hiện chính công việc đó. Khi công việc của Ngài với tư cách người cầm chổi quét bụi hoàn tất, những viên ngọc ban đầu sẽ tỏa sáng gấp mười lần mặt trời, và hai chứng nhân, được Miller đại diện, sẽ trỗi dậy khi tiếng kêu lớn vang lên.

The framework of truth given to Miller was the prophetic structure of two desolating powers, and the framework of truth given to Future for America is the prophetic structure of three desolating powers. The “key” that was attached to the casket was the particular methodology that was unsealed and given to Miller, and thereafter to Future for America.

Khuôn khổ chân lý được ban cho Miller đã là cấu trúc tiên tri của hai thế lực hủy diệt, và khuôn khổ chân lý được ban cho Future for America là cấu trúc tiên tri của ba thế lực hủy diệt. “Chìa khóa” được gắn vào chiếc tráp ấy chính là phương pháp luận đặc thù đã được mở ấn và ban cho Miller, và sau đó cho Future for America.

“The key of knowledge in Christ’s day had been taken away by those who should have held it to unlock the treasure house of wisdom in the Old Testament Scriptures. The rabbis and teachers had virtually shut up the kingdom of heaven from the poor and the afflicted, and left them to perish. In His discourses Christ did not bring many things before them at once, lest He might confuse their minds. He made every point clear and distinct. He did not disdain the repetition of old and familiar truths in prophecies if they would serve His purpose to inculcate ideas.

Chìa khóa của sự hiểu biết vào thời của Đấng Christ đã bị những người lẽ ra phải nắm giữ nó để mở ra kho tàng khôn ngoan trong Kinh Thánh Cựu Ước lấy đi. Các thầy rabbi và các thầy dạy đã thực chất đóng kín Nước Trời đối với những người nghèo và khốn khổ, và bỏ mặc họ cho hư mất. Trong các bài giảng của mình, Đấng Christ không trình bày quá nhiều điều trước họ cùng một lúc, kẻo làm rối trí họ. Ngài làm cho từng điểm trở nên rõ ràng và rành mạch. Ngài không coi thường việc lặp lại những lẽ thật xưa cũ và quen thuộc trong các lời tiên tri nếu điều đó phục vụ mục đích của Ngài là khắc sâu những tư tưởng.

“Christ was the originator of all the ancient gems of truth. Through the work of the enemy these truths had been displaced. They had been disconnected from their true position, and placed in the framework of error. Christ’s work was to readjust and establish the precious gems in the framework of truth. The principles of truth which had been given by Himself to bless the world had, through Satan’s agency, been buried and had apparently become extinct. Christ rescued them from the rubbish of error, gave them a new, vital force, and commanded them to shine as precious jewels, and stand fast forever.

Đấng Christ là Đấng khởi nguồn của mọi viên ngọc cổ xưa của chân lý. Qua công việc của kẻ thù, những chân lý này đã bị dời chỗ. Chúng đã bị tách khỏi vị trí chân thật của mình và bị đặt vào khuôn khổ của sự sai lầm. Công việc của Đấng Christ là điều chỉnh lại và thiết lập những viên ngọc quý ấy trong khuôn khổ của chân lý. Những nguyên tắc của chân lý mà chính Ngài đã ban để đem phước lành cho thế gian đã, thông qua sự hoạt động của Sa-tan, bị chôn vùi và dường như đã tuyệt diệt. Đấng Christ đã giải cứu chúng khỏi đống rác rưởi của sai lầm, ban cho chúng một sinh lực mới, sống động, và truyền cho chúng tỏa sáng như những viên bảo châu quý giá, đứng vững đời đời.

“Christ Himself could use any of these old truths without borrowing the smallest particle, for He had originated them all. He had cast them into the minds and thoughts of each generation, and when He came to our world He rearranged and vitalized the truths which had become dead, making them more forcible for the benefit of future generations. It was Jesus Christ who had the power of rescuing the truths from the rubbish, and again giving them to the world with more than their original freshness and power.” Manuscript Releases, volume 13, 240, 241.

Chính Đấng Christ có thể sử dụng bất cứ chân lý xưa cũ nào trong số này mà không vay mượn dù chỉ mảy may, vì Ngài là Đấng đã khởi nguyên tất cả chúng. Ngài đã gieo chúng vào tâm trí và tư tưởng của từng thế hệ, và khi Ngài đến thế gian chúng ta, Ngài đã sắp xếp lại và làm sinh động những chân lý đã trở nên khô cứng, khiến chúng trở nên mạnh mẽ và có sức thuyết phục hơn vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Chính Chúa Giê-su Christ là Đấng có quyền năng giải cứu các chân lý khỏi đống rác rưởi, và một lần nữa ban chúng cho thế giới với sự tươi mới và quyền năng còn vượt hơn thuở ban đầu. Bản Thảo Phát Hành, tập 13, 240, 241.

It is interesting to note in the last passage that the key that Christ employed at the end of ancient Israel was to open the Old Testament. The key of Miller’s methodology opened the casket of the Old and New Testaments, but in the last days, at the conclusion of his dream, the casket is larger. The key of methodology in the last days opens not only the Old and New Testaments, but also the Spirit of Prophecy. The unsealing of the Revelation of Jesus Christ, just before the close of probation is accomplished by the Lion of the tribe of Judah, who in Miller’s dream is represented as the dirt brush man. Sister White identifies that the work of the dirt brush man occurs just before the close of probation.

Đáng chú ý trong đoạn cuối là chìa khóa mà Đức Chúa Giê-su Christ đã dùng vào cuối thời kỳ của dân Y-sơ-ra-ên cổ đại là để mở ra Cựu Ước. Phương pháp luận của Miller đã mở chiếc tráp của Cựu và Tân Ước, nhưng trong những ngày sau rốt, ở phần kết của giấc mơ của ông, chiếc tráp lớn hơn. Chìa khóa của phương pháp luận trong những ngày sau rốt mở ra không chỉ Cựu và Tân Ước, mà còn cả Thần Linh của Lời Tiên Tri. Việc mở ấn sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển, được thực hiện bởi Sư Tử của chi phái Giu-đa, Đấng mà trong giấc mơ của Miller được tượng trưng là người cầm chổi quét bụi. Bà White xác định rằng công việc của người cầm chổi quét bụi xảy ra ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển.

“The Lord gave me a view, January 26, which I will relate. I saw that some of the people of God were stupid and dormant; and were but half awake, and did not realize the time we were now living in; and that the ‘man’ with the ‘dirt-brush’ had entered, and that some were in danger of being swept away. I begged of Jesus to save them, to spare them a little longer, and let them see their awful danger, that they might get ready before it should be forever too late. The angel said, ‘Destruction is coming like a mighty whirlwind.’ I begged of the angel to pity and to save those who loved this world, and were attached to their possessions, and were not willing to cut loose from them, and sacrifice them to speed the messengers on their way to feed the hungry sheep, who were perishing for want of spiritual food.

Chúa đã cho tôi một khải tượng vào ngày 26 tháng Một, mà tôi sẽ thuật lại. Tôi thấy rằng một số dân sự của Đức Chúa Trời ngu dại và mê ngủ; chỉ tỉnh một nửa, và không nhận ra thời kỳ chúng ta hiện đang sống; và rằng 'người đàn ông' với 'cái chổi quét bụi' đã bước vào, và một số người đang có nguy cơ bị quét đi. Tôi nài xin Chúa Giê-su cứu họ, dung tha họ thêm một thời gian nữa, và cho họ thấy sự nguy hiểm khủng khiếp của mình, để họ kịp sẵn sàng trước khi sẽ vĩnh viễn quá muộn. Thiên sứ nói: 'Sự hủy diệt đang đến như một trận cuồng phong mạnh mẽ.' Tôi nài xin thiên sứ thương xót và cứu những người yêu mến thế gian này, còn vương vấn với tài sản của họ, không sẵn lòng cắt đứt khỏi chúng, và dâng hiến chúng để giục giã các sứ giả lên đường nuôi dưỡng những chiên đói khát, là những kẻ đang hư mất vì thiếu lương thực thuộc linh.

“As I viewed poor souls dying for want of the present truth, and some who professed to believe the truth were letting them die, by withholding the necessary means to carry forward the work of God, the sight was too painful, and I begged of the angel to remove it from me. I saw that when the cause of God called for some of their property, like the young man who came to Jesus, [Matthew 19:16–22.] they went away sorrowful; and that soon the overflowing scourge would pass over and sweep their possessions all away, and then it would be too late to sacrifice earthly goods, and lay up a treasure in heaven.” Review and Herald, April 1, 1850.

Khi tôi nhìn thấy những linh hồn khốn khổ đang chết vì thiếu lẽ thật hiện tại, và một số người xưng mình tin lẽ thật lại để mặc họ chết, bằng cách giữ lại những phương tiện cần thiết để đẩy mạnh công việc của Đức Chúa Trời, cảnh tượng ấy quá đau đớn, và tôi nài xin thiên sứ cất cảnh ấy khỏi tầm mắt tôi. Tôi thấy rằng khi sự nghiệp của Đức Chúa Trời kêu gọi dùng đến một phần tài sản của họ, thì giống như chàng thanh niên đến cùng Chúa Jêsus [Ma-thi-ơ 19:16-22.], họ buồn bã bỏ đi; và rằng chẳng bao lâu tai vạ tràn lan sẽ đi qua và quét sạch hết của cải của họ, và lúc ấy thì đã quá muộn để hy sinh của cải trần thế và tích lũy một kho báu ở trên trời. Review and Herald, ngày 1 tháng 4, 1850.

The “overflowing scourge” is a symbol of the soon-coming Sunday law, and the work of the dirt brush man in Miller’s dream, takes place just before probation closes. It is when He has cleaned the room that He then casts the jewels back into the larger casket, and they then shine ten times brighter than the sun. Daniel and the three worthies were found ten times better than the others.

“Cơn tai vạ tràn qua” là biểu tượng của luật ngày Chủ nhật sắp đến; và công việc của người cầm chổi bẩn trong giấc mơ của Miller diễn ra ngay trước khi thời kỳ ân điển kết thúc. Khi Ngài đã dọn sạch căn phòng, Ngài đổ những viên châu báu trở lại vào cái hòm lớn hơn, và rồi chúng chiếu sáng rực rỡ gấp mười lần mặt trời. Đa-ni-ên và ba người bạn của ông được xem là tốt hơn gấp mười lần những người khác.

Now at the end of the days that the king had said he should bring them in, then the prince of the eunuchs brought them in before Nebuchadnezzar. And the king communed with them; and among them all was found none like Daniel, Hananiah, Mishael, and Azariah: therefore stood they before the king. And in all matters of wisdom and understanding, that the king inquired of them, he found them ten times better than all the magicians and astrologers that were in all his realm. Daniel 1:18–20.

Đến cuối những ngày mà vua đã định để đưa họ vào, thì trưởng quan hoạn quan đưa họ vào trước mặt Nebuchadnezzar. Vua nói chuyện với họ; và trong tất cả bọn họ chẳng ai sánh bằng Daniel, Hananiah, Mishael và Azariah; vì vậy họ được đứng hầu trước vua. Và trong mọi việc về sự khôn ngoan và thông hiểu mà vua hỏi họ, vua thấy họ giỏi gấp mười lần tất cả các pháp sư và chiêm tinh trong cả vương quốc của vua. Daniel 1:18-20.

The “end of the days,” for Daniel represented the litmus test where Nebuchadnezzar passed judgment, and that test typifies the Sunday law in the last days. The original and foundational truths will shine ten times brighter when restored in the last days, than when they were first recognized. The truths, and the wise who understand those truths in the last days will shine ten times brighter during the latter rain, which is the repetition of the Midnight Cry.

“Cuối những ngày” đối với Đa-ni-ên là phép thử giấy quỳ nơi Nê-bu-cát-nết-sa đưa ra phán quyết, và phép thử ấy tiêu biểu cho luật ngày Chủ Nhật trong những ngày sau rốt. Các lẽ thật nguyên thủy và nền tảng sẽ rực sáng gấp mười lần khi được phục hồi trong những ngày sau rốt, hơn lúc chúng lần đầu được nhận biết. Các lẽ thật, và những người khôn ngoan hiểu các lẽ thật ấy trong những ngày sau rốt, sẽ rực sáng gấp mười lần trong kỳ mưa cuối mùa, là sự lặp lại của Tiếng Kêu Nửa Đêm.

“You are getting the coming of the Lord too far off. I saw the latter rain was coming as [suddenly as] the midnight cry, and with ten times the power.” Spalding and Magan, 5.

"Bạn đang cho rằng sự tái lâm của Chúa còn quá xa. Tôi thấy mưa rào muộn sẽ đến [đột ngột như] tiếng kêu nửa đêm, và với sức mạnh gấp mười lần." Spalding và Magan, 5.

The restoration of the original truths is accomplished by the application of the latter rain methodology of “line upon line.” Once restored, the original truths shine “ten times” brighter than they did when Miller first looked upon them. The wise who employ the key of methodology to restore the original truths, obtain an experience that is “ten times” better than those who eat the methodology of Babylon. Those that are swept away by the dirt brush man, are those who have become attached to the traditions and customs that have covered up the original truth, and who are purged out with the errors of tradition and customs they have become attached to.

Sự khôi phục các lẽ thật ban đầu được thực hiện bằng việc áp dụng phương pháp luận mưa cuối mùa “dòng trên dòng.” Khi được khôi phục, những lẽ thật ban đầu tỏa sáng “mười lần” rực rỡ hơn so với khi Miller lần đầu nhìn thấy chúng. Những người khôn ngoan sử dụng chìa khóa của phương pháp luận để khôi phục các lẽ thật ban đầu sẽ có một trải nghiệm “mười lần” tốt hơn so với những người nuốt lấy phương pháp của Babylon. Những người bị người cầm chổi bụi quét đi là những người đã gắn bó với các truyền thống và tập tục che lấp lẽ thật ban đầu, và họ bị quét sạch cùng với những sai lầm của truyền thống và tập tục mà họ đã gắn bó.

A false doctrine is an idol.

Giáo lý sai lầm là ngẫu tượng.

“In rejecting the truth, men reject its Author. In trampling upon the law of God, they deny the authority of the Law-giver. It is as easy to make an idol of false doctrines and theories as to fashion an idol of wood or stone.” The Great Controversy, 584.

Khi từ chối lẽ thật, người ta từ chối chính Đấng Tác Giả của nó. Khi chà đạp luật pháp của Đức Chúa Trời, họ phủ nhận thẩm quyền của Đấng Ban Luật Pháp. Việc biến các giáo lý và lý thuyết sai lầm thành hình tượng cũng dễ như tạc một hình tượng bằng gỗ hay bằng đá. The Great Controversy, 584.

The pronouncement upon Ephraim that marked the close of probation for Ephraim, emphasizes the truth of what the dirt brush man accomplishes when he sweeps the floor.

Lời tuyên bố về Ephraim đánh dấu sự kết thúc thời kỳ thử thách cho Ephraim, nhấn mạnh sự thật về những gì người cầm chổi quét bụi đạt được khi ông quét sàn.

Ephraim is joined to idols: let him alone. Hosea 4:17.

Ephraim dính chặt vào các thần tượng: hãy để nó yên. Hosea 4:17.

You are what you eat, as demonstrated by Daniel and the three worthies. Sister White’s anxiety over those who were “stupid and dormant” was in relation to their lack of preparation, and their lack of discernment over the importance of “present truth.” Her anxiety was an expression of Christ’s concern for the quibbling Jews of his day and age, who had completely lost sight of the original truths. Miller’s dream identifies the end of modern spiritual Israel, which has been typified by ancient literal Israel.

Bạn là những gì bạn ăn, như đã được minh chứng bởi Daniel và ba vị đáng kính. Nỗi lo lắng của Bà White về những người “ngu dốt và trì trệ” liên quan đến sự thiếu chuẩn bị của họ, và sự thiếu phân định về tầm quan trọng của “lẽ thật hiện tại”. Nỗi lo lắng ấy là sự bày tỏ mối quan tâm của Đấng Christ đối với những người Do Thái hay bắt bẻ trong thời của Ngài, những người đã hoàn toàn đánh mất tầm nhìn về các lẽ thật nguyên thủy. Giấc mơ của Miller xác định sự kết thúc của Y-sơ-ra-ên thuộc linh hiện đại, vốn đã được tiêu biểu bởi Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen thời xưa.

“The scribes and Pharisees professed to explain the Scriptures, but they explained them in accordance with their own ideas and traditions. Their customs and maxims became more and more exacting. In its spiritual sense, the sacred Word became to the people as a sealed book, closed to their comprehension.” Signs of the Times, May 17, 1905.

Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tự nhận là giải thích Kinh Thánh, nhưng họ giải thích theo quan niệm và truyền thống của chính mình. Tập tục và luật lệ của họ trở nên ngày càng khắt khe. Trong ý nghĩa thuộc linh, Lời thánh đã trở nên đối với dân chúng như một cuốn sách được niêm phong, khép kín trước sự hiểu biết của họ. Signs of the Times, 17 tháng 5, 1905.

A progressive darkness has settled upon Laodicean Adventism since 1863, and the Bible and the Spirit of Prophecy has become to them as a book that is sealed. Just before probation closes the Revelation of Jesus Christ is unsealed, and it produces a three-step testing process that ends with those who refuse to relinquish their idols of custom and tradition being swept away at the soon-coming Sunday law.

Một bóng tối ngày càng dày đặc đã bao trùm Cơ Đốc Phục Lâm Laodicê kể từ năm 1863, và Kinh Thánh cùng Thần linh của lời tiên tri đã trở nên đối với họ như một quyển sách bị niêm phong. Ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn, và điều đó tạo ra một quá trình thử thách ba bước, kết thúc bằng việc những người từ chối từ bỏ các thần tượng về phong tục và truyền thống của mình bị quét sạch khi đạo luật Chủ nhật sắp đến.

“We have an infinite Redeemer, and how precious are the gems of truth that testify to this in God’s word. But these precious jewels have been buried beneath a mass of rubbish, of tradition, of heresies, which Satan himself has originated. His schemes are working with a strange power upon human minds to eclipse the value of Christ to those who believe in him. The enemy of God and man has cast a spell over those who profess to be the followers of Christ, until of many it can be said, They know not the time of their visitation.” Review and Herald, August 16, 1898.

"Chúng ta có một Đấng Cứu Chuộc vô hạn, và thật quý báu biết bao những viên ngọc của lẽ thật làm chứng cho điều này trong lời của Đức Chúa Trời. Nhưng những viên ngọc quý báu này đã bị chôn vùi dưới một đống rác rưởi, những truyền thống, những tà thuyết, do chính Sa-tan bày ra. Các mưu kế của hắn đang hoạt động với một quyền lực lạ lùng trên tâm trí con người để làm lu mờ giá trị của Đấng Christ đối với những ai tin Ngài. Kẻ thù của Đức Chúa Trời và của loài người đã gây mê hoặc những kẻ tự xưng là môn đồ của Đấng Christ, đến nỗi về nhiều người có thể nói rằng: Họ không biết thời kỳ họ được thăm viếng." Review and Herald, ngày 16 tháng 8 năm 1898.

Miller’s dream illustrates the history of the establishment of the “original truths,” their subsequent rejection, and then their ultimate restoration. Just before the close of probation the “Dirt Brush Man” enters into the scenario and re-establishes the original truths, and makes them “ten times” brighter. This takes place during the history of the Midnight Cry, which precedes the Loud Cry of the third angel at the Sunday law. The Midnight Cry awakens and separates the virgins in advance of the Sunday law, as did the Midnight Cry precede the opening of the investigative judgment in Millerite history. When the jewels are cast back into the larger, restored casket, it is too late, for that event takes place “after” the floor has been swept clean.

Giấc mơ của Miller minh họa lịch sử của việc thiết lập các “chân lý ban đầu”, sự khước từ chúng về sau, và cuối cùng là sự phục hồi của chúng. Ngay trước khi đóng cửa ân điển, “người cầm chổi quét bụi” xuất hiện trong bối cảnh đó, tái lập các chân lý ban đầu và làm cho chúng sáng hơn “gấp mười lần”. Điều này diễn ra trong giai đoạn lịch sử của Tiếng Kêu Nửa Đêm, vốn đi trước Tiếng Kêu Lớn của thiên sứ thứ ba tại thời điểm luật ngày Chủ nhật. Tiếng Kêu Nửa Đêm đánh thức và phân rẽ các trinh nữ trước luật ngày Chủ nhật, cũng như Tiếng Kêu Nửa Đêm đã đi trước việc mở ra cuộc phán xét điều tra trong lịch sử phong trào Millerite. Khi các viên ngọc được ném trở lại vào chiếc rương lớn hơn, đã được phục hồi, thì đã quá muộn, vì sự kiện đó diễn ra “sau khi” sàn nhà đã được quét sạch.

The dust and rubbish of error have buried the precious jewels of truth, but the Lord’s workers can uncover these treasures, so that thousands will look upon them with delight and awe. Angels of God will be beside the humble worker, giving grace and divine enlightenment, and thousands will be led to pray with David, ‘Open thou mine eyes that I may behold wondrous things out of thy law.’ Truths that have been for ages unseen and unheeded, will blaze forth from the illuminated pages of God’s holy word. The churches generally that have heard, refused, and trampled upon the truth, will do more wickedly; but ‘the wise,’ those who are honest, will understand. The book is open, and the words of God reach the hearts of those who desire to know his will. At the loud cry of the angel from heaven who joins the third angel, thousands will awake from the stupor that has held the world for ages, and will see the beauty and value of the truth.” Review and Herald, December 15, 1885.

Bụi bặm và rác rưởi của lầm lạc đã chôn vùi những viên ngọc quý của lẽ thật, nhưng các tôi tớ của Chúa có thể vén mở những kho báu này, để hàng ngàn người chiêm ngưỡng chúng với lòng hân hoan và kính sợ. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ ở bên người công tác khiêm nhường, ban ơn và sự soi sáng thiêng liêng, và hàng ngàn người sẽ được dẫn dắt để cùng với Đa-vít cầu nguyện: 'Xin mở mắt con, để con nhìn xem những điều kỳ diệu trong luật pháp Ngài.' Những lẽ thật bao đời bị che khuất và bị bỏ qua sẽ bừng sáng từ những trang được soi rọi của Lời thánh của Đức Chúa Trời. Các hội thánh nói chung, vốn đã nghe, khước từ và chà đạp lẽ thật, sẽ còn hành ác hơn; nhưng 'những người khôn ngoan,' tức những người thành thật, sẽ hiểu biết. Quyển sách đã được mở, và lời của Đức Chúa Trời chạm đến lòng những người khao khát biết ý muốn của Ngài. Trước tiếng kêu lớn của thiên sứ từ trời hiệp cùng thiên sứ thứ ba, hàng ngàn người sẽ tỉnh dậy khỏi cơn mê muội đã giam hãm thế gian suốt bao thời đại, và sẽ thấy vẻ đẹp và giá trị của lẽ thật. Review and Herald, 15 tháng 12, 1885.

The “thousands” that then awake, represent God’s other flock that are still in Babylon, for the “loud cry” begins at the Sunday law. The work of the “Dirt Brush Man” has been under way since September 11, 2001, and even more so since July of 2023.

Những “hàng nghìn” người lúc ấy thức tỉnh tượng trưng cho bầy chiên khác của Đức Chúa Trời vẫn còn ở Ba-by-lôn, vì “tiếng kêu lớn” bắt đầu vào thời điểm luật ngày Chủ nhật. Công việc của “Người Cầm Chổi Quét Bụi” đã được tiến hành từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, và càng mạnh mẽ hơn kể từ tháng 7 năm 2023.

“The apostle says, ‘All scripture is given by inspiration of God, and is profitable for doctrine, for reproof, for correction, for instruction in righteousness: that the man of God may be perfect, thoroughly furnished unto all good works.’ The Bible is its own expositor. One passage will prove to be a key that will unlock other passages, and in this way light will be shed upon the hidden meaning of the word. By comparing different texts treating on the same subject, viewing their bearing on every side, the true meaning of the Scriptures will be made evident.

Sứ đồ nói: 'Hết thảy Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời soi dẫn và có ích cho sự dạy dỗ, quở trách, sửa trị, rèn luyện trong sự công chính, để người của Đức Chúa Trời được trọn vẹn, được trang bị đầy đủ cho mọi việc lành.' Kinh Thánh tự giải thích chính mình. Một đoạn sẽ tỏ ra là chiếc chìa khóa mở ra những đoạn khác, và theo cách ấy ánh sáng sẽ chiếu rọi ý nghĩa ẩn giấu của lời. Bằng cách so sánh những đoạn khác nhau cùng bàn về một chủ đề, xem xét mối liên hệ của chúng từ mọi phía, ý nghĩa chân thật của Kinh Thánh sẽ trở nên hiển nhiên.

“Many think that they must consult commentaries on the Scriptures in order to understand the meaning of the word of God, and we would not take the position that commentaries should not be studied; but it will take much discernment to discover the truth of God under the mass of the words of men. How little has been done by the church, as a body professing to believe the Bible, to gather up the scattered jewels of God’s word into one perfect chain of truth! The jewels of truth do not lie upon the surface, as many suppose. The master mind in the confederacy of evil is ever at work to keep the truth out of sight, and to bring into full view the opinions of great men. The enemy is doing all in his power to obscure heaven’s light through educational processes; for he does not mean that men shall hear the voice of the Lord, saying, ‘This is the way, walk ye in it.’

Nhiều người nghĩ rằng họ phải tham khảo các sách chú giải Kinh Thánh để hiểu ý nghĩa của lời Đức Chúa Trời, và chúng tôi không chủ trương rằng không nên nghiên cứu các sách chú giải; nhưng sẽ cần rất nhiều sự phân định để khám phá lẽ thật của Đức Chúa Trời giữa cả một khối lời lẽ của loài người. Hội thánh, với tư cách là một tập thể xưng mình tin Kinh Thánh, đã làm được quá ít để gom nhặt những viên ngọc rải rác của lời Đức Chúa Trời thành một chuỗi chân lý trọn vẹn! Những viên ngọc của lẽ thật không nằm ngay trên bề mặt như nhiều người tưởng. Bộ óc chủ mưu trong liên minh của điều ác luôn hoạt động để che khuất lẽ thật và làm cho các ý kiến của những người vĩ đại hiện rõ trước mắt. Kẻ thù đang làm mọi điều trong quyền lực của nó để làm mờ ánh sáng từ trời qua các tiến trình giáo dục; vì nó không hề muốn cho loài người nghe tiếng của Chúa phán: 'Đây là đường, hãy đi theo đó.'

“The jewels of truth lie scattered over the field of revelation; but they have been buried beneath human traditions, beneath the sayings and commandments of men, and the wisdom from heaven has been practically ignored; for Satan has succeeded in making the world believe that the words and achievements of men are of great consequence. The Lord God, the Creator of the worlds, at infinite cost has given the gospel to the world. Through this divine agent, glad, refreshing springs of heavenly comfort and abiding consolation have been opened for those who will come to the fountain of life. There are veins of truth yet to be discovered; but spiritual things are spiritually discerned. Minds beclouded with evil cannot appreciate the value of the truth as it is in Jesus.” Review and Herald, December 1, 1891.

Những viên ngọc của lẽ thật nằm rải rác khắp cánh đồng mạc khải; nhưng chúng đã bị chôn vùi dưới những truyền thống loài người, dưới những lời dạy và các điều răn của người ta, và sự khôn ngoan từ trời hầu như đã bị phớt lờ; vì Sa-tan đã thành công trong việc khiến thế gian tin rằng lời lẽ và những thành tựu của loài người là điều hệ trọng. Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của muôn thế giới, đã ban Phúc Âm cho thế gian với cái giá vô hạn. Qua tác nhân thiêng liêng này, những mạch suối vui mừng, tươi mát của sự an ủi từ trời và niềm an ủi bền vững đã được mở ra cho những ai sẽ đến với suối nguồn sự sống. Vẫn còn những mạch lẽ thật chưa được khám phá; nhưng những điều thuộc linh được hiểu biết cách thuộc linh. Những tâm trí bị che mờ bởi điều ác không thể đánh giá đúng giá trị của lẽ thật như lẽ thật ấy ở trong Đức Chúa Giê-su. Review and Herald, ngày 1 tháng 12, năm 1891.

The work of Christ as represented in Miller’s dream as the dirt brush man is two-fold. It is to remove the error, and to restore the original truths. The removal of error is also two-fold, for when the error is swept out the window, the error takes those who choose to remain attached to the errors with it. The work of separation accomplished by the dirt brush man is also addressed by Jeremiah, and his testimony agrees with Sister White, when she stated that, “the Lord’s workers can uncover these treasures, so that thousands will look upon them with delight and awe.”

Công việc của Đấng Christ, như được trình bày trong giấc mơ của Miller qua hình ảnh người cầm chổi quét bụi, có hai phương diện. Đó là loại bỏ sai lầm và khôi phục các lẽ thật ban đầu. Việc loại bỏ sai lầm cũng có hai phương diện, vì khi sai lầm bị quét ra ngoài cửa sổ, nó cuốn theo những ai chọn tiếp tục bám víu vào các sai lầm ấy. Công việc tách biệt do người cầm chổi quét bụi thực hiện cũng được Giê-rê-mi đề cập, và lời chứng của ông phù hợp với Bà White, khi bà nói rằng, "những người phục vụ của Chúa có thể khai mở những kho báu này, để hàng ngàn người sẽ nhìn ngắm chúng với thích thú và kinh ngạc."

Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. Jeremiah 15:19.

Vì vậy, Chúa phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; và nếu ngươi tách điều quý ra khỏi điều hèn ô, ngươi sẽ như miệng của Ta; hãy để họ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Giê-rê-mi 15:19.

The context of the passage in Jeremiah is addressing those who have experienced the first disappointment of July 18, 2020. It is not simply the dirt brush man that separates the precious from the vile, but it is also the work of those represented by Jeremiah, who are represented as making a decision of whether they will return to the Lord or not return. They have obviously not been with the Lord, for if they had been walking with him, there would be no reason for them to return. When they do return and stand before the Lord, and thereafter become His mouthpiece, they will have accomplished a work of separating the precious from the vile. The work of the “Dirt Brush Man”, requires the participation of the wise. The work of the “Dirt Brush Man” in Miller’s dream is also illustrated when Christ purges His floor through a refining process.

Bối cảnh của đoạn trong sách Giê-rê-mi nhằm nói với những người đã trải qua sự thất vọng đầu tiên vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Không chỉ riêng Người Cầm Chổi Bụi tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn hạ, mà đó cũng là công việc của những người được Giê-rê-mi đại diện, những người được mô tả là đang quyết định liệu họ sẽ trở về với Chúa hay không. Rõ ràng họ đã không ở cùng Chúa, vì nếu họ đã bước đi với Ngài thì đã không có lý do để trở về. Khi họ trở về và đứng trước mặt Chúa, rồi sau đó trở thành miệng lưỡi của Ngài, họ sẽ hoàn tất một công việc tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn hạ. Công việc của "Người Cầm Chổi Bụi" đòi hỏi sự tham gia của những người khôn ngoan. Công việc của "Người Cầm Chổi Bụi" trong giấc mơ của Miller cũng được minh họa khi Đấng Christ làm sạch sân đạp lúa của Ngài qua một tiến trình tinh luyện.

“Just how soon this refining process will begin I cannot say, but it will not be long deferred. He whose fan is in His hand will cleanse His temple of its moral defilement. He will thoroughly purge His floor.” Testimonies to Ministers, 372, 373.

“Tôi không thể nói rõ quá trình thanh luyện này sẽ bắt đầu sớm đến mức nào, nhưng nó sẽ không bị trì hoãn lâu. Đấng cầm nia trong tay sẽ thanh tẩy đền thờ của Ngài khỏi sự ô uế về đạo đức. Ngài sẽ thanh tẩy triệt để sân lúa của Ngài.” Testimonies to Ministers, 372, 373.

The final “refining process” began in July of 2023, and it is the refining process of Malachi chapter three.

Quá trình "tinh luyện" cuối cùng bắt đầu vào tháng 7 năm 2023, và đó là quá trình tinh luyện trong chương ba sách Ma-la-chi.

“Malachi 3:1–4 quoted.

Ma-la-chi 3:1-4 được trích dẫn.

A refining, purifying process is going on among the people of God, and the Lord of hosts has set his hand to this work. This process is most trying to the soul, but it is necessary in order that defilement may be removed. Trials are essential in order that we may be brought close to our heavenly Father, in submission to his will, that we may offer unto the Lord an offering in righteousness. God’s work of refining and purifying the soul must go on until his servants are so humbled, so dead to self, that when called into active service, they may have an eye single to the glory of God.” Review and Herald, April 10, 1894.

Một tiến trình luyện lọc, thanh tẩy đang diễn ra giữa dân sự của Đức Chúa Trời, và Chúa các đạo binh đã ra tay thực hiện công việc này. Tiến trình này vô cùng thử thách đối với linh hồn, nhưng là điều cần thiết để mọi ô uế được loại bỏ. Những thử thách là điều thiết yếu để chúng ta được đưa lại gần Cha trên trời, thuận phục ý muốn Ngài, hầu chúng ta có thể dâng lên Chúa một của lễ trong sự công chính. Công việc luyện lọc và thanh tẩy linh hồn của Đức Chúa Trời phải tiếp diễn cho đến khi các tôi tớ Ngài trở nên hết mực khiêm nhu, hoàn toàn chết đối với bản ngã, để khi được kêu gọi bước vào công tác thực tiễn, họ một lòng chỉ nhắm đến vinh hiển của Đức Chúa Trời. Review and Herald, 10 tháng 4, 1894.

Miller’s second dream identifies the restoration of the original truths, and the simultaneous restoration of a people who have been scattered. Nebuchadnezzar’s second dream identifies the restoration of his kingdom. Miller’s dream addresses the burying up of the original truths in the terms of those truths being “scattered.” The word “scattered” is a symbol of the “seven times.” Nebuchadnezzar’s dream is about the “scattering” of the “seven times.” Nebuchadnezzar is placed at the time of the end in 1798, and is there representing a converted man. Miller is the symbol of “the wise” in 1798.

Giấc mơ thứ hai của Miller chỉ ra sự khôi phục các lẽ thật ban đầu, đồng thời khôi phục một dân đã bị tản lạc. Giấc mơ thứ hai của Nebuchadnezzar chỉ ra sự khôi phục vương quốc của ông. Giấc mơ của Miller đề cập đến việc các lẽ thật ban đầu bị chôn vùi, được diễn tả như những lẽ thật bị "tản lạc". Từ "tản lạc" là một biểu tượng của "bảy thời kỳ". Giấc mơ của Nebuchadnezzar nói về sự "tản lạc" của "bảy thời kỳ". Nebuchadnezzar được đặt vào thời kỳ cuối cùng năm 1798, và tại đó ông đại diện cho một người đã hoán cải. Miller là biểu tượng của "những người khôn ngoan" vào năm 1798.

We will continue Miller’s dream in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục giấc mơ của Miller trong bài viết tiếp theo.

“When we are called upon to differ with others, or others express their difference from our opinion, we should manifest a Christian spirit, and keep this fact prominent that we can afford to be quiet and fair; for the truth will bear investigation. The more it is studied, the more will its light shine forth. The Lord frowns upon everything that savors of harshness and severity, and puts his rebuke upon those who cast contempt and reproach upon those who differ with them in opinion, placing them in the worst possible light. All Heaven looks upon those who do this as Heaven looked upon the Pharisees, and pronounces them as ignorant both of the Scriptures and the power of God. The enemies of truth cannot make truth error. They may trample upon the truth, and think that because they have cast it down, and covered it with rubbish, it is overcome; but God will move upon some of his faithful ones to do as Christ did when he was upon earth,—brush away the rubbish, and restore the truth to its appropriate setting in the framework of truth.

Khi chúng ta phải bất đồng với người khác, hoặc người khác bày tỏ sự khác biệt với ý kiến của chúng ta, chúng ta nên bày tỏ tinh thần Cơ Đốc và nhớ rõ rằng chúng ta có thể yên tâm mà giữ thái độ điềm tĩnh và công bằng; vì lẽ thật luôn đứng vững trước sự khảo xét. Càng được nghiên cứu, ánh sáng của nó càng rạng tỏ. Chúa không ưng thuận mọi điều nhuốm mùi gay gắt và khắc nghiệt, và Ngài quở trách những ai khinh miệt, sỉ nhục những người bất đồng ý kiến với họ, cố tình đặt họ dưới ánh sáng tệ hại nhất. Cả Thiên Đàng nhìn những kẻ làm như vậy như đã nhìn người Pha-ri-si, và phán rằng họ thiếu hiểu biết về cả Kinh Thánh lẫn quyền năng của Đức Chúa Trời. Kẻ thù của lẽ thật không thể biến lẽ thật thành sai lầm. Họ có thể chà đạp lẽ thật, và tưởng rằng vì đã quật đổ nó và chôn vùi nó dưới đống rác rưởi, nó đã bị đánh bại; nhưng Đức Chúa Trời sẽ cảm động một số người trung tín của Ngài làm như Đấng Christ đã làm khi Ngài ở thế gian—phủi sạch rác rưởi ấy, và phục hồi lẽ thật vào vị trí thích hợp của nó trong khuôn khổ của lẽ thật.

“In companies where the truth is a matter of discussion, there will be those who will oppose everything that they have not held as truth; and while they flatter themselves that they are only battling with error, they have need to hear with unprejudiced ears, that they may understand what is truth, and not misrepresent and misinterpret that which is spoken. They have the example of the men in all ages who have fought against truth, and who in so doing, have rejected the council (sic) of God against themselves. Heavy will be the responsibility that will rest upon men who have had great light, and great opportunities, and who have yet failed to be wholly on the Lord’s side. Should they venture to be wholly on the Lord’s side, they would be preserved in integrity, even when they were called upon to stand alone. He would enable them to stand courageously, in purity and fairness, contending for uncorrupted principles of righteousness. He would sustain them in battling for the right because it is right, though justice were fallen in the street, and equity could not enter. They would understand what would be pure and undefiled, and in accordance with the life of Christ, and would not turn from the purest principles of Christianity in spirit, word, or action, even though they stood in opposition not only to ignorance, but to those who were cultivated and experienced, and who used the weapons of sophistry to silence them. Through all this strife of error against truth, they would be preserved, and enabled to keep such a course that their enemies could not gainsay or resist them. They would stand as a rock to principle, refusing to compromise with any man, and yet preserving the spirit that would characterize every Christian.

Trong những nhóm nơi lẽ thật là vấn đề đem ra bàn cãi, sẽ có những người chống đối mọi điều mà họ chưa từng xem là lẽ thật; và trong khi tự cho rằng mình chỉ đang chiến đấu với sai lầm, họ cần lắng nghe với đôi tai không thành kiến, để họ có thể hiểu đâu là lẽ thật, và không xuyên tạc hay hiểu sai điều đã được nói. Họ có trước mắt gương của những người trong mọi thời đại đã chống lại lẽ thật, và khi làm như vậy, đã khước từ hội đồng (sic) của Đức Chúa Trời chống lại chính mình họ. Gánh trách nhiệm nặng nề sẽ đổ trên những người đã có ánh sáng lớn lao và cơ hội lớn lao, nhưng vẫn thất bại trong việc đứng trọn về phía Chúa. Nếu họ dám đứng trọn về phía Chúa, họ sẽ được giữ gìn trong sự chính trực, ngay cả khi họ được kêu gọi phải đứng một mình. Ngài sẽ khiến họ có thể đứng cách can đảm, trong sự thanh khiết và công bằng, tranh đấu cho những nguyên tắc không bị bại hoại của sự công chính. Ngài sẽ nâng đỡ họ trong cuộc chiến cho điều phải chỉ vì đó là điều phải, dù công lý có ngã gục nơi đường phố, và lẽ công bình không thể bước vào. Họ sẽ hiểu điều gì là tinh sạch và không vết nhơ, phù hợp với đời sống của Đấng Christ, và sẽ không quay khỏi những nguyên tắc tinh ròng nhất của Cơ Đốc giáo trong tâm thần, lời nói, hay hành động, dẫu họ đứng đối nghịch không chỉ với sự ngu dốt, mà còn với những người có học thức và từng trải, dùng vũ khí ngụy biện để buộc họ im tiếng. Trải qua mọi cuộc tranh chiến của sai lầm chống lại lẽ thật ấy, họ sẽ được gìn giữ và được ban năng lực để giữ một đường lối khiến kẻ thù của họ không thể chối cãi hay chống cự. Họ sẽ đứng vững như đá vì nguyên tắc, từ chối thỏa hiệp với bất kỳ ai, nhưng vẫn giữ tinh thần vốn là đặc trưng của mọi Cơ Đốc nhân.

“He who is a follower of Christ will distinguish between the sacred and the common, and will cling to the true evidence of a man’s character and work, for Christ has said, ‘By their fruits ye shall know them.’ The Christian will move forward amid all manner of opposition. He will despise flattery because it is born of Satan. He will detest accusation because it is the weapon of the evil one. They will not cherish envy or indulge in self-exaltation because these are the characteristics of the adversary of God and man. They will not be found as spies; for Satan used the despised Jews in doing this work against Jesus. They will not follow their brethren with a flood of questions as the Jews followed Christ for the purpose of entangling him in his words, and provoking him to speak of many things in order that they might make him an offender for a word.” Home Missionary, September 1, 1894.

Ai là môn đồ của Đấng Christ sẽ phân biệt giữa điều thánh và điều phàm tục, và sẽ giữ lấy bằng chứng xác thực về tư cách và công việc của một người, vì Đấng Christ đã phán: “Cứ xem quả, các ngươi sẽ biết họ.” Người Cơ Đốc sẽ tiến bước giữa mọi thứ chống đối. Người ấy sẽ khinh bỉ sự nịnh hót vì nó bắt nguồn từ Sa-tan. Người ấy sẽ ghê tởm sự cáo buộc vì đó là vũ khí của kẻ ác. Họ sẽ không nuôi dưỡng lòng ghen tị hay chiều theo sự tự đề cao mình, vì đó là những đặc tính của kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời và loài người. Họ sẽ không làm kẻ do thám; vì Sa-tan đã dùng những người Do Thái bị khinh rẻ để làm công việc này chống lại Đức Chúa Giê-su. Họ sẽ không theo anh em mình với một tràng câu hỏi, như người Do Thái đã theo Đấng Christ nhằm gài bẫy Ngài trong lời nói, và xúi giục Ngài nói về nhiều điều để họ có thể gán tội cho Ngài chỉ vì một lời. Home Missionary, ngày 1 tháng 9 năm 1894.