John the Baptist was a connecting link prophet.
Gioan Tẩy Giả là một ngôn sứ cầu nối.
“The prophet John was the connecting link between the two dispensations. As God’s representative he stood forth to show the relation of the law and the prophets to the Christian dispensation. He was the lesser light, which was to be followed by a greater. The mind of John was illuminated by the Holy Spirit, that he might shed light upon his people; but no other light ever has shone or ever will shine so clearly upon fallen man as that which emanated from the teaching and example of Jesus. Christ and His mission had been but dimly understood as typified in the shadowy sacrifices. Even John had not fully comprehended the future, immortal life through the Saviour.” The Desire of Ages, 220.
Tiên tri Giăng là mắt xích nối liền giữa hai thời kỳ. Với tư cách đại diện của Đức Chúa Trời, ông đứng ra để cho thấy mối liên hệ giữa luật pháp và các đấng tiên tri với thời kỳ Cơ Đốc. Ông là ánh sáng nhỏ, để rồi sẽ được tiếp nối bởi một ánh sáng lớn hơn. Tâm trí của Giăng được Đức Thánh Linh soi sáng để ông có thể soi sáng cho dân mình; nhưng không có ánh sáng nào đã từng, hay sẽ từng, chiếu tỏ trên con người sa ngã rõ ràng như ánh sáng phát xuất từ sự dạy dỗ và tấm gương của Đức Chúa Giê-su. Đấng Christ và sứ mệnh của Ngài chỉ được hiểu một cách mờ nhạt như được tiêu biểu trong các hy lễ đầy bóng hình. Ngay cả Giăng cũng chưa hoàn toàn thấu hiểu sự sống bất tử ở tương lai qua Đấng Cứu Chúa. The Desire of Ages, 220.
Jesus was also a connecting link prophet.
Giê-su cũng là một vị tiên tri cầu nối.
“Christ has led the way from earth to heaven. He forms the connecting link between the two worlds. He brings the love and condescension of God to man, and brings man up through His merits to meet the reconciliation of God. Christ is the way, the truth, and the life. It is hard work to follow on, step by step, painfully and slowly, onward and upward, in the path of purity and holiness. But Christ has made ample provision to impart new vigor and divine strength at every advance step in the divine life. This is the knowledge and experience that the hands in the office all want, and must have, or they daily bring reproach upon the cause of Christ.” Testimonies, volume 3, 193.
Đấng Christ đã dẫn đường từ trần gian lên thiên đàng. Ngài là mối liên kết giữa hai thế giới. Ngài đem tình yêu và sự hạ mình của Đức Chúa Trời đến với loài người, và bởi công lao của Ngài, nâng con người lên để được hòa giải với Đức Chúa Trời. Đấng Christ là đường đi, lẽ thật và sự sống. Thật là công việc khó nhọc để bước theo, từng bước một, đau đớn và chậm chạp, tiến tới và vươn lên, trên con đường của sự tinh sạch và thánh khiết. Nhưng Đấng Christ đã dự liệu đầy đủ để ban sinh lực mới và sức mạnh thiêng liêng ở mỗi bước tiến trong đời sống thiêng liêng. Đây là tri thức và kinh nghiệm mà tất cả những người làm việc trong văn phòng đều khao khát và phải có; nếu không, họ hằng ngày sẽ gây điều chê trách cho sự nghiệp của Đấng Christ. Lời chứng, tập 3, 193.
John the Baptist’s prophetic work included connecting the dispensation of the earthly to the heavenly sanctuary. The first words John said when he first saw Jesus was:
Sứ vụ tiên tri của Gioan Tẩy Giả bao gồm việc kết nối sự quản trị của trần thế với đền thánh trên trời. Những lời đầu tiên Gioan nói khi ông lần đầu thấy Chúa Giê-su là:
The next day John seeth Jesus coming unto him, and saith, Behold the Lamb of God, which taketh away the sin of the world. John 1:29.
Ngày hôm sau, Giăng thấy Chúa Giê-xu đến với ông và nói: Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian. Giăng 1:29.
But even though John was to identify the transition from ancient Israel unto spiritual Israel, his understanding of that transition was limited.
Nhưng dẫu John có nhiệm vụ nhận diện sự chuyển tiếp từ Israel cổ đại sang Israel thuộc linh, sự hiểu biết của ông về sự chuyển tiếp ấy vẫn còn hạn chế.
“Said Christ, in vindication of John, ‘But what went ye out for to see? A prophet? yea, I say unto you, and more than a prophet.’ Not only was John a prophet to foretell future events, but he was a child of promise, filled with the Holy Spirit from his birth, and was ordained of God to execute a special work as a reformer, in preparing a people for the reception of Christ. The prophet John was the connecting link between the two dispensations.
Chúa Giê-su nói để bênh vực Giăng: “Nhưng các ngươi ra đó để xem gì? Một nhà tiên tri ư? Phải, Ta nói với các ngươi, và còn hơn cả một nhà tiên tri.” Giăng không chỉ là một nhà tiên tri để báo trước những sự kiện tương lai, mà còn là đứa con của lời hứa, được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi chào đời, và được Đức Chúa Trời chỉ định để thi hành một công tác đặc biệt như một nhà cải cách, nhằm chuẩn bị một dân để đón nhận Đấng Christ. Tiên tri Giăng là cầu nối giữa hai thời kỳ.
“The religion of the Jews, in consequence of their departure from God, consisted mostly in ceremony. John was the lesser light, which was to be followed by a greater light. He was to shake the confidence of the people in their traditions, and call their sins to their remembrance, and lead them to repentance; that they might be prepared to appreciate the work of Christ. God communicated to John by inspiration, illuminating the prophet that he might remove the superstition and darkness from the minds of the honest Jews, which had been, through false teachings for generations, gathering upon them.
Tôn giáo của người Do Thái, do hậu quả của việc họ xa rời Đức Chúa Trời, phần lớn chỉ còn là nghi lễ. Giăng là ánh sáng nhỏ hơn, sẽ được tiếp nối bởi một ánh sáng lớn hơn. Ông phải làm lung lay sự tin cậy của dân chúng vào các truyền thống của họ, nhắc họ nhớ đến tội lỗi mình và dẫn họ đến sự ăn năn, để họ được chuẩn bị để trân trọng công việc của Đấng Christ. Đức Chúa Trời bày tỏ cho Giăng bởi sự cảm thúc, soi sáng vị tiên tri để ông có thể loại bỏ sự mê tín và bóng tối khỏi tâm trí những người Do Thái chân thật, những điều đã, qua các sự dạy dỗ sai lầm suốt nhiều thế hệ, tích tụ trên họ.
“The least disciple that followed Jesus, that witnessed his miracles, and listened to his divine lessons of instruction, and heard the comforting words which fell from his lips, was more privileged than John the Baptist, for he had a clearer light. No other light has shone, or ever will shine, upon the intellect of sinful, fallen man, save that which was, and is, communicated through Him who is the light of the world. Christ and his mission had been but dimly understood through the shadowy sacrifices. Even John thought that the reign of Christ would be in Jerusalem, and that he would set up a temporal kingdom, the subjects of which would be holy.” Review and Herald, April 8, 1873.
“Người môn đồ hèn mọn nhất đã theo Chúa Giê-su, đã chứng kiến các phép lạ của Ngài, đã lắng nghe những bài học dạy dỗ thiêng liêng, và đã nghe những lời an ủi thốt ra từ môi Ngài, thì được đặc ân hơn cả Giăng Báp-tít, vì người ấy có ánh sáng sáng tỏ hơn. Không có ánh sáng nào khác đã, hay sẽ, chiếu rọi trên trí tuệ của con người tội lỗi, sa ngã, ngoại trừ ánh sáng đã và đang được truyền đạt qua Đấng là ánh sáng của thế gian. Đấng Christ và sứ mệnh của Ngài chỉ được hiểu một cách mờ nhạt qua những tế lễ mang tính hình bóng. Ngay cả Giăng cũng nghĩ rằng sự trị vì của Đấng Christ sẽ ở Giê-ru-sa-lem, và rằng Ngài sẽ thiết lập một vương quốc trần thế, trong đó thần dân sẽ là những người thánh khiết.” Review and Herald, ngày 8 tháng 4, 1873.
The apostle Paul was also a connecting link prophet that was to identify the prophetic applications of the literal transitioning unto the spiritual. He understood that literal Jerusalem was no longer the Jerusalem of prophecy, for it then had transitioned unto heavenly Jerusalem.
Sứ đồ Phao-lô cũng là một nhà tiên tri làm cầu nối, nhằm nhận diện những áp dụng mang tính tiên tri của sự chuyển đổi từ thực tại theo nghĩa đen sang thực tại thuộc linh. Ông hiểu rằng Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen không còn là Giê-ru-sa-lem trong lời tiên tri nữa, vì khi ấy Giê-ru-sa-lem trong lời tiên tri đã chuyển sang Giê-ru-sa-lem trên trời.
For this Agar is mount Sinai in Arabia, and answereth to Jerusalem which now is, and is in bondage with her children. But Jerusalem which is above is free, which is the mother of us all. Galatians 4:25, 26.
Vì Agar này là núi Si-na-i tại Ả Rập, và tương ứng với Giê-ru-sa-lem hiện nay, là thành đang ở trong ách nô lệ cùng các con cái mình. Nhưng Giê-ru-sa-lem ở trên thì tự do; ấy là mẹ của hết thảy chúng ta. Ga-la-ti 4:25, 26.
In chapter two of 2 Thessalonians, which we have been considering, Paul identified that literal pagan Rome was the power that restrained spiritual papal Rome from ascending to the throne until the year 538. In the chapter he identifies that the “man of sin” which is seated in the temple of God, was the same “king” that Daniel identified in chapter eleven, verse thirty-six. The proof that the “king of the north” in the last six verses of Daniel eleven is the papacy became the key to establish the framework of truth employed by Future for America from the increase of knowledge in 1989.
Trong chương hai của 2 Tê-sa-lô-ni-ca, mà chúng ta đang xem xét, Phao-lô xác định rằng Rô-ma ngoại giáo theo nghĩa đen là quyền lực đã kiềm chế Rô-ma giáo hoàng thuộc linh không cho lên ngôi cho đến năm 538. Trong chương này, ông xác định rằng “người của tội lỗi” đang ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời chính là “vua” mà Đa-ni-ên nêu trong chương mười một, câu ba mươi sáu. Bằng chứng rằng “vua phương bắc” trong sáu câu cuối của Đa-ni-ên chương mười một là quyền giáo hoàng đã trở thành chìa khóa để thiết lập khuôn khổ lẽ thật được Future for America sử dụng kể từ sự gia tăng hiểu biết vào năm 1989.
In the same chapter, Paul identified pagan Rome’s work of restraining the rise of the papacy, until the time when pagan Rome would be taken away, and thus identified that “the daily” in the book of Daniel was pagan Rome. That truth became the very key to establish the framework of truth which produced the increase of knowledge in 1798.
Trong cùng chương đó, Phao-lô xác định vai trò của La Mã ngoại giáo trong việc kìm hãm sự trỗi dậy của quyền giáo hoàng, cho đến khi La Mã ngoại giáo bị dẹp bỏ; và như vậy ông xác định rằng “lễ hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên chính là La Mã ngoại giáo. Chân lý ấy trở thành chìa khóa để thiết lập khuôn khổ của lẽ thật, điều đã dẫn đến sự gia tăng hiểu biết vào năm 1798.
In William Miller’s history the message was proclaimed when a transition from the Philadelphian to the Laodicean movement was to take place. In Future for America’s history the transition from a Laodicean movement unto the Philadelphian movement is now taking place.
Trong lịch sử của William Miller, sứ điệp được rao giảng khi một sự chuyển đổi từ phong trào Phi-la-đen-phi sang phong trào La-ô-đi-xê sắp diễn ra. Trong lịch sử của Future for America, sự chuyển đổi từ phong trào La-ô-đi-xê sang phong trào Phi-la-đen-phi hiện đang diễn ra.
The truth that Paul set forth in 2 Thessalonians that identified the transition from literal pagan Rome unto spiritual papal Rome became the framework for Miller’s prophetic understanding. Both John the Baptist and Paul were raised up to explain the transition from literal to spiritual. William Miller was typified by John the Baptist and in his work it was essential that he recognized the relation and transition of pagan and papal Rome, the transition that John was raised up to identify.
Chân lý mà Phao-lô trình bày trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca, vốn nhận diện sự chuyển tiếp từ La Mã ngoại giáo theo nghĩa đen sang La Mã giáo hoàng thuộc linh, đã trở thành khuôn khổ cho sự hiểu biết tiên tri của Miller. Cả Giăng Báp-tít và Phao-lô đều được dấy lên để giải thích sự chuyển tiếp từ nghĩa đen sang thuộc linh. William Miller là hình bóng của Giăng Báp-tít, và trong công việc của mình, điều cốt yếu là ông phải nhận ra mối liên hệ và sự chuyển tiếp giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, sự chuyển tiếp mà Giăng đã được dấy lên để chỉ ra.
There are five references to “the daily” in the book of Daniel, and they always precede a symbol of the papal power. In the context of the prophetic transition we are considering, all five references include the transition from literal Rome to spiritual Rome. “The daily” in the book of Daniel is one of the truths represented upon Habakkuk’s two tables, and is therefore a foundational truth that was to be defended; a truth which would ultimately become covered up with false and counterfeit jewels and coins. It is no accident that every truth represented upon the two sacred charts has direct inspired endorsements within the writings of Ellen White. To reject any of the foundational truths (including “the daily”), is to simultaneously reject the authority of the Spirit of Prophecy.
Có năm lần đề cập đến “của lễ hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên, và chúng luôn đi trước một biểu tượng của quyền lực giáo hoàng. Trong bối cảnh của sự chuyển tiếp tiên tri mà chúng ta đang xem xét, cả năm chỗ đều bao hàm sự chuyển tiếp từ Rô-ma theo nghĩa đen sang Rô-ma thuộc linh. “Của lễ hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên là một trong những lẽ thật được trình bày trên hai bảng của Ha-ba-cúc, và do đó là một lẽ thật nền tảng cần được bảo vệ; một lẽ thật rốt cuộc sẽ bị che phủ bởi những châu báu và đồng tiền giả mạo. Không phải là điều ngẫu nhiên khi mọi lẽ thật được trình bày trên hai bảng thánh đều có những xác chứng được linh cảm trực tiếp trong các trước tác của Ellen White. Khước từ bất kỳ lẽ thật nền tảng nào (kể cả “của lễ hằng ngày”) cũng đồng thời là khước từ thẩm quyền của Thần Linh Tiên Tri.
“Then I saw in relation to the ‘Daily,’ that the word ‘sacrifice’ was supplied by man’s wisdom, and does not belong to the text; and that the Lord gave the correct view of it to those who gave the judgment hour cry. When union existed, before 1844, nearly all were united on the correct view of the ‘Daily;’ but since 1844, in the confusion, other views have been embraced, and darkness and confusion has followed.” Review and Herald, November 1, 1850.
Rồi tôi thấy, liên quan đến 'Daily', rằng từ 'sacrifice' do sự khôn ngoan của loài người thêm vào và không thuộc về bản văn; và rằng Chúa đã ban quan điểm đúng đắn về điều đó cho những người đã cất tiếng kêu giờ phán xét. Khi còn có sự hiệp nhất, trước năm 1844, hầu như tất cả đều đồng thuận về quan điểm đúng đắn đối với 'Daily'; nhưng từ năm 1844, trong sự rối loạn, những quan điểm khác đã được chấp nhận, và bóng tối cùng hỗn loạn đã theo sau. Review and Herald, ngày 1 tháng 11, 1850.
Those “who gave the judgment hour cry,” understood “the daily” as a symbol of paganism, and/or pagan Rome. Their understanding included the fact that they understood that the word “sacrifice” did not belong in the passage in Daniel, where it had been added by the translators (by human wisdom) of the King James Bible. The pioneer understanding also included that “the daily” was always presented in connection with one of the two symbols of the papal power, and that paganism (“the daily”), always preceded the papal symbol. They were always identified in the sequence in which they arrived into prophetic history. The books of Daniel and Revelation never deviate from the historical sequence of paganism preceding papalism, and when the book of Revelation introduces the third desolating power of the false prophet, that sequence is always upheld.
Những người “đã cất tiếng kêu của giờ phán xét” hiểu “sự hằng ngày” như một biểu tượng của ngoại giáo, và/hoặc La Mã ngoại giáo. Sự hiểu biết của họ bao gồm thực tế rằng từ “sacrifice” không thuộc về đoạn văn trong sách Đa-ni-ên, nơi nó đã được các dịch giả (bởi sự khôn ngoan loài người) của Kinh Thánh King James thêm vào. Sự hiểu biết của các nhà tiên phong cũng bao gồm rằng “sự hằng ngày” luôn được trình bày trong mối liên hệ với một trong hai biểu tượng của quyền lực giáo hoàng, và rằng ngoại giáo (“sự hằng ngày”) luôn đi trước biểu tượng giáo hoàng. Chúng luôn được nhận diện theo trình tự mà chúng xuất hiện trong lịch sử tiên tri. Sách Đa-ni-ên và Khải Huyền không bao giờ lệch khỏi trình tự lịch sử trong đó ngoại giáo đi trước chủ nghĩa giáo hoàng, và khi sách Khải Huyền giới thiệu quyền lực gây hoang vu thứ ba của tiên tri giả, trình tự đó luôn được giữ vững.
Without Paul’s instruction that the literal things of prophecy transitioned to the spiritual in the time period of the cross, a dilemma is produced with Christ’s prediction of the destruction of Jerusalem found in all the gospels except John. The two symbols of the papacy connected with “the daily” in the book of Daniel are the abomination of desolation and the transgression of desolation. Those two symbols represent the mark of the beast (the abomination) and the image of the beast (the transgression).
Không có lời dạy của Phao-lô rằng những điều thuộc lời tiên tri theo nghĩa đen đã chuyển sang thuộc linh trong thời kỳ thập tự giá, thì sẽ nảy sinh một nan đề với lời tiên đoán của Đấng Christ về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem, được chép trong tất cả các sách Phúc Âm ngoại trừ Giăng. Hai biểu tượng của chế độ Giáo hoàng gắn với “hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên là sự gớm ghiếc hoang tàn và sự phạm pháp hoang tàn. Hai biểu tượng ấy đại diện cho dấu của con thú (sự gớm ghiếc) và hình tượng của con thú (sự phạm pháp).
The transgression that allows the papacy to murder those it deems as heretics is the combination of church and state, with the church in control of the relationship. Thus, Daniel represents the combination of church and state which is the image of the papal beast, as the transgression of desolation. The Bible identifies idolatry as an abomination, and all the idolatry of the papal power is represented with its idol sabbath, which John calls the mark of the beast, and Daniel calls the abomination that maketh desolate.
Sự vi phạm cho phép chế độ giáo hoàng sát hại những người mà nó coi là kẻ dị giáo chính là sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, trong đó giáo hội nắm quyền chi phối mối quan hệ ấy. Do đó, Đa-ni-ên trình bày sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước — là hình tượng của con thú giáo hoàng — như là sự vi phạm gây nên sự hoang tàn. Kinh Thánh xác định thờ hình tượng là điều gớm ghiếc, và mọi sự thờ hình tượng của quyền lực giáo hoàng được biểu thị qua ngày Sa-bát thần tượng của nó; Giăng gọi đó là dấu của con thú, còn Đa-ni-ên gọi là sự gớm ghiếc làm cho hoang tàn.
And out of one of them came forth a little horn, which waxed exceeding great, toward the south, and toward the east, and toward the pleasant land. And it waxed great, even to the host of heaven; and it cast down some of the host and of the stars to the ground, and stamped upon them. Yea, he magnified himself even to the prince of the host, and by him the daily sacrifice was taken away, and the place of his sanctuary was cast down. And an host was given him against the daily sacrifice by reason of transgression, and it cast down the truth to the ground; and it practiced, and prospered. Daniel 8:9–12.
Và từ một trong số chúng mọc lên một sừng nhỏ, nó lớn lên vô cùng, hướng về phương nam, hướng về phương đông, và hướng về miền đất đẹp đẽ. Nó lại trở nên lớn đến cả cơ binh trên trời; nó quăng một phần cơ binh và các ngôi sao xuống đất, và giày đạp chúng. Nó còn tự tôn mình lên đến cả vị thủ lĩnh của cơ binh; bởi nó mà lễ dâng hằng ngày bị cất bỏ, và đền thánh của người ấy bị quăng đổ. Vì cớ sự vi phạm, một cơ binh đã được trao cho nó chống lại lễ dâng hằng ngày; nó quăng chân lý xuống đất; nó thi hành và thịnh vượng. Daniel 8:9-12.
We will address these verses in greater detail in another article, but in verse eleven, the power that magnified itself against Christ was pagan Rome, when they attempted to kill him at his birth and then finally did so at the cross. The verse states that “by him” (pagan Rome), “the daily was taken away.” The Hebrew word translated as “taken away” is “rum,” and it means “to lift up and exalt”. Pagan Rome would lift up and exalt the religion of paganism, and they did that very thing in history. This is why they are called “pagan” Rome.
Chúng tôi sẽ bàn đến những câu này chi tiết hơn trong một bài viết khác, nhưng ở câu mười một, quyền lực tự làm mình vĩ đại chống lại Đấng Christ là La Mã ngoại giáo, khi họ tìm cách giết Ngài lúc Ngài mới sinh và cuối cùng đã làm như vậy trên thập tự giá. Câu ấy nói rằng "do nó" (La Mã ngoại giáo), "điều hằng ngày đã bị cất đi." Từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là "taken away" là "rum", và nó có nghĩa là "nâng lên và tôn cao". La Mã ngoại giáo sẽ nâng cao và tôn vinh tôn giáo ngoại giáo, và họ đã làm chính điều đó trong lịch sử. Đó là lý do vì sao họ được gọi là La Mã "ngoại giáo".
The next verse identifies that papal Rome, was given a “host” (military power), that was against, or was to overcome “the daily” (paganism). This also is a fact of history, for military strength was employed by the papacy (though she never has her own army), to overcome the restraint placed upon her rise to power. That power came from pagan Rome. The military power that she employed was given unto her through “transgression,” for the transgression that allowed her to control the armies of the kings that placed her on the throne in the year 538, was the transgression of the combination of church and state. First pagan Rome is addressed in verse eleven, informing the student that pagan Rome would stand up against Christ, and that it would exalt the religion of paganism.
Câu kế tiếp xác định rằng Rôma giáo hoàng đã được ban cho một “đạo quân” (quyền lực quân sự), để chống lại, hay để vượt thắng “sự hằng ngày” (ngoại giáo). Điều này cũng là một sự kiện lịch sử, vì quyền lực quân sự đã được giáo quyền sử dụng (dù giáo quyền chưa từng có quân đội riêng) để vượt qua những sự kiềm chế đối với sự trỗi dậy của mình. Quyền lực ấy đến từ Rôma ngoại giáo. Quyền lực quân sự mà giáo quyền sử dụng đã được trao cho qua “sự vi phạm”, vì sự vi phạm cho phép giáo quyền kiểm soát các đạo quân của các vua chúa đã đặt giáo quyền lên ngai vào năm 538, chính là sự vi phạm của việc kết hợp giữa giáo hội và nhà nước. Trước hết, Rôma ngoại giáo được nói đến ở câu mười một, cho người học biết rằng Rôma ngoại giáo sẽ đứng lên chống lại Đấng Christ, và rằng nó sẽ đề cao đạo ngoại giáo.
The next verse describes the transgression of the combination of church and state that allowed the papacy to overcome and remove the restraint that pagan Rome had exercised against her. History upholds the application of both those verses. “The daily” represents either pagan Rome, the power that stood against Christ, or the religion of paganism that was exalted by pagan Rome. The symbol of “the daily” is then followed by the papacy, as it identifies the transgression of church and state that is what empowers the papacy with an army to do its dirty work. Daniel’s third use of “the daily,” is the question that produces the answer, that is the central pillar of Adventism.
Câu tiếp theo mô tả sự vi phạm do sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, điều đã cho phép chế độ giáo hoàng vượt qua và loại bỏ sự kiềm chế mà La Mã ngoại giáo từng áp dụng đối với chế độ giáo hoàng. Lịch sử chứng thực việc áp dụng cả hai câu ấy. "Sự hằng ngày" đại diện hoặc cho La Mã ngoại giáo, quyền lực chống lại Đấng Christ, hoặc cho tôn giáo ngoại giáo được La Mã ngoại giáo tôn vinh. Biểu tượng của "sự hằng ngày" sau đó được tiếp nối bởi chế độ giáo hoàng, vì nó xác định sự vi phạm của việc kết hợp giáo hội và nhà nước, điều trao cho chế độ giáo hoàng một đạo quân để thực hiện những công việc bẩn thỉu của mình. Lần thứ ba Đa-ni-ên dùng "sự hằng ngày" là câu hỏi tạo ra câu trả lời, và đó là trụ cột trung tâm của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? Daniel 8:13.
Bấy giờ tôi nghe có một Đấng thánh nói; một Đấng thánh khác nói cùng Đấng thánh đang nói ấy rằng: Sự hiện thấy về việc dâng của lễ hằng ngày, và sự phạm tội làm nên sự hoang vu, sẽ còn đến chừng nào, để cho nơi thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Daniel 8:13.
In this verse, the question is asked of how long shall the vision be, thus asking for an answer that represents duration, and not a point in time. The question is not on what date will the vision be fulfilled, but what is the duration of the vision. The verse does not ask “When?”, it asks, “How long?” The vision is about the desolating powers of paganism, represented as “the daily,” and papalism as represented by the transgression of the papacy that is accomplished when she commits fornication with the kings of the earth. Those two desolating powers of paganism followed by papalism were to trample down the sanctuary and the host for a period of “seven times.”
Trong câu này, câu hỏi được nêu ra là khải tượng sẽ kéo dài bao lâu, do đó đòi hỏi một câu trả lời về khoảng thời gian, chứ không phải một thời điểm. Câu hỏi không phải là vào ngày nào khải tượng sẽ được ứng nghiệm, mà là thời lượng của khải tượng là bao lâu. Câu này không hỏi “Khi nào?”, mà hỏi “Bao lâu?” Khải tượng nói về các quyền lực gây hoang tàn của ngoại giáo, được biểu trưng là “của lễ hằng ngày”, và của chủ nghĩa giáo hoàng, được thể hiện qua sự vi phạm của chế độ giáo hoàng được thực hiện khi nó phạm tội tà dâm với các vua trên đất. Hai quyền lực gây hoang tàn ấy—ngoại giáo rồi đến giáo hoàng—sẽ chà đạp đền thánh và dân sự trong một thời kỳ “bảy lần”.
It is important to recognize that the trampling down of the literal sanctuary which began in the time of Babylon, and continued through to the destruction of Jerusalem by pagan Rome in 70 AD, was done by pagan powers from the beginning of the history to the end. Thus, it was literal paganism in the plural that trampled down the literal sanctuary and literal host (God’s people). But it was spiritual Rome that trampled down spiritual Jerusalem and spiritual Israel.
Điều quan trọng cần nhận ra là sự giày xéo đền thánh theo nghĩa đen, khởi đầu từ thời Ba-by-lôn và tiếp diễn cho đến khi La Mã ngoại giáo phá hủy Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên, đã do các thế lực ngoại giáo thực hiện từ đầu cho đến cuối. Vì vậy, chính các thế lực ngoại giáo theo nghĩa đen đã giày xéo đền thánh theo nghĩa đen và đạo binh theo nghĩa đen (dân của Đức Chúa Trời). Nhưng chính La Mã thuộc linh đã giày xéo Giê-ru-sa-lem thuộc linh và Y-sơ-ra-ên thuộc linh.
But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. And I will give power unto my two witnesses, and they shall prophesy a thousand two hundred and threescore days, clothed in sackcloth. Revelation 11:2, 3.
Nhưng sân ở ngoài đền thờ thì hãy bỏ qua, đừng đo; vì nó đã được giao cho dân ngoại; và họ sẽ giày đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng. Và Ta sẽ ban quyền năng cho hai chứng nhân của Ta, và họ sẽ nói tiên tri một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, mặc bao gai. Khải Huyền 11:2, 3.
John the Baptist was a connecting link prophet that identified the change of dispensation from the earthly sanctuary to the heavenly, without knowing the fullness of his work. Paul was a connecting link prophet that identified the change of dispensation from literal Israel (the host) to spiritual Israel. The Jerusalem that was trampled down for forty-two months was spiritual Jerusalem.
Giăng Báp-tít là một tiên tri cầu nối, người đã nhận diện sự thay đổi phân kỳ từ đền thánh trần gian sang đền thánh trên trời, dù ông không biết trọn vẹn về sứ mạng của mình. Phao-lô là một tiên tri cầu nối, người đã nhận diện sự thay đổi phân kỳ từ Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen (đạo binh) sang Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Giê-ru-sa-lem bị giày đạp trong bốn mươi hai tháng ấy là Giê-ru-sa-lem thuộc linh.
“The periods here mentioned—forty and two months,” and ‘a thousand two hundred and threescore days’—are the same, alike representing the time in which the church of Christ was to suffer oppression from Rome. The 1260 years of papal supremacy began in A.D. 538, and would therefore terminate in 1798. At that time a French army entered Rome and made the pope a prisoner, and he died in exile. Though a new pope was soon afterward elected, the papal hierarchy has never since been able to wield the power which it before possessed.” The Great Controversy, 266.
"Các thời kỳ được nhắc đến ở đây—"bốn mươi hai tháng," và 'một ngàn hai trăm sáu mươi ngày'—là như nhau, đều tượng trưng cho khoảng thời gian trong đó hội thánh của Đấng Christ phải chịu sự đàn áp từ La Mã. 1260 năm quyền tối thượng của giáo hoàng bắt đầu vào năm 538 sau Công nguyên, và vì thế sẽ kết thúc vào năm 1798. Vào thời điểm đó, một đội quân Pháp tiến vào Rôma và bắt giáo hoàng làm tù nhân, và ông qua đời trong cảnh lưu đày. Dù chẳng bao lâu sau một giáo hoàng mới đã được bầu, nhưng giáo quyền giáo hoàng từ đó đến nay không bao giờ còn có thể nắm giữ quyền lực như trước kia." Cuộc Tranh Luận Vĩ Đại, 266.
Paul identified that at the transition which took place in the history of the cross, spiritual Jerusalem which “is above,” became the city which God chose to place his name, and literal Jerusalem ceased to be the Jerusalem of Bible prophecy.
Phao-lô nhận định rằng vào bước chuyển diễn ra trong lịch sử của thập tự giá, Giê-ru-sa-lem thuộc linh, “ở trên”, đã trở thành thành phố mà Đức Chúa Trời chọn để đặt danh Ngài, và Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen không còn là Giê-ru-sa-lem của lời tiên tri Kinh Thánh nữa.
For this Agar is mount Sinai in Arabia, and answereth to Jerusalem which now is, and is in bondage with her children. But Jerusalem which is above is free, which is the mother of us all. Galatians 4:25, 26.
Vì Agar này là núi Si-na-i tại Ả Rập, và tương ứng với Giê-ru-sa-lem hiện nay, là thành đang ở trong ách nô lệ cùng các con cái mình. Nhưng Giê-ru-sa-lem ở trên thì tự do; ấy là mẹ của hết thảy chúng ta. Ga-la-ti 4:25, 26.
This truth is essential to understand correctly, and the false application of literal Jerusalem as the symbol of Bible prophecy is part of the deception created by the Jesuits to undermine the truth that the pope of Rome is the antichrist. That false teaching produces a belief within apostate Protestantism that allows them to incorrectly look to the modern Jewish nation of Israel as a symbol of prophecy. Literal Jerusalem ceased to be God’s Jerusalem in the time of the cross.
Lẽ thật này cần được hiểu cho đúng, và việc áp dụng sai Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen như là biểu tượng của lời tiên tri Kinh Thánh là một phần của sự lừa dối do Dòng Tên tạo ra nhằm phá hoại lẽ thật rằng giáo hoàng Rôma là Phản Kitô. Sự dạy dỗ sai lạc đó sinh ra một niềm tin trong giới Tin Lành bội đạo, khiến họ xem quốc gia Do Thái hiện đại Israel như một biểu tượng của lời tiên tri. Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen đã thôi không còn là Giê-ru-sa-lem của Đức Chúa Trời kể từ thời điểm thập tự giá.
“The city of Jerusalem is no longer a sacred place. The curse of God is upon it because of the rejection and crucifixion of Christ. A dark blot of guilt rests upon it, and never again will it be a sacred place until it has been cleansed by the purifying fires of heaven. At the time when this sin-cursed earth is purified from every stain of sin, Christ will again stand upon the Mount of Olives. As His feet rest upon it, it will part asunder, and become a great plain, prepared for the city of God.” Review and Herald, July 30, 1901.
"Thành Giê-ru-sa-lem không còn là nơi thánh nữa. Lời nguyền rủa của Đức Chúa Trời ở trên nó vì sự chối bỏ và đóng đinh Đấng Christ. Một vết nhơ tội lỗi u ám đè nặng trên nó, và nó sẽ không bao giờ lại là nơi thánh cho đến khi được thanh tẩy bởi những ngọn lửa thanh luyện từ trời. Vào thời điểm khi trái đất này, vốn bị nguyền rủa vì tội lỗi, được thanh sạch khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, Đấng Christ sẽ lại đứng trên Núi Ô-liu. Khi chân Ngài đặt lên đó, nó sẽ tách ra làm hai và trở nên một đồng bằng rộng lớn, được chuẩn bị cho thành của Đức Chúa Trời." Review and Herald, ngày 30 tháng 7, 1901.
The relevance of the distinction between literal Jerusalem and spiritual Jerusalem will be addressed as we consider Christ’s prophecy of the end of the world. The fourth time Daniel identifies “the daily,” is in chapter eleven.
Tầm quan trọng của sự phân biệt giữa Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen và Giê-ru-sa-lem thuộc linh sẽ được đề cập khi chúng ta xem xét lời tiên tri của Đấng Christ về sự tận thế. Lần thứ tư Đa-ni-ên nêu ra “điều hằng ngày” là ở chương mười một.
And arms shall stand on his part, and they shall pollute the sanctuary of strength, and shall take away the daily sacrifice, and they shall place the abomination that maketh desolate. Daniel 11:31.
Và quân binh sẽ đứng về phía hắn; chúng sẽ làm ô uế đền thánh kiên cố, cất bỏ của lễ hằng ngày, và dựng lên vật gớm ghiếc gây nên sự hoang tàn. Đa-ni-ên 11:31.
This verse is identifying the work of pagan Rome in placing the papacy on the throne of the earth in the year 538. The “arms” represent the military strength of pagan Rome that stood up for the papacy beginning with Clovis, king of the Franks in the year 496. Different European kings worked for the placement of the papacy following Clovis, but the verse is identifying four things the European kings (arms) did for the papacy, once they transgressed by forming a church and state alliance with the whore of Tyre.
Câu này đang chỉ ra vai trò của La Mã ngoại giáo trong việc đưa chế độ giáo hoàng lên ngai trên đất vào năm 538. “Các cánh tay” tượng trưng cho sức mạnh quân sự của La Mã ngoại giáo đã đứng lên ủng hộ chế độ giáo hoàng, khởi đầu với Clovis, vua của người Frank, vào năm 496. Nhiều vua châu Âu khác đã góp phần vào việc đặt để chế độ giáo hoàng sau Clovis, nhưng câu này xác định bốn điều mà các vua châu Âu (các cánh tay) đã làm cho chế độ giáo hoàng, khi họ đã phạm tội bằng cách lập một liên minh giữa giáo hội và nhà nước với dâm phụ của Ty-rơ.
Once they stood up for the papacy, they “polluted” or destroyed the city of Rome, which was the symbol of strength of both pagan and papal Rome. The pollution of the verse was carried out repeatedly through the years, as the city of Rome was brought under continuous military attacks. Those European kings (the arms), would also “take away the daily.” The Hebrew word translated as “take away” in this verse is not “rum,” as it was in chapter eight. In this verse, the word translated as “take away,” is “sur,” and it means to remove. The arms of the European kings would remove the pagan resistance to the rise of the papacy in the year 508. Then in the year 538, those arms would place the papacy on the throne of the earth. Then at the Counsel of Orleans, in that very year, the papacy implemented a Sunday law.
Khi họ đứng lên ủng hộ chế độ giáo hoàng, họ đã “làm ô uế” hoặc phá hủy thành phố Rôma, vốn là biểu tượng của sức mạnh của cả Rôma ngoại giáo lẫn Rôma giáo hoàng. Sự “làm ô uế” được nói trong câu ấy đã được thực hiện lặp đi lặp lại qua nhiều năm, khi thành Rôma liên tiếp hứng chịu các cuộc tấn công quân sự. Những vị vua châu Âu ấy (những cánh tay), cũng sẽ “cất bỏ sự hằng ngày.” Từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “cất bỏ” trong câu này không phải là “rum”, như ở chương tám. Trong câu này, từ được dịch là “cất bỏ”, là “sur”, và nó có nghĩa là loại bỏ. Những cánh tay của các vua châu Âu sẽ loại bỏ sự kháng cự của ngoại giáo đối với sự trỗi dậy của chế độ giáo hoàng vào năm 508. Rồi vào năm 538, những cánh tay ấy sẽ đặt chế độ giáo hoàng lên ngai vàng của thế gian. Rồi tại Counsel of Orleans, ngay trong năm ấy, chế độ giáo hoàng đã ban hành một luật Chủ nhật.
Sunday as a day of worship is what Sister White calls the “idol” sabbath, and idolatry is the perfect biblical definition of the word “abomination”. In the year 538, the arms of pagan Rome placed the abomination that maketh desolate.
Việc lấy Chủ nhật làm ngày thờ phượng là điều mà Bà White gọi là sa-bát "thần tượng", và thờ hình tượng là định nghĩa Kinh Thánh hoàn hảo của từ "sự gớm ghiếc". Vào năm 538, binh lực của La Mã ngoại giáo đã đặt sự gớm ghiếc gây nên sự hoang tàn.
“All who will exalt and worship the idol Sabbath, a day that God has not blessed, help the devil and his angels with all the power of their God-given ability, which they have perverted to a wrong use. Inspired by another spirit, which blinds their discernment, they cannot see that the exaltation of Sunday is entirely the institution of the Catholic Church.” Selected Messages, book 3, 423.
Tất cả những ai tôn cao và thờ phượng ngày Sa-bát hình tượng, một ngày mà Đức Chúa Trời không hề ban phước, đều đang trợ giúp ma quỷ và các thiên sứ của nó bằng tất cả năng lực Chúa ban cho họ, năng lực ấy họ đã làm bại hoại để dùng vào mục đích sai trái. Bị một linh khác soi khiến, linh ấy làm mù lòa sự phân định của họ, họ không thể thấy rằng việc tôn cao ngày Chủ nhật hoàn toàn là điều do Giáo hội Công giáo lập ra. Selected Messages, quyển 3, 423.
Prophecy and history uphold the application we have just identified for verse thirty-one. When we say prophecy upholds this application, we are referring to the fact that there are other prophecies which address these same facts, without bringing them into the discussion at this time. The fifth and final time Daniel uses “the daily,” is found in chapter twelve.
Lời tiên tri và lịch sử ủng hộ cách áp dụng mà chúng ta vừa xác định cho câu ba mươi mốt. Khi chúng ta nói lời tiên tri ủng hộ cách áp dụng này, ý chúng ta là có những lời tiên tri khác cũng đề cập đến chính những sự kiện này, nhưng hiện giờ chúng ta chưa đưa chúng vào cuộc thảo luận. Lần thứ năm và cũng là lần cuối cùng Daniel dùng “the daily” xuất hiện trong chương mười hai.
And from the time that the daily sacrifice shall be taken away, and the abomination that maketh desolate set up, there shall be a thousand two hundred and ninety days. Blessed is he that waiteth, and cometh to the thousand three hundred and five and thirty days. Daniel 12:11, 12.
Và từ lúc của lễ hằng ngày bị dẹp bỏ, và sự gớm ghiếc gây nên hoang tàn được dựng lên, thì sẽ có một nghìn hai trăm chín mươi ngày. Phước thay cho ai chờ đợi và đạt đến một nghìn ba trăm ba mươi lăm ngày. Đa-ni-ên 12:11, 12.
Prophecy and history uphold that in the year 508, the resistance to the rise of the papacy essentially ended, when the last of three geographical obstacles (the Goths), were plucked up as Daniel chapter seven identifies.
Lời tiên tri và lịch sử khẳng định rằng vào năm 508, sự kháng cự đối với sự trỗi dậy của chế độ giáo hoàng về cơ bản đã chấm dứt, khi trở ngại địa lý cuối cùng trong ba trở ngại (người Goth) đã bị nhổ bật rễ, như chương bảy sách Đa-ni-ên nêu rõ.
I considered the horns, and, behold, there came up among them another little horn, before whom there were three of the first horns plucked up by the roots: and, behold, in this horn were eyes like the eyes of man, and a mouth speaking great things. Daniel 7:8.
Tôi nhìn xem các sừng, thì kìa, ở giữa chúng mọc lên một cái sừng nhỏ khác; trước nó, ba trong các sừng đầu tiên bị nhổ bật gốc; và kìa, trên sừng ấy có mắt như mắt người và một cái miệng nói những lời lớn lao. Đa-ni-ên 7:8.
The three horns being removed are illustrated on the two sacred tables, and when the third of those three geographical obstacles was driven out of the city of Rome, in the year 508, the resistance against the rise of the papal power was taken away. The setting up referenced in verse eleven, represents the thirty years between 508 and 538. It identifies thirty years where the preparation of establishing the man of sin in the temple of God was accomplished.
Ba sừng bị nhổ được minh họa trên hai bảng thánh, và khi chướng ngại thứ ba trong số ba chướng ngại địa lý ấy bị trục xuất khỏi thành Rô-ma vào năm 508, sự kháng cự đối với sự trỗi dậy của quyền lực giáo hoàng đã bị dẹp bỏ. Việc thiết lập được nhắc đến ở câu mười một tượng trưng cho ba mươi năm từ 508 đến 538. Nó chỉ ra ba mươi năm mà trong đó việc chuẩn bị để thiết lập người tội ác trong đền thờ của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất.
The word translated as “taken away” is also “sur,” which means to remove, and in 508, the resistance against the rise of the papacy was removed (taken away). From that date, twelve hundred and ninety years takes you to 1798, and the deadly wound of the papacy. Thirteen hundred and thirty-five days takes you to the first disappointment, and the beginning of the tarrying time at the very end of the year 1843. The verse promises a blessing to those who “cometh” to 1843. The word “cometh” means to touch. The first day of 1844, marks the first disappointment, but the last day of 1843, touches the first moment of 1844. The last day of a year touches the first day of the following year. The blessing associated with that date is upheld by history and prophecy.
Từ được dịch là "taken away" cũng là "sur", có nghĩa là loại bỏ, và vào năm 508, sự kháng cự chống lại sự trỗi dậy của chế độ giáo hoàng đã bị loại bỏ (bị cất đi). Từ mốc đó, một nghìn hai trăm chín mươi năm đưa bạn đến năm 1798 và vết thương chí tử của chế độ giáo hoàng. Một nghìn ba trăm ba mươi lăm ngày đưa bạn đến sự thất vọng thứ nhất và sự khởi đầu của thời kỳ trì hoãn vào ngay cuối năm 1843. Câu ấy hứa một phước lành cho những ai "cometh" đến năm 1843. Từ "cometh" có nghĩa là chạm. Ngày đầu tiên của năm 1844 đánh dấu sự thất vọng thứ nhất, nhưng ngày cuối cùng của năm 1843 chạm vào khoảnh khắc đầu tiên của năm 1844. Ngày cuối cùng của một năm chạm vào ngày đầu tiên của năm kế tiếp. Phước lành gắn liền với ngày ấy được lịch sử và lời tiên tri xác nhận.
We will continue our consideration of the significance of “the daily” as a foundational truth in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét ý nghĩa của "the daily" như một chân lý nền tảng trong bài viết tiếp theo.
“All the messages given from 1840–1844 are to be made forcible now, for there are many people who have lost their bearings. The messages are to go to all the churches.
Tất cả các sứ điệp đã được ban từ năm 1840 đến 1844 nay phải được trình bày một cách mạnh mẽ, vì có nhiều người đã mất phương hướng. Những sứ điệp ấy phải đến với mọi hội thánh.
“Christ said, ‘Blessed are your eyes, for they see; and your ears, for they hear. For verily I say unto you, That many prophets and righteous men have desired to see those things which ye see, and have not seen them; and to hear those things which ye hear, and have not heard them’ [Matthew 13:16, 17]. Blessed are the eyes which saw the things that were seen in 1843 and 1844.
Đấng Christ phán: “Phước cho mắt của anh em, vì chúng thấy; và tai của anh em, vì chúng nghe. Vì quả thật, ta nói với anh em: nhiều đấng tiên tri và người công chính đã ao ước được thấy những điều anh em thấy mà không được thấy; và được nghe những điều anh em nghe mà không được nghe” [Ma-thi-ơ 13:16, 17]. Phước thay cho những đôi mắt đã chứng kiến những điều xảy ra vào các năm 1843 và 1844.
“The message was given. And there should be no delay in repeating the message, for the signs of the times are fulfilling; the closing work must be done. A great work will be done in a short time. A message will soon be given by God’s appointment that will swell into a loud cry. Then Daniel will stand in his lot, to give his testimony.” Manuscript Releases, volume 21, 437.
“Sứ điệp đã được ban ra. Và không được chậm trễ trong việc nhắc lại sứ điệp, vì các dấu chỉ của thời cuộc đang ứng nghiệm; công cuộc kết thúc phải được hoàn tất. Một công việc lớn sẽ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Một sứ điệp sẽ sớm được ban theo sự chỉ định của Đức Chúa Trời và sẽ dâng lên thành tiếng kêu lớn. Bấy giờ Đa-ni-ên sẽ đứng nơi phần của mình để làm chứng.” Bản Thảo Được Công Bố, tập 21, trang 437.