God never changes, and therefore Adventism is judged in its fourth generation.
Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi, và do đó phong trào Cơ Đốc Phục Lâm được phán xét trong thế hệ thứ tư của nó.
“‘And he called to the man clothed with linen, which had the writer’s inkhorn by his side; and the Lord said unto him, Go through the midst of the city, through the midst of Jerusalem, and set a mark upon the foreheads of the men that sigh and that cry for all the abominations that be done in the midst thereof. And to the others he said in mine hearing, Go ye after him through the city, and smite: let not your eye spare, neither have ye pity: slay utterly old and young, both maids, and little children, and women: but come not near any man upon whom is the mark; and begin at My sanctuary. Then they began at the ancient men which were before the house.’
'Và Ngài gọi người mặc áo vải gai, người có bầu mực của người chép ở bên hông mình; và Chúa phán cùng người ấy: Hãy đi ngang qua giữa thành, ngang qua giữa Giê-ru-sa-lem, và đánh một dấu trên trán những người thở than và kêu khóc vì mọi điều ghê tởm đã làm ở giữa đó. Còn với những kẻ khác, Ngài phán, trong khi tôi nghe, rằng: Hãy theo sau người ấy đi khắp thành và đánh; đừng nương tay, cũng đừng xót thương; hãy giết sạch già lẫn trẻ, cả thiếu nữ, con trẻ và đàn bà; nhưng chớ đến gần bất cứ ai có dấu; và hãy bắt đầu tại đền thánh của Ta. Bấy giờ họ bắt đầu với những trưởng lão đang ở trước nhà.'
“Jesus is about to leave the mercy seat of the heavenly sanctuary to put on garments of vengeance and pour out His wrath in judgments upon those who have not responded to the light God has given them. ‘Because sentence against an evil work is not executed speedily, therefore the heart of the sons of men is fully set in them to do evil.’ Instead of being softened by the patience and long forbearance that the Lord has exercised toward them, those who fear not God and love not the truth strengthen their hearts in their evil course. But there are limits even to the forbearance of God, and many are exceeding these boundaries. They have overrun the limits of grace, and therefore God must interfere and vindicate His own honor.
Chúa Giê-xu sắp rời ngai thương xót của đền thánh trên trời để mặc lấy áo báo thù và trút cơn thịnh nộ qua các sự phán xét trên những kẻ đã không đáp ứng với ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. “Vì án phạt đối với việc ác không được thi hành mau chóng, nên lòng con cái loài người càng quyết tâm làm điều ác.” Thay vì được mềm lòng bởi sự nhẫn nại và lòng khoan dung lâu dài mà Chúa đã bày tỏ đối với họ, những kẻ chẳng kính sợ Đức Chúa Trời và chẳng yêu lẽ thật lại làm cho lòng mình thêm cứng cỏi trong con đường gian ác. Nhưng ngay cả sự khoan dung của Đức Chúa Trời cũng có giới hạn, và nhiều người đang vượt quá những ranh giới ấy. Họ đã vượt qua giới hạn của ân điển, vì vậy Đức Chúa Trời phải can thiệp và bênh vực danh dự của chính Ngài.
“Of the Amorites the Lord said: ‘In the fourth generation they shall come hither again: for the iniquity of the Amorites is not yet full.’ Although this nation was conspicuous because of its idolatry and corruption, it had not yet filled up the cup of its iniquity, and God would not give command for its utter destruction. The people were to see the divine power manifested in a marked manner, that they might be left without excuse. The compassionate Creator was willing to bear with their iniquity until the fourth generation. Then, if no change was seen for the better, His judgments were to fall upon them.
Về người A-mô-rít, Chúa phán: “Đến đời thứ tư họ sẽ trở lại xứ này, vì tội ác của người A-mô-rít chưa đầy.” Dẫu dân tộc này nổi bật vì sự thờ hình tượng và bại hoại, họ vẫn chưa làm đầy chén tội ác của mình, và Đức Chúa Trời chưa truyền lệnh tận diệt họ hoàn toàn. Dân ấy phải thấy quyền năng của Đức Chúa Trời được bày tỏ cách rõ rệt, để họ không còn cớ bào chữa. Đấng Tạo Hóa đầy lòng thương xót đã bằng lòng nhẫn nại chịu đựng tội ác của họ cho đến đời thứ tư. Rồi, nếu không có sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, các sự phán xét của Ngài sẽ giáng trên họ.
“With unerring accuracy the Infinite One still keeps an account with all nations. While His mercy is tendered with calls to repentance, this account will remain open; but when the figures reach a certain amount which God has fixed, the ministry of His wrath commences. The account is closed. Divine patience ceases. There is no more pleading of mercy in their behalf.
Với độ chính xác không sai chạy, Đấng Vô Hạn vẫn ghi sổ đối với mọi dân tộc. Trong khi lòng thương xót của Ngài còn được ban ra kèm theo những lời kêu gọi ăn năn, cuốn sổ ấy vẫn còn mở; nhưng khi các con số đạt đến mức mà Đức Chúa Trời đã ấn định, sự thi hành cơn thịnh nộ của Ngài bắt đầu. Cuốn sổ được đóng lại. Sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời chấm dứt. Không còn lời cầu xin thương xót thay cho họ nữa.
“The prophet, looking down the ages, had this time presented before his vision. The nations of this age have been the recipients of unprecedented mercies. The choicest of heaven’s blessings have been given them, but increased pride, covetousness, idolatry, contempt of God, and base ingratitude are written against them. They are fast closing up their account with God.
Vị tiên tri, nhìn xuyên qua các thời đại, đã thấy thời kỳ này hiện ra trong khải tượng của mình. Các dân tộc trong thời đại này đã nhận được những ân huệ chưa từng có. Những phước lành tốt đẹp nhất từ trời đã được ban cho họ, nhưng sự kiêu ngạo gia tăng, lòng tham lam, thờ thần tượng, coi khinh Đức Chúa Trời và sự vô ơn hèn hạ đều đã được ghi lại chống lại họ. Họ đang nhanh chóng kết sổ với Đức Chúa Trời.
“But that which causes me to tremble is the fact that those who have had the greatest light and privileges have become contaminated by the prevailing iniquity. Influenced by the unrighteous around them, many, even of those who profess the truth, have grown cold and are borne down by the strong current of evil. The universal scorn thrown upon true piety and holiness leads those who do not connect closely with God to lose their reverence for His law. If they were following the light and obeying the truth from the heart, this holy law would seem even more precious to them when thus despised and set aside. As the disrespect for God’s law becomes more manifest, the line of demarcation between its observers and the world becomes more distinct. Love for the divine precepts increases with one class according as contempt for them increases with another class.
Nhưng điều khiến tôi run sợ là thực tế rằng những người đã nhận được ánh sáng và đặc ân lớn lao nhất lại bị nhiễm ô bởi sự gian ác đang lan tràn. Bị ảnh hưởng bởi những kẻ bất chính chung quanh, nhiều người, ngay cả những người xưng nhận lẽ thật, đã trở nên nguội lạnh và bị cuốn trôi bởi dòng chảy xiết của sự dữ. Sự khinh bỉ chung khắp nhắm vào lòng đạo chân thật và sự thánh khiết khiến những ai không gắn bó mật thiết với Đức Chúa Trời mất lòng tôn kính đối với luật pháp của Ngài. Nếu họ bước theo ánh sáng và vâng phục lẽ thật từ tấm lòng, thì khi luật thánh này bị khinh rẻ và gạt sang một bên, nó lại càng trở nên quý báu đối với họ. Khi sự bất kính đối với luật pháp của Đức Chúa Trời càng lộ rõ, ranh giới giữa những người tuân giữ luật ấy và thế gian càng trở nên rành rẽ. Ở một nhóm, tình yêu đối với các điều răn thiêng liêng càng tăng bao nhiêu thì ở nhóm khác, sự khinh miệt đối với chúng lại càng tăng bấy nhiêu.
“The crisis is fast approaching. The rapidly swelling figures show that the time for God’s visitation has about come. Although loath to punish, nevertheless He will punish, and that speedily. Those who walk in the light will see signs of the approaching peril; but they are not to sit in quiet, unconcerned expectancy of the ruin, comforting themselves with the belief that God will shelter His people in the day of visitation. Far from it. They should realize that it is their duty to labor diligently to save others, looking with strong faith to God for help. ‘The effectual fervent prayer of a righteous man availeth much.’
Cuộc khủng hoảng đang nhanh chóng đến gần. Những số liệu tăng vọt nhanh chóng cho thấy thời điểm Đức Chúa Trời thăm phạt đã gần đến. Dù không muốn trừng phạt, nhưng Ngài vẫn sẽ trừng phạt, và sẽ làm điều đó cách mau chóng. Những ai bước đi trong ánh sáng sẽ thấy các dấu hiệu của hiểm họa đang đến gần; nhưng họ không được ngồi yên, thờ ơ chờ đợi tai họa, tự an ủi mình bằng niềm tin rằng Đức Chúa Trời sẽ che chở dân Ngài trong ngày thăm phạt. Hoàn toàn không phải vậy. Họ phải nhận ra rằng bổn phận của mình là siêng năng làm việc để cứu những người khác, nhìn lên Đức Chúa Trời với đức tin vững mạnh để được Ngài giúp đỡ. 'Lời cầu nguyện tha thiết của người công chính có hiệu nghiệm lớn lao.'
“The leaven of godliness has not entirely lost its power. At the time when the danger and depression of the church are greatest, the little company who are standing in the light will be sighing and crying for the abominations that are done in the land. But more especially will their prayers arise in behalf of the church because its members are doing after the manner of the world.
Men của sự tin kính vẫn chưa hoàn toàn mất sức mạnh. Vào lúc hiểm nguy và sự sa sút của Hội Thánh lên đến cực điểm, nhóm nhỏ đang đứng trong ánh sáng sẽ thở than và kêu khóc vì những điều gớm ghiếc đang diễn ra trong xứ. Nhưng đặc biệt hơn, lời cầu nguyện của họ sẽ dâng lên thay cho Hội Thánh, vì các thành viên của Hội Thánh đang làm theo đường lối thế gian.
“The earnest prayers of this faithful few will not be in vain. When the Lord comes forth as an avenger, He will also come as a protector of all those who have preserved the faith in its purity and kept themselves unspotted from the world. It is at this time that God has promised to avenge His own elect which cry day and night unto Him, though He bear long with them.
Những lời cầu nguyện tha thiết của số ít người trung tín này sẽ không vô ích. Khi Chúa xuất hiện như Đấng báo oán, Ngài cũng sẽ đến như Đấng che chở cho tất cả những ai đã giữ gìn đức tin trong sự tinh tuyền và giữ mình không vết nhơ khỏi thế gian. Chính vào lúc ấy, Đức Chúa Trời hứa sẽ báo oán cho những người được chọn của Ngài, là những người kêu cầu Ngài ngày đêm, dẫu Ngài nhẫn nại với họ lâu dài.
“The command is: ‘Go through the midst of the city, through the midst of Jerusalem, and set a mark upon the foreheads of the men that sigh and that cry for all the abominations that be done in the midst thereof.’ These sighing, crying ones had been holding forth the words of life; they had reproved, counseled, and entreated. Some who had been dishonoring God repented and humbled their hearts before Him. But the glory of the Lord had departed from Israel; although many still continued the forms of religion, His power and presence were lacking.” Testimonies, volume 5, 207–210.
Mệnh lệnh là: 'Hãy đi ngang qua giữa thành, qua giữa Giê-ru-sa-lem, và đánh dấu trên trán những người thở than và kêu khóc vì mọi điều gớm ghiếc đang diễn ra ở giữa nó.' Những người thở than, kêu khóc ấy đã rao truyền lời sự sống; họ đã quở trách, khuyên bảo và nài xin. Một số người đã làm ô danh Đức Chúa Trời thì ăn năn và hạ lòng mình xuống trước Ngài. Nhưng vinh quang của Chúa đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên; dẫu nhiều người vẫn tiếp tục giữ các hình thức tôn giáo, quyền năng và sự hiện diện của Ngài đều thiếu vắng. Lời chứng, tập 5, 207–210.
The illustration of God’s judgment that Sister White is identifying in the passage is the judgment brought upon the city of Jerusalem, which in the last days is the Seventh-day Adventist church. The judgment is finalized at the Sunday law, for it is there that the seal of God and mark of the beast are impressed. Ezekiel chapter eight identifies four escalating abominations. The first verse emphasizes the vision is to be understood just before probation closes by identifying the fifth day of the sixth month of the sixth year.
Hình ảnh về sự phán xét của Đức Chúa Trời mà Bà White đang chỉ ra trong đoạn văn này là sự phán xét giáng trên thành Giê-ru-sa-lem, mà trong những ngày sau rốt là Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm (Ngày Thứ Bảy). Sự phán xét được định đoạt tại thời điểm Luật Ngày Chúa Nhật, vì chính khi ấy Ấn của Đức Chúa Trời được đóng và Dấu của Con Thú được ghi. Chương tám sách Ê-xê-chi-ên chỉ ra bốn điều gớm ghiếc tăng dần. Câu thứ nhất nhấn mạnh rằng khải tượng này cần được hiểu là ngay trước khi cửa ân điển đóng lại, bằng cách ghi rõ ngày mồng năm tháng sáu năm thứ sáu.
Ezekiel did not need to include that historical point of reference. He could have simply written, “And it came to pass as I sat in mine house, and the elders of Judah sat before me, that the hand of the Lord God fell there upon me.” The fact that he included the reference to the day before “666,” is a prophetic reference for students of prophecy. The reference for those who have the victory of the number of the beast’s name know “666,” is an element of the Revelation of Jesus Christ, which is unsealed just before probation closes. They know this for they are the people of God, that according to Peter, “in times past were not the people of God.”
Ê-xê-chi-ên không cần phải nêu mốc lịch sử đó. Ông có thể chỉ đơn giản viết: “Và xảy ra khi tôi đang ngồi trong nhà mình, và các trưởng lão của Giu-đa ngồi trước mặt tôi, thì tay của Chúa Giê-hô-va giáng trên tôi tại đó.” Việc ông đưa vào lời nhắc đến ngày trước “666,” là một ám chỉ mang tính tiên tri dành cho những người nghiên cứu lời tiên tri. Đối với những người đã đắc thắng trước con số của tên con thú, họ biết “666” là một yếu tố của Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ, vốn được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại. Họ biết điều này vì họ là dân của Đức Chúa Trời, những người mà theo lời Phi-e-rơ, “thuở xưa không phải là dân của Đức Chúa Trời.”
In 1 Peter chapter two the people who are now the people of God, “have tasted that the Lord is gracious.” They are those who have prophetically “eaten” the word of God, as opposed to those who refused to eat the word of God. All the prophets speak of the last days, and in John chapter six, Jesus gave the message that His disciples must eat His flesh and drink His blood. In that chapter the disciples that refused to eat His flesh and drink His blood, did so in verse sixty-six.
Trong 1 Phi-e-rơ chương hai, những người hiện là dân của Đức Chúa Trời “đã nếm biết rằng Chúa là nhân từ.” Họ là những người theo nghĩa tiên tri đã “ăn” lời Đức Chúa Trời, trái ngược với những kẻ từ chối ăn lời Đức Chúa Trời. Tất cả các đấng tiên tri đều nói về những ngày sau rốt, và trong Giăng chương sáu, Đức Chúa Jêsus đưa ra sứ điệp rằng các môn đồ của Ngài phải ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài. Trong chương đó, những môn đồ từ chối ăn thịt và uống huyết Ngài đã làm như vậy ở câu sáu mươi sáu.
From that time many of his disciples went back, and walked no more with him. John 6:66.
Từ lúc ấy, nhiều môn đồ của Ngài quay lui và không còn theo Ngài nữa. Giăng 6:66.
The wise who eat the flesh and drink the blood of Christ in the last days, understand that Christ as Palmoni, is the Wonderful Numberer, and they recognize His signature when it is presented. The number “665,” in the opening verse of Ezekiel eight, is there, for any who wish to see, that it is identifying at least two important prophetic points. The first is that the message is to be understood as covering a period of time before the Sunday law. The second is that the number “666” is in one of only two verses in the book of Revelation, that is qualified by identifying that the “wise” would understand in the last days.
Những người khôn ngoan, là những người ăn thịt và uống huyết của Đấng Christ trong những ngày sau rốt, hiểu rằng Đấng Christ, với tư cách là Palmoni, là Đấng Đếm Lạ Lùng, và họ nhận ra dấu ấn của Ngài khi nó được trình bày. Con số "665" trong câu mở đầu của Ê-xê-chi-ên, chương tám, có ở đó, để ai muốn thấy cũng nhận ra rằng nó đang chỉ ra ít nhất hai điểm tiên tri quan trọng. Điều thứ nhất là thông điệp cần được hiểu là bao trùm một giai đoạn thời gian trước luật Chủ nhật. Điều thứ hai là con số "666" nằm trong một trong chỉ hai câu của sách Khải Huyền, câu được đặc trưng bởi việc nêu rằng "những người khôn ngoan" sẽ hiểu trong những ngày sau rốt.
Here is wisdom. Let him that hath understanding count the number of the beast: for it is the number of a man; and his number is Six hundred threescore and six. Revelation 13:18.
Đây là sự khôn ngoan. Ai có trí tuệ, hãy tính số của con thú, vì đó là số của một người; và số nó là sáu trăm sáu mươi sáu. Khải Huyền 13:18.
The “wise” who understand the increase of knowledge in the last days, when the Revelation of Jesus Christ is unsealed will know that “666,” is an important prophetic symbol for they will have gotten victory over the number. Ezekiel therefore introduces an escalating rebellion in chapter eight, that is represented by four increasing abominations. The final identifies the foolish as bowing down to the sun, thus marking the judgment of Jerusalem (Adventism), in the last days. That judgment takes place in the fourth generation. The four abominations are the symbols of the four generations of Laodicean Adventism.
Những “người khôn ngoan” hiểu sự gia tăng tri thức trong những ngày sau rốt, khi Khải Huyền của Đức Chúa Giê-xu Christ được mở ấn, sẽ biết rằng “666” là một biểu tượng tiên tri quan trọng, vì họ đã đắc thắng trước con số ấy. Vì vậy, Ê-xê-chi-ên trình bày một cuộc phản loạn leo thang trong chương tám, được thể hiện bằng bốn điều gớm ghiếc tăng dần. Điều cuối cùng xác định những kẻ ngu dại là quỳ lạy mặt trời, qua đó đánh dấu sự phán xét đối với Giê-ru-sa-lem (Adventism) trong những ngày sau rốt. Sự phán xét ấy diễn ra trong thế hệ thứ tư. Bốn điều gớm ghiếc đó là những biểu tượng của bốn thế hệ của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê.
The first generation began in 1863, with the rebellion against Moses’ oath of “seven times.” Twenty-five years later, the rebellion of 1888 was manifested. Thirty-one years later the rebellion of 1919 occurred, represented by W. W. Prescott’s book, “The Doctrine of Christ”. Thirty-eight years after that, in 1957, the rebellion represented by the book, “Questions on Doctrine” took place. We will now begin to demonstrate why these four waymarks align with the four abominations of Ezekiel eight.
Thế hệ thứ nhất bắt đầu vào năm 1863, với cuộc nổi loạn chống lại lời thề “bảy lần” của Môi-se. Hai mươi lăm năm sau, cuộc nổi loạn năm 1888 đã bộc lộ. Ba mươi mốt năm sau nữa, cuộc nổi loạn năm 1919 xảy ra, được đại diện bởi cuốn sách “The Doctrine of Christ” của W. W. Prescott. Ba mươi tám năm sau đó, vào năm 1957, cuộc nổi loạn được đại diện bởi cuốn sách “Questions on Doctrine” đã diễn ra. Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu chứng minh vì sao bốn mốc này tương ứng với bốn điều gớm ghiếc trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám.
In 1863, Laodicean Adventism introduced a new chart to replace the two charts that were fulfillments of Habakkuk chapter two’s command to, “write the vision and make it plain upon tables.” The 1863 chart dropped the “seven times” from the prophetic illustration, as it had been on the two sacred charts along with the 1260, 1290, and 1335. In Habakkuk the command identified that the tables (in the plural) would be published in a fashion that, “he may run that readeth it.” The 1863 chart was so far off the mark, that it required a handout of explanation to go with it. It was not possible to look at the 1863 chart and “run” without an extra handout.
Năm 1863, Cơ Đốc Phục Lâm Laodicê đã giới thiệu một bảng mới để thay thế hai bảng vốn là sự ứng nghiệm của mệnh lệnh trong Ha-ba-cúc chương hai: “hãy chép khải tượng và ghi rõ ràng trên các bảng.” Bảng năm 1863 đã bỏ “bảy thì” khỏi phần minh họa tiên tri, trong khi trước đó nó có mặt trên hai bảng thánh cùng với 1260, 1290 và 1335. Trong Ha-ba-cúc, mệnh lệnh cho biết rằng các bảng (ở số nhiều) sẽ được công bố theo cách “để ai đọc thì có thể chạy.” Bảng năm 1863 lệch khỏi mục tiêu đến mức nó cần kèm theo một tài liệu phát tay giải thích. Không thể chỉ nhìn vào bảng năm 1863 mà “chạy” được nếu không có tài liệu bổ sung.
And the Lord answered me, and said, Write the vision, and make it plain upon tables, that he may run that readeth it. Habakkuk 2:2.
Đức Giê-hô-va đáp lại ta và phán: Hãy chép khải tượng, ghi cho rõ trên các bảng, hầu cho ai đọc được thì chạy. Ha-ba-cúc 2:2.
The 1863, chart was a counterfeit designed to cover up the true, just as William Miller saw in his dream. The two sacred charts were the symbol of the covenant that Christ made with the people who had just taken the position as the true Protestant horn of the earth beast. Those two charts represented a symbol of the covenant relationship between the Millerites and Christ, who suddenly came to His temple in 1844, and when He came, He came as the Messenger of the Covenant. Ancient Israel illustrates modern Israel, and when Christ took ancient Israel out of the bondage of Egypt, He typified the time when He was to take modern Israel out of the bondage of twelve hundred and sixty years of papal rule. Sister White repeatedly upholds these two histories as parallel histories.
Bảng năm 1863 là bản giả mạo, được lập ra để che đậy lẽ thật, đúng như William Miller đã thấy trong giấc mơ của mình. Hai bảng thiêng liêng ấy là biểu tượng của giao ước mà Đấng Christ đã lập với dân sự vừa đảm nhận vai trò như chiếc sừng Tin Lành chân chính của con thú từ đất. Hai bảng đó là biểu tượng cho mối quan hệ giao ước giữa những người Millerite và Đấng Christ, Đấng đã đột ngột đến đền thờ Ngài vào năm 1844; và khi Ngài đến, Ngài đến như Sứ giả của Giao ước. Y-sơ-ra-ên xưa minh họa cho Y-sơ-ra-ên hiện đại; và khi Đấng Christ đưa Y-sơ-ra-ên xưa ra khỏi ách nô lệ của Ai Cập, Ngài đã làm hình bóng cho thời kỳ khi Ngài sẽ đưa Y-sơ-ra-ên hiện đại ra khỏi ách nô lệ của một nghìn hai trăm sáu mươi năm dưới sự cai trị của giáo hoàng. Bà White nhiều lần khẳng định hai lịch sử này là những lịch sử song song.
“Upon us is shining the accumulated light of past ages. The record of Israel’s forgetfulness has been preserved for our enlightenment. In this age God has set His hand to gather unto Himself a people from every nation, kindred, and tongue. In the advent movement He has wrought for His heritage, even as He wrought for the Israelites in leading them from Egypt. In the great disappointment of 1844 the faith of His people was tested as was that of the Hebrews at the Red Sea.” Testimonies, volume 8, 115, 116.
"Ánh sáng tích lũy của các thời đại đã qua đang chiếu rọi trên chúng ta. Bản ghi chép về sự quên lãng của dân Israel đã được lưu giữ để soi sáng cho chúng ta. Trong thời đại này, Đức Chúa Trời đã ra tay tập hợp cho chính Ngài một dân từ mọi quốc gia, dòng dõi và ngôn ngữ. Trong phong trào Tái Lâm, Ngài đã hành động vì cơ nghiệp của Ngài, cũng như Ngài đã hành động cho dân Israel khi dẫn họ ra khỏi Ai Cập. Trong cơn đại thất vọng năm 1844, đức tin của dân Ngài đã được thử thách như đức tin của người Hê-bơ-rơ tại Biển Đỏ." Testimonies, tập 8, 115, 116.
When the Lord entered into covenant with ancient Israel, He gave two tables to represent the covenant relationship. When the Lord entered into covenant with modern Israel, He gave two tables to represent the covenant relationship. The two tables of the Ten Commandments typify Habakkuk’s two tables. He gave them the two tables shortly after the Red Sea crossing, which Sister White aligns with the great disappointment of 1844. Shortly after 1844, in terms of prophetic history, the Lord produced the second table. Ancient Israel was made the depositaries of God’s law, and modern Israel was made the depositaries of not only God’s law, but also those great prophetic truths.
Khi Chúa lập giao ước với Y-sơ-ra-ên xưa, Ngài ban cho họ hai bảng để tượng trưng cho mối quan hệ giao ước. Khi Chúa lập giao ước với Y-sơ-ra-ên hiện đại, Ngài cũng ban cho họ hai bảng để tượng trưng cho mối quan hệ giao ước. Hai bảng đá của Mười Điều Răn tiêu biểu cho hai bảng của Ha-ba-cúc. Ngài đã ban cho họ hai bảng không lâu sau khi vượt qua Biển Đỏ—mà Bà White liên hệ với Cuộc Đại Thất Vọng năm 1844. Không lâu sau năm 1844, xét theo lịch sử tiên tri, Chúa đã ban ra bảng thứ hai. Y-sơ-ra-ên xưa được ủy thác giữ luật pháp của Đức Chúa Trời, còn Y-sơ-ra-ên hiện đại được ủy thác không chỉ giữ luật pháp của Đức Chúa Trời mà còn cả những lẽ thật tiên tri vĩ đại ấy.
“God has called His church in this day, as He called ancient Israel, to stand as a light in the earth. By the mighty cleaver of truth, the messages of the first, second, and third angels, He has separated them from the churches and from the world to bring them into a sacred nearness to Himself. He has made them the depositaries of His law and has committed to them the great truths of prophecy for this time. Like the holy oracles committed to ancient Israel, these are a sacred trust to be communicated to the world.” Testimonies, volume 5, 455.
“Đức Chúa Trời đã gọi Hội Thánh của Ngài trong thời nay, như Ngài đã gọi Israel xưa, đứng làm ánh sáng trên đất. Bằng lưỡi dao chẻ mạnh mẽ của lẽ thật—các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba—Ngài đã tách họ khỏi các giáo hội và khỏi thế gian để đưa họ vào sự gần gũi thánh khiết với chính Ngài. Ngài đã khiến họ trở nên những người được ủy thác giữ gìn luật pháp của Ngài và đã giao phó cho họ những lẽ thật lớn lao của lời tiên tri cho thời kỳ này. Giống như các thánh ngôn đã được giao phó cho Israel xưa, những điều ấy là một sự ủy thác thánh phải được truyền đạt cho thế giới.” Lời Chứng, quyển 5, trang 455.
The first two Commandments identify God’s hatred for idolatry, and in those first two Commandments He identifies that judgment is carried out unto the third and fourth generations, for He identifies that He is a jealous God.
Hai điều răn đầu tiên cho thấy Đức Chúa Trời ghét sự thờ hình tượng; và trong chính hai điều răn ấy, Ngài cho biết rằng sự phán xét sẽ được thi hành đến đời thứ ba và thứ tư, vì Ngài phán rằng Ngài là Đức Chúa Trời hay ghen.
“The law was not spoken at this time exclusively for the benefit of the Hebrews. God honored them by making them the guardians and keepers of His law, but it was to be held as a sacred trust for the whole world. The precepts of the Decalogue are adapted to all mankind, and they were given for the instruction and government of all. Ten precepts, brief, comprehensive, and authoritative, cover the duty of man to God and to his fellow man; and all based upon the great fundamental principle of love. ‘Thou shalt love the Lord thy God with all thy heart, and with all thy soul, and with all thy strength, and with all thy mind; and thy neighbor as thyself.’ Luke 10:27. See also Deuteronomy 6:4, 5; Leviticus 19:18. In the Ten Commandments these principles are carried out in detail, and made applicable to the condition and circumstances of man.
Luật pháp khi ấy không được phán ra chỉ vì lợi ích riêng của người Hê-bơ-rơ. Đức Chúa Trời đã tôn vinh họ bằng cách đặt họ làm những người bảo vệ và gìn giữ luật pháp của Ngài, nhưng luật ấy phải được giữ như một sự ủy thác thiêng liêng cho cả thế giới. Các điều răn của Thập Điều thích hợp cho cả nhân loại, và được ban để dạy dỗ và quản trị toàn thể nhân loại. Mười điều răn, ngắn gọn, bao quát và có thẩm quyền, bao trùm bổn phận của con người đối với Đức Chúa Trời và đối với đồng loại; và tất cả đều đặt trên nguyên tắc nền tảng lớn lao là tình yêu thương. “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí tuệ mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu kẻ lân cận như chính mình.” Lu-ca 10:27. Xem thêm Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4, 5; Lê-vi Ký 19:18. Trong Mười Điều Răn, các nguyên tắc này được triển khai chi tiết và áp dụng vào tình trạng và hoàn cảnh của con người.
“‘Thou shalt have no other gods before Me.’
'Ngươi chớ có các thần khác trước mặt Ta.'
“Jehovah, the eternal, self-existent, uncreated One, Himself the Source and Sustainer of all, is alone entitled to supreme reverence and worship. Man is forbidden to give to any other object the first place in his affections or his service. Whatever we cherish that tends to lessen our love for God or to interfere with the service due Him, of that do we make a god.
Giê-hô-va, Đấng đời đời, tự hữu, không do tạo nên, chính Ngài là Nguồn gốc và Đấng Duy Trì muôn vật, chỉ một mình Ngài xứng đáng nhận sự tôn kính và thờ phượng tối thượng. Con người bị cấm đặt bất cứ điều gì khác lên vị trí hàng đầu trong tình cảm hoặc trong sự phục vụ của mình. Bất cứ điều gì chúng ta quý trọng mà làm giảm bớt tình yêu dành cho Đức Chúa Trời hoặc cản trở sự phục vụ phải dâng lên Ngài, thì điều ấy chúng ta đã biến thành một thần tượng.
“‘Thou shalt not make unto thee any graven image, or any likeness of anything that is in heaven above, or that is in the earth beneath, or that is in the water under the earth: thou shalt not bow down thyself to them, nor serve them.’
Ngươi chớ làm cho mình tượng chạm, cũng chớ làm bất cứ hình tượng nào giống như vật gì ở trên trời cao, ở dưới đất, hay ở trong nước dưới đất; ngươi chớ quỳ lạy chúng, cũng chớ hầu việc chúng.
“The second commandment forbids the worship of the true God by images or similitudes. Many heathen nations claimed that their images were mere figures or symbols by which the Deity was worshiped, but God has declared such worship to be sin. The attempt to represent the Eternal One by material objects would lower man’s conception of God. The mind, turned away from the infinite perfection of Jehovah, would be attracted to the creature rather than to the Creator. And as his conceptions of God were lowered, so would man become degraded.
Điều răn thứ hai cấm thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật bằng hình tượng hay những hình dáng mô phỏng. Nhiều dân ngoại cho rằng các hình tượng của họ chỉ là những hình ảnh hay biểu tượng, nhờ đó Đức Chúa Trời được thờ phượng, nhưng Đức Chúa Trời đã tuyên bố rằng sự thờ phượng như vậy là tội lỗi. Việc cố gắng mô tả Đấng Hằng Hữu bằng những vật thể hữu hình sẽ làm hạ thấp quan niệm của con người về Đức Chúa Trời. Khi quay khỏi sự trọn vẹn vô hạn của Đức Giê-hô-va, tâm trí sẽ bị lôi cuốn đến tạo vật hơn là Đấng Tạo Hóa. Và khi quan niệm của con người về Đức Chúa Trời bị hạ thấp, con người cũng sẽ trở nên sa đọa.
“‘I the Lord thy God am a jealous God.’ The close and sacred relation of God to His people is represented under the figure of marriage. Idolatry being spiritual adultery, the displeasure of God against it is fitly called jealousy.” Patriarchs and Prophets, 305, 306.
“Ta, CHÚA, Đức Chúa Trời của ngươi, là một Đức Chúa Trời ghen tuông.” Mối quan hệ gần gũi và thiêng liêng giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài được trình bày dưới hình ảnh hôn nhân. Vì thờ hình tượng là sự ngoại tình thuộc linh, nên sự bất bình của Đức Chúa Trời đối với điều đó xứng đáng được gọi là sự ghen. Tổ phụ và Tiên tri, 305, 306.
God’s jealousy is especially manifested against idolatry, and it is not a coincidence that the first abomination in Ezekiel chapter eight is “an image of jealousy.”
Sự ghen tuông của Đức Chúa Trời đặc biệt được bày tỏ chống lại việc thờ hình tượng, và không phải là sự trùng hợp khi điều gớm ghiếc đầu tiên trong Ê-xê-chi-ên chương tám là "một hình tượng ghen tuông."
And it came to pass in the sixth year, in the sixth month, in the fifth day of the month, as I sat in mine house, and the elders of Judah sat before me, that the hand of the Lord God fell there upon me. Then I beheld, and lo a likeness as the appearance of fire: from the appearance of his loins even downward, fire; and from his loins even upward, as the appearance of brightness, as the colour of amber. And he put forth the form of an hand, and took me by a lock of mine head; and the spirit lifted me up between the earth and the heaven, and brought me in the visions of God to Jerusalem, to the door of the inner gate that looketh toward the north; where was the seat of the image of jealousy, which provoketh to jealousy. And, behold, the glory of the God of Israel was there, according to the vision that I saw in the plain. Then said he unto me, Son of man, lift up thine eyes now the way toward the north. So I lifted up mine eyes the way toward the north, and behold northward at the gate of the altar this image of jealousy in the entry. Ezekiel 8:1–5.
Và xảy ra, trong năm thứ sáu, tháng thứ sáu, ngày mồng năm của tháng, khi tôi ngồi trong nhà mình và các trưởng lão của Giu-đa ngồi trước mặt tôi, thì tay của Chúa là Đức Chúa Trời giáng trên tôi tại đó. Bấy giờ tôi nhìn, kìa, có một hình dạng giống như vẻ lửa: từ chỗ lưng hông Ngài trở xuống thì là lửa; còn từ lưng hông trở lên thì như sự rực rỡ sáng chói, như màu hổ phách. Ngài đưa ra như hình một bàn tay, nắm tôi bởi một lọn tóc trên đầu; và Thần cất tôi lên giữa đất và trời, đem tôi trong những khải tượng của Đức Chúa Trời đến Giê-ru-sa-lem, đến cửa của cổng trong quay về hướng bắc, nơi có chỗ đặt hình tượng ghen tuông, là điều khiến ghen tuông. Kìa, vinh hiển của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ở đó, y như khải tượng tôi đã thấy nơi đồng bằng. Ngài phán với tôi: Hỡi con người, bây giờ hãy ngước mắt nhìn về hướng bắc. Vậy tôi ngước mắt nhìn về hướng bắc, và kìa, về phía bắc, tại cổng của bàn thờ có hình tượng ghen tuông ấy ở lối vào. Ê-xê-chi-ên 8:1-5.
The image of jealousy is the first of four escalating abominations that Ezekiel is shown. The image of jealousy represents the beginning of the first of four generations of escalating rebellion in Adventism. The first generation began in 1863.
Hình tượng ghen tuông là điều gớm ghiếc đầu tiên trong bốn điều gớm ghiếc leo thang mà Ê-xê-chi-ên được cho thấy. Hình tượng ghen tuông tượng trưng cho sự khởi đầu của thế hệ thứ nhất trong bốn thế hệ bội nghịch leo thang trong phong trào Phục Lâm. Thế hệ thứ nhất bắt đầu vào năm 1863.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“Each of the ancient prophets spoke less for their own time than for ours, so that their prophesying is in force for us. ‘Now all these things happened unto them for ensamples: and they are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come.’ 1 Corinthians 10:11. ‘Not unto themselves, but unto us they did minister the things, which are now reported unto you by them that have preached the gospel unto you with the Holy Ghost sent down from heaven; which things the angels desire to look into.’ 1 Peter 1:12. . . .
“Mỗi vị tiên tri thời xưa nói cho thời đại chúng ta nhiều hơn là cho chính thời đại của họ, nên lời tiên tri của họ có hiệu lực đối với chúng ta. ‘Vả, mọi sự ấy đã xảy đến cho họ để làm gương cho chúng ta; và đã được chép lại để răn bảo chúng ta, là những kẻ đang sống vào thời cuối cùng của thế gian.’ 1 Cô-rinh-tô 10:11. ‘Ấy không phải cho chính mình họ, nhưng là cho chúng ta mà họ đã phục vụ những điều hiện nay đã được rao báo cho anh em bởi những người đã giảng Tin Lành cho anh em nhờ Đức Thánh Linh từ trời sai xuống; những điều ấy các thiên sứ cũng ao ước được xem thấu.’ 1 Phi-e-rơ 1:12....”
“The Bible has accumulated and bound up together its treasures for this last generation. All the great events and solemn transactions of Old Testament history have been, and are, repeating themselves in the church in these last days.” Selected Messages, book 3, 338, 339.
Kinh Thánh đã tích lũy và gom góp các kho tàng của mình lại cho thế hệ sau rốt này. Mọi biến cố trọng đại và những sự việc trang nghiêm trong lịch sử Cựu Ước đã và đang tái diễn trong hội thánh trong những ngày sau rốt này. Selected Messages, quyển 3, 338, 339.