The parable of the ten virgins illustrates the experience of the Adventist people.
Dụ ngôn mười trinh nữ minh họa kinh nghiệm của dân sự Cơ Đốc Phục Lâm.
“The parable of the ten virgins of Matthew 25 also illustrates the experience of the Adventist people.” The Great Controversy, 393.
Dụ ngôn mười trinh nữ trong Ma-thi-ơ 25 cũng minh họa kinh nghiệm của dân sự Phục Lâm. Cuộc Đại Tranh Chiến, 393.
Millerite Adventists fulfilled the parable to the very letter.
Các tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm Millerite đã ứng nghiệm dụ ngôn đúng từng chữ.
“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.
Tôi thường được nhắc đến dụ ngôn mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan, và năm người dại. Dụ ngôn này đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, vì nó có sự áp dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc thời gian chấm dứt. Review and Herald, ngày 19 tháng 8 năm 1890.
The history of the movement of the first angel represents the movement of the third angel, and the ultimate focus of the parable is whether the virgins possess the oil, which is the message of the latter rain.
Lịch sử phong trào thiên sứ thứ nhất tiêu biểu cho phong trào thiên sứ thứ ba, và trọng tâm cuối cùng của dụ ngôn là liệu các cô trinh nữ có dầu, tức sứ điệp về mưa cuối mùa, hay không.
“There is a world lying in wickedness, in deception, and delusion, in the very shadow of death,—asleep, asleep. Who are feeling travail of soul to awaken them? What voice can reach them? My mind is carried to the future when the signal will be given, ‘Behold the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him.’ But some will have delayed to obtain the oil for replenishing their lamps, and too late they will find that character, which is represented by the oil, is not transferable. That oil is the righteousness of Christ. It represents character, and character is not transferable. No man can secure it for another. Each must obtain for himself a character purified from every stain of sin.” Bible Echo, May 4, 1896.
“Có một thế giới đang nằm trong sự gian ác, lừa dối và mê lầm, ngay dưới bóng của sự chết—ngủ mê, ngủ mê. Ai đang chịu nỗi thống khổ trong linh hồn để đánh thức họ? Tiếng nói nào có thể chạm đến họ? Tâm trí tôi hướng về tương lai, khi tín hiệu sẽ được phát ra: ‘Kìa Chàng Rể đến; hãy đi ra đón Ngài.’ Nhưng có người sẽ chậm trễ trong việc lấy dầu để châm thêm cho đèn mình, và đến khi quá muộn họ mới thấy rằng tính cách—điều được tượng trưng bởi dầu ấy—không thể truyền cho nhau. Dầu ấy chính là sự công bình của Đấng Christ. Nó tượng trưng cho tính cách, và tính cách thì không thể truyền cho người khác. Không ai có thể đạt được nó thay cho người khác. Mỗi người phải tự mình có được một tính cách được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi.” Bible Echo, ngày 4 tháng 5, 1896.
The “oil” in the parable represents “character,” and also the “righteousness of Christ.” A sanctified character is only produced by those who eat God’s Word.
"Dầu" trong dụ ngôn tượng trưng cho "tính cách", và cả "sự công bình của Đấng Christ". Một tính cách được thánh hóa chỉ được hình thành nơi những người ăn Lời Đức Chúa Trời.
Sanctify them through thy truth: thy word is truth. John 17:17.
Xin Cha thánh hóa họ trong lẽ thật; lời Cha là lẽ thật. Giăng 17:17.
The “oil” is also the messages of God’s Spirit.
"dầu" cũng là những sứ điệp của Thần Linh của Đức Chúa Trời.
“God is dishonored when we do not receive the communications which he sends us. Thus we refuse the golden oil which he would pour into our souls to be communicated to those in darkness.” Review and Herald, July 20, 1897.
Danh Chúa bị xúc phạm khi chúng ta không tiếp nhận những thông điệp Ngài gửi cho chúng ta. Như vậy, chúng ta khước từ dầu vàng mà Ngài muốn tuôn đổ vào linh hồn chúng ta để truyền cho những người ở trong tối tăm. Review and Herald, ngày 20 tháng 7, 1897.
The “oil” is the messages of God’s Word that conveys the sanctifying presence of Christ’s righteousness. In the parable of the ten virgins, which is also the prophecy of Habakkuk chapter two, the message of the Midnight Cry, which is the message of Christ’s righteousness, as represented by the message of Jones and Waggoner in the rebellion of 1888.
“Dầu” là những thông điệp từ Lời của Đức Chúa Trời, chuyển tải sự hiện diện thánh hóa của sự công chính của Đấng Christ. Trong dụ ngôn mười trinh nữ, vốn cũng là lời tiên tri ở Habakkuk chương hai, thông điệp về Tiếng Kêu Nửa Đêm — tức là thông điệp về sự công chính của Đấng Christ — được thể hiện qua thông điệp của Jones và Waggoner trong cuộc nổi loạn năm 1888.
“The Lord in His great mercy sent a most precious message to His people through Elders Waggoner and Jones. This message was to bring more prominently before the world the uplifted Saviour, the sacrifice for the sins of the whole world. It presented justification through faith in the Surety; it invited the people to receive the righteousness of Christ, which is made manifest in obedience to all the commandments of God. Many had lost sight of Jesus. They needed to have their eyes directed to His divine person, His merits, and His changeless love for the human family. All power is given into His hands, that He may dispense rich gifts unto men, imparting the priceless gift of His own righteousness to the helpless human agent. This is the message that God commanded to be given to the world. It is the third angel’s message, which is to be proclaimed with a loud voice, and attended with the outpouring of His Spirit in a large measure.” Testimonies to Ministers, 91.
"Trong lòng thương xót lớn lao của Ngài, Chúa đã sai đến cho dân Ngài một sứ điệp vô cùng quý báu qua các Mục sư Waggoner và Jones. Sứ điệp này nhằm đưa Đấng Cứu Rỗi được tôn cao — sự hy sinh vì tội lỗi của cả thế gian — ra trước thế gian một cách nổi bật hơn. Nó trình bày sự xưng công chính bởi đức tin nơi Đấng Bảo Lãnh; và kêu gọi mọi người tiếp nhận sự công bình của Đấng Christ, điều được bày tỏ qua sự vâng phục tất cả các điều răn của Đức Chúa Trời. Nhiều người đã không còn nhìn thấy Chúa Giê-su. Họ cần được hướng mắt về thân vị thần thánh của Ngài, công trạng của Ngài, và tình yêu bất biến của Ngài đối với gia đình nhân loại. Mọi quyền phép đều đã được trao vào tay Ngài, để Ngài có thể ban phát những ân tứ phong phú cho loài người, truyền ban món quà vô giá là chính sự công bình của Ngài cho con người bất lực. Đây là sứ điệp mà Đức Chúa Trời truyền phải trao cho thế gian. Ấy là sứ điệp của thiên sứ thứ ba, phải được công bố lớn tiếng và kèm theo sự tuôn đổ Thánh Linh của Ngài một cách dồi dào." "Lời Chứng cho Các Mục Sư, 91."
The message is the message of the latter rain.
Sứ điệp ấy là sứ điệp về mưa cuối mùa.
“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời giáng xuống, và cả trái đất sẽ được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.” Review and Herald, ngày 21 tháng 4 năm 1891.
When the mighty angel descended on September 11, 2001, the latter rain began to sprinkle and the history of the Millerites as represented in the parable of the ten virgins and Habakkuk chapter two began to repeat. It was then that God’s last day people ate the book that was in the angel’s hand, and in so doing were led back to Jeremiah’s old paths, and thus became the watchmen that were to sound the warning trumpet. The trumpet warning was the Laodicean message represented by Isaiah as a loud cry.
Khi thiên sứ quyền năng giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, mưa cuối mùa bắt đầu rơi lất phất, và lịch sử của những người theo Miller, như được thể hiện trong dụ ngôn mười trinh nữ và Ha-ba-cúc đoạn hai, bắt đầu lặp lại. Chính khi ấy, dân sự của Đức Chúa Trời trong ngày sau rốt đã ăn cuốn sách ở trong tay thiên sứ, và qua đó được dẫn trở lại những nẻo xưa của Giê-rê-mi, và như vậy trở thành những người lính canh để thổi kèn cảnh báo. Tiếng kèn cảnh báo ấy là sứ điệp La-ô-đi-xê, được Ê-sai mô tả như một tiếng kêu lớn.
Cry aloud, spare not, lift up thy voice like a trumpet, and show my people their transgression, and the house of Jacob their sins. Isaiah 58:1.
Hãy kêu to, đừng nín lặng; hãy cất tiếng ngươi lên như kèn, tỏ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ. Ê-sai 58:1.
The reform movement of the first and the third angels begin at a “time of the end.” At that point there is an “increase of knowledge” which will test the generation then living, but only after the knowledge is published as a formalized message. Thereafter the formalized message is “empowered”, and the empowerment is marked by the descent of an angel. The descent of the angel identifies Habakkuk’s debate and two classes begin to identify a message that is either the true or the counterfeit message of the latter rain. The faithful then become God’s watchmen who begin to blow a warning trumpet message.
Phong trào cải cách của thiên sứ thứ nhất và thứ ba bắt đầu vào một "thời kỳ cuối cùng." Tại thời điểm đó có một "sự gia tăng hiểu biết" sẽ thử nghiệm thế hệ đang sống khi ấy, nhưng chỉ sau khi sự hiểu biết ấy được công bố dưới dạng một thông điệp đã được hệ thống hóa. Sau đó, thông điệp đã được hệ thống hóa được "ban thêm quyền năng", và việc được ban quyền năng ấy được đánh dấu bởi sự giáng xuống của một thiên sứ. Sự giáng xuống của thiên sứ làm rõ cuộc tranh luận của Ha-ba-cúc, và hai nhóm bắt đầu nhận diện một thông điệp, hoặc là thông điệp chân thật của mưa muộn, hoặc là thông điệp giả mạo. Bấy giờ những người trung tín trở thành những người canh gác của Đức Chúa Trời, bắt đầu thổi tiếng kèn cảnh báo.
The true trumpet message is based upon the light represented upon Habakkuk’s two tables. It is the warning to Laodicea, and the warning that identifies the sins of God’s people. The debate escalates until the first disappointment, when the one class becomes the “assembly of mockers,” and the true watchmen are called to return to the zeal for the message they formerly manifested before the disappointment. As the watchmen returned, they recognized that they were in the “tarrying time”, and that the message that had failed, was actually going to be fulfilled, but in God’s order. That message was developed over a brief period of time (but a period of time nonetheless), and when the message arrives it is represented as the message of “the Midnight Cry”, which is simply an increase of the message that began to be empowered when the angel descended.
Sứ điệp kèn chân thật dựa trên ánh sáng được trình bày trên hai bảng của Ha-ba-cúc. Đó là lời cảnh cáo gửi đến La-ô-đi-xê, và là lời cảnh cáo vạch ra những tội lỗi của dân Đức Chúa Trời. Cuộc tranh luận leo thang cho đến nỗi thất vọng đầu tiên, khi một nhóm trở thành “hội của kẻ nhạo báng”, và những người lính canh chân thật được kêu gọi trở lại lòng nhiệt thành đối với sứ điệp mà họ từng bày tỏ trước nỗi thất vọng. Khi những người lính canh trở lại, họ nhận ra rằng họ đang ở trong “thời kỳ trì hoãn”, và rằng sứ điệp vốn đã thất bại thực ra sẽ được ứng nghiệm, nhưng theo trật tự của Đức Chúa Trời. Sứ điệp ấy được phát triển trong một khoảng thời gian ngắn (nhưng dẫu sao cũng là một khoảng thời gian), và khi sứ điệp ấy đến, nó được gọi là sứ điệp “Tiếng Kêu Nửa Đêm”, vốn đơn giản là sự gia tăng của sứ điệp đã bắt đầu được thêm quyền năng khi thiên sứ giáng xuống.
At the arrival of the message, a separation between those who had accepted the position of watchmen at the descent of the angel, and those who refused was fully accomplished. That separation identifies the point where the seal is impressed upon the one hundred and forty-four thousand, in advance of the outpouring of the latter rain without the “measuring” that was placed upon the latter rain that began when the angel descended.
Khi sứ điệp đến, sự phân rẽ giữa những người đã chấp nhận vai trò người canh gác khi thiên sứ giáng xuống và những người từ chối đã được hoàn tất trọn vẹn. Sự phân rẽ ấy xác định thời điểm ấn được đóng trên một trăm bốn mươi bốn nghìn, trước khi cơn mưa muộn được đổ ra mà không có “sự đo lường” vốn đã được áp đặt lên cơn mưa muộn bắt đầu khi thiên sứ giáng xuống.
The history of the Millerites is an illustration of the latter rain during the sealing of the one hundred and forty-four thousand. In that history the debate of Habakkuk was based upon a true and a false latter rain message. Paul identifies one class as those that have a love of the truth, and the other class as those who receive strong delusion for they do not have a love of the truth, and because they have believed a “lie.”
Lịch sử của phong trào Miller là một minh họa về mưa rào cuối mùa trong thời kỳ đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn. Trong lịch sử đó, cuộc tranh luận của Ha-ba-cúc dựa trên một sứ điệp mưa rào cuối mùa chân thật và một sứ điệp mưa rào cuối mùa giả. Phao-lô chỉ ra một nhóm là những người có lòng yêu mến lẽ thật, và nhóm kia là những người chịu lấy sự lầm lạc mạnh bởi họ không có lòng yêu mến lẽ thật và đã tin một "điều dối trá".
The Millerite movement represents a development of truth that increases in knowledge and power from “the time of the end,” all the way through until the outpouring of the Holy Spirit at the Midnight Cry. The Millerite movement identified certain specific waymarks that are paralleled, such as a “time of the end,” a “formalizing” of the message represented by the “increase of knowledge”, an “empowerment” of the message that is marked by an angel descending, a “first disappointment” that introduces the parable of the ten virgins, an outpouring of the Holy Spirit represented as “the Midnight Cry”, and then a final “second disappointment”, where a dispensational door is “closed” and another dispensational door is “opened”.
Phong trào Millerite đại diện cho một sự phát triển của lẽ thật, gia tăng về tri thức và quyền năng kể từ “thời kỳ cuối cùng”, xuyên suốt cho đến khi Đức Thánh Linh được tuôn đổ trong “Tiếng Kêu Nửa Đêm”. Phong trào Millerite xác định một số cột mốc cụ thể có tính song song, như một “thời kỳ cuối cùng”, một sự “chính thức hóa” của sứ điệp được biểu thị bởi “sự gia tăng tri thức”, một sự “thêm quyền năng” cho sứ điệp được đánh dấu bởi việc một thiên sứ giáng xuống, một “sự thất vọng thứ nhất” giới thiệu Dụ ngôn Mười Trinh Nữ, một sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh được biểu thị là “Tiếng Kêu Nửa Đêm”, và rồi một “sự thất vọng thứ hai” cuối cùng, nơi một cánh cửa của một thời kỳ được “đóng” và một cánh cửa của một thời kỳ khác được “mở”.
“God has given the messages of Revelation 14 their place in the line of prophecy, and their work is not to cease till the close of this earth’s history. The first and second angel’s messages are still truth for this time, and are to run parallel with this which follows. The third angel proclaims his warning with a loud voice. ‘After these things,’ said John, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power, and the earth was lightened with his glory.’ In this illumination, the light of all the three messages is combined.” The 1888 Materials, 804.
Đức Chúa Trời đã đặt các sứ điệp của Khải Huyền 14 vào vị trí của chúng trong dòng chảy của lời tiên tri, và công việc của chúng sẽ không chấm dứt cho đến khi lịch sử của trái đất này khép lại. Các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai vẫn là lẽ thật cho thời này, và sẽ song hành với sứ điệp tiếp theo. Thiên sứ thứ ba công bố lời cảnh báo của mình lớn tiếng. 'Sau những điều ấy,' Giăng nói, 'tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn, và trái đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy.' Trong sự soi sáng này, ánh sáng của cả ba sứ điệp được kết hợp lại. The 1888 Materials, 804.
The Millerite movement, which typifies the movements of the one hundred and forty-four thousand, was bound up in the prophecies of the twenty-three hundred years and the twenty-five hundred and twenty years of Daniel chapter eight, verses thirteen and fourteen. “The time of the end,” arrived at the conclusion of “seven times” of God’s indignation against the northern kingdom of Israel. The formalization of Miller’s message in 1831, arrived two hundred and twenty years after the production of the King James Bible.
Phong trào Millerite, vốn tiêu biểu cho các phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, gắn liền với những lời tiên tri về hai nghìn ba trăm năm và hai nghìn năm trăm hai mươi năm trong sách Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba và mười bốn. “Thời kỳ cuối cùng” đã đến vào lúc kết thúc “bảy lần” cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với vương quốc phía bắc của Israel. Sự chính thức hóa sứ điệp của Miller vào năm 1831 diễn ra hai trăm hai mươi năm sau khi Kinh Thánh King James được xuất bản.
“Mr. Miller, like those moved out by this message in other countries, first thought to fulfil his commission by writing and publishing in the public journals and in pamphlets. He first published his views in the Vermont Telegraph, a Baptist paper, printed in Brandon, Vt. This was in the year 1831.” John Loughborough, The Great Second Advent Movement, 120.
"Ông Miller, cũng như những người ở các quốc gia khác được sứ điệp này thúc đẩy, ban đầu nghĩ rằng sẽ hoàn thành sứ mệnh bằng cách viết và đăng trên báo chí và trong các tập sách nhỏ. Lần đầu tiên ông công bố quan điểm của mình trên tờ Vermont Telegraph, một tờ báo Baptist, in tại Brandon, Vermont. Đó là vào năm 1831." John Loughborough, The Great Second Advent Movement, 120.
The movement of the third angel’s “time of the end,” arrived in 1989, at the conclusion of one hundred and twenty-six years from the rebellion of 1863. “One hundred and twenty-six” is a symbol of the “seven times.” Both movements began with a fulfillment of the “seven times.”
Phong trào của thiên sứ thứ ba về "thời kỳ cuối cùng" đã xuất hiện vào năm 1989, vào thời điểm kết thúc một trăm hai mươi sáu năm kể từ cuộc nổi loạn năm 1863. "Một trăm hai mươi sáu" là một biểu tượng của "bảy lần". Cả hai phong trào đều bắt đầu bằng sự ứng nghiệm của "bảy lần".
The message of the movement of the third angel was formalized in 1996, with the production of a series of articles titled, The Time of the End, that had been published in a magazine called, Our Firm Foundation. Those articles were published two hundred and twenty years after the Declaration of Independence in 1776. The message of both movements was formalized two hundred and twenty years after a history that was directly linked to the message that arrived at the end of the two hundred and twenty years.
Sứ điệp của phong trào thiên sứ thứ ba đã được chính thức hóa vào năm 1996, với việc biên soạn một loạt bài viết mang tựa đề “The Time of the End”, được đăng trên một tạp chí có tên “Our Firm Foundation”. Những bài viết đó được xuất bản hai trăm hai mươi năm sau Tuyên ngôn Độc lập năm 1776. Sứ điệp của cả hai phong trào đều được chính thức hóa hai trăm hai mươi năm sau một lịch sử có liên hệ trực tiếp với sứ điệp đã đến vào cuối hai trăm hai mươi năm ấy.
The number “two hundred and twenty” represents the connection (a link) between the “seven times,” of God’s indignation against the southern kingdom of Judah that began in 677 BC, and the beginning of the twenty-three hundred years of Daniel chapter eight, verse fourteen, in 457 BC. The number two hundred and twenty links the two prophecies together, and the two prophecies were presented together in the foundational verses of Adventism, which is Daniel chapter eight, verses thirteen and fourteen. In those verses Christ introduced himself prophetically as “that certain saint,” which is the translation from the Hebrew word “Palmoni,” which means the “Wonderful Numberer”.
Con số “hai trăm hai mươi” biểu thị mối liên hệ (một liên kết) giữa “bảy lần,” tức cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại vương quốc miền nam, là Giu-đa, bắt đầu vào năm 677 TCN, và khởi đầu của hai nghìn ba trăm năm trong Đa-ni-ên chương tám, câu mười bốn, vào năm 457 TCN. Con số hai trăm hai mươi liên kết hai lời tiên tri lại với nhau, và hai lời tiên tri ấy đã được trình bày cùng nhau trong các câu Kinh Thánh nền tảng của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, là Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba và mười bốn. Trong những câu ấy, Đấng Christ đã tự giới thiệu một cách tiên tri là “vị thánh kia,” tức bản dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ của từ “Palmoni,” có nghĩa là “Đấng Đếm Lường Kỳ Diệu”.
The Wonderful Numberer introduces the two visions that represent the two lines of prophecy, in the very two verses, that Sister White identifies as the central pillar of Adventism. The starting point is joined by the symbolic link of two hundred and twenty years to when they are fulfilled in 1844. Habakkuk chapter two concludes with verse twenty, thus marking the number “two hundred and twenty” with a different expression by the Wonderful Numberer, for the verse identifies a primary characteristic of the antitypical Day of Atonement that began at that date.
Đấng Đếm Lạ Lùng giới thiệu hai khải tượng đại diện cho hai dòng tiên tri, ngay trong chính hai câu mà Bà White xác định là trụ cột trung tâm của Phong trào Phục Lâm. Điểm khởi đầu được nối với thời điểm chúng được ứng nghiệm vào năm 1844 bằng mối liên kết biểu tượng là hai trăm hai mươi năm. Sách Ha-ba-cúc, chương hai, kết thúc ở câu hai mươi, qua đó đánh dấu con số “hai trăm hai mươi” bằng một cách diễn đạt khác của Đấng Đếm Lạ Lùng, vì câu ấy nêu bật một đặc điểm chủ yếu của Ngày Lễ Chuộc Tội phản hình đã khởi đầu vào thời điểm đó.
But the Lord is in his holy temple: let all the earth keep silence before him. Habakkuk 2:20.
Nhưng Chúa ngự trong đền thánh của Ngài: toàn cõi đất hãy nín lặng trước mặt Ngài. Ha-ba-cúc 2:20.
The two prophetic periods that represent the central pillar of Adventism, which were introduced directly by the Wonderful Numberer are linked together by two hundred and twenty years, and Jesus (the Wonderful Numberer), who always identifies the end of a thing with the beginning of a thing, marked their ending in October 22, 1844, with the number two hundred and twenty.
Hai thời kỳ tiên tri đại diện cho trụ cột trung tâm của Phục Lâm giáo, được Đấng Kỳ Diệu Đếm Số trực tiếp giới thiệu, được liên kết với nhau bằng khoảng thời gian hai trăm hai mươi năm; và Đức Chúa Giê-su (Đấng Kỳ Diệu Đếm Số), Đấng luôn đồng nhất điểm kết thúc của một điều với điểm khởi đầu của điều ấy, đã đánh dấu sự kết thúc của chúng vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 bằng con số hai trăm hai mươi.
The movement of the first angel, as with the movement of the third angel, began at a “time of the end” (1798 and 1989 respectively), where the “seven times,” of Leviticus twenty-six is identified. The next waymark in both histories is marked with a conclusion of two hundred and twenty years, also a prophetic characteristic of the “seven times,” for the starting points of the two visions (chazon and mareh), represent a period of two hundred and twenty years that links them together.
Phong trào của thiên sứ thứ nhất, cũng như phong trào của thiên sứ thứ ba, bắt đầu vào một “thời kỳ cuối cùng” (lần lượt là 1798 và 1989), nơi “bảy lần” của Lê-vi Ký 26 được xác định. Mốc tiếp theo trong cả hai lịch sử được đánh dấu bởi sự kết thúc của 220 năm, cũng là một đặc điểm tiên tri của “bảy lần”, vì các điểm khởi đầu của hai khải tượng (chazon và mareh) biểu thị một giai đoạn 220 năm liên kết chúng với nhau.
The production of the King James Bible in 1611, the formalization of Miller’s message as published in the Vermont Telegraph newspaper, the production of the Declaration of Independence, and the publishing of The Time of the End in the Our Firm Foundation magazine, were all publications. The beginning and ending of both two hundred and twenty-year periods represent a publication as the historical waymark. The number “two hundred and twenty” is a symbol of a prophetic link, and all four publications are linked by being publications, and also by the message represented as the “increase of knowledge” in their respective histories.
Việc xuất bản Kinh Thánh King James năm 1611, sự chính thức hóa thông điệp của Miller như đã đăng trên tờ báo Vermont Telegraph, việc công bố Tuyên ngôn Độc lập, và việc đăng tải The Time of the End trên tạp chí Our Firm Foundation, đều là các ấn phẩm. Cả điểm mở đầu và kết thúc của hai giai đoạn kéo dài hai trăm hai mươi năm đều được đánh dấu bằng một ấn phẩm như một cột mốc lịch sử. Con số “hai trăm hai mươi” là biểu tượng của một mối liên kết mang tính tiên tri, và cả bốn ấn phẩm được liên kết với nhau bởi việc chúng đều là ấn phẩm, đồng thời bởi thông điệp được thể hiện như “sự gia tăng của tri thức” trong các lịch sử tương ứng của chúng.
The Bible in 1611, represents the communication of the gospel from the heavenly courts to mankind. Miller’s message was set within the context of time prophecies, and the two sacred charts of Habakkuk make it easily recognized that Miller’s message was illustrated graphically by lines of history. “Vermont” means “a green mountain”, and according to inspiration “green” is a symbol of faith.
Kinh Thánh năm 1611 biểu thị sự truyền đạt phúc âm từ các triều đình trên trời đến nhân loại. Sứ điệp của Miller được đặt trong bối cảnh các lời tiên tri về thời gian, và hai biểu đồ thánh của Ha-ba-cúc khiến người ta dễ dàng nhận ra rằng sứ điệp của Miller đã được minh họa một cách trực quan bằng những dòng lịch sử. "Vermont" có nghĩa là "một ngọn núi xanh", và theo sự linh hứng, "màu xanh" là một biểu tượng của đức tin.
“This dream gave me hope. The green cord represented faith to my mind, and the beauty and simplicity of trusting in God began to dawn upon my soul.” Christian Experience and Teachings, 28.
“Giấc mơ này đã đem lại cho tôi hy vọng. Sợi dây màu xanh lá tượng trưng cho đức tin trong tâm trí tôi, và vẻ đẹp cùng sự giản dị của việc tin cậy nơi Đức Chúa Trời bắt đầu ló rạng trong linh hồn tôi.” Kinh nghiệm và Giáo huấn Cơ Đốc, 28.
Miller’s message was formalized and delivered from the faithful church, for a “mountain” in the last days is a “church”.
Sứ điệp của Miller đã được chính thức hóa và được công bố từ hội thánh trung tín, vì trong những ngày sau rốt, "núi" là "hội thánh".
And it shall come to pass in the last days, that the mountain of the Lord’s house shall be established in the top of the mountains, and shall be exalted above the hills; and all nations shall flow unto it. And many people shall go and say, Come ye, and let us go up to the mountain of the Lord, to the house of the God of Jacob; and he will teach us of his ways, and we will walk in his paths: for out of Zion shall go forth the law, and the word of the Lord from Jerusalem. Isaiah 2:2, 3.
Và sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt rằng, núi của nhà Đức Chúa Trời sẽ được lập trên đỉnh các núi, và được tôn cao hơn các đồi; mọi dân tộc sẽ tuôn đến đó. Nhiều dân sẽ đi và nói: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Chúa Trời, đến nhà Đức Chúa Trời của Gia-cốp; Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối của Ngài, và chúng ta sẽ bước đi trong các nẻo của Ngài; vì từ Si-ôn luật pháp sẽ ra, và lời của Đức Chúa Trời từ Giê-ru-sa-lem. Ê-sai 2:2, 3.
The formalized testing message of Miller came from the faithful church, and the publication called The Telegraph, represents a message from heaven as did the King James Bible, for the word “telegraph”, which is created from two Greek words, is a message from far off. The first word (tele) means “distant or far off,” and the second word (grapho), “to write or record.” Together they mean “to write or transmit at a distance.” In 1611, God, through the production of the King James Bible transmitted His message from heaven, and at the end of two hundred and twenty years, Miller’s message, as first formalized in 1831 in the Vermont Telegraph, also transmitted God’s message from heaven. That message was the “increase of knowledge” that was opened at “the time of the end” in 1798, which then produced a three-step testing process for that generation. That history typified the history of Future for America.
Thông điệp thử nghiệm đã được chính thức hóa của Miller đến từ Hội thánh trung tín, và ấn phẩm có tên The Telegraph đại diện cho một thông điệp từ trời như Kinh Thánh King James đã làm, vì từ “telegraph”, được tạo thành từ hai từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là một thông điệp từ nơi xa. Từ thứ nhất (tele) nghĩa là “xa hoặc ở xa”, và từ thứ hai (grapho) nghĩa là “viết hoặc ghi chép”. Kết hợp lại, chúng có nghĩa là “viết hoặc truyền đi từ xa”. Năm 1611, Đức Chúa Trời, qua việc ấn hành Kinh Thánh King James, đã truyền đạt sứ điệp của Ngài từ trời; và vào cuối hai trăm hai mươi năm, sứ điệp của Miller, lần đầu được chính thức hóa năm 1831 trên tờ Vermont Telegraph, cũng đã truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời từ trời. Sứ điệp đó là “sự gia tăng hiểu biết” được mở ra vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798, và rồi tạo nên một quy trình thử nghiệm ba bước cho thế hệ ấy. Lịch sử đó làm mẫu hình cho lịch sử của Future for America.
The Declaration of Independence in 1776, represents the beginning of the earth beast of Revelation thirteen. It represents the beginning of the United States, and in so doing identifies the restriction of independence at the end of the United States. The message of Future for America (as the name suggests), identifies the ending that is typified in the beginning with the publication of the Declaration of Independence. Two hundred and twenty years later in 1996, the ministry that had produced The Time of the End magazine, received the legal entity that had previously been named, Future for America. That year, The Time of the End magazine, that was made up of articles that had been run in the publication called Our Firm Foundation, was published.
Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 đánh dấu sự khởi đầu của con thú từ đất trong Khải Huyền mười ba. Nó đánh dấu sự khởi đầu của Hoa Kỳ, và qua đó chỉ ra sự hạn chế đối với nền độc lập vào thời kỳ cuối của Hoa Kỳ. Thông điệp của Future for America (như tên gọi đã gợi ý) xác định sự kết thúc được báo trước ngay từ buổi đầu bởi việc công bố Tuyên ngôn Độc lập. Hai trăm hai mươi năm sau, vào năm 1996, tổ chức mục vụ từng xuất bản tạp chí The Time of the End đã tiếp nhận pháp nhân vốn trước đó mang tên Future for America. Năm đó, tạp chí The Time of the End, gồm các bài viết từng đăng trên ấn phẩm có tên Our Firm Foundation, đã được xuất bản.
The name of the ministry Future for America, addresses the history of the Declaration of Independence, for that publication marked the beginning of the United States, and Jesus always illustrates the end with the beginning. The title of the publication being The Time of the End, addresses both “the time of the end” in 1989, but also the end of probationary time when Michael stands up. The formalized message in the publication (Daniel eleven, verse forty through forty-five), was unsealed with the collapse of the Soviet Union in 1989 (the time of the end), and the verses that were unsealed present a sequence of history that moves forward from 1989 until verse one of chapter twelve, identifies Michael standing up, and human probation closing.
Tên của mục vụ Future for America đề cập đến lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập, vì văn kiện ấy đánh dấu sự khởi đầu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và Chúa Giê-su luôn minh họa sự kết thúc qua sự khởi đầu. Ấn phẩm có tiêu đề The Time of the End vừa đề cập đến “thời kỳ cuối cùng” vào năm 1989, đồng thời cũng nói đến sự kết thúc thời kỳ ân điển khi Mi-ca-ên đứng dậy. Thông điệp được hệ thống hóa trong ấn phẩm (Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi đến bốn mươi lăm) đã được mở ấn khi Liên Xô sụp đổ năm 1989 (thời kỳ cuối cùng), và các câu được mở ấn đó trình bày một chuỗi lịch sử tiến triển từ năm 1989 cho đến câu một của chương mười hai, nơi nêu rõ Mi-ca-ên đứng dậy và thời kỳ ân điển của loài người khép lại.
From the publication of Declaration of Independence, in 1776, unto the publication of The Time of the End magazine, equates to two hundred and twenty years, and the beginning and ending are addressing the same prophetic subjects. The publication of The Time of the End, was compiled with the chapters which had first being published as articles in the publication Our Firm Foundation, and represents the prophetic truth that without holding to the foundational truths of the Millerite movement (which is “our firm foundation”), it is impossible to understand the “increase of knowledge” at the “time of the end” in 1989.
Từ khi Tuyên ngôn Độc lập được công bố vào năm 1776 đến khi tạp chí The Time of the End được xuất bản là 220 năm, và điểm khởi đầu lẫn điểm kết thúc đều đề cập đến cùng những chủ đề tiên tri. Ấn phẩm The Time of the End được biên soạn từ các chương vốn trước đó đã được đăng dưới dạng bài viết trong ấn phẩm Our Firm Foundation, và khẳng định chân lý tiên tri rằng nếu không giữ vững các lẽ thật nền tảng của phong trào Millerite (đó là “nền tảng vững chắc của chúng ta”), thì không thể hiểu được “sự gia tăng của tri thức” vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1989.
The waymark represented as “the time of the end,” and the waymark representing the “formalizing” of the message in the parallel histories of the first and third angel’s movements both contain the prophetic elements of the “seven times” of Leviticus twenty-six. The next waymark in the parallel histories is the empowerment of the message as marked by the descent of either the angel of Revelation ten, on August 11, 1840, or the angel of Revelation eighteen, on September 11, 2001. The fulfillment of the second woe of Revelation chapter nine, brought the angel of Revelation ten down, and the fulfillment of the third woe of Revelation chapter ten, brought the angel of Revelation chapter eighteen down.
Cột mốc được gọi là “thời kỳ tận cùng” và cột mốc biểu thị sự “chính thức hóa” của sứ điệp trong các lịch sử song song của phong trào thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ ba đều bao hàm các yếu tố tiên tri của “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu. Cột mốc tiếp theo trong các lịch sử song song là sự ban quyền năng cho sứ điệp, được đánh dấu bởi sự giáng xuống của thiên sứ của Khải Huyền chương mười vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, hoặc của thiên sứ của Khải Huyền chương mười tám vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sự ứng nghiệm của khốn nạn thứ hai trong Khải Huyền chương chín đã khiến thiên sứ của Khải Huyền chương mười giáng xuống, và sự ứng nghiệm của khốn nạn thứ ba trong Khải Huyền chương mười đã khiến thiên sứ của Khải Huyền chương mười tám giáng xuống.
In the parallel histories the latter rain begins to “sprinkle” at the point when the angel descends. At that point the message is “empowered” by the confirmation of the predicted event. For the Millerites it was the cessation of the Ottoman supremacy in fulfillment of the time prophecy of Islam of the second Woe in Revelation chapter nine, verse fifteen. For the movement of the one hundred and forty-four thousand it was the “angering of the nations,” a prophecy of Islam of the third Woe which is in the time of the seventh trumpet in Revelation ten, verse seven, that was fulfilled when the great buildings of New York City were brought down.
Trong các lịch sử song song, mưa cuối mùa bắt đầu "rưới xuống" vào thời điểm thiên sứ giáng xuống. Khi đó sứ điệp được "thêm quyền năng" nhờ sự xác nhận của biến cố đã được tiên báo. Đối với những người Millerite, đó là sự chấm dứt quyền bá chủ của Đế quốc Ottoman, ứng nghiệm lời tiên tri về thời gian liên quan đến Hồi giáo thuộc khốn nạn thứ hai trong Khải Huyền chương chín, câu mười lăm. Đối với phong trào một trăm bốn mươi bốn nghìn, đó là "sự chọc giận các dân tộc", một lời tiên tri liên quan đến Hồi giáo thuộc khốn nạn thứ ba, trong thời kỳ tiếng kèn thứ bảy ở Khải Huyền chương mười, câu bảy, đã được ứng nghiệm khi các tòa nhà lớn của Thành phố New York bị đánh sập.
Each of the major waymarks of the parallel histories have direct links to the work of the Wonderful Numberer, who places His signature on the relationship of the two visions that represent twenty-three hundred years and twenty-five hundred and twenty years. The prophetic watchmen who are raised up at the descent of the angel blow a warning trumpet that includes the message to Laodicea, that in 1856, was directly linked to the unsealing of the greater light of the “seven times.” The waymark of Habakkuk’s two tables, represented by the 1843 and the 1850 pioneer charts, which both graphically represent the “seven times,” arrived between the descent of the angel and the “first disappointment” in each parallel history.
Mỗi dấu mốc lớn trong các lịch sử song song đều có liên hệ trực tiếp với công việc của Đấng Kỳ Diệu Đếm Số, Đấng đặt dấu ấn của Ngài lên mối liên hệ giữa hai khải tượng đại diện cho hai nghìn ba trăm năm và hai nghìn năm trăm hai mươi năm. Những lính canh tiên tri được dấy lên vào lúc thiên sứ giáng xuống thổi kèn cảnh báo, trong đó có sứ điệp gửi cho La-ô-đi-xê; vào năm 1856, sứ điệp ấy đã trực tiếp gắn liền với việc mở ấn về ánh sáng lớn hơn của “bảy lần.” Dấu mốc về Hai Bảng của Ha-ba-cúc, được thể hiện qua các biểu đồ tiên phong năm 1843 và 1850, cả hai đều minh họa trực quan “bảy lần,” đã xuất hiện giữa sự giáng xuống của thiên sứ và “sự thất vọng thứ nhất” trong mỗi lịch sử song song.
The waymark of the “tarrying time” is directly linked to the failed prediction of 1843, which was a prediction of the fulfillment of both the twenty-three hundred years, and also the twenty-five hundred and twenty years. The message of the Midnight Cry was the identification of the soon-coming fulfillment of those two periods of prophetic time. The closed dispensational “door” at the last waymark identifies the fulfillment of those two prophetic periods, and marks where the seventh or Jubilee trumpet begins to sound. Every waymark in each history is directly linked to the “seven times,” and the “seven times” represents the thread that ties both histories together, and both histories represent the message of the latter rain.
Cột mốc của “thời kỳ chờ đợi” gắn trực tiếp với lời dự đoán thất bại năm 1843, vốn là một dự đoán về sự ứng nghiệm của cả hai khoảng thời gian: hai nghìn ba trăm năm và hai nghìn năm trăm hai mươi năm. Sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm là sự xác định rằng sự ứng nghiệm của hai giai đoạn thời kỳ tiên tri ấy sắp xảy ra. Cánh cửa “thời kỳ” đã đóng tại cột mốc cuối cùng cho thấy sự ứng nghiệm của hai giai đoạn tiên tri đó, và đánh dấu nơi tiếng kèn thứ bảy, hay kèn Năm Hỷ Lễ, bắt đầu vang lên. Mỗi cột mốc trong mỗi lịch sử đều gắn trực tiếp với “bảy lần”, và “bảy lần” là sợi chỉ xuyên suốt nối liền cả hai lịch sử với nhau, và cả hai lịch sử ấy cùng trình bày sứ điệp của mưa muộn.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“‘To them which stumble at the word, being disobedient,’ Christ is a rock of offense. But ‘the stone which the builders disallowed, the same is made the head of the corner.’ Like the rejected stone, Christ in His earthly mission had borne neglect and abuse. He was ‘despised and rejected of men; a man of sorrows, and acquainted with grief: . . . He was despised, and we esteemed Him not.’ Isaiah 53:3. But the time was near when He would be glorified. By the resurrection from the dead He would be declared ‘the Son of God with power.’ Romans 1:4. At His second coming He would be revealed as Lord of heaven and earth. Those who were now about to crucify Him would recognize His greatness. Before the universe the rejected stone would become the head of the corner.
"'Đối với những kẻ vì không vâng phục mà vấp ngã trước lời,' Đấng Christ là tảng đá gây vấp phạm. Nhưng 'hòn đá mà thợ xây nhà đã loại bỏ, chính nó đã trở nên đá góc nhà.' Giống như hòn đá bị loại bỏ, Đấng Christ trong sứ mệnh trần thế của Ngài đã chịu sự khinh thường và ngược đãi. Ngài đã bị 'khinh dể và bị người ta chán bỏ; một người chịu đau thương, quen thuộc sự sầu não: . . . Ngài đã bị khinh dể, và chúng ta chẳng coi trọng Ngài.' Ê-sai 53:3. Nhưng thời điểm Ngài sẽ được vinh hiển đã gần kề. Bởi sự sống lại từ cõi chết, Ngài sẽ được tuyên bố là 'Con Đức Chúa Trời đầy quyền năng.' Rô-ma 1:4. Trong lần tái lâm, Ngài sẽ được tỏ ra là Chúa của trời và đất. Những kẻ hiện sắp đóng đinh Ngài sẽ nhận ra sự vĩ đại của Ngài. Trước toàn thể vũ trụ, hòn đá bị loại bỏ ấy sẽ trở nên đá góc nhà."
“And on ‘whomsoever it shall fall, it will grind him to powder.’ The people who rejected Christ were soon to see their city and their nation destroyed. Their glory would be broken, and scattered as the dust before the wind. And what was it that destroyed the Jews? It was the rock which, had they built upon it, would have been their security. It was the goodness of God despised, the righteousness spurned, the mercy slighted. Men set themselves in opposition to God, and all that would have been their salvation was turned to their destruction. All that God ordained unto life they found to be unto death. In the Jews’ crucifixion of Christ was involved the destruction of Jerusalem. The blood shed upon Calvary was the weight that sank them to ruin for this world and for the world to come. So it will be in the great final day, when judgment shall fall upon the rejecters of God’s grace. Christ, their rock of offense, will then appear to them as an avenging mountain. The glory of His countenance, which to the righteous is life, will be to the wicked a consuming fire. Because of love rejected, grace despised, the sinner will be destroyed.
Và "hễ ai bị nó rơi trúng, nó sẽ nghiền nát người ấy." Những người đã từ chối Đấng Christ chẳng bao lâu sẽ thấy thành của họ và dân tộc của họ bị hủy diệt. Vinh quang của họ sẽ bị đập vỡ, và tan tác như bụi trước gió. Vậy điều gì đã hủy diệt người Do Thái? Chính là tảng đá mà, nếu họ xây dựng trên đó, thì đã là sự an toàn của họ. Ấy là lòng nhân lành của Đức Chúa Trời bị khinh bỉ, sự công chính bị khước từ, lòng thương xót bị xem thường. Con người tự lập mình chống lại Đức Chúa Trời, và mọi điều lẽ ra đem lại sự cứu rỗi cho họ đều bị biến thành sự hủy diệt của họ. Mọi điều Đức Chúa Trời đã định cho sự sống, đối với họ hóa ra là sự chết. Trong việc người Do Thái đóng đinh Đấng Christ có hàm chứa sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem. Huyết đổ ra trên Gô-gô-tha là sức nặng nhấn chìm họ vào sự diệt vong, cho đời này và đời sau. Cũng sẽ như vậy trong ngày cuối cùng vĩ đại, khi sự phán xét giáng trên những kẻ khước từ ân điển của Đức Chúa Trời. Đấng Christ, hòn đá vấp phạm của họ, bấy giờ sẽ hiện ra với họ như một ngọn núi báo thù. Vinh quang của dung nhan Ngài, vốn là sự sống đối với người công chính, sẽ là lửa thiêu nuốt đối với kẻ ác. Vì tình yêu bị chối bỏ, ân điển bị khinh bỉ, kẻ có tội sẽ bị hủy diệt.
“By many illustrations and repeated warnings, Jesus showed what would be the result to the Jews of rejecting the Son of God. In these words He was addressing all in every age who refuse to receive Him as their Redeemer. Every warning is for them. The desecrated temple, the disobedient son, the false husbandmen, the contemptuous builders, have their counterpart in the experience of every sinner. Unless he repent, the doom which they foreshadowed will be his.” The Desire of Ages, 599, 600.
Bằng nhiều minh họa và những lời cảnh cáo lặp đi lặp lại, Chúa Giê-su cho thấy hậu quả sẽ đến với người Do Thái vì đã từ chối Con Đức Chúa Trời. Qua những lời ấy, Ngài đang nói với hết thảy mọi người ở mọi thời đại, những ai từ chối tiếp nhận Ngài làm Đấng Cứu Chuộc của mình. Mọi lời cảnh cáo đều dành cho họ. Đền thờ bị làm ô uế, người con bất tuân, những tá điền gian ác, những người thợ xây khinh miệt—tất cả đều có phần tương đồng trong kinh nghiệm của mọi tội nhân. Nếu người ấy không ăn năn, án phạt mà những điều ấy báo trước sẽ giáng trên chính người ấy. The Desire of Ages, 599, 600.