In the history of the movement of both the first and third angel, the message can be summarized by the second angel’s message.

Trong lịch sử phong trào của cả thiên sứ thứ nhất lẫn thiên sứ thứ ba, sứ điệp có thể được tóm lược trong sứ điệp của thiên sứ thứ hai.

And there followed another angel, saying, Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication. Revelation 14:8.

Lại có một thiên sứ khác theo sau, nói rằng: “Ba-by-lôn, thành lớn kia, đã sụp đổ, đã sụp đổ, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu cơn thịnh nộ của sự tà dâm nó.” Khải Huyền 14:8.

The second angel identifies the triple application of prophecy, for those who wish to see. The second angel is presenting a prophetic message, and the message is that Babylon has twice fallen. It identifies Babylon as that “great city” which is identified in chapters seventeen and eighteen as Modern Babylon. Modern Babylon has twice fallen, and her fall was produced because she made all nations “drink of the wrath of her fornication.” Her fornication was accomplished with the kings of the earth. That relationship allowed her to employ the strength of the kings she committed fornication with to carry out her “wrath,” which is the persecution she brings upon God’s faithful people.

Thiên sứ thứ hai nêu rõ sự áp dụng ba lần của lời tiên tri, cho những ai muốn nhận ra. Thiên sứ thứ hai đang trình bày một sứ điệp tiên tri, và sứ điệp ấy là Ba-by-lôn đã sụp đổ hai lần. Sứ điệp ấy xác định Ba-by-lôn là “thành lớn” vốn được xác định trong các chương mười bảy và mười tám là Ba-by-lôn hiện đại. Ba-by-lôn hiện đại đã sụp đổ hai lần, và sự sụp đổ của nó xảy ra vì nó đã khiến muôn dân “uống cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó.” Sự tà dâm của nó được thực hiện với các vua trên đất. Mối quan hệ đó cho phép nó sử dụng sức mạnh của các vua mà nó đã phạm tội tà dâm với họ để thi hành “cơn thịnh nộ” của mình, tức là sự bắt bớ mà nó giáng trên dân sự trung tín của Đức Chúa Trời.

Wine is a doctrine, and the doctrine that she leads all nations to drink of, is the false doctrine that claims that worshipping the sun will produce peace. All nations accept the “mark” of her authority, which is the worship of the sun, as represented by Sunday worship. The acceptance of all nations of that “mark,” is brought about by the power of the United States, but it is done so in the time of the escalating warfare being brought upon planet earth by the third Woe of Islam. The nations accept the “wine” of her wrath, based upon a promise of “peace and safety.”

Rượu là một giáo lý, và giáo lý mà nàng dẫn dắt mọi quốc gia uống lấy là giáo lý sai lầm khẳng định rằng thờ phượng mặt trời sẽ đem lại hòa bình. Mọi quốc gia chấp nhận "dấu ấn" thẩm quyền của nàng, tức là việc thờ phượng mặt trời, được biểu thị qua sự thờ phượng vào ngày Chủ nhật. Việc tất cả các quốc gia chấp nhận "dấu ấn" ấy được thúc đẩy bởi quyền lực của Hoa Kỳ, nhưng điều đó diễn ra trong thời kỳ chiến tranh leo thang do "Tai họa thứ ba" của Hồi giáo giáng xuống địa cầu. Các quốc gia chấp nhận "rượu" thịnh nộ của nàng, dựa trên lời hứa về "hòa bình và an ninh."

“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.

"Giờ đây lại có tin rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị quét sạch bởi một cơn sóng thần? Điều đó tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn mọc lên ở đó, tầng này chồng tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh hoàng nào sẽ diễn ra khi Chúa trỗi dậy để làm rung chuyển dữ dội trái đất! Bấy giờ những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp đến trên đất. Nhưng tôi không có ánh sáng cụ thể nào về điều gì sẽ xảy ra cho New York, chỉ biết rằng một ngày nào đó những tòa nhà lớn ở đó sẽ bị lật đổ bởi sự xoay chuyển và đảo lộn của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt hiện diện trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, một chạm của quyền năng vĩ đại của Ngài, là những công trình đồ sộ này sẽ đổ sụp. Những cảnh tượng sẽ diễn ra, sự kinh khiếp của chúng vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta." Review and Herald, ngày 5 tháng 7, 1906.

The second angels’ message was repeated on September 11, 2001, when the great buildings of New York City were thrown down by a touch of God’s hand.

Sứ điệp của thiên sứ thứ hai đã được nhắc lại vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi các tòa nhà lớn của thành phố New York bị đánh sập bởi một cái chạm của bàn tay Đức Chúa Trời.

“The prophet says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils’ (Revelation 18:1, 2). This is the same message that was given by the second angel. Babylon is fallen, ‘because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). What is that wine?—Her false doctrines. She has given to the world a false sabbath instead of the Sabbath of the fourth commandment, and has repeated the falsehood that Satan first told Eve in Eden—the natural immortality of the soul. Many kindred errors she has spread far and wide, ‘teaching for doctrines the commandments of men’ (Matthew 15:9).

Nhà tiên tri nói, 'Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. Người kêu lớn tiếng một cách mạnh mẽ, rằng: Babylon lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ' (Revelation 18:1, 2). Đây là cùng một sứ điệp đã được thiên sứ thứ hai rao ra. Babylon đã sụp đổ, 'vì nàng đã làm cho mọi dân uống rượu thịnh nộ của sự tà dâm của nàng' (Revelation 14:8). Rượu ấy là gì?—Những giáo lý giả dối của nàng. Nàng đã đem đến cho thế gian một ngày Sa-bát giả thay cho ngày Sa-bát của điều răn thứ tư, và đã lặp lại điều dối trá mà Sa-tan trước hết nói với Ê-va trong Ê-đen—sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nhiều sai lầm cùng loại khác nàng đã truyền bá khắp nơi, 'lấy điều răn của loài người làm giáo lý mà dạy' (Matthew 15:9).

“When Jesus began His public ministry, He cleansed the Temple from its sacrilegious profanation. Among the last acts of His ministry was the second cleansing of the Temple. So in the last work for the warning of the world, two distinct calls are made to the churches. The second angel’s message is, ‘Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). And in the loud cry of the third angel’s message a voice is heard from heaven saying, ‘Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities’ (Revelation 18:4, 5).” Selected Messages, book 2, 118.

"Khi Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ công khai của Ngài, Ngài đã thanh tẩy Đền Thờ khỏi sự ô uế phạm thánh. Một trong những việc làm sau cùng của chức vụ Ngài là lần thanh tẩy Đền Thờ thứ hai. Vậy, trong công tác sau cùng để cảnh báo thế gian, có hai lời kêu gọi riêng biệt được gửi đến các hội thánh. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là: 'Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ, thành lớn kia, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó' (Khải Huyền 14:8). Và trong tiếng kêu lớn của sứ điệp thiên sứ thứ ba, có một tiếng từ trời phán rằng: 'Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi đừng dự phần vào tội lỗi của nó, và đừng nhận lấy các tai vạ của nó. Vì tội lỗi của nó đã lên đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ lại những gian ác của nó' (Khải Huyền 18:4, 5)." Selected Messages, quyển 2, trang 118.

Between September 11, 2001, and the soon-coming Sunday law in the United States, the first three verses of Revelation eighteen are fulfilled, for it is at the Sunday law, that the call out of Babylon begins.

Trong khoảng từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến luật ngày Chủ nhật sắp được ban hành tại Hoa Kỳ, ba câu đầu của Khải Huyền đoạn 18 được ứng nghiệm, vì chính khi có luật ngày Chủ nhật thì lời kêu gọi ra khỏi Babylon bắt đầu.

“Revelation 18 points to the time when, as the result of rejecting the threefold warning of Revelation 14:6–12, the church will have fully reached the condition foretold by the second angel, and the people of God still in Babylon will be called upon to separate from her communion. This message is the last that will ever be given to the world; and it will accomplish its work. When those that ‘believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness’ (2 Thessalonians 2:12), shall be left to receive strong delusion and to believe a lie, then the light of truth will shine upon all whose hearts are open to receive it, and all the children of the Lord that remain in Babylon will heed the call: ‘Come out of her, My people’ (Revelation 18:4).” The Great Controversy, 389, 390.

"Khải Huyền 18 chỉ đến thời điểm khi, do khước từ lời cảnh cáo ba phần của Khải Huyền 14:6-12, hội thánh sẽ hoàn toàn đạt đến tình trạng đã được thiên sứ thứ hai báo trước, và dân sự của Đức Chúa Trời còn ở trong Ba-by-lôn sẽ được kêu gọi tách khỏi sự thông công với nó. Sứ điệp này là sứ điệp cuối cùng sẽ được ban cho thế gian; và nó sẽ hoàn thành công việc của mình. Khi những kẻ 'không tin lẽ thật, mà ưa thích điều không công bình' (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:12) bị để mặc cho nhận lấy sự mê lầm mạnh mẽ và tin điều dối trá, thì ánh sáng của lẽ thật sẽ chiếu soi trên hết thảy những ai có tấm lòng mở ra để tiếp nhận, và mọi con cái của Chúa còn lại trong Ba-by-lôn sẽ nghe theo lời kêu gọi: 'Hãy ra khỏi nó, hỡi dân Ta' (Khải Huyền 18:4)." Cuộc Đại Tranh Chiến, 389, 390.

At the soon-coming Sunday law the former covenant people will receive strong delusion. From September 11, 2001, until the strong delusion is poured out at the Sunday law the second angel’s message is repeated, and the rejection represents the rejection of “the threefold warning of Revelation fourteen, verses six through twelve.” In this sense, the three angels are represented by the message of the second angel. The second angel’s message is Babylon is fallen, is fallen, and the second angel’s message is placed between the first and third message.

Khi luật Chủ nhật sắp được ban hành, những người từng là dân giao ước sẽ nhận lãnh một sự lừa dối mạnh mẽ. Từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 cho đến khi sự lừa dối mạnh mẽ được đổ ra khi luật Chủ nhật đến, sứ điệp của thiên sứ thứ hai được nhắc lại, và sự khước từ ấy tượng trưng cho việc khước từ “lời cảnh báo ba phần của Khải Huyền mười bốn, câu sáu đến mười hai.” Theo nghĩa này, ba thiên sứ được đại diện bởi sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là: “Ba-by-lôn đã sa ngã, đã sa ngã,” và sứ điệp của thiên sứ thứ hai được đặt giữa sứ điệp thứ nhất và thứ ba.

The pronouncement of the first voice in Revelation chapter eighteen, is a repetition of the second angel’s message, but it represents a rejection of all three angels of Revelation fourteen. The second angel’s message represents all three messages, and it possesses the signature of Alpha and Omega, for it was proclaimed in the history of the movement of the first angel, and then will be again in the movement of the third angel. The message identifies that Babylon has twice fallen, and in this prophetic sense it is identifying a “triple application of prophecy.”

Lời phán của tiếng thứ nhất trong Khải Huyền đoạn mười tám là sự lặp lại sứ điệp của thiên sứ thứ hai, nhưng nó biểu trưng cho sự khước từ cả ba thiên sứ của Khải Huyền đoạn mười bốn. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai đại diện cho cả ba sứ điệp và mang dấu ấn của An-pha và Ô-mê-ga, vì nó đã được rao truyền trong lịch sử của phong trào thiên sứ thứ nhất, và rồi sẽ lại được rao truyền trong phong trào thiên sứ thứ ba. Sứ điệp ấy xác định rằng Ba-by-lôn đã đổ hai lần, và theo nghĩa tiên tri này, nó chỉ ra một "sự áp dụng ba lần của lời tiên tri".

The first two times Babylon fell, as represented by Babel and Babylon, represent the final fall of modern Babylon. The twofold pronouncement of Babylon’s fall is bookended by the first and last message of the three angels. The structure of the three angels possesses the signature of Alpha and Omega, for the first message is identified as the “everlasting gospel,” which by definition means it is the eternal gospel, or the same gospel message for all time. The message of the third angel is the gospel message that warns against receiving the mark of the beast, so the first message and the third message, which are the first and the last messages, are the same messages, for both are the gospel.

Hai lần sụp đổ đầu tiên của Babylon, như được thể hiện qua Babel và Babylon, tượng trưng cho lần sụp đổ sau cùng của Babylon hiện đại. Lời tuyên bố kép về sự sụp đổ của Babylon được mở đầu và kết thúc bởi sứ điệp thứ nhất và sứ điệp cuối trong bộ ba sứ điệp của các thiên sứ. Cấu trúc của ba sứ điệp này mang dấu ấn Alpha và Omega, vì sứ điệp thứ nhất được gọi là "Tin Lành đời đời," mà theo định nghĩa nghĩa là Tin Lành vĩnh cửu, tức cùng một sứ điệp Tin Lành cho mọi thời. Sứ điệp của thiên sứ thứ ba là sứ điệp Tin Lành cảnh báo chống lại việc nhận dấu của con thú; vì vậy sứ điệp thứ nhất và sứ điệp thứ ba, tức sứ điệp đầu và sứ điệp cuối, là cùng một sứ điệp, vì cả hai đều là Tin Lành.

Alpha and Omega placed His signature of “Truth” upon the three messages, for the Hebrew word translated as “truth,” was created by the Wonderful Linguist by combining the first, thirteenth and last letters of the Hebrew alphabet. “Thirteen” as a symbol represents rebellion, and it is in the second message that the rebellion of Babylon, as represented by her false doctrines and fornication, is identified. As already noted, the second message also contains the signature of Alpha and Omega, for the message that was proclaimed in Millerite history to announce the opening of the judgment is repeated in the movement of the third angel to identify the close of judgment.

Alpha và Omega đã đặt dấu ấn “Lẽ Thật” của Ngài lên ba sứ điệp, vì từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “lẽ thật” đã được Nhà ngôn ngữ học Kỳ diệu tạo nên bằng cách kết hợp chữ cái thứ nhất, thứ mười ba và chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. “Mười ba” như một biểu tượng đại diện cho sự phản nghịch, và chính trong sứ điệp thứ hai mà sự phản nghịch của Ba-by-lôn, được thể hiện qua các giáo lý giả dối và sự tà dâm của nó, được nhận diện. Như đã lưu ý, sứ điệp thứ hai cũng mang dấu ấn của Alpha và Omega, vì sứ điệp đã được rao giảng trong lịch sử Millerite để báo tin việc mở ra cuộc phán xét được lặp lại trong phong trào thiên sứ thứ ba để xác định sự kết thúc của cuộc phán xét.

The fall of Babel in Genesis chapter eleven, is the first reference of the fall of Babylon, and the witness of Nimrod’s highhanded rebellion contains the signature of the first angel’s message. As demonstrated in previous articles all three messages of the three angels are also located within the first angel. In the message of the first angel the expression, “fear God,” represents the first message, and the expression, “give Him glory,” represents the second angel’s message. The third message is found in the first, when it announces that “the hour of His judgment is come.”

Sự sụp đổ của Ba-bên trong Sáng-thế Ký chương mười một là sự đề cập đầu tiên đến sự sụp đổ của Ba-by-lôn, và tường thuật về cuộc phản loạn ngang ngược của Nim-rốt mang dấu ấn của sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Như đã trình bày trong các bài viết trước, cả ba sứ điệp của ba thiên sứ cũng đều được bao hàm trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, cụm từ “hãy kính sợ Đức Chúa Trời” đại diện cho sứ điệp thứ nhất, và cụm từ “hãy tôn vinh Ngài” đại diện cho sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Sứ điệp thứ ba được tìm thấy trong sứ điệp thứ nhất, khi nó tuyên bố rằng “giờ phán xét của Ngài đã đến.”

In Nimrod’s fall, which is the first fall of Babylon, the three steps of the three angels is also identified. It is represented by the expression “go to.”

Trong sự sa ngã của Nimrod, là lần sa ngã đầu tiên của Ba-by-lôn, ba bước của ba thiên sứ cũng được xác định. Điều đó được biểu thị bằng cụm từ "go to".

And the whole earth was of one language, and of one speech. And it came to pass, as they journeyed from the east, that they found a plain in the land of Shinar; and they dwelt there. And they said one to another, Go to, let us make brick, and burn them throughly. And they had brick for stone, and slime had they for morter. And they said, Go to, let us build us a city and a tower, whose top may reach unto heaven; and let us make us a name, lest we be scattered abroad upon the face of the whole earth. And the Lord came down to see the city and the tower, which the children of men builded. And the Lord said, Behold, the people is one, and they have all one language; and this they begin to do: and now nothing will be restrained from them, which they have imagined to do. Go to, let us go down, and there confound their language, that they may not understand one another’s speech. So the Lord scattered them abroad from thence upon the face of all the earth: and they left off to build the city. Therefore is the name of it called Babel; because the Lord did there confound the language of all the earth: and from thence did the Lord scatter them abroad upon the face of all the earth. Genesis 11:1–9.

Toàn cõi đất chỉ có một ngôn ngữ và cùng một lời nói. Khi họ đi từ phương đông, họ gặp một đồng bằng trong xứ Shinar và cư trú tại đó. Họ nói với nhau: Nào, chúng ta hãy làm gạch và nung cho thật kỹ. Họ dùng gạch thay cho đá, và dùng nhựa đường làm vữa. Họ lại nói: Nào, chúng ta hãy xây cho mình một thành và một tháp, đỉnh vươn tới trời; hãy làm cho mình một tên tuổi, kẻo chúng ta bị tản lạc khắp mặt đất. Đức Chúa Trời xuống để xem thành và tháp mà con cháu loài người đã xây. Đức Chúa Trời phán: Kìa, dân ấy là một, và tất cả đều có cùng một ngôn ngữ; họ đã bắt đầu làm điều này, thì từ nay không có điều gì họ định làm mà bị ngăn cản. Nào, chúng ta hãy xuống và làm rối loạn ngôn ngữ của họ, để họ không hiểu lời nhau. Vậy Đức Chúa Trời làm cho họ tản ra từ đó khắp mặt đất, và họ thôi không xây thành nữa. Bởi vậy, nơi ấy được gọi là Ba-bên, vì tại đó Đức Chúa Trời đã làm rối loạn tiếng nói của cả đất; và từ chỗ ấy Đức Chúa Trời đã khiến họ tản ra khắp mặt đất. Sáng Thế Ký 11:1-9.

The first fall of Babylon, represented as Babel, is expressed in “go to,” three times. The three angels are all represented in the first angel. Daniel chapter one also represents the first angel’s message, and as previously identified in these articles, the three-step testing process of the everlasting gospel is found in step one, when Daniel refused to eat the Babylonian diet, and chose instead to give glory to God. His first test was the test of the first angel who descended in Millerite history on August 11, 1840 with a little book, which John was commanded to eat.

Sự đổ ngã lần thứ nhất của Ba-by-lôn, được biểu trưng qua Ba-bên, được bày tỏ bằng cụm “hãy đi” ba lần. Ba thiên sứ đều được thể hiện trong thiên sứ thứ nhất. Đa-ni-ên chương một cũng đại diện cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, và như đã nêu trước đó trong các bài viết này, tiến trình thử nghiệm ba bước của Phúc âm đời đời được thấy ở bước thứ nhất, khi Đa-ni-ên từ chối ăn chế độ ăn của Ba-by-lôn và thay vào đó chọn tôn vinh Đức Chúa Trời. Bài thử thách đầu tiên của ông là bài thử thách của thiên sứ thứ nhất, vị đã giáng xuống trong lịch sử phong trào Miller vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, với một quyển sách nhỏ mà Giăng được truyền phải ăn.

He was then given a visual test of ten days, which demonstrated a distinction between those who ate the Babylonian diet, and those who, like Daniel, chose to eat pulse. The second test produced two classes, just as did the arrival of the second angel in 1844. That second test was followed by the test at the end of three years, where Nebuchadnezzar manifested his judgment, as represented by the arrival of the third angel on October 22, 1844.

Ông được cho trải qua một phép thử bằng quan sát trong mười ngày, phép thử này cho thấy sự khác biệt giữa những người ăn khẩu phần Babylon và những người, như Đa-ni-ên, chọn ăn rau đậu. Bài thử thứ hai tạo ra hai hạng người, cũng như sự xuất hiện của thiên sứ thứ hai vào năm 1844 đã làm. Bài thử thứ hai đó được tiếp nối bởi bài thử vào cuối ba năm, khi Nê-bu-cát-nết-sa bày tỏ sự phán xét của mình, như được biểu thị bởi sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

After the flood Noah was instructed to build altars and when doing so he was never to cut or trim the rocks he used, nor was he to use mortar for his altar. The rebel Nimrod used bricks and mortar, counterfeiting the altar of the covenant relationship that had been directed to be employed by those who repopulated the earth. The first “go to” in Nimrod’s testimony represents a “covenant of death” that was formed in rebellion to the first message. The second “go to” represents the construction of a tower (a Church) and a city (a State). The second “go to” in Nimrod’s testimony was the combination of Church and State, which is the fornication of the second angel’s message. The third “go to” represented the judgment of scattering the people and confounding the language.

Sau cơn lụt, Nô-ê được chỉ dạy phải xây các bàn thờ, và khi làm như vậy ông không bao giờ được đẽo gọt những hòn đá ông dùng, cũng không được dùng vữa cho bàn thờ của mình. Kẻ phản nghịch Nim-rốt dùng gạch và vữa, giả mạo bàn thờ của mối quan hệ giao ước đã được chỉ dạy để những người tái lập dân cư trên đất sử dụng. Lời "hãy nào" thứ nhất trong lời chứng của Nim-rốt tượng trưng cho một "giao ước của sự chết" được hình thành trong sự phản loạn chống lại sứ điệp thứ nhất. Lời "hãy nào" thứ hai tượng trưng cho việc xây dựng một tháp (một Hội Thánh) và một thành (một Nhà Nước). Lời "hãy nào" thứ hai trong lời chứng của Nim-rốt là sự kết hợp giữa Hội Thánh và Nhà Nước, tức sự tà dâm của sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Lời "hãy nào" thứ ba tượng trưng cho sự phán xét tản lạc dân chúng và làm rối loạn ngôn ngữ.

The first fall of Babylon typifies the first angel’s message, and the second fall of Babylon in the two manifestations that establish the elements of modern Babylon’s fall, typifies the second angel’s message. It does so for the fall of Babylon as recorded in the book of Daniel represents a beginning and an ending, as does the second angel’s message which is proclaimed in the beginning and ending of Adventism. Sister White specifically identified that the judgment brought upon Belshazzar had been typified by the judgment that was brought upon Nebuchadnezzar.

Sự sụp đổ thứ nhất của Ba-by-lôn tiêu biểu cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, và sự sụp đổ thứ hai của Ba-by-lôn, qua hai biểu hiện xác lập các yếu tố của sự sụp đổ của Ba-by-lôn hiện đại, tiêu biểu cho sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Điều ấy là vì sự sụp đổ của Ba-by-lôn như được ghi chép trong sách Đa-ni-ên biểu thị một khởi đầu và một kết thúc, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ hai được rao báo ở phần khởi đầu và phần kết thúc của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm. Bà White xác định rõ rằng sự phán xét giáng trên Bên-xát-sa đã được làm hình bóng bởi sự phán xét giáng trên Nê-bu-cát-nết-xa.

To the last ruler of Babylon, as in type to its first, had come the sentence of the divine Watcher: ‘O king, . . . to thee it is spoken; The kingdom is departed from thee.’ Daniel 4:31.” Prophets and Kings, 533.

“Đối với vị vua cuối cùng của Ba-by-lôn, cũng như theo hình bóng đối với vị vua đầu tiên của nó, bản án của Đấng Canh Giữ thiêng liêng đã đến: ‘Hỡi vua,... người ta đã phán với ngươi rằng: Nước đã lìa khỏi ngươi.’ Đa-ni-ên 4:31.” Tiên tri và Các Vua, 533.

The second fall of Babylon has the signature of Alpha and Omega, as does the second angel’s message. The signature is represented by the fall of the first and the last kings of Babylon. Nebuchadnezzar’s judgment and fall is represented as “seven times,” which is a reference to the “seven times” of Leviticus twenty-six, and the “scattering” in Nimrod’s judgment and fall is also a reference to the “seven times” of Leviticus twenty-six. Belshazzar’s judgment and fall is represented by the fiery letters that add up to twenty-five hundred and twenty, also identifying a reference to the “seven times,” of Leviticus twenty-six.

Sự sụp đổ lần thứ hai của Ba-by-lôn mang dấu ấn của Anpha và Ômêga, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ hai. Dấu ấn ấy được biểu thị qua sự sụp đổ của vị vua đầu tiên và vị vua cuối cùng của Ba-by-lôn. Sự phán xét và sụp đổ của Nê-bu-cát-nết-sa được biểu thị là "bảy lần", ám chỉ đến "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, và sự "tản lạc" trong sự phán xét và sụp đổ của Nim-rốt cũng là một ám chỉ đến "bảy lần" của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Sự phán xét và sụp đổ của Bên-xát-sa được biểu thị bằng những chữ lửa có tổng cộng là hai nghìn năm trăm hai mươi, cũng xác định một sự ám chỉ đến "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu.

A “triple application of prophecy” is established by the first two witnesses that identify and establish the characteristics of the third and final fulfillment. With the three falls of Babylon, the very message that identifies the fall of Babylon, also identifies the rule which the triple application of prophecy is based upon. The first two falls of Babylon identify the prophetic characteristics of the third and final fall.

Một “sự áp dụng ba lần của lời tiên tri” được xác lập bởi hai nhân chứng đầu tiên, những người nhận diện và xác lập các đặc điểm của sự ứng nghiệm thứ ba và sau cùng. Với ba lần sụp đổ của Ba-by-lôn, chính sứ điệp dùng để nhận diện sự sụp đổ của Ba-by-lôn cũng xác định quy tắc làm nền tảng cho sự áp dụng ba lần của lời tiên tri. Hai lần sụp đổ đầu tiên của Ba-by-lôn xác định các đặc điểm tiên tri của lần sụp đổ thứ ba và cuối cùng.

The Millerite history is repeated to the very letter in the history of Future for America. In Millerite history a compilation of rules which William Miller became familiar with, and employed to establish the framework of truth he used to present the message of the first angel, was a waymark of that history. A “triple application of prophecy” is one of the rules that has been compiled in these last days to establish the framework of truth in which the message of the third angel is identified.

Lịch sử Millerite được lặp lại một cách chính xác trong lịch sử của Future for America. Trong lịch sử Millerite, một tập hợp các quy tắc mà William Miller đã học hỏi và vận dụng để thiết lập khuôn khổ chân lý, khuôn khổ mà ông dùng để trình bày sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, đã trở thành một cột mốc của lịch sử ấy. “Sự áp dụng ba lần của lời tiên tri” là một trong những quy tắc đã được tổng hợp trong những ngày sau rốt này để thiết lập khuôn khổ chân lý trong đó sứ điệp của thiên sứ thứ ba được nhận diện.

The three manifestations of Rome, combined with the three manifestations of Babylon’s fall, are closely related, but have distinctions. The whore of Tyre, or Babylon, who commits fornication with the kings of the earth is one flesh with them, but she reigns over those kings as Jezebel reigned over king Ahab. Modern Rome is the beast of Revelation seventeen that the whore of Modern Babylon rides upon and reigns over.

Ba phương diện của La Mã, khi kết hợp với ba phương diện về sự sụp đổ của Ba-by-lôn, có liên hệ mật thiết với nhau, nhưng vẫn có những điểm khác biệt. Dâm phụ Ty-rơ, tức Ba-by-lôn, kẻ phạm dâm với các vua trên đất, là nhất thể với họ; nhưng nàng lại cai trị các vua ấy như Giê-sa-bên đã cai trị vua Ahab. La Mã hiện đại là con thú trong Khải Huyền đoạn mười bảy mà dâm phụ của Ba-by-lôn hiện đại cưỡi và cai trị.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“Then my eyes were taken from the glory, and I was pointed to the remnant on the earth. The angel said to them, ‘Will ye shun the seven last plagues? Will ye go to glory and enjoy all that God has prepared for those who love Him and are willing to suffer for His sake? If so, ye must die that ye may live. Get ready, get ready, get ready. Ye must have a greater preparation than ye now have, for the day of the Lord cometh, cruel both with wrath and fierce anger, to lay the land desolate and to destroy the sinners thereof out of it. Sacrifice all to God. Lay all upon His altar—self, property, and all, a living sacrifice. It will take all to enter glory. Lay up for yourselves treasure in heaven, where no thief can approach or rust corrupt. Ye must be partakers of Christ’s sufferings here if ye would be partakers with Him of His glory hereafter.’

Bấy giờ mắt tôi được rời khỏi cảnh vinh hiển, và tôi được chỉ cho thấy những người còn sót lại trên đất. Thiên sứ nói với họ: "Các ngươi có muốn tránh bảy tai vạ sau cùng chăng? Các ngươi có muốn vào trong vinh hiển và hưởng mọi điều Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho những người yêu mến Ngài và sẵn lòng chịu khổ vì cớ Ngài không? Nếu vậy, các ngươi phải chết để được sống. Hãy sẵn sàng, hãy sẵn sàng, hãy sẵn sàng. Các ngươi phải có sự chuẩn bị lớn hơn hiện nay, vì ngày của Chúa đang đến, tàn khốc với cơn thịnh nộ và giận dữ dữ dội, để làm cho đất trở nên hoang tàn và diệt trừ khỏi đó những kẻ phạm tội. Hãy dâng mọi sự cho Đức Chúa Trời. Hãy đặt hết thảy trên bàn thờ của Ngài: chính mình, tài sản, và mọi điều, như một của lễ sống. Phải dâng trọn mọi sự mới có thể vào vinh hiển. Hãy tích trữ cho mình của báu ở trên trời, nơi kẻ trộm không thể đến gần và rỉ sét cũng không thể làm hư hoại. Nếu muốn dự phần với Ngài trong vinh hiển về sau, các ngươi phải dự phần trong những sự thương khó của Đấng Christ tại đây."

“Heaven will be cheap enough, if we obtain it through suffering. We must deny self all along the way, die to self daily, let Jesus alone appear, and keep His glory continually in view. I saw that those who of late have embraced the truth would have to know what it is to suffer for Christ’s sake, that they would have trials to pass through that would be keen and cutting, in order that they may be purified and fitted through suffering to receive the seal of the living God, pass through the time of trouble, see the King in His beauty, and dwell in the presence of God and of pure, holy angels.

Thiên đàng sẽ chẳng là cái giá quá đắt, nếu chúng ta đạt được nó qua đau khổ. Chúng ta phải chối bỏ bản ngã suốt chặng đường, mỗi ngày chết đối với bản ngã, để chỉ một mình Chúa Giê-xu được tỏ hiện, và luôn giữ vinh hiển của Ngài trước mắt. Tôi thấy rằng những người mới đây đã tiếp nhận lẽ thật sẽ phải biết thế nào là chịu khổ vì cớ Đấng Christ, rằng họ sẽ có những thử thách phải trải qua thật gay gắt và cắt xé, hầu cho họ được tinh luyện và được chuẩn bị qua đau khổ để nhận ấn của Đức Chúa Trời hằng sống, vượt qua thời kỳ hoạn nạn, thấy Vua trong vẻ đẹp của Ngài, và ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời cùng các thiên sứ tinh sạch, thánh khiết.

“As I saw what we must be in order to inherit glory, and then saw how much Jesus had suffered to obtain for us so rich an inheritance, I prayed that we might be baptized into Christ’s sufferings, that we might not shrink at trials, but bear them with patience and joy, knowing what Jesus had suffered that we through His poverty and sufferings might be made rich. Said the angel, ‘Deny self; ye must step fast.’ Some of us have had time to get the truth and to advance step by step, and every step we have taken has given us strength to take the next. But now time is almost finished, and what we have been years learning, they will have to learn in a few months. They will also have much to unlearn and much to learn again. Those who would not receive the mark of the beast and his image when the decree goes forth, must have decision now to say, Nay, we will not regard the institution of the beast.” Early Writings, 67.

Khi tôi thấy chúng ta phải trở nên như thế nào để được thừa hưởng vinh hiển, và lại thấy Chúa Giê-su đã chịu khổ biết bao để giành cho chúng ta một cơ nghiệp phong phú đến thế, tôi cầu nguyện để chúng ta được báp-têm vào trong sự thương khó của Đấng Christ, hầu cho chúng ta không chùn bước trước các thử thách, nhưng chịu đựng chúng với sự nhẫn nại và vui mừng, biết Chúa Giê-su đã chịu khổ thế nào để nhờ sự nghèo khó và thương khó của Ngài chúng ta được trở nên giàu có. Thiên sứ nói: “Hãy chối bỏ bản ngã; các ngươi phải bước nhanh.” Một số người trong chúng ta đã có thời gian để tiếp nhận lẽ thật và tiến lên từng bước, và mỗi bước chúng ta đã đi đã ban cho chúng ta sức để đi bước kế tiếp. Nhưng giờ đây thì giờ hầu như đã chấm dứt, và điều mà chúng ta đã mất nhiều năm để học, họ sẽ phải học trong vài tháng. Họ cũng sẽ có nhiều điều phải bỏ đi và nhiều điều phải học lại. Những ai không muốn nhận dấu của con thú và ảnh tượng của nó khi chiếu chỉ được ban ra, phải có quyết định ngay bây giờ để nói: Không, chúng tôi sẽ không tuân theo thiết chế của con thú. Early Writings, 67.