In the beginning of ancient literal Israel and also the beginning of modern spiritual Israel, at the Red Sea crossing, and then at the great disappointment, a series of progressive tests began that ultimately arrived at the final test. The failure of that last test in the book of Numbers and in Millerite history marks the beginning of a wilderness wandering.

Ngay từ buổi đầu của Israel cổ đại theo nghĩa đen, tại cuộc vượt Biển Đỏ, và cũng ngay từ buổi đầu của Israel thuộc linh hiện đại, vào kỳ Đại Thất Vọng, đã bắt đầu một chuỗi thử thách tăng tiến, cuối cùng dẫn đến kỳ thử thách sau cùng. Sự thất bại của kỳ thử thách sau cùng ấy trong sách Dân Số Ký và trong lịch sử Millerite đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ lang thang trong đồng vắng.

“For forty years did unbelief, murmuring, and rebellion shut out ancient Israel from the land of Canaan. The same sins have delayed the entrance of modern Israel into the heavenly Canaan. In neither case were the promises of God at fault. It is the unbelief, the worldliness, unconsecration, and strife among the Lord’s professed people that have kept us in this world of sin and sorrow so many years.

Trong bốn mươi năm, sự vô tín, sự càu nhàu và sự phản nghịch đã ngăn không cho Israel xưa vào đất Ca-na-an. Những tội lỗi tương tự đã trì hoãn việc Israel ngày nay bước vào Ca-na-an trên trời. Trong cả hai trường hợp, lỗi không thuộc về các lời hứa của Đức Chúa Trời. Chính sự vô tín, tính thế gian, sự thiếu tận hiến và sự tranh cạnh giữa những người xưng mình là dân của Chúa đã giữ chúng ta trong thế giới đầy tội lỗi và sầu khổ này suốt biết bao năm.

“We may have to remain here in this world because of insubordination many more years, as did the children of Israel; but for Christ’s sake, His people should not add sin to sin by charging God with the consequence of their own wrong course of action.” Evangelism, 696.

Chúng ta có thể phải ở lại đây trong thế gian này vì sự không vâng phục thêm nhiều năm nữa, như con cái Israel đã như vậy; nhưng vì cớ Đấng Christ, dân sự của Ngài không nên thêm tội trên tội bằng cách đổ lỗi cho Đức Chúa Trời về những hậu quả do chính đường lối hành động sai trái của họ gây ra. Evangelism, 696.

At the end of ancient Israel’s history, as in the beginning there was a progressive testing process which ended when ancient literal Israel was taken into captivity in Babylon. At the end of modern spiritual Israel, they too will face a progressive testing process. That process ends when Laodicean Adventists are overthrown at the Sunday law. As with ancient Israel, modern Israel will be taken captive by spiritual Babylon.

Vào cuối lịch sử của Y-sơ-ra-ên cổ đại, cũng như lúc khởi đầu, đã có một tiến trình thử thách tiệm tiến; tiến trình ấy kết thúc khi Y-sơ-ra-ên thuộc thể cổ đại bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Đến hồi kết của Y-sơ-ra-ên thuộc linh thời nay, họ cũng sẽ đối diện với một tiến trình thử thách tiệm tiến. Tiến trình ấy kết thúc khi những người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê bị lật đổ vào thời điểm đạo luật Chủ nhật. Cũng như Y-sơ-ra-ên thời xưa, Y-sơ-ra-ên hiện đại sẽ bị Ba-by-lôn thuộc linh bắt lưu đày.

The Millerite movement that began prophetically in 1798, and ended officially in 1863, typifies the movement of the one hundred and forty-four thousand that began in 1989 and ends at the close of human probation and the Second Coming of Christ. Between the ending of the Millerite movement and the arrival of the mighty movement of the third angel, is the history of the legally registered Laodicean Seventh-day Adventist church.

Phong trào Millerite, bắt đầu theo ý nghĩa tiên tri vào năm 1798 và kết thúc chính thức vào năm 1863, là kiểu mẫu cho phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, khởi sự năm 1989 và kết thúc khi cửa ân điển cho loài người đóng lại và sự tái lâm của Đấng Christ. Giữa sự kết thúc của phong trào Millerite và sự xuất hiện của phong trào hùng mạnh của thiên sứ thứ ba là lịch sử của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy Laodicê được đăng ký hợp pháp.

“A distance of only eleven days’ journey lay between Sinai and Kadesh, on the borders of Canaan; and it was with the prospect of speedily entering the goodly land that the hosts of Israel resumed their march when the cloud at last gave the signal for an onward movement. Jehovah had wrought wonders in bringing them from Egypt, and what blessings might they not expect now that they had formally covenanted to accept Him as their Sovereign, and had been acknowledged as the chosen people of the Most High?” Patriarchs and Prophets, 376.

“Khoảng cách chỉ mười một ngày đường nằm giữa Sinai và Kadesh, ở biên giới Canaan; và với viễn cảnh sẽ sớm vào miền đất tốt lành ấy, các đạo quân của Israel đã tiếp tục cuộc hành trình khi đám mây cuối cùng đã ra hiệu phải tiến lên. Đức Giê-hô-va đã làm nên những kỳ công khi đưa họ ra khỏi Ai Cập, và còn biết bao ơn phước họ có thể trông đợi nữa, nay khi họ đã chính thức lập giao ước chấp nhận Ngài làm Chúa Tể của mình và đã được công nhận là dân được chọn của Đấng Tối Cao?” Tổ Phụ và Tiên Tri, 376.

Their short journey ended up being forty years, due to their unbelief and disobedience. Had they manifested a faith that was based upon their mighty deliverance out of slavery, they would have soon crossed over the Jordan river and entered into the Promised Land. Their first obstacle thereafter would have been the same obstacle that Joshua later took up. After forty years, literal Israel left the wilderness for the Promised Land, and Jericho was their first step, and it stands as a symbol of the power of God unto salvation unto everyone that believes. Jericho is also the symbol of the work that the Millerite movement was to confront in 1863, but they retreated into the wilderness. The symbolism of Elijah is directly connected with the symbolism of Jericho, and it is informative to consider Elijah’s historical connection with Jericho.

Hành trình ngắn của họ rốt cuộc kéo dài bốn mươi năm vì sự không tin và không vâng lời. Nếu họ bày tỏ một đức tin dựa trên sự giải cứu đầy quyền năng khỏi ách nô lệ, thì chẳng bao lâu họ đã băng qua sông Giô-đanh và vào Đất Hứa. Chướng ngại đầu tiên sau đó lẽ ra sẽ là cùng chướng ngại mà Giô-suê sau này đã đối mặt. Sau bốn mươi năm, Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen rời khỏi đồng vắng để đến Đất Hứa, và Giê-ri-cô là bước đầu tiên của họ, và nó là một biểu tượng về quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Giê-ri-cô cũng là biểu tượng của công việc mà phong trào Millerite phải đối diện vào năm 1863, nhưng họ đã rút lui vào đồng vắng. Biểu tượng của Ê-li liên hệ trực tiếp với biểu tượng của Giê-ri-cô, và thật hữu ích khi xem xét mối liên hệ lịch sử giữa Ê-li với Giê-ri-cô.

Now the rest of the acts of Omri which he did, and his might that he showed, are they not written in the book of the chronicles of the kings of Israel? So Omri slept with his fathers, and was buried in Samaria: and Ahab his son reigned in his stead. And in the thirty and eighth year of Asa king of Judah began Ahab the son of Omri to reign over Israel: and Ahab the son of Omri reigned over Israel in Samaria twenty and two years. And Ahab the son of Omri did evil in the sight of the Lord above all that were before him. And it came to pass, as if it had been a light thing for him to walk in the sins of Jeroboam the son of Nebat, that he took to wife Jezebel the daughter of Ethbaal king of the Zidonians, and went and served Baal, and worshipped him. And he reared up an altar for Baal in the house of Baal, which he had built in Samaria. And Ahab made a grove; and Ahab did more to provoke the Lord God of Israel to anger than all the kings of Israel that were before him. In his days did Hiel the Bethelite build Jericho: he laid the foundation thereof in Abiram his firstborn, and set up the gates thereof in his youngest son Segub, according to the word of the Lord, which he spake by Joshua the son of Nun. And Elijah the Tishbite, who was of the inhabitants of Gilead, said unto Ahab, As the Lord God of Israel liveth, before whom I stand, there shall not be dew nor rain these years, but according to my word. 1 Kings 16:27–17:1.

Còn những công việc khác của Omri, những điều ông đã làm và sức mạnh ông đã tỏ ra, há chẳng được chép trong sách sử ký các vua Israel sao? Bấy giờ Omri an nghỉ cùng tổ phụ mình và được chôn tại Samaria; còn Ahab, con trai ông, lên ngôi trị vì thay ông. Năm thứ ba mươi tám đời Asa, vua Judah, Ahab con của Omri bắt đầu trị vì trên Israel; và Ahab con của Omri trị vì trên Israel tại Samaria hai mươi hai năm. Ahab con của Omri làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va hơn hết thảy những người ở trước mình. Xảy ra, như thể việc ông đi theo các tội lỗi của Jeroboam con của Nebat là điều nhẹ, ông lại cưới Jezebel, con gái của Ethbaal, vua của người Si-đôn, làm vợ; rồi ông đi hầu việc Baal và thờ lạy Baal. Ông dựng một bàn thờ cho Baal trong đền Baal mà ông đã xây tại Samaria. Ahab cũng lập một tượng A-sê-ra; và Ahab còn chọc giận Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Israel hơn mọi vua Israel ở trước ông. Trong đời ông, Hiel người Bethel xây lại Jericho; người đặt nền nó bằng Abiram, con đầu lòng mình, và dựng các cửa thành nó bằng Segub, đứa con út mình, y theo lời của Đức Giê-hô-va đã phán bởi Joshua con của Nun. Và Elijah người Tishbite, thuộc dân cư Gilead, nói với Ahab rằng: Có Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Israel hằng sống, trước mặt Ngài ta đứng, trong mấy năm này sẽ không có sương móc cũng không có mưa, trừ ra theo lời ta. 1 Các Vua 16:27–17:1.

The confrontation that Elijah had with the gods of Ahab and Jezebel at Mount Carmel was in response to the apostasy of the northern kingdom of Israel’s seventh king who “did more to provoke the Lord God of Israel to anger than all the kings of Israel that were before him.” The word ‘provoke’ in the passage, is a reference to the “day of provocation” that was represented by the tenth test in Numbers fourteen. Ahab’s provoking of God represented the last of ten tests that was brought about by the evil report of ten spies in Numbers fourteen. Therefore, it represents the last test for the Millerite movement and the last test for the one hundred and forty-four thousand.

Cuộc đối đầu mà Ê-li có với các thần của A-háp và Giê-sa-bên trên núi Cạt-mên là để đáp lại tình trạng bội đạo của vị vua thứ bảy của vương quốc miền bắc Y-sơ-ra-ên, người “đã làm cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nổi giận hơn tất cả các vua Y-sơ-ra-ên đã có trước mình.” Từ “chọc giận” trong đoạn này là một sự quy chiếu đến “ngày chọc giận” được biểu trưng bởi kỳ thử thách thứ mười trong Dân-số Ký đoạn mười bốn. Việc A-háp chọc giận Đức Chúa Trời tượng trưng cho kỳ thử thách cuối cùng trong mười kỳ thử thách, được khởi phát bởi bản báo cáo xấu của mười người do thám trong Dân-số Ký đoạn mười bốn. Vì vậy, điều đó tượng trưng cho kỳ thử thách cuối cùng của phong trào Millerite và kỳ thử thách cuối cùng của một trăm bốn mươi bốn ngàn.

Wherefore as the Holy Ghost saith, Today if ye will hear his voice, Harden not your hearts, as in the provocation, in the day of temptation in the wilderness. Hebrews 3:7, 8.

Vì vậy, như Đức Thánh Linh phán: Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, đừng cứng lòng mình, như trong lúc chọc giận, trong ngày thử thách nơi đồng vắng. Hê-bơ-rơ 3:7, 8.

In the prophetic “day of provocation” represented by Ahab, the prophet Elijah prayed that if it was necessary, God would bring judgments upon Israel that His people might repent from the sins they were participating in.

Trong “ngày chọc giận” mang tính tiên tri được Ahab đại diện, tiên tri Ê-li đã cầu nguyện rằng, nếu cần thiết, Đức Chúa Trời sẽ giáng những sự phán xét trên Israel hầu cho dân Ngài ăn năn khỏi những tội lỗi mà họ đang phạm.

“The people of Israel had gradually lost their fear and reverence for God until His word through Joshua had no weight with them. ‘In his [Ahab’s] days did Hiel the Bethelite build Jericho: he laid the foundation thereof in Abiram his first-born, and set up the gates thereof in his youngest son Segub, according to the word of the Lord, which he spake by Joshua the son of Nun.’

Dân Y-sơ-ra-ên đã dần dần đánh mất lòng kính sợ và tôn kính đối với Đức Chúa Trời, đến nỗi lời Ngài phán qua Giô-suê không còn chút trọng lượng nào đối với họ. “Trong đời [A-háp], Hi-ên, người Bê-tên, xây thành Giê-ri-cô: ông đặt nền nó trên Abiram, con trưởng nam mình, và dựng cửa nó trên Segub, con út mình, theo như lời của Đức Giê-hô-va, là lời Ngài đã phán bởi Giô-suê, con trai Nun.”

“While Israel was apostatizing, Elijah remained a loyal and true prophet of God. His faithful soul was greatly distressed as he saw that unbelief and infidelity were fast separating the children of Israel from God, and he prayed that God would save His people. He entreated that the Lord would not wholly cast away His sinning people, but that He would by judgments if necessary arouse them to repentance and not permit them to go to still greater lengths in sin and thus provoke Him to destroy them as a nation.

Trong khi dân Israel đang bội đạo, Ê-li vẫn là một tiên tri trung thành và chân thật của Đức Chúa Trời. Tấm lòng trung tín của ông vô cùng đau buồn khi thấy sự không tin và bất trung đang nhanh chóng tách rời con cái Israel khỏi Đức Chúa Trời, và ông cầu xin Đức Chúa Trời cứu dân Ngài. Ông nài xin Chúa đừng hoàn toàn ruồng bỏ dân Ngài đang phạm tội, nhưng nếu cần thì dùng những hình phạt để đánh thức họ ăn năn và không để họ lún sâu hơn nữa trong tội lỗi, kẻo họ chọc giận Ngài đến nỗi Ngài tiêu diệt họ như một dân tộc.

“The message of the Lord came to Elijah to go to Ahab with the denunciations of His judgments because of the sins of Israel. Elijah traveled day and night until he reached the palace of Ahab. He solicited no admission, and waited not to be formally announced. All unexpectedly to Ahab, Elijah stands before the astonished king of Samaria in the coarse garments usually worn by the prophets. He makes no apology for his abrupt appearance, without invitation; but, raising his hands to heaven, he solemnly affirms by the living God, who made the heavens and the earth, the judgments which would come upon Israel: ‘There shall not be dew nor rain these years, but according to my word.’

Sứ điệp của Chúa đến với Elijah, truyền ông đến gặp Ahab để công bố những lời tuyên án của Ngài vì tội lỗi của Israel. Elijah đi ngày đêm cho đến khi tới cung điện của Ahab. Ông không xin phép vào, cũng không đợi được giới thiệu chính thức. Hoàn toàn bất ngờ đối với Ahab, Elijah đứng trước vị vua Samaria sửng sốt, trong bộ áo thô thường được các nhà tiên tri mặc. Ông không đưa ra lời xin lỗi nào về sự xuất hiện đột ngột, không được mời của mình; nhưng, giơ tay lên trời, ông long trọng quả quyết, nhân danh Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã dựng nên trời và đất, về những án phạt sẽ giáng trên Israel: 'Trong những năm này sẽ không có sương cũng chẳng có mưa, trừ khi theo lời ta.'

“This startling denunciation of God’s judgments because of the sins of Israel fell like a thunderbolt upon the apostate king. He seemed to be paralyzed with amazement and terror; and before he could recover from his astonishment, Elijah, without waiting to see the effect of his message, disappeared as suddenly as he came. His work was to speak the word of woe from God, and he instantly withdrew. His word had locked up the treasures of heaven, and his word was the only key which could open them again.” Testimonies, volume 3, 273.

“Lời lên án gây choáng váng về các phán xét của Đức Chúa Trời vì tội lỗi của Y-sơ-ra-ên đã giáng xuống vị vua bội đạo như sét đánh. Ông dường như tê liệt vì kinh ngạc và khiếp hãi; và trước khi ông kịp hoàn hồn khỏi nỗi sửng sốt, Ê-li, không đợi xem thông điệp của mình gây hiệu quả thế nào, đã biến mất đột ngột như khi ông đến. Công việc của ông là truyền lời báo họa từ Đức Chúa Trời, và ông lập tức rút lui. Lời của ông đã khóa kín các kho tàng của trời, và cũng chính lời ấy là chiếc chìa khóa duy nhất có thể mở chúng ra lần nữa.” Testimonies, tập 3, 273.

Israel had forgotten that Joshua had strictly commanded them not to associate with the heathen nations, and to never rebuild Jericho. Though the battle of Jericho was a tremendous demonstration of God’s power and a symbol of God’s promise to lead His people into the Promised Land, there was also a sin, a curse and a deliverance associated with Jericho. The ‘sin’ was that of Achan who coveted the wealth and influence of Jericho, the ‘curse’ was upon any man that would rebuild Jericho and the harlot Rahab represented the ‘deliverance’. Achan wanted the beautiful Babylonian robe. He thought he could hide his sin, as Adam and Eve sought to hide their sin with a garment of fig leaves. Achan wanted the prosperity that Jericho represented, and he wished to be associated with Babylon.

Israel đã quên rằng Giô-suê đã nghiêm truyền họ đừng giao du với các dân ngoại bang và không bao giờ được xây lại Giê-ri-cô. Mặc dù trận chiến Giê-ri-cô là một sự phô bày vĩ đại quyền năng của Đức Chúa Trời và là biểu tượng cho lời hứa của Ngài dẫn dắt dân Ngài vào Đất Hứa, nhưng cũng có một tội lỗi, một lời nguyền và một sự giải cứu gắn liền với Giê-ri-cô. ‘Tội lỗi’ là của A-can, kẻ đã thèm khát sự giàu có và ảnh hưởng của Giê-ri-cô; ‘lời nguyền’ giáng trên bất cứ ai xây lại Giê-ri-cô; và kỹ nữ Ra-háp tượng trưng cho ‘sự giải cứu’. A-can muốn có chiếc áo choàng Ba-by-lôn đẹp đẽ. Ông nghĩ mình có thể che giấu tội lỗi, như A-đam và Ê-va đã tìm cách che giấu tội lỗi bằng áo lá vả. A-can muốn sự thịnh vượng mà Giê-ri-cô tượng trưng, và ông mong được gắn liền với Ba-by-lôn.

Jericho is set forth as a symbol of the work of carrying the third angel’s message to the world, but it possesses a warning about the sin of loving and trusting in the world. The symbol of Jericho also contains a curse against the rebuilding of Jericho and Rahab represents those still in Babylon that come out when the loud cry of the third angel is proclaimed.

Giê-ri-cô được trình bày như một biểu tượng cho công việc mang sứ điệp của thiên sứ thứ ba đến cho thế giới, nhưng nó cũng chứa đựng một lời cảnh báo về tội yêu mến và tin cậy nơi thế gian. Biểu tượng Giê-ri-cô cũng bao hàm một lời nguyền rủa chống lại việc xây lại Giê-ri-cô, và Ra-háp đại diện cho những người vẫn còn ở Ba-by-lôn, những người sẽ ra khỏi đó khi tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba được rao truyền.

“Elijah’s faithful soul was grieved. His indignation was aroused, and he was jealous for the glory of God. He saw that Israel was plunged into fearful apostasy. And when he called to mind the great things that God had wrought for them, he was overwhelmed with grief and amazement. But all this was forgotten by the majority of the people. He went before the Lord, and, with his soul wrung with anguish, pleaded for Him to save His people if it must be by judgments. He pleaded with God to withhold from His ungrateful people dew and rain, the treasures of heaven, that apostate Israel might look in vain to their gods, their idols of gold, wood, and stone, the sun, moon, and stars, to water and enrich the earth, and cause it to bring forth plentifully. The Lord told Elijah that He had heard his prayer and would withhold dew and rain from His people until they should turn unto Him with repentance.

Linh hồn trung tín của Ê-li-a đau buồn. Cơn phẫn nộ của ông bừng dậy, và ông ghen sốt vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Ông thấy Israel đã rơi vào sự bội đạo đáng sợ. Và khi ông nhớ lại những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ, ông tràn ngập nỗi buồn và sự kinh ngạc. Nhưng phần đông dân chúng đã quên hết những điều ấy. Ông đến trước mặt Chúa, và với linh hồn bị dằn vặt đau đớn, ông nài xin Ngài cứu dân Ngài, nếu cần thì bằng những sự phán xét. Ông khẩn cầu Đức Chúa Trời giữ lại sương móc và mưa — những kho tàng của trời — khỏi dân bội bạc của Ngài, để Israel bội đạo phải trông cậy cách vô vọng nơi các thần của họ, các hình tượng bằng vàng, gỗ và đá, mặt trời, mặt trăng và các vì sao, mong tưới tẩm và làm cho đất phì nhiêu, khiến nó kết quả dồi dào. Chúa phán cùng Ê-li-a rằng Ngài đã nghe lời cầu nguyện của ông và sẽ giữ lại sương móc cùng mưa khỏi dân Ngài cho đến khi họ ăn năn và trở lại cùng Ngài.

“God had specially guarded His people against mingling with the idolatrous nations around them, lest their hearts should be deceived by the attractive groves and shrines, temples and altars, which were arranged in the most expensive, alluring manner to pervert the senses so that God would be supplanted in the minds of the people.

Đức Chúa Trời đã đặc biệt gìn giữ dân Ngài khỏi hòa lẫn với các dân tộc thờ hình tượng xung quanh họ, kẻo lòng họ bị lừa dối bởi những lùm cây và miếu thờ, đền thờ và bàn thờ hấp dẫn, được bài trí theo cách xa hoa, quyến rũ nhất để làm bại hoại các giác quan, đến nỗi Đức Chúa Trời bị thay thế trong tâm trí của dân chúng.

“The city of Jericho was devoted to the most extravagant idolatry. The inhabitants were very wealthy, but all the riches that God had given them they counted as the gift of their gods. They had gold and silver in abundance; but, like the people before the Flood, they were corrupt and blasphemous, and insulted and provoked the God of heaven by their wicked works. God’s judgments were awakened against Jericho. It was a stronghold. But the Captain of the Lord’s host Himself came from heaven to lead the armies of heaven in an attack upon the city. Angels of God laid hold of the massive walls and brought them to the ground. God had said that the city of Jericho should be accursed and that all should perish except Rahab and her household. These should be saved because of the favor that Rahab showed the messengers of the Lord. The word of the Lord to the people was: ‘And ye, in anywise keep yourselves from the accursed thing, lest ye make yourselves accursed, when ye take of the accursed thing, and make the camp of Israel a curse, and trouble it.’ ‘And Joshua adjured them at that time, saying, Cursed be the man before the Lord, that riseth up and buildeth this city Jericho: he shall lay the foundation thereof in his first-born, and in his youngest son shall he set up the gates of it.’

Thành Jericho bị phó mặc cho sự thờ thần tượng cực đoan nhất. Dân cư ở đó rất giàu có, nhưng mọi của cải mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ, họ lại xem là quà tặng của các thần của mình. Họ có vàng bạc dư dật; nhưng, như những người trước nạn Hồng thủy, họ bại hoại và phạm thượng, lấy các việc ác của mình mà xúc phạm và chọc giận Đức Chúa Trời trên trời. Sự phán xét của Đức Chúa Trời đã nhắm vào Jericho. Đó là một thành lũy kiên cố. Nhưng chính Vị Chỉ Huy của đạo binh của Chúa đã từ trời đến để dẫn dắt các đạo binh thiên đàng tấn công thành. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời nắm lấy những bức tường đồ sộ và kéo sập chúng xuống đất. Đức Chúa Trời đã phán rằng thành Jericho phải bị rủa sả và mọi người đều phải diệt vong, ngoại trừ Rahab và nhà của bà. Họ sẽ được cứu vì ân nghĩa mà Rahab đã tỏ ra với các sứ giả của Chúa. Lời của Chúa phán với dân rằng: “Còn các ngươi, hãy hết sức giữ mình khỏi vật bị rủa sả, kẻo khi các ngươi lấy vật bị rủa sả thì tự chuốc lấy sự rủa sả cho mình, và khiến trại quân của Israel trở nên bị rủa và gặp hoạn nạn.” “Bấy giờ Joshua nghiêm răn họ bằng lời thề, rằng: Đáng rủa sả trước mặt Chúa là người đứng lên xây lại thành này, Jericho; nó sẽ lập nền thành bằng mạng con đầu lòng mình, và dựng các cổng của nó bằng mạng đứa con út.”

God was very particular in regard to Jericho, lest the people should be charmed with the things that the inhabitants had worshiped and their hearts be diverted from God. He guarded His people by most positive commands; yet notwithstanding the solemn injunction from God by the mouth of Joshua, Achan ventured to transgress. His covetousness led him to take of the treasures that God had forbidden him to touch because the curse of God was upon them. And because of this man’s sin the Israel of God were as weak as water before their enemies.

Đức Chúa Trời rất nghiêm ngặt đối với Giê-ri-cô, kẻo dân sự bị mê hoặc bởi những vật mà cư dân nơi đó đã thờ phượng và lòng họ xa rời Đức Chúa Trời. Ngài bảo vệ dân Ngài bằng những mệnh lệnh hết sức rõ ràng; tuy nhiên, mặc dù có mệnh lệnh trọng thể từ Đức Chúa Trời qua miệng Giô-suê, A-can vẫn liều lĩnh vi phạm. Lòng tham của ông khiến ông lấy những báu vật mà Đức Chúa Trời đã cấm ông đụng đến, vì lời rủa sả của Đức Chúa Trời ở trên chúng. Và vì tội lỗi của người này, Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời đã yếu như nước trước mặt kẻ thù của họ.

“Joshua and the elders of Israel were in great affliction. They lay before the ark of God in most abject humility because the Lord was wroth with His people. They prayed and wept before God. The Lord spoke to Joshua: ‘Get thee up; wherefore liest thou thus upon thy face? Israel hath sinned, and they have also transgressed My covenant which I commanded them: for they have even taken of the accursed thing, and have also stolen, and dissembled also, and they have put it even among their own stuff. Therefore the children of Israel could not stand before their enemies, but turned their backs before their enemies, because they were accursed: neither will I be with you any more, except ye destroy the accursed from among you.’

Joshua và các trưởng lão của Israel đang trong cơn đau khổ lớn. Họ nằm sấp trước hòm của Đức Chúa Trời trong sự hạ mình sâu xa nhất vì Chúa giận dân Ngài. Họ cầu nguyện và khóc lóc trước mặt Đức Chúa Trời. Chúa phán với Joshua: "Hãy đứng dậy; sao ngươi lại nằm sấp mặt như vậy? Israel đã phạm tội, và họ cũng đã vi phạm giao ước của Ta mà Ta đã truyền cho họ; vì họ đã lấy những vật bị rủa sả, lại còn ăn trộm, lại còn giấu giếm, và họ đã đặt những vật đó vào giữa đồ đạc của riêng họ. Vì vậy, con cái Israel không thể đứng vững trước kẻ thù của mình, nhưng quay lưng trước mặt kẻ thù, vì họ đã bị rủa sả; Ta cũng sẽ không còn ở với các ngươi nữa, trừ khi các ngươi tiêu diệt vật bị rủa sả khỏi giữa các ngươi."

“I have been shown that God here illustrates how He regards sin among those who profess to be His commandment-keeping people. Those whom He has specially honored with witnessing the remarkable exhibitions of His power, as did ancient Israel, and who will even then venture to disregard His express directions, will be subjects of His wrath. He would teach His people that disobedience and sin are exceedingly offensive to Him and are not to be lightly regarded.” Testimonies, volume 3, 263, 264.

“Tôi đã được cho thấy rằng ở đây Đức Chúa Trời minh họa cách Ngài nhìn nhận tội lỗi nơi những người xưng mình là dân vâng giữ các điều răn của Ngài. Những người đã được Ngài đặc biệt ban vinh dự được chứng kiến những sự biểu lộ quyền năng phi thường của Ngài, như dân Y-sơ-ra-ên xưa, mà dẫu vậy vẫn dám coi thường các chỉ thị rõ ràng của Ngài, sẽ trở thành đối tượng cơn thịnh nộ của Ngài. Ngài muốn dạy dân Ngài rằng sự không vâng phục và tội lỗi là điều vô cùng xúc phạm đến Ngài và không được xem nhẹ.” Testimonies, quyển 3, 263, 264.

The story of Jericho includes the warning to not trust in the perceived strength and glory of the wicked and affluent city. A “city” in Bible prophecy is a kingdom, and Achan took a Babylonian garment. A garment prophetically represents character, so in the “last days,” Achan’s hiding of the Babylonish garment represents a hidden desire to possess the character of spiritual Babylon. The character, or image of spiritual Babylon is what the United States covets when it brings together church and state.

Câu chuyện về Giê-ri-cô bao hàm lời cảnh báo đừng tin cậy vào sức mạnh và vinh quang bề ngoài của thành phố gian ác và giàu có. Trong lời tiên tri Kinh Thánh, một "thành" là một vương quốc, và Achan đã lấy một chiếc áo của Ba-by-lôn. Y phục, theo nghĩa tiên tri, tượng trưng cho tính cách; vì vậy, trong "những ngày sau rốt," việc Achan giấu chiếc áo Ba-by-lôn biểu thị một ước muốn ẩn giấu để sở hữu tính cách của Ba-by-lôn thuộc linh. Tính cách, hay hình ảnh, của Ba-by-lôn thuộc linh chính là điều Hoa Kỳ thèm muốn khi kết hợp giáo hội và nhà nước.

Confronted with the possibility of the youth of the Millerite movement being drafted into the Civil War, and recognizing the need of organization, the leaders of the movement became legally connected with the affluent nation that they were never to assimilate unto. Even the Constitution of that affluent country designed that it was never necessary for a church to be connected with the state. There were denominations that existed during the Millerite time period, that still exist today; some of those denominations have never entered into the legal relationship with the United States government, and their choice to not establish that relationship, never in any way prevented them from organizing their respective churches.

Đối mặt với khả năng thanh niên của phong trào Millerite bị gọi nhập ngũ trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, và nhận thấy nhu cầu phải tổ chức, các nhà lãnh đạo của phong trào đã thiết lập mối quan hệ pháp lý với quốc gia giàu có mà họ vốn không bao giờ định hòa nhập. Ngay cả Hiến pháp của quốc gia giàu có ấy cũng được soạn thảo trên cơ sở rằng hội thánh không bao giờ cần phải gắn kết với nhà nước. Có những giáo phái đã tồn tại trong thời kỳ Millerite và vẫn tồn tại đến ngày nay; một số trong những giáo phái đó chưa bao giờ bước vào mối quan hệ pháp lý với chính phủ Hoa Kỳ, và việc họ lựa chọn không thiết lập mối quan hệ ấy chưa từng, bằng bất kỳ cách nào, ngăn cản họ tổ chức các hội thánh của mình.

Long after Joshua fought the battle of Jericho, in the time of Ahab, all the warnings of Achan’s apostasy and the destruction of Jericho had been forgotten by God’s apostate people. Elijah prayed to God, requesting if necessary that God’s judgments would be exercised to bring His people to repentance. When Malachi records the final words of the Old Testament the promise is set within the context of the Lord striking the world with a curse. The curse associated with Jericho, was upon any man who would rebuild Jericho. The curse was upon any who would like Achan, desire to trust in the wealth and affluency associated with Jericho. Achan’s “sin” represents the hidden unsanctified inward desire to wear the Babylonish garment. The ‘curse’ was for the work of acting out those inward desires.

Lâu sau khi Giô-suê đánh trận Giê-ri-cô, vào thời A-háp, tất cả những lời cảnh báo về sự bội đạo của A-can và sự hủy diệt của Giê-ri-cô đã bị dân Đức Chúa Trời bội đạo quên lãng. Ê-li cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, xin nếu cần thì các sự đoán phạt của Ngài sẽ được thi hành để đem dân Ngài đến sự ăn năn. Khi Ma-la-chi ghi lại những lời cuối cùng của Cựu Ước, lời hứa được đặt trong bối cảnh Chúa giáng một lời rủa sả trên thế gian. Lời rủa sả liên quan đến Giê-ri-cô là dành cho bất cứ ai xây lại Giê-ri-cô. Lời rủa sả cũng ở trên bất cứ ai, giống như A-can, muốn đặt lòng tin nơi sự giàu sang và thịnh vượng gắn liền với Giê-ri-cô. "Tội lỗi" của A-can tượng trưng cho ham muốn nội tâm kín giấu, chưa được thánh hóa, muốn mặc chiếc áo Ba-by-lôn. Lời 'rủa sả' là dành cho việc đem những ham muốn nội tâm ấy ra thi hành.

Miller’s message was the Elijah message for his time and the Civil War represented the judgments that accompany the Elijah message. In the middle of the Civil War in 1863, Millerite Adventism rebuilt Jericho, as witnessed by the details of Joshua’s curse upon any man who did so.

Sứ điệp của Miller là sứ điệp Ê-li cho thời của ông, và Cuộc Nội chiến tượng trưng cho những sự phán xét đi kèm với sứ điệp Ê-li. Vào giữa Cuộc Nội chiến, năm 1863, phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Millerite đã xây lại Giê-ri-cô, như được minh chứng bởi những chi tiết trong lời nguyền của Giô-suê đối với bất cứ ai làm như vậy.

And Joshua adjured them at that time, saying, Cursed be the man before the Lord, that riseth up and buildeth this city Jericho: he shall lay the foundation thereof in his firstborn, and in his youngest son shall he set up the gates of it. Joshua 6:26.

Bấy giờ Giô-suê bắt họ thề, nói rằng: Đáng bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va là kẻ nào đứng lên và dựng lại thành Giê-ri-cô này; người ấy sẽ lập nền nó nơi con đầu lòng mình, và nơi con út mình người ấy sẽ dựng các cửa của nó. Giô-suê 6:26.

The word “adjured” in the command of Joshua is both an oath and a curse. Cursed if you break Joshua’s command, and blessed if you keep the oath. The word translated as “adjured” is also translated as “seven times” in Leviticus twenty-six. The oath and curse of Moses as Daniel expresses it in chapter nine, is connected with the rebuilding of Jericho.

Trong mệnh lệnh của Giô-suê, từ "adjured" vừa là lời thề vừa là lời nguyền. Bị nguyền rủa nếu bạn vi phạm mệnh lệnh của Giô-suê, và được ban phước nếu bạn giữ lời thề. Từ được dịch là "adjured" cũng được dịch là "bảy lần" trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu. Lời thề và lời nguyền của Môi-se, như Đa-ni-ên diễn tả ở chương chín, có liên hệ với việc tái xây dựng Giê-ri-cô.

Yea, all Israel have transgressed thy law, even by departing, that they might not obey thy voice; therefore the curse is poured upon us, and the oath that is written in the law of Moses the servant of God, because we have sinned against him. Daniel 9:11.

Phải, cả Y-sơ-ra-ên đều đã phạm luật pháp của Ngài, đã quay lưng lìa bỏ, không vâng theo tiếng Ngài; vì vậy sự rủa sả đã đổ trên chúng con, và lời thề đã chép trong luật pháp của Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, vì chúng con đã phạm tội cùng Ngài. Đa-ni-ên 9:11.

Sister White said, “God was very particular in regard to Jericho, lest the people should be charmed with the things that the inhabitants had worshiped and their hearts be diverted from God.” God was very particular in accomplishing the destruction of Jericho and therefore He was very particular in recording the warning represented by Achan. He was careful in recording the curse associated with rebuilding Jericho and also careful in defining the divine tactics employed in bringing the walls down.

Bà White nói: “Đức Chúa Trời đã rất cẩn trọng đối với Giê-ri-cô, kẻo dân sự bị mê hoặc bởi những điều mà cư dân nơi ấy đã thờ lạy và lòng họ xa rời Đức Chúa Trời.” Đức Chúa Trời rất cẩn trọng trong việc hủy diệt Giê-ri-cô, vì thế Ngài cũng rất cẩn trọng khi ghi lại lời cảnh báo qua trường hợp của Acan. Ngài cẩn thận ghi lại lời nguyền liên quan đến việc xây lại Giê-ri-cô, và cũng cẩn thận làm rõ những cách thức của Ngài được dùng để làm sụp đổ những bức tường thành.

It was most certainly Jesus, as the Captain of the Lord’s host that directed the angels to bring Jericho’s walls down, and nothing is done by accident in God’s Word, but in this instance, we have the prophetess telling us that “God was very particular in regard to Jericho.” Seven days the ark was carried around the city, and a day is a year in prophecy. That principle was recorded at the beginning of the forty years of wilderness wandering and at the end of those forty years they compassed Jericho for seven days.

Chắc chắn đó chính là Chúa Giê-xu, với tư cách là Vị Chỉ huy đạo binh của Chúa, Đấng đã chỉ huy các thiên sứ làm sụp đổ tường thành Giê-ri-cô; và không có điều gì trong Lời Đức Chúa Trời xảy ra một cách ngẫu nhiên. Nhưng trong trường hợp này, chúng ta có lời nữ tiên tri cho biết rằng: “Đức Chúa Trời rất cẩn trọng đối với Giê-ri-cô.” Trong bảy ngày, Hòm Giao Ước được khiêng đi vòng quanh thành, và trong lời tiên tri, một ngày là một năm. Nguyên tắc ấy đã được ghi lại vào lúc khởi đầu bốn mươi năm lang thang trong hoang mạc, và vào cuối bốn mươi năm đó, họ vây quanh Giê-ri-cô suốt bảy ngày.

After the number of the days in which ye searched the land, even forty days, each day for a year, shall ye bear your iniquities, even forty years, and ye shall know my breach of promise. Numbers 14:34.

Theo số ngày các ngươi đã do thám xứ, tức là bốn mươi ngày, mỗi ngày kể như một năm, các ngươi sẽ mang lấy tội lỗi mình bốn mươi năm; và các ngươi sẽ biết sự ta bội ước. Dân Số Ký 14:34.

Seven days the ark was carried around the city and on the seventh-day it was taken around the city “seven times.” This provides two prophetic witnesses that Jericho is associated with the “seven times” of Moses’ oath. God’s covenant people are priests, and seven priests blew seven trumpets.

Trong bảy ngày, Hòm Bia Giao Ước được khiêng đi vòng quanh thành, và vào ngày thứ bảy nó được khiêng đi quanh thành "bảy lần". Điều này cung cấp hai bằng chứng tiên tri rằng Giê-ri-cô gắn liền với "bảy lần" trong lời thề của Môi-se. Dân giao ước của Đức Chúa Trời là các thầy tế lễ, và bảy thầy tế lễ đã thổi bảy chiếc kèn.

Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:5.

Anh em cũng vậy, như những viên đá sống, được xây dựng nên một nhà thuộc linh, một chức tế lễ thánh, để dâng những của lễ thuộc linh, nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ mà đẹp lòng Đức Chúa Trời. 1 Phi-e-rơ 2:5.

A trumpet represents either a warning message, or a judgment or a call to a holy convocation depending on the context where it is located. In the last days a trumpet is to be blown by the watchmen, as it was blown by the Millerites in their history. The priests represent the watchmen on the walls of Zion that blow a trumpet, warning God’s people of a coming judgment, while also calling those very same people unto a holy convocation.

Một chiếc kèn, tùy theo bối cảnh nơi nó xuất hiện, có thể tượng trưng cho một thông điệp cảnh báo, cho sự phán xét, hoặc cho lời kêu gọi dự một buổi nhóm thánh. Trong những ngày sau rốt, kèn sẽ được những người canh gác thổi lên, như đã từng được những người theo Miller thổi trong lịch sử của họ. Các thầy tế lễ tượng trưng cho những người canh gác trên tường thành Si-ôn, những người thổi kèn, cảnh báo dân Đức Chúa Trời về một sự phán xét sắp đến, đồng thời kêu gọi chính những người ấy đến dự một buổi nhóm thánh.

Blow ye the trumpet in Zion, and sound an alarm in my holy mountain: let all the inhabitants of the land tremble: for the day of the Lord cometh, for it is nigh at hand … Blow the trumpet in Zion, sanctify a fast, call a solemn assembly: Gather the people, sanctify the congregation, assemble the elders, gather the children, and those that suck the breasts: let the bridegroom go forth of his chamber, and the bride out of her closet. Let the priests, the ministers of the Lord, weep between the porch and the altar, and let them say, Spare thy people, O Lord, and give not thine heritage to reproach, that the heathen should rule over them: wherefore should they say among the people, Where is their God? Joel 2:1, 15–17.

Hãy thổi kèn tại Si-ôn, và thổi tiếng báo động trên núi thánh của Ta; mọi dân cư trong xứ hãy run rẩy, vì ngày của Chúa sắp đến, vì nó đã gần kề ... Hãy thổi kèn tại Si-ôn, hãy biệt riêng một kỳ kiêng ăn, triệu tập một cuộc họp trọng thể: hãy nhóm họp dân sự, thánh hóa hội chúng, họp các trưởng lão, tụ họp các con trẻ và những đứa còn bú; chàng rể hãy ra khỏi buồng mình, và cô dâu ra khỏi phòng nàng. Các thầy tế lễ, các tôi tớ của Chúa, hãy khóc lóc giữa hiên và bàn thờ, và hãy nói rằng: Xin thương xót dân Ngài, lạy Chúa, chớ phó cơ nghiệp Ngài cho sự sỉ nhục, để các dân ngoại cai trị trên họ; cớ sao người ta lại nói giữa các dân rằng: Đức Chúa Trời của họ ở đâu? Giô-ên 2:1, 15-17.

The trumpet message is the Elijah message. All the various usages of the word “seven” in Joshua chapter six, is the same word or a related derivative of the word which is translated as “seven times” in Leviticus twenty-six. Yet the dish of fables handed out by the Laodicean theologians claim that the word translated as “seven times” in Leviticus twenty-six only represents fullness of power, or completeness or some other foolish variation of their denial that Miller was correct in applying a numerical value to the word translated as “seven times.” The priests led the people around the city seven times, not fully or completely around Jericho. The word translated as “seven times” represents a numerical value!

Sứ điệp kèn là sứ điệp Ê-li. Tất cả những cách dùng từ “bảy” trong Giô-suê chương sáu đều là cùng một từ, hoặc là dạng dẫn xuất liên hệ của từ được dịch là “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu. Thế nhưng mớ chuyện hoang đường do các nhà thần học La-ô-đi-xê rao bán lại cho rằng từ được dịch là “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu chỉ biểu thị sự trọn vẹn quyền năng, hay sự hoàn chỉnh, hoặc một biến thể ngớ ngẩn nào khác của sự phủ nhận rằng Miller đã đúng khi gán một giá trị số học cho từ được dịch là “bảy lần”. Các thầy tế lễ dẫn dân sự đi vòng quanh thành bảy lần, chứ không phải “đầy đủ” hay “trọn vẹn” quanh Giê-ri-cô. Từ được dịch là “bảy lần” biểu thị một giá trị số học!

At Jericho, when the people shouted, it represented the loud cry of the one hundred and forty-four thousand, who are cut out of the mountain without hands in Daniel chapter two, who strike and break in pieces the image.

Tại Giê-ri-cô, khi dân sự hò reo, điều đó tượng trưng cho tiếng kêu lớn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, những người được đục ra khỏi núi mà không phải bởi tay người trong Đa-ni-ên chương hai, những người đập vào và làm vỡ tan bức tượng.

And in the days of these kings shall the God of heaven set up a kingdom, which shall never be destroyed: and the kingdom shall not be left to other people, but it shall break in pieces and consume all these kingdoms, and it shall stand for ever. Forasmuch as thou sawest that the stone was cut out of the mountain without hands, and that it brake in pieces the iron, the brass, the clay, the silver, and the gold; the great God hath made known to the king what shall come to pass hereafter: and the dream is certain, and the interpretation thereof sure. Daniel 2:44, 45.

Và trong những ngày của các vua ấy, Đức Chúa Trời trên trời sẽ lập một vương quốc, vương quốc ấy sẽ không bao giờ bị hủy diệt; và vương quốc ấy sẽ không bị trao cho một dân khác, nhưng sẽ đập tan và tiêu diệt mọi vương quốc này, và sẽ đứng vững đời đời. Bởi vì ngươi đã thấy hòn đá được đục ra từ núi mà không phải bởi tay người, và nó đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc và vàng; Đức Chúa Trời vĩ đại đã cho vua biết điều sẽ xảy ra về sau; và giấc mộng ấy là chắc thật, còn lời giải nghĩa của nó là vững chắc. Đa-ni-ên 2:44, 45.

God was careful to list the precious metals that were found in Jericho as gold, silver, brass and iron. Prophetically, clay represents God’s people as typified by Rahab. Jericho represents the end of all earthly kingdoms during the loud cry of the one hundred and forty-four thousand.

Đức Chúa Trời đã cẩn thận liệt kê các kim loại quý được tìm thấy tại Giê-ri-cô là vàng, bạc, đồng thau và sắt. Theo ý nghĩa tiên tri, đất sét tượng trưng cho dân của Đức Chúa Trời, được tiêu biểu bởi Ra-háp. Giê-ri-cô tượng trưng cho sự kết thúc của mọi vương quốc trần gian trong thời kỳ tiếng kêu lớn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người.

But all the silver, and gold, and vessels of brass and iron, are consecrated unto the Lord: they shall come into the treasury of the Lord. Joshua 6:19.

Nhưng hết thảy bạc, vàng, và các vật dụng bằng đồng và sắt đều được thánh hiến cho Chúa; chúng sẽ được đưa vào kho tàng của Chúa. Giô-suê 6:19.

Jericho represents the work of conquering the Promised Land, which typifies the work of the mighty movement of the third angel. That work includes a warning, a curse and the saving of those outside the priesthood, as represented by the harlot, Rahab.

Giê-ri-cô tượng trưng cho công cuộc chinh phục Đất Hứa, vốn tiêu biểu cho công việc của phong trào hùng mạnh của thiên sứ thứ ba. Công cuộc ấy bao gồm lời cảnh cáo, lời rủa sả và sự cứu rỗi những người ở ngoài hàng ngũ tư tế, được biểu hiện qua kỹ nữ Ra-háp.

Joshua’s prophetic “curse” was later fulfilled in the days of Ahab and Elijah. The curse against rebuilding Jericho contained the specific prediction that the man that did so, would lose his youngest son when he set up the gates of Jericho, and he would lose his oldest son when he laid the foundations thereof. In the time of Elijah, Hiel the Bethelite fulfilled that prophecy, and his youngest son died when he set up the gates and his oldest son died when he laid the foundations. The “curse” which is associated with the Elijah message was represented by the work of rebuilding Jericho.

“Lời nguyền” tiên tri của Giô-suê sau đó đã được ứng nghiệm vào thời Akháp và Ê-li. Lời nguyền chống lại việc xây lại Giê-ri-cô bao gồm dự báo cụ thể rằng người nào làm như vậy sẽ mất con trai út khi dựng các cửa thành Giê-ri-cô, và sẽ mất con trai trưởng khi đặt nền móng của nó. Vào thời Ê-li, Hiel người Bết-ên đã ứng nghiệm lời tiên tri đó; con trai út của ông chết khi ông dựng các cửa thành, và con trai trưởng của ông chết khi ông đặt nền móng. “Lời nguyền” gắn liền với sứ điệp của Ê-li được biểu trưng bởi việc xây lại Giê-ri-cô.

Behold, I will send you Elijah the prophet before the coming of the great and dreadful day of the Lord: And he shall turn the heart of the fathers to the children, and the heart of the children to their fathers, lest I come and smite the earth with a curse. Malachi 4:5, 6.

Kìa, Ta sẽ sai đến cho các ngươi Ê-li, vị tiên tri, trước khi ngày lớn và đáng sợ của Chúa đến: Người sẽ làm cho lòng của những người cha quay về với con cái, và lòng của con cái quay về với cha mình, kẻo Ta đến và lấy lời nguyền mà đánh đất. Ma-la-chi 4:5, 6.

The curse of Millerite history that was associated with Miller’s Elijah message was predicted by Joshua and fulfilled in the time of Elijah and Ahab.

Lời nguyền trong lịch sử Millerite gắn liền với sứ điệp Ê-li của Miller đã được Giô-suê tiên báo và được ứng nghiệm vào thời Ê-li và Akháp.

In his days did Hiel the Bethelite build Jericho: he laid the foundation thereof in Abiram his firstborn, and set up the gates thereof in his youngest son Segub, according to the word of the Lord, which he spake by Joshua the son of Nun. 1 Kings 16:34.

Trong những ngày ấy, Hiel người Bê-tên xây lại Giê-ri-cô; ông đặt nền móng của thành ấy với A-bi-ram, con đầu lòng của mình, và dựng các cửa thành với Sê-gúp, con út của mình, theo lời của Chúa đã phán qua Giô-suê, con trai của Nun. 1 Các Vua 16:34.

The curse of rebuilding Jericho cannot be separated from the manifestation of power that God exercised in bringing the walls of Jericho down. Sister White said, “Those whom He has specially honored with witnessing the remarkable exhibitions of His power, as did ancient Israel, and who will even then venture to disregard His express directions, will be subjects of His wrath.” The Millerites had just participated in the manifestation of God’s power that climaxed with the Midnight Cry, yet they rejected Moses’ oath of the seven times which Daniel also identifies as the curse of Moses.

Lời nguyền về việc xây lại Giê-ri-cô không thể tách rời khỏi sự biểu lộ quyền năng mà Đức Chúa Trời đã thi triển khi làm cho tường thành Giê-ri-cô sụp đổ. Bà White nói: “Những ai được Ngài đặc biệt ban vinh dự là được chứng kiến những sự bày tỏ lạ lùng về quyền năng của Ngài, như dân Y-sơ-ra-ên xưa, mà rồi vẫn dám coi thường những chỉ thị rõ ràng của Ngài, sẽ trở thành đối tượng của cơn thịnh nộ của Ngài.” Những người theo Miller vừa tham dự vào sự biểu lộ quyền năng của Đức Chúa Trời đạt cao trào trong Tiếng Kêu Nửa Đêm, thế nhưng họ đã khước từ lời thề “bảy lần” của Môi-se, mà Đa-ni-ên cũng xác định là lời nguyền của Môi-se.

Names are a symbol of character in God’s Word, and the name of the man who rebuilt Jericho, along with the names of his oldest and youngest son are very informative. Hiel means the living God of strength and suggests that Hiel was a follower of the living God. The fact that he is identified as a Bethelite identifies him with the church. Abiram, his firstborn means the father of height, in terms of being exalted and lifted up. His youngest son Segub means lofty and to exalt and lift up. All three names represent elements of God’s character, but in the context of the prophecy which they fulfilled, they represent a man who was lifting up and exalting himself above the Almighty God who had brought Jericho down. A “gate” in prophecy represents a church.

Trong Lời của Đức Chúa Trời, tên là biểu tượng của bản tính, và tên của người đã xây lại Jericho, cùng với tên của con trai cả và con trai út của ông, đều rất giàu ý nghĩa. Hiel có nghĩa là “Đức Chúa Trời hằng sống của sức mạnh” và gợi ý rằng Hiel là người theo Đức Chúa Trời hằng sống. Việc ông được xác định là một người Bethelite gắn ông với hội thánh. Abiram, con đầu lòng của ông, có nghĩa là “cha của sự cao cả,” theo nghĩa được tôn cao và nâng lên. Con út của ông là Segub có nghĩa là “cao vời” và “tôn cao, nâng lên.” Cả ba tên đều biểu thị những phương diện trong bản tính của Đức Chúa Trời, nhưng trong bối cảnh lời tiên tri mà họ đã ứng nghiệm, chúng lại tượng trưng cho một người đang tôn vinh và tự nâng mình lên trên Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng đã khiến Jericho sụp đổ. Trong lời tiên tri, một “cổng” tượng trưng cho một hội thánh.

“To the humble, believing soul, the house of God on earth is the gate of heaven. The song of praise, the prayer, the words spoken by Christ’s representatives, are God’s appointed agencies to prepare a people for the church above, for that loftier worship into which there can enter nothing that defileth.” Testimonies, volume 5, 491.

"Đối với linh hồn khiêm nhường và tin kính, nhà của Đức Chúa Trời trên đất là cửa thiên đàng. Bài ca ngợi khen, lời cầu nguyện, những lời do các đại diện của Đấng Christ nói ra, là những phương tiện được Đức Chúa Trời chỉ định để chuẩn bị một dân cho hội thánh ở trên cao, cho sự thờ phượng cao trọng hơn, nơi không gì ô uế có thể vào được." Lời Chứng, tập 5, 491.

The beginning of the work to start a church began in 1860, as testified to by Adventist historians such as Arthur White, Ellen White’s grandson.

Công việc thành lập một hội thánh bắt đầu vào năm 1860, như được các sử gia Cơ Đốc Phục Lâm xác nhận, tiêu biểu như Arthur White, cháu trai của Ellen White.

“While Ellen White had written and published at some length on the need of order in managing the work of the church (see Early Writings, 97–104), and while James White had kept this need before the believers in addresses and Review articles, the church was slow to move. What had been presented in general terms, was well received, but when it came to translating this with something constructive there was resistance and opposition. James White’s brief articles in February aroused not a few from complacency, and now a great deal was being said.

Trong khi Ellen White đã viết và xuất bản khá nhiều về nhu cầu có trật tự trong việc quản lý công việc của hội thánh (xem Early Writings, 97–104), và trong khi James White đã luôn đặt nhu cầu này trước các tín hữu qua các bài diễn thuyết và các bài báo trên tờ Review, thì hội thánh lại chậm hành động. Những điều đã được trình bày một cách khái quát thì được đón nhận tốt, nhưng khi cần chuyển hóa điều đó thành những bước đi mang tính xây dựng thì đã xuất hiện sự kháng cự và chống đối. Những bài viết ngắn của James White vào tháng Hai đã đánh thức không ít người khỏi sự tự mãn, và giờ đây người ta bàn luận rất nhiều.

“J. N. Loughborough, working with White in Michigan, was the first to respond. His words were in the affirmative, but on the defensive:

J. N. Loughborough, người làm việc cùng White tại Michigan, là người đầu tiên phản hồi. Lời của ông tỏ ý đồng ý, nhưng ở thế phòng thủ:

“‘Says one, if you organize so as to hold property by law, you will be a part of Babylon. No; I understand there is quite a difference between our being in a position that we can protect our property by law and using the law to protect and enforce our religious views. If it is wrong to protect church property, why is not wrong for individuals to hold any property legally?—Review and Herald, March 8, 1860.’

'Có người nói, nếu các bạn tổ chức để nắm giữ tài sản theo luật pháp, các bạn sẽ là một phần của Babylon. Không; tôi hiểu rằng có một sự khác biệt khá lớn giữa việc chúng ta ở trong vị thế có thể bảo vệ tài sản của mình bằng luật pháp và việc dùng luật pháp để bảo vệ và áp đặt các quan điểm tôn giáo của chúng ta. Nếu bảo vệ tài sản của hội thánh là sai, thì tại sao việc cá nhân sở hữu bất kỳ tài sản nào một cách hợp pháp lại không sai?-Review and Herald, ngày 8 tháng 3, 1860.'

“James White had closed his statement in the Review, laying the matter of the need of organization of the publishing interests before the church with the words ‘If any object to our suggestions, will they please write out a plan on which we as a people can act?’—Ibid., February 23, 1860. The first minister laboring out in the field to respond was R. F. Cottrell, a stalwart corresponding editor of the Review. His immediate reaction was decidedly negative:

James White đã kết thúc bài viết của mình trên tờ Review, trình bày trước hội thánh vấn đề nhu cầu tổ chức cho công cuộc xuất bản với những lời: “Nếu ai phản đối các đề nghị của chúng tôi, xin vui lòng viết ra một kế hoạch mà chúng ta, với tư cách một tập thể, có thể hành động?” - Ibid., ngày 23 tháng 2 năm 1860. Vị mục sư đầu tiên đang phục vụ tại các địa phương lên tiếng đáp lại là R. F. Cottrell, một biên tập viên thư tín kiên cường của tờ Review. Phản ứng ngay lập tức của ông là dứt khoát phản đối:

“‘Brother White has asked the brethren to speak in relation to his proposition to secure the property of the church. I do not know precisely what measure he intends in this suggestion, but understand it is to get incorporated as a religious body according to law. For myself, I think it would be wrong to ‘make us a name,’ since that lies at the foundation of Babylon. I do not think God would approve of it.—Ibid., March 22, 1860.” Arthur White, Ellen G. White, volume 1, 420, 421.

"'Anh White đã yêu cầu các anh em phát biểu liên quan đến đề nghị của anh nhằm bảo đảm tài sản của hội thánh. Tôi không biết chính xác anh định thực hiện biện pháp gì trong đề nghị này, nhưng hiểu rằng đó là để đăng ký tư cách pháp nhân như một tổ chức tôn giáo theo luật. Về phần mình, tôi nghĩ sẽ là sai lầm nếu 'tạo cho chúng ta một cái tên,' vì điều đó nằm ở nền tảng của Babylon. Tôi không nghĩ Đức Chúa Trời sẽ chấp thuận điều đó.-Ibid., ngày 22 tháng 3, 1860." Arthur White, Ellen G. White, tập 1, 420, 421.

James White began his effort to become a church in 1860, and a church is represented by a “gate”. Ellen White says this about the year 1860.

James White bắt đầu nỗ lực của mình để trở thành một hội thánh vào năm 1860, và một hội thánh được tượng trưng bởi một "cổng". Ellen White nói điều này về năm 1860.

“In 1860 death stepped over our threshold, and broke the youngest branch of our family tree. Little Herbert, born September 20, 1860, died December 14 of the same year.” Testimonies, volume 1, 103.

"Vào năm 1860, cái chết đã bước qua ngưỡng cửa nhà chúng tôi và bẻ gãy cành non nhất trên cây gia phả của chúng tôi. Bé Herbert, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1860, qua đời ngày 14 tháng 12 cùng năm." Lời chứng, tập 1, 103.

In 1863, the Whites also lost their eldest son. After playing and becoming overheated, he went into the room where the cloth charts were prepared and took a nap upon some damp cloths that were used in preparation of the charts. The 1843 and 1850 charts represent the foundations of the Millerite movement. The chart produced in 1863, represent a rejection of the “seven times” of Leviticus twenty-six as previously represented upon the two tables of Habakkuk. It presents a counterfeit foundational message.

Năm 1863, gia đình White cũng mất người con trai cả. Sau khi chơi đùa và bị nóng quá, cậu đi vào căn phòng nơi các bảng vải được chuẩn bị và chợp mắt trên vài tấm vải ẩm được dùng để chuẩn bị các bảng ấy. Các bảng năm 1843 và 1850 làm nền tảng cho phong trào Millerite. Bảng năm 1863 thể hiện sự bác bỏ "bảy lần" của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu như trước đây đã được trình bày trên hai bảng của Ha-ba-cúc. Nó trình bày một thông điệp nền tảng giả mạo.

“When on Friday, November 27, [1863] the parents reached Topsham, they found their three sons and Adelia waiting for them at the depot. They were all apparently in good health, except for Henry, who had a cold. But the next Tuesday, December 1, Henry was very ill with pneumonia. Years later Willie, his youngest brother, reconstructed the story:

Khi vào thứ Sáu, ngày 27 tháng 11 [1863], cha mẹ đến Topsham, họ thấy ba người con trai và Adelia đang đợi họ tại nhà ga. Tất cả dường như đều khỏe mạnh, ngoại trừ Henry, người bị cảm lạnh. Nhưng đến thứ Ba tuần sau, ngày 1 tháng 12, Henry bị viêm phổi rất nặng. Nhiều năm sau, Willie, em trai út của Henry, kể lại câu chuyện:

‘During the absence of their parents, Henry and Edson, under the supervision of Brother Howland, were busily engaged in mounting the charts on cloth, ready for sale. They worked in a rented store building about a block from the Howland home. At length they had a respite for a few days while they were waiting for charts to be sent from Boston. . . . Returning from a long tramp by the river, he [Henry] thoughtlessly lay down and slept on a few damp cloths used in backing the paper charts. A chilly wind was blowing in from an open window. This indiscretion resulted in a severe cold.’” Arthur White, Ellen G. White, volume 2, 70.

'Trong thời gian cha mẹ vắng nhà, Henry và Edson, dưới sự giám sát của Anh Howland, bận rộn dán các tấm biểu đồ lên vải, sẵn sàng đem bán. Họ làm việc trong một cửa hàng thuê, cách nhà Howland khoảng một dãy nhà. Cuối cùng họ được tạm nghỉ vài ngày trong lúc chờ các biểu đồ gửi từ Boston. . . . Trở về sau một chuyến đi bộ dài dọc theo con sông, anh [Henry] thiếu suy nghĩ nằm xuống và ngủ trên vài tấm vải ẩm dùng để lót mặt sau các tấm biểu đồ giấy. Một luồng gió lạnh lùa vào từ một cửa sổ đang mở. Sự thiếu thận trọng này khiến anh bị cảm lạnh nặng.'" Arthur White, Ellen G. White, tập 2, 70.

In 1863, the Millerite movement ended with the formation of a church and the rejection of the foundational truths represented upon the two tables of Habakkuk. The primary leader, as typified by Hiel the Bethelite had begun the work of setting up the gates in 1860 and lost his youngest son for doing so. In 1863, the counterfeit charts became the resting place where Hiel’s oldest son took a nap. He caught a chill and died the same year. His death was directly connected to sleeping on the charts that were then being produced. But the chart that was being produced in 1863, was the counterfeit of the foundation that Elijah, represented by Miller had raised up.

Năm 1863, phong trào Millerite kết thúc với sự thành lập một hội thánh và sự khước từ các lẽ thật nền tảng được trình bày trên hai bảng của Habacúc. Người lãnh đạo chính, như được tiêu biểu bởi Hiel người Bê-tên, đã bắt đầu công việc dựng các cửa vào năm 1860 và vì làm như vậy đã mất người con trai út của mình. Năm 1863, những bảng giả mạo trở thành chỗ nghỉ nơi con trai cả của Hiel chợp mắt. Anh bị cảm lạnh và qua đời ngay trong năm đó. Cái chết của anh có liên hệ trực tiếp với việc ngủ trên những bảng khi đó đang được làm ra. Nhưng cái bảng đang được làm ra vào năm 1863 là bản giả mạo của nền tảng mà Ê-li, được Miller đại diện, đã dựng lên.

The command of Joshua against rebuilding Jericho, was expressed with the word “adjure.” It represents an oath and a curse, and is the same word translated as “seven times” in Leviticus twenty-six. It is the curse that accompanies the Elijah message, and that curse was accomplished in 1860 and 1863 as Millerite Adventism rebuilt Jericho with the formation of a legal church and the rejection of Miller’s stone of stumbling. Hiel was a Bethelite, thus prophetically emphasizing the work of Hiel in rebuilding Jericho, as the work of building a church.

Mệnh lệnh của Giô-suê chống lại việc tái xây dựng Giê-ri-cô được diễn đạt bằng từ “adjure”. Nó biểu trưng cho một lời thề và một lời rủa, và cũng là cùng một từ được dịch là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Đó là lời rủa đi kèm với sứ điệp Ê-li, và lời rủa ấy đã được ứng nghiệm vào các năm 1860 và 1863 khi chủ nghĩa Cận Lâm Millerite tái xây dựng Giê-ri-cô bằng việc thành lập một hội thánh hợp pháp và khước từ “hòn đá vấp phạm” của Miller. Hiel là một người Bê-tên, vì vậy về mặt tiên tri điều này nhấn mạnh rằng công việc của Hiel trong việc tái xây Giê-ri-cô là công việc xây dựng một hội thánh.

The “curse” of Joshua was proclaimed in conjunction with the story of the battle of Jericho, a battle that cannot be told without repeatedly identifying “seven times.”

"Lời nguyền" của Giô-suê được tuyên bố gắn liền với câu chuyện về trận chiến Giê-ri-cô, một trận chiến không thể được kể lại mà không nhiều lần nhắc đến "bảy lần".

In 1863, the message or “oath” of Moses, as presented by Elijah, and represented by William Miller produced a “curse.” Both the message of Moses and the work of Elijah were rejected. Elijah returned in 1989, but was not reconnected with Moses until post September 11, 2001. That information is yet to be defended, but it is air tight.

Vào năm 1863, sứ điệp hay "lời thề" của Môi-se, như được Ê-li trình bày và được William Miller đại diện, đã gây ra một "lời nguyền". Cả sứ điệp của Môi-se lẫn công việc của Ê-li đều bị khước từ. Ê-li đã trở lại vào năm 1989, nhưng không được kết nối lại với Môi-se cho đến sau ngày 11 tháng 9 năm 2001. Thông tin đó vẫn chưa được biện minh, nhưng nó kín kẽ, không có kẽ hở.

“Unsanctified ministers are arraying themselves against God. They are praising Christ and the God of this world in the same breath. While professedly they receive Christ, they embrace Barabbas, and by their actions say, ‘Not this Man, but Barabbas.’ Let all who read these lines, take heed. Satan has made his boast of what he can do. He thinks to dissolve the unity which Christ prayed might exist in His church. He says, ‘I will go forth and be a lying spirit to deceive those that I can, to criticize, and condemn, and falsify.’ Let the son of deceit and false witness be entertained by a church that has had great light, great evidence, and that church will discard the message the Lord has sent, and receive the most unreasonable assertions and false suppositions and false theories. Satan laughs at their folly, for he knows what truth is.

Những giáo sĩ chưa được thánh hóa đang dàn trận chống lại Đức Chúa Trời. Họ ca ngợi Đấng Christ và thần của đời này trong cùng một hơi thở. Trong khi bề ngoài họ xưng nhận Đấng Christ, họ lại ôm lấy Ba-ra-ba, và bằng hành động của mình họ nói: 'Không phải người này, nhưng là Ba-ra-ba.' Hết thảy những ai đọc những dòng này, hãy lưu ý. Sa-tan đã khoe khoang những điều hắn có thể làm. Hắn toan phá vỡ sự hiệp nhất mà Đấng Christ đã cầu xin cho tồn tại trong Hội Thánh của Ngài. Hắn nói: 'Ta sẽ đi ra và trở nên một thần linh dối trá để lừa dối những kẻ nào ta có thể, để chỉ trích, kết tội, và xuyên tạc.' Nếu một Hội Thánh đã có ánh sáng lớn lao, bằng cớ dồi dào, lại dung dưỡng đứa con của sự gian dối và chứng dối, thì Hội Thánh ấy sẽ loại bỏ sứ điệp Chúa đã sai đến, và tiếp nhận những lời khẳng định vô lý nhất, những giả định sai lạc và những lý thuyết sai trái. Sa-tan cười nhạo sự dại dột của họ, vì hắn biết lẽ thật là gì.

“Many will stand in our pulpits with the torch of false prophecy in their hands, kindled from the hellish torch of Satan. If doubts and unbelief are cherished, the faithful ministers will be removed from the people who think they know so much. ‘If thou hadst known,’ said Christ, ‘even thou, at least in this thy day, the things which belong unto thy peace! but now they are hid from thine eyes.’

"Nhiều kẻ sẽ đứng trên các giảng đài của chúng ta, tay cầm ngọn đuốc của lời tiên tri giả, được mồi lửa từ ngọn đuốc hỏa ngục của Sa-tan. Nếu hoài nghi và vô tín được dung dưỡng, thì các đầy tớ trung tín sẽ bị cất đi khỏi giữa những người tự cho là mình biết nhiều. 'Nếu ngươi đã biết,' Đấng Christ phán, 'chính ngươi, ít ra thì trong ngày này, những điều thuộc về sự bình an của ngươi! Nhưng bây giờ chúng đã bị che khuất khỏi mắt ngươi.'"

“Nevertheless, the foundation of God standeth sure. The Lord knoweth them that are His. The sanctified minister must have no guile in his mouth. He must be open as the day, free from every taint of evil. A sanctified ministry and press will be a power in flashing the light of truth on this untoward generation. Light, brethren, more light we need. Blow the trumpet in Zion; sound an alarm in the holy mountain. Gather the host of the Lord, with sanctified hearts, to hear what the Lord will say unto His people; for He has increased light for all who will hear. Let them be armed and equipped, and come up to the battle—to the help of the Lord against the mighty. God Himself will work for Israel. Every lying tongue will be silenced. Angels’ hands will overthrow the deceptive schemes that are being formed. The bulwarks of Satan will never triumph. Victory will attend the third angel’s message. As the Captain of the Lord’s host tore down the walls of Jericho, so will the Lord’s commandment-keeping people triumph, and all opposing elements be defeated. Let no soul complain of the servants of God who have come to them with a heaven-sent message. Do not any longer pick flaws in them, saying, ‘They are too positive; they talk too strongly.’ They may talk strongly; but is it not needed? God will make the ears of the hearers tingle if they will not heed His voice or His message. He will denounce those who resist the word of God.

Dẫu vậy, nền tảng của Đức Chúa Trời vẫn đứng vững. Chúa biết những kẻ thuộc về Ngài. Người hầu việc đã được thánh hóa phải không có lừa dối trong miệng. Người phải thẳng thắn như ban ngày, không vương chút ô uế của điều ác. Một chức vụ và công tác xuất bản được thánh hóa sẽ là một sức mạnh trong việc chiếu rọi ánh sáng lẽ thật trên thế hệ ngang nghịch này. Ánh sáng, hỡi anh em, chúng ta cần nhiều ánh sáng hơn. Hãy thổi kèn tại Si-ôn; phát tín hiệu báo động trên núi thánh. Hãy nhóm lại đạo binh của Chúa, với tấm lòng đã được thánh hóa, để nghe điều Chúa sẽ phán cùng dân Ngài; vì Ngài có thêm ánh sáng cho mọi kẻ chịu nghe. Hãy để họ được trang bị vũ khí đầy đủ, và tiến ra chiến trận—đến giúp Chúa chống lại kẻ quyền thế. Chính Đức Chúa Trời sẽ hành động vì Y-sơ-ra-ên. Mọi lưỡi dối trá sẽ bị câm lặng. Bàn tay các thiên sứ sẽ lật đổ những mưu kế lừa dối đang được bày ra. Thành lũy của Sa-tan sẽ chẳng bao giờ thắng. Chiến thắng sẽ đồng hành với sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Như khi Tướng của đạo binh Chúa đã phá đổ tường thành Giê-ri-cô, thì dân gìn giữ các điều răn của Chúa cũng sẽ đắc thắng, và mọi thế lực đối nghịch sẽ bị đánh bại. Chớ để bất kỳ linh hồn nào phàn nàn về các đầy tớ của Đức Chúa Trời, những người đã đến với họ với một sứ điệp từ trời. Đừng còn bắt bẻ họ nữa, rằng: ‘Họ quá quả quyết; họ nói quá mạnh.’ Họ có thể nói mạnh; nhưng điều đó chẳng phải là điều cần thiết sao? Đức Chúa Trời sẽ làm tai người nghe phải rúng động nếu họ không lưu ý tiếng Ngài hoặc sứ điệp của Ngài. Ngài sẽ lên án những kẻ chống nghịch lời Đức Chúa Trời.

“Satan has laid every measure possible that nothing shall come among us as a people to reprove and rebuke us, and exhort us to put away our errors. But there is a people who will bear the ark of God. Some will go out from among us who will bear the ark no longer. But these cannot make walls to obstruct the truth; for it will go onward and upward to the end. In the past God has raised up men, and He still has men of opportunity waiting, prepared to do His bidding—men who will go through restrictions which are only as walls daubed with untempered mortar. When God puts His Spirit upon men, they will work. They will proclaim the word of the Lord; they will lift up their voice like a trumpet. The truth will not be diminished or lose its power in their hands. They will show the people their transgressions, and the house of Jacob their sins.” Testimonies to Ministers, 409–411.

"Sa-tan đã bày ra mọi biện pháp có thể để không có điều gì đến giữa chúng ta, với tư cách là một dân sự, nhằm quở trách và khiển trách chúng ta, và khuyên bảo chúng ta dẹp bỏ những sai lầm của mình. Nhưng có một dân sự sẽ gánh vác Hòm Bia của Đức Chúa Trời. Một số người sẽ ra khỏi chúng ta; họ sẽ không còn gánh vác Hòm Bia nữa. Nhưng những người này không thể dựng nên những bức tường để cản trở lẽ thật; vì lẽ thật sẽ cứ tiến tới và vươn lên cho đến cuối cùng. Trong quá khứ, Đức Chúa Trời đã dấy lên những người, và Ngài vẫn còn có những người đang chờ thời cơ, đã được chuẩn bị để làm theo mạng lệnh của Ngài, những người sẽ vượt qua những sự hạn chế vốn chỉ như những bức tường trét vữa sống. Khi Đức Chúa Trời đổ Thánh Linh của Ngài trên con người, họ sẽ hành động. Họ sẽ rao truyền lời của Chúa; họ sẽ cất tiếng lên như tiếng kèn. Lẽ thật sẽ không bị giảm sút hay mất quyền năng trong tay họ. Họ sẽ chỉ cho dân sự biết các sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết các tội lỗi của họ." Lời Chứng cho Các Mục Sư, 409-411.