And after three days and an half the Spirit of life from God entered into them, and they stood upon their feet; and great fear fell upon them which saw them. And they heard a great voice from heaven saying unto them, Come up hither. And they ascended up to heaven in a cloud; and their enemies beheld them. Revelation 11:11, 12.

Sau ba ngày rưỡi, Thần khí của sự sống từ Thiên Chúa nhập vào họ, và họ đứng dậy; nỗi sợ hãi lớn bao trùm những ai thấy họ. Họ nghe một tiếng lớn từ trời phán với họ: Hãy lên đây. Và họ lên trời trong một đám mây; các kẻ thù của họ nhìn thấy họ. Khải Huyền 11:11-12.

After being trampled down in the street, Elijah and Moses receive the Comforter and they then stand upon their feet. Ezekiel’s valley of bones first hear a noise and then experience a shaking, but they were still without breath.

Sau khi bị giày xéo giữa phố, Ê-li và Môi-se đón nhận Đấng An Ủi và rồi đứng dậy trên đôi chân mình. Thung lũng xương của Ê-xê-chi-ên trước hết có tiếng động rồi rung chuyển, nhưng các xương ấy vẫn chưa có hơi thở.

So I prophesied as I was commanded: and as I prophesied, there was a noise, and behold a shaking, and the bones came together, bone to his bone. And when I beheld, lo, the sinews and the flesh came up upon them, and the skin covered them above: but there was no breath in them. Ezekiel 37:7, 8.

Vậy tôi nói tiên tri theo như điều tôi đã được truyền dặn; và đang khi tôi nói tiên tri, có tiếng động, kìa một sự rung chuyển, các xương kết lại với nhau, xương nào về với xương nấy. Khi tôi nhìn xem, kìa, gân và thịt mọc lên trên chúng, và da cũng phủ lên bên trên chúng; nhưng trong chúng chưa có hơi thở. Ê-xê-chi-ên 37:7, 8.

When the bodies have been reconstituted, they hear the message of the four winds.

Khi những thân xác đã được tái tạo, họ nghe được thông điệp của gió bốn phương.

Then said he unto me, Prophesy unto the wind, prophesy, son of man, and say to the wind, Thus saith the Lord God; Come from the four winds, O breath, and breathe upon these slain, that they may live. So I prophesied as he commanded me, and the breath came into them, and they lived, and stood up upon their feet, an exceeding great army. Ezekiel 37:9, 10.

Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hãy nói tiên tri với gió; hãy nói tiên tri, hỡi con người, và hãy nói với gió rằng: Chúa là Đức Chúa Trời phán như vầy: Hỡi hơi thở, hãy đến từ bốn phương gió, và hà hơi trên những người bị giết này, để họ được sống. Vậy tôi đã nói tiên tri như Ngài đã truyền cho tôi; thì hơi thở vào trong họ, họ sống lại và đứng trên chân mình, một đạo quân vô cùng đông. Ê-xê-chi-ên 37:9, 10.

All the prophets identify the end of the world, so the passage from Ezekiel produces a dilemma for those who wish to avoid the message of Revelation eleven’s two prophets. Of course, for those who wish to reject the message the easiest lie they can tell themselves is that Revelation eleven is just a history that represents the French Revolution, and it has no end of the world application. But if you accept the premise that even Revelation eleven identifies the end of the world, then you must reconcile the fact that the mighty army at the end of the world that presents the third angel’s message in a loud cry is identified as being dead and resurrected in advance of their standing up as God’s army.

Mọi nhà tiên tri đều chỉ ra tận thế, nên đoạn trong sách Ê-xê-chi-ên gây ra một nan đề cho những ai muốn né tránh sứ điệp của hai nhà tiên tri trong Khải Huyền đoạn 11. Dĩ nhiên, đối với những người muốn khước từ sứ điệp, lời dối trá dễ nhất mà họ có thể tự nói với mình là Khải Huyền đoạn 11 chỉ là một tường thuật lịch sử tượng trưng cho Cách mạng Pháp và không liên quan gì đến tận thế. Nhưng nếu bạn chấp nhận tiền đề rằng ngay cả Khải Huyền đoạn 11 cũng chỉ ra tận thế, thì bạn phải đối diện với thực tế rằng đạo quân hùng mạnh vào thời kỳ tận thế, vốn rao ra sứ điệp của thiên sứ thứ ba bằng tiếng kêu lớn, được mô tả là đã chết và được phục sinh trước khi họ đứng dậy như đạo quân của Đức Chúa Trời.

Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Therefore prophesy and say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, O my people, I will open your graves, and cause you to come up out of your graves, and bring you into the land of Israel. And ye shall know that I am the Lord, when I have opened your graves, O my people, and brought you up out of your graves, And shall put my spirit in you, and ye shall live, and I shall place you in your own land: then shall ye know that I the Lord have spoken it, and performed it, saith the Lord. Ezekiel 37:11–14.

Rồi Ngài phán cùng ta: Hỡi con người, những xương cốt này là toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên; kìa, họ nói: “Xương cốt chúng ta đã khô, hy vọng chúng ta đã tiêu tan; chúng ta đã bị đoạn tuyệt.” Vậy hãy nói tiên tri và nói với họ: “Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Kìa, hỡi dân ta, ta sẽ mở các mồ mả của các ngươi, khiến các ngươi trỗi dậy ra khỏi các mồ mả của mình, và đưa các ngươi vào đất Y-sơ-ra-ên. Các ngươi sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã mở các mồ mả của các ngươi, hỡi dân ta, và đưa các ngươi lên khỏi các mồ mả của mình. Ta sẽ đặt Thần của ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; ta sẽ đặt các ngươi trong đất riêng của các ngươi; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức Giê-hô-va, đã phán và đã làm điều ấy,” Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-xê-chi-ên 37:11-14.

Christ ascended into heaven with a cloud and He returns with clouds, and the clouds represent angels. Moses and Elijah ascend up into heaven in a cloud that represents the message of the third angel that flies in the midst of heaven at the Sunday law in the United States. Moses and Elijah ascend up into heaven at the Sunday law in connection with a message of Islam.

Chúa Kitô đã thăng thiên cùng với một đám mây và Ngài sẽ trở lại với những đám mây, và các đám mây ấy tượng trưng cho các thiên sứ. Môi-se và Ê-li được cất lên trời trong một đám mây tượng trưng cho sứ điệp của thiên sứ thứ ba bay giữa trời vào thời điểm luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ. Môi-se và Ê-li được cất lên trời vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, trong mối liên hệ với một sứ điệp của Hồi giáo.

Isaiah identifies many of the truths connected with this history and in the very same passage that Jesus referenced to identify His work. He employed the prophets Elijah and Elisha as examples of a prophetic message not being received by their own countrymen, and it immediately brought those of the church in Nazareth to anger and they sought to kill him.

Ê-sai chỉ ra nhiều lẽ thật gắn liền với câu chuyện lịch sử này, ngay trong chính đoạn văn mà Giê-su đã trích dẫn để xác định công việc của mình. Giê-su đã dùng các tiên tri Ê-li và Ê-li-sê làm ví dụ về một sứ điệp tiên tri không được chính đồng bào của họ tiếp nhận; điều đó lập tức khiến những người thuộc hội thánh ở Na-xa-rét phẫn nộ và họ tìm cách giết ông.

The spirit of the Lord God is upon me; because the Lord hath anointed me to preach good tidings unto the meek; he hath sent me to bind up the brokenhearted, to proclaim liberty to the captives, and the opening of the prison to them that are bound; To proclaim the acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God; to comfort all that mourn; To appoint unto them that mourn in Zion, to give unto them beauty for ashes, the oil of joy for mourning, the garment of praise for the spirit of heaviness; that they might be called trees of righteousness, the planting of the Lord, that he might be glorified. And they shall build the old wastes, they shall raise up the former desolations, and they shall repair the waste cities, the desolations of many generations. And strangers shall stand and feed your flocks, and the sons of the alien shall be your plowmen and your vinedressers. But ye shall be named the Priests of the Lord: men shall call you the Ministers of our God: ye shall eat the riches of the Gentiles, and in their glory shall ye boast yourselves. For your shame ye shall have double; and for confusion they shall rejoice in their portion: therefore in their land they shall possess the double: everlasting joy shall be unto them. For I the Lord love judgment, I hate robbery for burnt offering; and I will direct their work in truth, and I will make an everlasting covenant with them. And their seed shall be known among the Gentiles, and their offspring among the people: all that see them shall acknowledge them, that they are the seed which the Lord hath blessed. I will greatly rejoice in the Lord, my soul shall be joyful in my God; for he hath clothed me with the garments of salvation, he hath covered me with the robe of righteousness, as a bridegroom decketh himself with ornaments, and as a bride adorneth herself with her jewels. For as the earth bringeth forth her bud, and as the garden causeth the things that are sown in it to spring forth; so the Lord God will cause righteousness and praise to spring forth before all the nations.

Thần của Chúa là Đức Chúa Trời ở trên tôi; vì Chúa đã xức dầu cho tôi để rao truyền tin mừng cho kẻ khiêm nhường; Ngài đã sai tôi băng bó những tấm lòng tan vỡ, công bố tự do cho kẻ bị giam cầm, và mở cửa ngục cho những người bị trói buộc; để công bố năm đẹp lòng của Chúa, và ngày báo trả của Đức Chúa Trời chúng ta; để an ủi mọi kẻ than khóc; để ban cho những kẻ than khóc tại Si-ôn, ban cho họ vẻ đẹp thay cho tro bụi, dầu vui mừng thay cho tang chế, áo ngợi khen thay cho tinh thần u sầu; để họ được gọi là những cây công chính, do Chúa trồng, hầu cho Ngài được vinh hiển. Họ sẽ xây lại những chốn hoang phế xưa, dựng lại những đổ nát từ trước, và tu sửa các thành hoang tàn, những đổ nát của nhiều thế hệ. Người xa lạ sẽ đứng chăn bầy chiên của các ngươi, con cháu kẻ ngoại sẽ làm người cày ruộng và người trồng nho cho các ngươi. Nhưng các ngươi sẽ được gọi là các tư tế của Chúa; người ta sẽ gọi các ngươi là tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta; các ngươi sẽ hưởng sự giàu có của chư dân, và trong vinh quang của họ các ngươi sẽ tự hào. Thay cho sự hổ thẹn, các ngươi sẽ nhận gấp đôi; thay cho nhục nhằn, các ngươi sẽ vui mừng về phần mình; bởi vậy, trong xứ mình họ sẽ nhận phần gấp đôi; niềm vui vĩnh cửu sẽ thuộc về họ. Vì Ta, là Chúa, yêu chuộng sự công bình, ghét việc cướp bóc dùng làm của lễ thiêu; Ta sẽ hướng dẫn công việc của họ cách chân thật, và Ta sẽ lập một giao ước đời đời với họ. Dòng dõi họ sẽ được biết đến giữa chư dân, con cháu họ giữa các dân; mọi người thấy họ đều sẽ nhận biết rằng họ là dòng dõi mà Chúa đã ban phước. Tôi sẽ rất vui mừng trong Chúa, linh hồn tôi sẽ hân hoan trong Đức Chúa Trời của tôi; vì Ngài đã mặc cho tôi áo cứu rỗi, khoác cho tôi áo choàng công chính, như chú rể tự trang sức cho mình, và như cô dâu tự trang hoàng bằng châu báu của mình. Vì như đất làm nảy mầm chồi, và như vườn khiến những gì gieo trong đó đâm chồi nảy lộc, thì Chúa là Đức Chúa Trời cũng sẽ khiến sự công chính và lời ngợi khen trổ sinh trước mặt muôn dân.

For Zion’s sake will I not hold my peace, and for Jerusalem’s sake I will not rest, until the righteousness thereof go forth as brightness, and the salvation thereof as a lamp that burneth. And the Gentiles shall see thy righteousness, and all kings thy glory: and thou shalt be called by a new name, which the mouth of the Lord shall name. Thou shalt also be a crown of glory in the hand of the Lord, and a royal diadem in the hand of thy God. Thou shalt no more be termed Forsaken; neither shall thy land any more be termed Desolate: but thou shalt be called Hephzibah, and thy land Beulah: for the Lord delighteth in thee, and thy land shall be married. For as a young man marrieth a virgin, so shall thy sons marry thee: and as the bridegroom rejoiceth over the bride, so shall thy God rejoice over thee. I have set watchmen upon thy walls, O Jerusalem, which shall never hold their peace day nor night: ye that make mention of the Lord, keep not silence. And give him no rest, till he establish, and till he make Jerusalem a praise in the earth. The Lord hath sworn by his right hand, and by the arm of his strength, Surely I will no more give thy corn to be meat for thine enemies; and the sons of the stranger shall not drink thy wine, for the which thou hast laboured: But they that have gathered it shall eat it and praise the Lord; and they that have brought it together shall drink it in the courts of my holiness. Go through, go through the gates; prepare ye the way of the people; cast up, cast up the highway; gather out the stones; lift up a standard for the people. Behold, the Lord hath proclaimed unto the end of the world, Say ye to the daughter of Zion, Behold, thy salvation cometh; behold, his reward is with him, and his work before him. And they shall call them, The holy people, The redeemed of the Lord: and thou shalt be called, Sought out, A city not forsaken. Isaiah 61:1–62:12.

Vì cớ Si-ôn, ta sẽ chẳng nín lặng; vì cớ Giê-ru-sa-lem, ta sẽ chẳng nghỉ yên, cho đến khi sự công chính của nó phát ra như ánh rạng, và sự cứu rỗi của nó như ngọn đèn cháy sáng. Các dân ngoại sẽ thấy sự công chính của ngươi, và hết thảy các vua sự vinh hiển ngươi; ngươi sẽ được gọi bằng một tên mới, là tên mà miệng Đức Giê-hô-va sẽ đặt. Ngươi cũng sẽ là mão vinh hiển trong tay Đức Giê-hô-va, và mão triều thiên vương giả trong tay Đức Chúa Trời ngươi. Ngươi sẽ chẳng còn bị gọi là Bị Bỏ; đất ngươi cũng chẳng còn bị gọi là Hoang Vu; nhưng ngươi sẽ được gọi là Hép-xi-ba, và đất ngươi là Bê-u-la; vì Đức Giê-hô-va lấy làm vui về ngươi, và đất ngươi sẽ được kết hôn. Như thanh niên cưới gái đồng trinh, các con trai ngươi cũng sẽ cưới lấy ngươi; và như chàng rể vui mừng về cô dâu, Đức Chúa Trời ngươi cũng sẽ vui mừng về ngươi. Hỡi Giê-ru-sa-lem, ta đã đặt lính canh trên tường thành ngươi; họ sẽ chẳng bao giờ nín lặng, ngày cũng như đêm; hỡi những kẻ nhắc đến Đức Giê-hô-va, chớ im tiếng. Chớ cho Ngài nghỉ, cho đến chừng Ngài lập vững, và làm cho Giê-ru-sa-lem nên lời khen trên đất. Đức Giê-hô-va đã thề bởi tay hữu Ngài và bởi cánh tay mạnh mẽ của Ngài: Quả thật, ta sẽ chẳng còn phó lúa của ngươi làm đồ ăn cho kẻ thù nghịch ngươi, và con trai của kẻ xa lạ sẽ không uống rượu của ngươi, là điều ngươi đã lao nhọc; nhưng những kẻ đã thu góp sẽ ăn và ngợi khen Đức Giê-hô-va; những người đã gom lại sẽ uống trong các hành lang của nơi thánh ta. Hãy đi qua, đi qua các cửa; hãy sửa soạn đường cho dân; đắp, đắp đường cái; dọn sạch đá khỏi đó; giương một cờ hiệu cho các dân. Kìa, Đức Giê-hô-va đã rao truyền đến tận cùng đất: Hãy nói với con gái Si-ôn: Kìa, sự cứu rỗi ngươi đến; kìa, phần thưởng của Ngài ở với Ngài, và công lao của Ngài đi trước Ngài. Người ta sẽ gọi chúng là Dân thánh, Dân được Đức Giê-hô-va chuộc; và ngươi sẽ được gọi là Được tìm đến, Thành không bị bỏ. Ê-sai 61:1-62:12.

The Lord enters into “an everlasting covenant” with the one hundred and forty-four thousand who have previously been “forsaken,” but then become “a city” that is “not forsaken.” They were “desolate,” and dead in the street. Isaiah identifies them as the “Priests of the Lord,” the Lord’s “ministers,” a “holy people” and the “watchmen” on the walls of Zion.

Chúa lập “một giao ước đời đời” với một trăm bốn mươi bốn nghìn người trước đây đã bị “bỏ rơi”, nhưng rồi trở thành “một thành” “không bị bỏ rơi”. Họ đã “hoang tàn” và chết ngoài đường phố. Ê-sai gọi họ là “các thầy tế lễ của Chúa”, “các đầy tớ” của Chúa, một “dân thánh” và những “người canh gác” trên tường thành Si-ôn.

In contrast with those who rejoiced over their dead bodies, God then rejoices over them “as the bridegroom rejoiceth over the bride.” The bride has then been made ready. Just as in the promise to Philadelphia the Lord gives them a “new name,” and He identifies their name as “Hephzibah” and “Beulah.” Hephzibah means my delight is in her, and Beulah means to marry. The Lord marries those represented by Elijah and Moses.

Trái ngược với những kẻ đã vui mừng vì xác chết của họ, bấy giờ Đức Chúa Trời lại vui mừng về họ “như chàng rể vui mừng về cô dâu.” Khi ấy cô dâu đã được sửa soạn sẵn sàng. Cũng như trong lời hứa với Philadelphia, Chúa ban cho họ một “tên mới”, và Ngài gọi tên họ là “Hephzibah” và “Beulah.” “Hephzibah” nghĩa là “niềm vui của Ta ở trong nàng”, còn “Beulah” nghĩa là “kết hôn.” Chúa kết hôn với những người được Elijah và Moses đại diện.

The work they are given is to prepare the way for Christ Second Coming by preaching the “good tidings” of Christ and His righteousness “unto the end of the world.” They have been anointed by the Comforter in the outpouring of the Spirit and will then be lifted “up as a standard,” as “a great voice from heaven” says “unto them, Come up hither.” They will then be as “a crown of glory” and “a royal diadem” in the hand of the Lord. Zechariah identifies the same crown as an ensign, while also placing the event during the time of the latter rain.

Công việc được giao cho họ là dọn đường cho sự Tái Lâm của Đấng Christ bằng cách rao giảng “tin lành” về Đấng Christ và sự công chính của Ngài “đến tận cùng trái đất.” Họ đã được Đấng An Ủi xức dầu trong sự tuôn đổ của Thánh Linh và rồi sẽ được giương lên “như một cờ hiệu,” khi “một tiếng lớn từ trời” phán cùng họ: “Hãy lên đây.” Khi ấy họ sẽ như “một mão triều vinh hiển” và “một mão miện hoàng gia” trong tay Chúa. Xa-cha-ri xác định chính chiếc mão ấy là một cờ hiệu, đồng thời đặt biến cố ấy vào thời kỳ mưa mùa sau.

And the Lord their God shall save them in that day as the flock of his people: for they shall be as the stones of a crown, lifted up as an ensign upon his land. For how great is his goodness, and how great is his beauty! corn shall make the young men cheerful, and new wine the maids. Ask ye of the Lord rain in the time of the latter rain; so the Lord shall make bright clouds, and give them showers of rain, to every one grass in the field. Zechariah 9:16–10:1.

Và Chúa, Đức Chúa Trời của họ, sẽ cứu họ trong ngày ấy như bầy chiên của dân Ngài; vì họ sẽ như những viên đá quý của mão triều thiên, được nêu lên như cờ hiệu trên đất của Ngài. Vì sự nhân lành của Ngài lớn biết bao, và vẻ đẹp của Ngài lớn dường nào! Ngũ cốc sẽ làm các chàng trai vui mừng, và rượu mới làm các thiếu nữ hân hoan. Hãy xin Chúa cho mưa vào thời kỳ mưa cuối mùa; thì Chúa sẽ làm mây sáng chói và ban cho họ những trận mưa rào, để ai nấy đều có cỏ ngoài đồng. Xa-cha-ri 9:16-10:1.

They will be the “flock of His people,” but the Lord has a second flock who are then still in Babylon who he will also call. Their work will be to rebuild the “old” waste places and the “desolations” of many generations. They will be those who return and reestablish the old paths that have been rejected and covered up within Adventism and without Adventism. They will return to the Millerite foundational truths and present them in their purity to Laodicean Adventism and they will also present a message to those outside of Adventism concerning the “old” truths connected with God’s law, especially the Sabbath. In doing so they will use the histories of many generations to illustrate the new history. Their work will take place during the latter rain, when the judgments of God are in the land. When the Lord with His right hand, lifts them up as an ensign the entire world that had previously rejoiced over their dead bodies lying in the street will see the ensign, and hear the watchmen’s warning trumpet.

Họ sẽ là “bầy chiên của dân Ngài”, nhưng Chúa còn có một bầy chiên thứ hai, khi ấy vẫn còn ở Ba-by-lôn, mà Ngài cũng sẽ kêu gọi. Công việc của họ sẽ là xây lại những nơi hoang phế “xưa” và những “hoang tàn” của nhiều thế hệ. Họ sẽ là những người trở lại và tái lập các nẻo xưa đã bị khước từ và che đậy trong và ngoài Cơ Đốc Phục Lâm. Họ sẽ trở về với những lẽ thật nền tảng của phái Millerite và trình bày chúng trong sự tinh tuyền cho Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, và họ cũng sẽ rao ra một sứ điệp cho những người ở ngoài Cơ Đốc Phục Lâm về những lẽ thật “xưa” gắn liền với luật pháp của Đức Chúa Trời, đặc biệt là ngày Sa-bát. Khi làm như vậy, họ sẽ dùng lịch sử của nhiều thế hệ để minh họa cho lịch sử mới. Công việc của họ sẽ diễn ra trong thời kỳ mưa rào cuối mùa, khi các sự phán xét của Đức Chúa Trời ở trên đất. Khi Chúa, bằng cánh tay hữu của Ngài, giương họ lên như một cờ hiệu, cả thế gian vốn trước đây đã vui mừng vì thi thể của họ nằm trên đường phố sẽ thấy cờ hiệu ấy và nghe tiếng kèn cảnh báo của những người canh gác.

All ye inhabitants of the world, and dwellers on the earth, see ye, when he lifteth up an ensign on the mountains; and when he bloweth a trumpet, hear ye. Isaiah 18:3.

Hỡi hết thảy cư dân thế gian và những người ở trên đất, hãy xem, khi người ấy giương một cờ hiệu trên các núi; và khi người ấy thổi kèn, hãy nghe. Ê-sai 18:3.

In chapter eleven of Revelation when those who had been rejoicing over their dead bodies see them stand up “great fear fell upon them which saw them.”

Trong chương mười một của sách Khải Huyền, khi những người đã vui mừng vì thi thể của họ thấy họ đứng dậy, "nỗi sợ hãi lớn lao ập xuống trên những ai đã thấy họ."

Then shall the Assyrian fall with the sword, not of a mighty man; and the sword, not of a mean man, shall devour him: but he shall flee from the sword, and his young men shall be discomfited. And he shall pass over to his strong hold for fear, and his princes shall be afraid of the ensign, saith the Lord, whose fire is in Zion, and his furnace in Jerusalem. Isaiah 31:8, 9.

Rồi người A-si-ri sẽ ngã bởi gươm, chẳng phải của kẻ mạnh; và gươm, chẳng phải của kẻ tầm thường, sẽ nuốt nó; nhưng nó sẽ chạy trốn khỏi gươm, và những trai tráng của nó sẽ bị tan tác. Nó sẽ vì sợ hãi mà chạy đến đồn lũy kiên cố của mình, và các vương hầu của nó sẽ khiếp sợ trước hiệu kỳ, Đức Chúa phán, Đấng có lửa tại Si-ôn và lò lửa tại Giê-ru-sa-lem. Ê-sai 31:8, 9.

All the prophet’s testimonies come together in the book of Revelation. The Assyrian represents the king of the north in Daniel eleven verse forty to forty-five who comes to his end with none to help. When the one hundred and forty-four thousand, who are God’s watchmen, blow the trumpet the entire world will hear and be afraid. Those represented by the two prophets will be “anointed” by the Comforter “to preach good tidings” that are the “tidings out of the east and out of the north” that “trouble” the king of the north in Daniel chapter eleven verse forty-four and that marks the beginning of the persecution of the Sunday law crisis. At that time the Gentiles will respond to the message to come out of Babylon and come and join the priests of the Lord, who are also represented as “a root of Jesse,” thus identifying the biblical methodology that they will use to present the warning message unto the Gentiles.

Mọi lời chứng của các đấng tiên tri đều hội tụ trong sách Khải Huyền. Người A-si-ri đại diện cho vua phương bắc trong Đa-ni-ên đoạn mười một, câu bốn mươi đến bốn mươi lăm, kẻ sẽ đến hồi kết mà không ai giúp đỡ. Khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người canh gác của Đức Chúa Trời, thổi kèn, cả thế giới sẽ nghe và sợ hãi. Những người được hai tiên tri đại diện sẽ được “xức dầu” bởi Đấng Yên Ủi “để rao giảng tin mừng,” là những “tin tức từ phương đông và từ phương bắc” làm “rúng động” vua phương bắc trong Đa-ni-ên đoạn mười một câu bốn mươi bốn, và điều đó đánh dấu sự khởi đầu của cuộc bách hại trong khủng hoảng luật Chủ nhật. Lúc ấy dân ngoại sẽ đáp lại lời kêu gọi ra khỏi Ba-by-lôn và đến hiệp cùng các thầy tế lễ của Chúa, là những người cũng được mô tả như “một rễ của Y-sai,” qua đó xác định phương pháp Kinh Thánh mà họ sẽ dùng để trình bày thông điệp cảnh báo cho dân ngoại.

And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious. And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea. And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. Isaiah 11:10–12.

Trong ngày ấy sẽ có một rễ của Gie-sê đứng làm tiêu kỳ cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm kiếm Ngài, và sự yên nghỉ của Ngài sẽ vinh hiển. Trong ngày ấy sẽ xảy ra rằng Chúa sẽ lại giơ tay lần thứ hai để thu hồi phần dân sót của Ngài, những người còn lại, từ A-si-ri, từ Ai Cập, từ Pa-thrốt, từ Cút, từ Ê-lam, từ Si-nê-a, từ Ha-mát, và từ các đảo ngoài biển. Ngài sẽ dựng một tiêu kỳ cho các dân tộc, nhóm họp những kẻ bị xua đuổi của Y-sơ-ra-ên, và thâu lại những kẻ tản lạc của Giu-đa từ bốn phương trên đất. Ê-sai 11:10-12.

The Lord gathered His people on September 11, 2001 with the message that identified Islam’s attack as the arrival of the third woe. The Lord gathers His people again a second time after they have been dead in the street. When He does so those gathered are identified as “the outcasts of Israel,” the “dispersed of Judah.” They were cast out into the streets on July 18, 2020, but they are gathered a second time to be the ensign that gathers God’s other flock that are still in Babylon. The gathering of those still in Babylon begins at the Sunday law in the United States, which is the second of two voices in Revelation eighteen.

Chúa đã quy tụ dân sự của Ngài vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 qua sứ điệp xác định cuộc tấn công của Hồi giáo là sự xuất hiện của tai họa thứ ba. Chúa lại quy tụ dân Ngài lần thứ hai sau khi họ đã chết nơi đường phố. Khi Ngài làm như vậy, những người được nhóm lại được nhận diện là “những kẻ bị ruồng bỏ của Israel,” “những người tản lạc của Giu-đa.” Họ đã bị tống ra đường vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, nhưng họ được nhóm lại lần thứ hai để làm tiêu kỳ tập hợp bầy chiên khác của Đức Chúa Trời vẫn còn ở Ba-by-lôn. Việc nhóm lại những người vẫn còn ở Ba-by-lôn bắt đầu từ Đạo luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ, tức tiếng nói thứ hai trong hai tiếng nói ở Khải Huyền mười tám.

The first gathering took place on September 11, 2001 when Islam struck the United States. As the ensign that is to be gathered a second time they are represented as the root of Jesse, which is a symbol which represents the work of Alpha and Omega illustrating the end of a thing with the beginning of a thing. The first gathering was marked by an Islamic strike upon the United States and illustrates and identifies an Islamic strike upon the United States as the second gathering. When the root of Jesse stands for an ensign to the Gentiles his “rest” shall be glorious, for the ensign will lead those still in Babylon back to the biblical old path of the seventh-day Sabbath, thus marking the raising of the ensign for the Gentiles at the Sunday law crisis.

Cuộc quy tụ thứ nhất diễn ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 khi Hồi giáo tấn công Hoa Kỳ. Cờ hiệu sẽ được quy tụ lần thứ hai được biểu thị như gốc của Y-sai, là một biểu tượng đại diện cho công việc của Anpha và Ômêga, minh họa sự kết thúc của một điều đi cùng với sự khởi đầu của một điều. Cuộc quy tụ thứ nhất được đánh dấu bởi một đòn tấn công Hồi giáo vào Hoa Kỳ, và điều đó minh họa cũng như xác định một đòn tấn công Hồi giáo vào Hoa Kỳ là cuộc quy tụ thứ hai. Khi gốc của Y-sai đứng làm cờ hiệu cho Dân Ngoại, sự "nghỉ ngơi" của Ngài sẽ vinh hiển, vì cờ hiệu ấy sẽ dẫn những người vẫn còn ở Ba-by-lôn trở lại nẻo xưa của Kinh Thánh là ngày Sa-bát thứ bảy, qua đó đánh dấu việc giương cờ hiệu cho Dân Ngoại trong cuộc khủng hoảng luật Chủ Nhật.

The “ensign” first experiences a purification process that has been illustrated in Malachi chapter three, the two temple cleansings of Christ and of course the parable of the ten virgins at the end of the Millerite movement. The purification process at the beginning is repeated to the very letter at the end, and is represented by Isaiah in connection with a singular table that has been noted in a book. The rebellion of Adventism is the counterfeit table produced in 1863 to reject and replace the two tables noted in the book of Habakkuk chapter two.

“Cờ hiệu” trước hết trải qua một tiến trình thanh luyện đã được minh họa trong Ma-la-chi chương ba, hai lần Đấng Christ thanh tẩy đền thờ, và dĩ nhiên là trong dụ ngôn mười trinh nữ vào cuối phong trào Millerite. Tiến trình thanh luyện lúc ban đầu được lặp lại y nguyên vào lúc kết thúc, và được Ê-sai mô tả liên quan đến một tấm bảng đơn nhất đã được ghi nhận trong một cuốn sách. Sự phản loạn của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm là tấm bảng giả mạo được lập ra vào năm 1863 để khước từ và thay thế hai tấm bảng được ghi trong sách Ha-ba-cúc chương hai.

Now go, write it before them in a table, and note it in a book, that it may be for the time to come for ever and ever: That this is a rebellious people, lying children, children that will not hear the law of the Lord: Which say to the seers, See not; and to the prophets, Prophesy not unto us right things, speak unto us smooth things, prophesy deceits: Get you out of the way, turn aside out of the path, cause the Holy One of Israel to cease from before us. Wherefore thus saith the Holy One of Israel, Because ye despise this word, and trust in oppression and perverseness, and stay thereon: Therefore this iniquity shall be to you as a breach ready to fall, swelling out in a high wall, whose breaking cometh suddenly at an instant. And he shall break it as the breaking of the potters’ vessel that is broken in pieces; he shall not spare: so that there shall not be found in the bursting of it a sherd to take fire from the hearth, or to take water withal out of the pit. For thus saith the Lord God, the Holy One of Israel; In returning and rest shall ye be saved; in quietness and in confidence shall be your strength: and ye would not. But ye said, No; for we will flee upon horses; therefore shall ye flee: and, We will ride upon the swift; therefore shall they that pursue you be swift. One thousand shall flee at the rebuke of one; at the rebuke of five shall ye flee: till ye be left as a beacon upon the top of a mountain, and as an ensign on an hill. And therefore will the Lord wait, that he may be gracious unto you, and therefore will he be exalted, that he may have mercy upon you: for the Lord is a God of judgment: blessed are all they that wait for him. For the people shall dwell in Zion at Jerusalem: thou shalt weep no more: he will be very gracious unto thee at the voice of thy cry; when he shall hear it, he will answer thee. Isaiah 30:8–19.

Bây giờ hãy đi, viết điều này trước mặt họ trên một bảng, và ghi nó vào sách, để nó dùng cho thời về sau, đời đời mãi mãi: Rằng đây là một dân phản nghịch, những đứa con dối trá, những đứa con không chịu nghe luật pháp của Chúa: Họ nói với các nhà tiên kiến: Đừng thấy; và với các tiên tri: Đừng nói tiên tri cho chúng tôi những điều ngay thẳng; hãy nói với chúng tôi những điều êm tai, nói tiên tri những điều dối trá: Hãy tránh ra khỏi đường, rẽ khỏi lối, khiến Đấng Thánh của Israel đừng còn ở trước mặt chúng ta nữa. Vì vậy, Đấng Thánh của Israel phán thế này: Bởi các ngươi khinh miệt lời này, cậy vào sự áp bức và gian tà, và nương dựa vào đó: nên sự gian ác này sẽ đến với các ngươi như một chỗ nứt sắp sụp, phình ra nơi bức tường cao, mà sự vỡ nát của nó đến thình lình trong khoảnh khắc. Ngài sẽ đập nó như người ta đập vỡ bình của thợ gốm, đập nát thành từng mảnh; Ngài sẽ không tiếc, đến nỗi trong đống vỡ đó chẳng tìm được một mảnh gốm nào để gắp lửa từ lò, hay múc nước từ hố. Vì Chúa, Đức Chúa Trời, Đấng Thánh của Israel, phán như vầy: Trong sự trở lại và yên nghỉ các ngươi sẽ được cứu; trong sự yên lặng và tin cậy sẽ là sức mạnh của các ngươi; nhưng các ngươi không chịu. Nhưng các ngươi nói: Không; vì chúng tôi sẽ chạy trốn trên ngựa; bởi vậy các ngươi sẽ chạy trốn; và: Chúng tôi sẽ cưỡi trên loài nhanh nhẹn; vì thế những kẻ đuổi theo các ngươi sẽ nhanh nhẹn. Một ngàn người sẽ chạy trốn khi một người quở trách; khi năm người quở trách, các ngươi sẽ chạy trốn, cho đến khi các ngươi còn lại như cột hiệu trên đỉnh núi, như cờ hiệu trên gò đồi. Vì vậy Đức Chúa sẽ đợi chờ để thi ân cho các ngươi, và vì vậy Ngài sẽ được tôn cao để thương xót các ngươi; vì Chúa là Đức Chúa Trời của sự công minh; phước cho mọi người trông đợi Ngài. Vì dân sẽ ở tại Si-ôn, trong Giê-ru-sa-lem; ngươi sẽ không còn khóc nữa; Ngài sẽ rất đoái thương ngươi khi nghe tiếng kêu cầu của ngươi; khi Ngài nghe, Ngài sẽ đáp lời ngươi. Ê-sai 30:8-19.

In 1863 Adventism began the process of rejecting the prophetic message of William Miller as represented upon the two sacred tables of Habakkuk. Jesus illustrates the end with the beginning. In this passage the rebels at the beginning of Adventism, also represent the rebels at the end of Adventism. In both cases the rebellion represents a rejection of the prophetic message and methodology of each history, when they proclaim to the “seers,” “See not; and to the prophets, Prophesy not unto us right things, speak unto us smooth things, prophesy deceits.”

Vào năm 1863, phong trào Cơ Đốc Phục Lâm bắt đầu tiến trình khước từ sứ điệp tiên tri của William Miller, như được thể hiện trên hai tấm bảng thánh của Ha-ba-cúc. Chúa Giê-su dùng phần khởi đầu để minh họa phần kết. Trong đoạn này, những kẻ phản nghịch ở buổi đầu của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm cũng đại diện cho những kẻ phản nghịch ở hồi kết của phong trào này. Trong cả hai trường hợp, sự phản nghịch biểu thị sự khước từ sứ điệp tiên tri và phương pháp luận của mỗi thời kỳ lịch sử, khi họ nói với các “người xem khải tượng”: “Đừng xem”; và với các tiên tri: “Đừng nói cho chúng tôi những điều ngay thẳng; hãy nói những điều êm tai; hãy nói tiên tri những điều dối trá.”

They also determine to leave the path when they proclaim “Get you out of the way, turn aside out of the path, cause the Holy One of Israel to cease from before us.” The path of the righteous is the “old paths” of Jeremiah chapter six verses sixteen and seventeen. The rebels determine not to walk in the foundational truths or to hearken to the sound of the trumpet that is blown by the watchmen that have been lifted up, representing the Millerite movement and the movement of Future for America.

Họ cũng quyết định rời bỏ con đường khi họ tuyên bố: "Hãy tránh khỏi đường đi, rẽ sang khỏi lối, khiến Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên không còn ở trước mặt chúng ta." Đường lối của người công chính là "những lối xưa" trong Giê-rê-mi chương sáu, câu mười sáu và mười bảy. Những kẻ phản nghịch quyết định không bước đi trong các lẽ thật nền tảng, cũng không lắng nghe tiếng kèn do những người lính canh đã được dấy lên thổi, những người ấy đại diện cho phong trào Millerite và phong trào Future for America.

Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Therefore hear, ye nations, and know, O congregation, what is among them. Hear, O earth: behold, I will bring evil upon this people, even the fruit of their thoughts, because they have not hearkened unto my words, nor to my law, but rejected it. Jeremiah 6:16–19.

Chúa phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường, nhìn xem, và hỏi về những lối xưa, đâu là đường tốt, rồi hãy đi trong đó, thì các ngươi sẽ tìm được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói: Chúng tôi sẽ không đi trong đó. Ta cũng đặt những lính canh trên các ngươi, bảo rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói: Chúng tôi sẽ không lắng nghe. Vậy nên, hỡi các dân, hãy nghe, và hỡi hội chúng, hãy biết điều gì ở giữa họ. Hỡi đất, hãy nghe: Này, ta sẽ giáng tai họa trên dân này, chính là bông trái các mưu tưởng của họ, vì họ đã không lắng nghe lời ta, cũng chẳng nghe luật pháp ta, nhưng đã chối bỏ nó. Giê-rê-mi 6:16-19.

The rebels’ refusal to walk in the old paths is also represented as their desire to “cause the Holy One of Israel to cease from before them”, and represents the rejection of the message of the Midnight Cry which is premised upon the Alpha and Omega illustrating the end of Adventism with the beginning.

Việc những kẻ phản nghịch từ chối bước đi trong các nẻo xưa cũng được thể hiện như mong muốn của họ “khiến Đấng Thánh của Israel không còn ở trước mặt họ nữa”, và thể hiện sự bác bỏ sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm, vốn được đặt nền tảng trên Alpha và Omega, minh họa phần kết của phong trào Phục Lâm bằng phần khởi đầu.

“They had a bright light set up behind them at the beginning of the path, which an angel told me was the ‘midnight cry.’ This light shone all along the path, and gave light for their feet, so that they might not stumble.

Họ có một ánh sáng rực rỡ được đặt phía sau họ ở đầu con đường, mà một thiên sứ nói với tôi rằng đó là 'tiếng kêu nửa đêm'. Ánh sáng ấy chiếu rọi suốt dọc con đường và soi bước chân họ, để họ không vấp ngã.

“If they kept their eyes fixed on Jesus, who was just before them, leading them to the city, they were safe. But soon some grew weary, and said the city was a great way off, and they expected to have entered it before. Then Jesus would encourage them by raising His glorious right arm, and from His arm came a light which waved over the advent band, and they shouted ‘Alleluia!’ Others rashly denied the light behind them, and said that it was not God that had led them out so far. The light behind them went out, leaving their feet in perfect darkness, and they stumbled and lost sight of the mark and of Jesus, and fell off the path down into the dark and wicked world below.” Christian Experience and Teachings of Ellen G. White, 57.

Nếu họ giữ mắt chăm chú nhìn vào Chúa Giê-su, Đấng ở ngay trước mặt họ, dẫn họ đến thành, thì họ được an toàn. Nhưng chẳng bao lâu, một số người trở nên mệt mỏi và nói rằng thành còn rất xa, và họ mong rằng lẽ ra đã vào đó từ trước. Bấy giờ Chúa Giê-su khích lệ họ bằng cách giơ cao cánh tay phải vinh hiển của Ngài, và từ cánh tay ấy phát ra một luồng sáng chiếu rọi trên đoàn người trông đợi, và họ reo lên: “Ha-lê-lu-gia!” Những người khác thì hấp tấp chối bỏ ánh sáng phía sau họ, và nói rằng chẳng phải Đức Chúa Trời đã dẫn họ ra xa đến thế. Ánh sáng phía sau họ tắt mất, bỏ mặc bước chân họ trong bóng tối hoàn toàn; họ vấp ngã, mất dấu mục tiêu và mất Chúa Giê-su khỏi tầm mắt, rồi rơi khỏi con đường, lao xuống thế gian tối tăm và gian ác bên dưới. Kinh nghiệm và giáo huấn Cơ Đốc của Ellen G. White, 57.

The purification process represented by the Midnight Cry produces two classes of worshippers, and Isaiah chapter thirty represents the foolish virgins lack of oil as an inability to gather water or fire, which are both symbols of the Comforter when Isaiah writes, “whose breaking cometh suddenly at an instant. And he shall break it as the breaking of the potters’ vessel that is broken in pieces; he shall not spare: so that there shall not be found in the bursting of it a sherd to take fire from the hearth, or to take water withal out of the pit.” Their judgment comes “suddenly” as represented by the cry at midnight, when they then find that it is too late to obtain the oil. The fire and water in Isaiah’s testimony are simply another representation of the oil in the parable of the ten virgins. Oil, water and fire represent character, they represent the message and also the presence of the Comforter. None of these symbols can be obtained when the judgment of the ten virgins “cometh suddenly at an instant.” It is then too late.

Quá trình thanh luyện được biểu thị bởi Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm tạo ra hai hạng người thờ phượng, và Ê-sai đoạn ba mươi mô tả sự thiếu dầu của các trinh nữ dại như sự bất lực trong việc lấy nước hay lửa, vốn đều là những biểu tượng của Đấng An Ủi, khi Ê-sai viết: "Sự tan vỡ của nó xảy đến bất thình lình trong khoảnh khắc. Người sẽ đập nó như đập đồ gốm của thợ gốm đến nát vụn; người chẳng dung tiếc, đến nỗi trong sự vỡ nát ấy chẳng tìm được một mảnh để lấy lửa từ bếp, hay để múc nước từ hố." Sự phán xét dành cho họ đến "bất thình lình" như được biểu trưng bởi tiếng kêu lúc nửa đêm; khi ấy họ mới nhận ra đã quá muộn để có được dầu. Lửa và nước trong lời chứng của Ê-sai chỉ là một cách biểu thị khác cho dầu trong dụ ngôn mười trinh nữ. Dầu, nước và lửa tượng trưng cho tính cách; chúng tượng trưng cho sứ điệp và cũng cho sự hiện diện của Đấng An Ủi. Không biểu tượng nào trong số ấy có thể được nhận lãnh khi sự phán xét của mười trinh nữ "đến bất chợt trong khoảnh khắc." Khi ấy đã quá muộn.

The only safety is in “returning,” which is the promise made to Jeremiah when he represented those that were disappointed at the first disappointment. If God’s people would return unto Him, He would return unto them, but the rebels refuse and the light that illuminated the path went out. The light at the beginning was the Midnight Cry and the path forward was illuminated by Christ’s glorious right arm all the way into eternity. Christ was in front of those on the path and the light behind must be the same light, for Christ illustrates the end of the path with the beginning of the path. The Midnight Cry was and is present truth.

Sự an toàn duy nhất nằm ở việc "trở về" — đó là lời hứa đã được ban cho Giê-rê-mi khi ông đại diện cho những người nếm trải nỗi thất vọng đầu tiên. Nếu dân của Đức Chúa Trời chịu trở về cùng Ngài, thì Ngài sẽ trở lại với họ; nhưng những kẻ phản nghịch từ chối, và ánh sáng soi đường đã tắt. Ánh sáng ban đầu chính là Tiếng Kêu Nửa Đêm, và con đường phía trước được cánh tay phải vinh hiển của Đấng Christ chiếu rọi suốt cho đến cõi đời đời. Đấng Christ ở phía trước những người trên con đường ấy, và ánh sáng phía sau hẳn phải là cùng một ánh sáng, vì Đấng Christ minh họa đoạn cuối của con đường bằng chính đoạn đầu của nó. Tiếng Kêu Nửa Đêm đã là và vẫn là lẽ thật hiện tại.

“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.

Tôi thường được nhắc đến dụ ngôn mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan, và năm người dại. Dụ ngôn này đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, vì nó có sự áp dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc thời gian chấm dứt. Review and Herald, ngày 19 tháng 8 năm 1890.

A desire to cause the Holy One to cease from before them is a rejection of not only Christ, but Christ as the Alpha and Omega. It is the rejection of the Midnight Cry message. The Midnight Cry message in the beginning of Adventism was a correction of the failed prediction.

Mong muốn khiến Đấng Thánh thôi hiện diện trước mặt họ là sự khước từ không chỉ Đấng Christ, mà cả Đấng Christ là Alpha và Omega. Đó là sự khước từ sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm vào buổi đầu của phong trào Phục Lâm là sự điều chỉnh đối với lời dự đoán đã thất bại.

The rebels who rejected the “old paths” and created a counterfeit “table” separate from the righteous as represented in the Millerite movement’s fulfillment of the Midnight Cry. Then “One thousand” fled “at the rebuke of one” and the movement suddenly went from fifty thousand down to fifty. They fled because of the “rebuke” which came from the “five” wise virgins who told them they had no oil to share, and that they must go and buy their own oil. The separation of the foolish from the wise left the wise virgins “as a beacon upon the top of a mountain, and as an ensign on an hill.” The rebellion of the foolish virgins on October 22, 1844 illustrated the rebellion of 1863, for October 22, 1844 was the beginning of the nineteen years that represents the end of the “seven times” of Leviticus twenty-six. We have more to say on this subject, but the rebellion in 1844 typified the rebellion of 1863 and marks the point when the counterfeit table was created.

Những kẻ nổi loạn đã khước từ “những lối xưa” và lập ra một “bàn” giả mạo, tách biệt khỏi những người công chính, như được thể hiện trong sự ứng nghiệm của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm của phong trào Millerite. Rồi “Một ngàn” chạy trốn “khi bị một người quở trách”, và phong trào đột ngột từ năm mươi nghìn xuống còn năm mươi. Họ chạy trốn vì “lời quở trách” đến từ “năm” trinh nữ khôn ngoan, những người nói với họ rằng họ không có dầu để chia sẻ, và rằng họ phải đi mua dầu cho riêng mình. Sự tách biệt kẻ dại khỏi người khôn khiến các trinh nữ khôn ngoan “như ngọn đèn hiệu trên đỉnh núi, và như một cờ hiệu trên một ngọn đồi.” Cuộc phản loạn của các trinh nữ dại vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 minh họa cho cuộc phản loạn năm 1863, vì ngày 22 tháng 10 năm 1844 là khởi đầu của mười chín năm tượng trưng cho sự kết thúc của “bảy lần” trong Lê-vi Ký 26. Chúng tôi còn nhiều điều để nói về chủ đề này, nhưng cuộc phản loạn năm 1844 là hình bóng cho cuộc phản loạn năm 1863 và đánh dấu thời điểm khi chiếc “bàn” giả mạo được tạo ra.

The fear that is experienced by the foolish virgins, is the fear represented when the wise virgins are brought back to life and stand upon their feet. It is then too late to return from the disappointment of July 18, 2020, and the next thing to happen is the ascension up into heaven that takes place at the Sunday law. It is then that a great earthquake takes place.

Nỗi sợ hãi mà các trinh nữ dại trải qua chính là nỗi sợ được minh họa khi các trinh nữ khôn ngoan được làm cho sống lại và đứng trên chân mình. Lúc ấy thì đã quá muộn để vượt qua nỗi thất vọng của ngày 18 tháng 7 năm 2020, và điều tiếp theo xảy ra là sự thăng thiên lên trời diễn ra khi luật Chủ nhật được ban hành. Chính khi đó một trận động đất lớn xảy ra.

And the same hour was there a great earthquake, and the tenth part of the city fell, and in the earthquake were slain of men seven thousand: and the remnant were affrighted, and gave glory to the God of heaven. The second woe is past; and, behold, the third woe cometh quickly. Revelation 11:13, 14.

Ngay trong giờ ấy đã xảy ra một trận động đất lớn; một phần mười thành sụp đổ, và trong trận động đất ấy có bảy ngàn người bị giết; những người còn lại đều sợ hãi và tôn vinh Đức Chúa Trời trên trời. Tai họa thứ hai đã qua; kìa, tai họa thứ ba đến mau chóng. Khải Huyền 11:13, 14.

Revelation eleven identifies that during the French Revolution a tenth part of the city fell, and in that history the nation of France, a nation that consisted of two prophetic horns represented as Sodom and Egypt was overthrown. The two horns of France typify the two horns of the United States.

Khải Huyền đoạn 11 cho biết rằng trong thời Cách mạng Pháp, một phần mười của thành đã sụp đổ, và trong bối cảnh lịch sử ấy, nước Pháp—một quốc gia gồm hai sừng mang tính tiên tri, được tượng trưng là Sô-đôm và Ai Cập—đã bị lật đổ. Hai sừng của nước Pháp tiêu biểu cho hai sừng của Hoa Kỳ.

France was prophetically one of ten kingdoms that represent pagan Rome in Daniel seven, and therefore a tenth part of the kingdom (city) fell. In fact, of those ten horns of Daniel seven that ultimately placed the papacy on the throne of the earth in 538, France was the primary kingdom that established the papacy. As one of the ten powers of Daniel seven France typifies the role of the two horned earth beast of Revelation thirteen. The United States accomplishes the same work for the papacy at the end as France did at the beginning. The United States is the premier power of ten kings that represent the United Nations, and it falls at the earthquake of the Sunday law. We will address these verses more fully in the next article.

Theo lời tiên tri, nước Pháp là một trong mười vương quốc đại diện cho La Mã ngoại giáo trong Đa-ni-ên đoạn bảy, và vì thế một phần mười của vương quốc (thành phố) đã sụp đổ. Thực vậy, trong số mười sừng của Đa-ni-ên đoạn bảy, những thế lực rốt cuộc đã đặt quyền giáo hoàng lên ngai trị vì thế gian vào năm 538, Pháp là vương quốc chủ chốt đã thiết lập quyền giáo hoàng. Là một trong mười quyền lực của Đa-ni-ên đoạn bảy, Pháp là hình bóng cho vai trò của con thú từ đất có hai sừng trong Khải Huyền đoạn mười ba. Hoa Kỳ hoàn thành cùng một công việc cho quyền giáo hoàng vào thời cuối cùng như Pháp đã làm lúc ban đầu. Hoa Kỳ là quyền lực hàng đầu trong số mười vua tượng trưng cho Liên Hiệp Quốc, và nó sẽ sụp đổ khi xảy ra cơn động đất của luật ngày Chủ nhật. Chúng tôi sẽ bàn về các câu Kinh Thánh này đầy đủ hơn trong bài viết tiếp theo.

One of the primary issues of this article is that it is a message that brings God’s people to their feet, for the Comforter that brings them to their feet represents the oil, which not only represents the Holy Spirit but also the communications that God sends to His people. The message of Revelation eleven that brings Moses and Elijah to their feet is also represented with the promise given to Jeremiah.

Một trong những điểm chính của bài viết này là: đó là một sứ điệp khiến dân của Đức Chúa Trời đứng dậy, vì Đấng Yên Ủi, Đấng khiến họ đứng dậy, được biểu trưng bằng dầu; dầu ấy không chỉ tượng trưng cho Đức Thánh Linh mà còn cho những thông điệp Đức Chúa Trời gửi đến dân Ngài. Sứ điệp của Khải Huyền chương mười một khiến Môi-se và Ê-li đứng dậy cũng được thể hiện qua lời hứa ban cho Giê-rê-mi.

Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. And I will make thee unto this people a fenced brazen wall: and they shall fight against thee, but they shall not prevail against thee: for I am with thee to save thee and to deliver thee, saith the Lord. And I will deliver thee out of the hand of the wicked, and I will redeem thee out of the hand of the terrible. Jeremiah 15:19–21.

Vì vậy, Chúa phán: Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; nếu ngươi tách điều quý báu khỏi điều hèn hạ, ngươi sẽ như miệng Ta. Hãy để họ trở lại với ngươi; nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Ta sẽ làm cho ngươi đối với dân này như một bức tường đồng kiên cố; họ sẽ chiến đấu chống lại ngươi, nhưng họ sẽ không thắng được ngươi; vì Ta ở cùng ngươi để cứu và giải thoát ngươi, Chúa phán. Ta sẽ giải cứu ngươi khỏi tay kẻ ác, và Ta sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ hung bạo. Giê-rê-mi 15:19-21.

Isaiah had made the same appeal when he said “For thus saith the Lord God, the Holy One of Israel; In returning and rest shall ye be saved.” Isaiah added that the “returning” was in connection with the tarrying time of the parable, for he wrote, “And therefore will the Lord wait, that he may be gracious unto you, and therefore will he be exalted, that he may have mercy upon you: for the Lord is a God of judgment: blessed are all they that wait for him.”

Isaiah đã đưa ra lời kêu gọi tương tự khi ông nói: "Vì Chúa, Đức Chúa Trời, Đấng Thánh của Israel, phán như vầy: Trong sự trở về và yên nghỉ, các ngươi sẽ được cứu." Isaiah còn nói thêm rằng "sự trở về" có liên hệ với thời kỳ trì hoãn trong dụ ngôn, vì ông đã viết: "Vì vậy Chúa sẽ chờ đợi, để Ngài có thể ban ơn cho các ngươi; và vì vậy Ngài sẽ được tôn cao, để Ngài có thể thương xót các ngươi; vì Chúa là Đức Chúa Trời của sự phán xét; phước cho mọi kẻ trông đợi Ngài."

The privilege of being God’s “mouth” as Jeremiah identified is the privilege of speaking for God at the time when the United States “speaks as a dragon.” The words that will then be spoken by God’s people is the warning against the mark of the papal beast. To partake in that glorious movement requires that we return.

Đặc ân làm “miệng” của Đức Chúa Trời, như Giê-rê-mi đã nói, là đặc ân được nói thay Ngài vào lúc Hoa Kỳ “nói như một con rồng.” Khi ấy, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ cất lên lời cảnh báo chống lại dấu của con thú giáo hoàng. Để dự phần vào phong trào vinh hiển đó, chúng ta cần phải trở lại.

If thou wilt return, O Israel, saith the Lord, return unto me: and if thou wilt put away thine abominations out of my sight, then shalt thou not remove. And thou shalt swear, The Lord liveth, in truth, in judgment, and in righteousness; and the nations shall bless themselves in him, and in him shall they glory. For thus saith the Lord to the men of Judah and Jerusalem, Break up your fallow ground, and sow not among thorns. Circumcise yourselves to the Lord, and take away the foreskins of your heart, ye men of Judah and inhabitants of Jerusalem: lest my fury come forth like fire, and burn that none can quench it, because of the evil of your doings. Declare ye in Judah, and publish in Jerusalem; and say, Blow ye the trumpet in the land: cry, gather together, and say, Assemble yourselves, and let us go into the defenced cities. Set up the standard toward Zion: retire, stay not: for I will bring evil from the north, and a great destruction. The lion is come up from his thicket, and the destroyer of the Gentiles is on his way; he is gone forth from his place to make thy land desolate; and thy cities shall be laid waste, without an inhabitant. Jeremiah 4:1–7.

Nếu ngươi muốn trở lại, hỡi Y-sơ-ra-ên, Chúa phán, hãy trở lại cùng ta; và nếu ngươi cất bỏ những điều ghê tởm khỏi trước mặt ta, thì ngươi sẽ không bị dời đi. Ngươi sẽ thề rằng: “Chúa hằng sống,” trong chân thật, trong sự xét đoán, và trong sự công chính; các dân tộc sẽ chúc phước cho mình trong Ngài, và trong Ngài họ sẽ vinh hiển. Vì Chúa phán với người Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem như vầy: Hãy cày phá ruộng đất bỏ hoang của các ngươi, chớ gieo giữa gai gốc. Hãy cắt bì cho Chúa, cắt bỏ bao quy đầu của lòng các ngươi, hỡi người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, kẻo cơn thịnh nộ ta bốc lên như lửa, cháy không ai dập tắt được, vì sự ác các ngươi làm. Hãy rao truyền trong Giu-đa và công bố tại Giê-ru-sa-lem; hãy nói: Hãy thổi kèn trong xứ; hãy kêu gọi, nhóm họp lại, và nói: Hãy tập hợp, chúng ta hãy vào các thành kiên cố. Hãy dựng cờ hiệu hướng về Si-ôn; hãy chạy lánh, đừng dừng lại; vì ta sẽ đem tai họa từ phương bắc đến, một cuộc hủy diệt lớn. Sư tử đã ra khỏi bụi rậm, kẻ hủy diệt các dân tộc đang trên đường; nó đã ra khỏi chỗ mình để làm cho xứ ngươi hoang tàn; và các thành ngươi sẽ bị đổ nát, không còn người cư trú. Giê-rê-mi 4:1-7.

But the spirit of the Lord came upon Gideon, and he blew a trumpet; and Abiezer was gathered after him. And he sent messengers throughout all Manasseh; who also was gathered after him: and he sent messengers unto Asher, and unto Zebulun, and unto Naphtali; and they came up to meet them. Judges 6:34, 35.

Nhưng Thần của Đức Chúa Trời ngự trên Gideon, và ông thổi kèn; và nhà Abiezer tập hợp lại theo sau ông. Rồi ông sai các sứ giả đi khắp cả Manasseh; họ cũng tập hợp lại theo sau ông: và ông sai sứ giả đến Asher, đến Zebulun, và đến Naphtali; và họ kéo lên để gặp những người ấy. Các Quan Xét 6:34, 35.