It is an acceptable biblical understanding to identify the prophet Ezekiel as thirty years old in his opening verses.
Theo một cách hiểu Kinh Thánh có thể chấp nhận được, có thể xác định rằng tiên tri Ê-xê-chi-ên được ba mươi tuổi trong những câu mở đầu của sách ông.
Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, in the fifth day of the month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened, and I saw visions of God. In the fifth day of the month, which was the fifth year of king Jehoiachin’s captivity, The word of the Lord came expressly unto Ezekiel the priest, the son of Buzi, in the land of the Chaldeans by the river Chebar; and the hand of the Lord was there upon him. Ezekiel 1:1–3.
Vả, nhằm năm thứ ba mươi, tháng tư, ngày mồng năm tháng ấy, khi ta đang ở giữa những kẻ bị lưu đày bên sông Kê-ba, thì các tầng trời mở ra, và ta đã thấy những sự hiện thấy của Đức Chúa Trời. Ngày mồng năm tháng ấy, tức là năm thứ năm đời bị lưu đày của vua Giê-hô-gia-kinh, lời của Đức Giê-hô-va đã phán rõ ràng cùng Ê-xê-chi-ên, thầy tế lễ, con trai Bu-xi, tại xứ người Canh-đê bên sông Kê-ba; và tại đó tay của Đức Giê-hô-va ở trên người. Ê-xê-chi-ên 1:1–3.
Some believe “the thirtieth year” is based upon a specific jubilee cycle, which began with king Josiah and ended with verse one of chapter forty.
Một số người tin rằng “năm thứ ba mươi” được tính theo một chu kỳ hân hỉ nhất định, khởi đầu với vua Giô-si-a và chấm dứt tại câu một của chương bốn mươi.
In the five and twentieth year of our captivity, in the beginning of the year, in the tenth day of the month, in the fourteenth year after that the city was smitten, in the selfsame day the hand of the Lord was upon me, and brought me thither. Ezekiel 40:1.
Vào năm thứ hai mươi lăm của cuộc lưu đày chúng tôi, vào đầu năm, ngày mồng mười của tháng, nhằm năm thứ mười bốn sau khi thành bị đánh hạ, chính trong ngày ấy tay của Đức Giê-hô-va ở trên tôi, và Ngài đem tôi đến đó. Ê-xê-chi-ên 40:1.
Biblical chronologists date verse one of chapter forty as either April 28 or October 22, 573 BC. All the prophets identify the latter days, so the fall date of October 22, 573 BC is the omega date of a line that began fifty years prior in what is called “Josiah’s Great Passover” on May 5, 622 BC.
Các nhà niên đại học Kinh Thánh xác định câu một của chương bốn mươi vào hoặc ngày 28 tháng Tư hoặc ngày 22 tháng Mười năm 573 TCN. Tất cả các nhà tiên tri đều nhận diện những ngày sau rốt, vì vậy mốc mùa thu là ngày 22 tháng Mười năm 573 TCN là ngày ô-mê-ga của một đường tuyến đã bắt đầu năm mươi năm trước đó tại điều được gọi là “Lễ Vượt Qua Vĩ Đại của Giô-si-a” vào ngày 5 tháng Năm năm 622 TCN.
The number thirty is a symbol of the priests who were to be thirty years old when they began to serve. Whether verse one through three of Ezekiel one, is identifying Ezekiel’s age as thirty, or simply as a symbol of a priest he would also be represented as thirty years old. If the thirty years of verse one is as others believe; representing the thirtieth year since Josiah’s Great Passover in 622 BC, the prophetic implications are still the same.
Số ba mươi là biểu tượng của các thầy tế lễ, là những người phải đủ ba mươi tuổi khi bắt đầu phục vụ. Dù Ê-xê-chi-ên 1:1–3 đang xác định tuổi của Ê-xê-chi-ên là ba mươi, hay chỉ đơn thuần như một biểu tượng về một thầy tế lễ, thì ông cũng sẽ được biểu thị là ba mươi tuổi. Nếu ba mươi năm ở câu 1, như những người khác tin rằng, tượng trưng cho năm thứ ba mươi kể từ Lễ Vượt Qua trọng đại của Giô-si-a vào năm 622 TCN, thì những hàm ý tiên tri vẫn là như nhau.
Josiah means “foundation,” and his Great Passover began a jubilee period that ended on October 22 on the Day of Atonement 573 BC. The “jubilee line” from Josiah to October 22 aligns with the history of 1840 to 1844. The foundations of 1840 were represented by king Josiah and also by Josiah Litch. October 22 was represented by the horn of the jubilee trumpet being sounded along with the horn of the Day of Atonement.
Giô-si-a có nghĩa là “nền tảng,” và Lễ Vượt Qua Trọng Đại của ông đã mở đầu một thời kỳ hân hỉ, kết thúc vào ngày 22 tháng 10, vào Ngày Chuộc Tội năm 573 TCN. “Đường hân hỉ” từ Giô-si-a đến ngày 22 tháng 10 tương ứng với lịch sử từ năm 1840 đến 1844. Các nền tảng của năm 1840 được tiêu biểu bởi vua Giô-si-a và cũng bởi Josiah Litch. Ngày 22 tháng 10 được tiêu biểu bởi tiếng tù và của kèn hân hỉ được thổi lên cùng với tiếng tù và của Ngày Chuộc Tội.
And thou shalt number seven sabbaths of years unto thee, seven times seven years; and the space of the seven sabbaths of years shall be unto thee forty and nine years. Then shalt thou cause the trumpet of the jubilee to sound on the tenth day of the seventh month, in the day of atonement shall ye make the trumpet sound throughout all your land. Leviticus 25:8, 9.
Ngươi hãy tính cho mình bảy kỳ sa-bát của năm, tức bảy lần bảy năm; vậy thì thời gian của bảy kỳ sa-bát của năm ấy sẽ là bốn mươi chín năm đối với ngươi. Bấy giờ, vào ngày mồng mười tháng bảy, ngươi phải khiến tiếng kèn năm hân hỉ vang lên; trong ngày chuộc tội, các ngươi phải làm cho tiếng kèn vang khắp xứ mình. Lê-vi Ký 25:8, 9.
Ezekiel is set within the Jubilee line from king Josiah to October 22, a line that represents Revelation ten’s first and second angels from 1840 unto 1844. Ezekiel represents the Millerites of the first and second angels and the one hundred and forty-four thousand of the third angel. Ezekiel represents the priesthood of the one hundred and forty-four thousand, but his primary prophetic attribute is that he is a prophet.
Ê-xê-chi-ên được đặt trong đường lối Năm Hân Hỉ từ vua Giô-si-a đến ngày 22 tháng Mười, một đường lối tiêu biểu cho các thiên sứ thứ nhất và thứ hai của Khải Huyền đoạn mười từ năm 1840 đến năm 1844. Ê-xê-chi-ên đại diện cho những người Millerite của các thiên sứ thứ nhất và thứ hai, và cho một trăm bốn mươi bốn nghìn của thiên sứ thứ ba. Ê-xê-chi-ên đại diện cho chức tế lễ của một trăm bốn mươi bốn nghìn, nhưng thuộc tính tiên tri chính yếu của ông là ông là một nhà tiên tri.
Prophet, Priest and King
Tiên tri, Thầy tế lễ và Vua
There are three biblical characters that began to serve when thirty years of age. Along with Ezekiel were David and Joseph. Because they all began to serve at the age of thirty, they are all priests. David is a symbol of the king, Joseph is the priest and Ezekiel is the prophet in the threefold kingdom of glory that consists of a prophet, a priest and a king.
Có ba nhân vật trong Kinh Thánh đã bắt đầu chức vụ khi được ba mươi tuổi. Cùng với Ê-xê-chi-ên là Đa-vít và Giô-sép. Bởi vì cả ba đều bắt đầu phục vụ ở tuổi ba mươi, nên tất cả họ đều là các thầy tế lễ. Đa-vít là biểu tượng của vua, Giô-sép là thầy tế lễ, và Ê-xê-chi-ên là nhà tiên tri trong vương quốc vinh hiển ba mặt gồm có nhà tiên tri, thầy tế lễ và vua.
However we might apply the prophet Ezekiel as a symbol, he is a priest, and when applied in the line of the jubilee from Josiah to October 22, Ezekiel is a priest who would represent a priest in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand as typified by the history of 1840 to 1844 and king Josiah to October 22, 573 BC.
Tuy nhiên, dù chúng ta có thể áp dụng tiên tri Ê-xê-chi-ên như một biểu tượng theo cách nào đi nữa, ông vẫn là một thầy tế lễ; và khi được áp dụng trong tuyến của năm hân hỉ từ Giô-si-a đến ngày 22 tháng Mười, Ê-xê-chi-ên là một thầy tế lễ, tiêu biểu cho một thầy tế lễ trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, như được hình bóng qua lịch sử từ năm 1840 đến năm 1844 và từ vua Giô-si-a đến ngày 22 tháng Mười năm 573 TCN.
Twenty-two
Hai mươi hai
The Bible is clear that Ezekiel ministered for twenty-two years. “Twenty-two” is a symbol of the one hundred and forty-four thousand who are the ensign of Divinity combined with humanity. In the history represented by Josiah’s Passover unto chapter forty’s October 22’s Jubilee celebration, Josiah’s Passover typified the work of Josiah Litch in 1838 and 1840. That work was setting forth the time prophecies of the first and second woes. It can now be seen that the prophecy of the first and second woes is much larger than the pioneers recognized.
Kinh Thánh nói rõ rằng Ê-xê-chi-ên đã thi hành chức vụ trong hai mươi hai năm. “Hai mươi hai” là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là cờ hiệu của Thần tính kết hợp với nhân tính. Trong lịch sử được tiêu biểu từ Lễ Vượt Qua của Giô-si-a cho đến sự cử hành Năm Hân Hỉ vào ngày 22 tháng Mười của chương bốn mươi, Lễ Vượt Qua của Giô-si-a là hình bóng của công việc của Josiah Litch vào các năm 1838 và 1840. Công việc ấy là trình bày các lời tiên tri về thời gian của tai vạ thứ nhất và tai vạ thứ hai. Giờ đây có thể thấy rằng lời tiên tri về tai vạ thứ nhất và tai vạ thứ hai rộng lớn hơn nhiều so với điều các người tiên phong đã nhận biết.
Ezekiel as a biblical prophet identifies more specific dates in his writings than any other biblical author.
Ê-xê-chi-ên, với tư cách là một nhà tiên tri Kinh Thánh, đã ghi lại trong các trước tác của mình nhiều mốc thời gian cụ thể hơn bất cứ tác giả nào khác trong Kinh Thánh.
Ezekiel is the omega of the day equaling a year in Bible prophecy. In the book of Numbers, the alpha mention of the day year principle is represented at the first rebellion at Kadesh that brought about forty years of wandering in the wilderness. The last, or omega rebellion is being represented by Ezekiel in chapter four as Jerusalem is destroyed.
Ê-xê-chi-ên là ô-mê-ga của nguyên tắc một ngày bằng một năm trong lời tiên tri Kinh Thánh. Trong sách Dân Số, sự đề cập an-pha về nguyên tắc ngày-năm được thể hiện nơi cuộc phản nghịch thứ nhất tại Ca-đe, là điều đã dẫn đến bốn mươi năm phiêu bạt trong đồng vắng. Cuộc phản nghịch sau cùng, hay ô-mê-ga, được Ê-xê-chi-ên trình bày trong chương bốn khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt.
Alpha
An-pha
After the number of the days in which ye searched the land, even forty days, each day for a year, shall ye bear your iniquities, even forty years, and ye shall know my breach of promise. I the Lord have said, I will surely do it unto all this evil congregation, that are gathered together against me: in this wilderness they shall be consumed, and there they shall die. Numbers 14:34, 35.
Theo số ngày mà các ngươi đã do thám xứ, tức bốn mươi ngày, mỗi ngày kể là một năm, các ngươi sẽ mang lấy tội lỗi mình trong bốn mươi năm, và các ngươi sẽ biết sự bội ước của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va đã phán; chắc chắn Ta sẽ làm điều ấy cho cả hội chúng gian ác này, là những kẻ đã hiệp nhau lại nghịch cùng Ta: trong đồng vắng này chúng nó sẽ bị tiêu diệt, và tại đó chúng nó sẽ chết. Dân-số Ký 14:34, 35.
Omega
Ô-mê-ga
Lie thou also upon thy left side, and lay the iniquity of the house of Israel upon it: according to the number of the days that thou shalt lie upon it thou shalt bear their iniquity. For I have laid upon thee the years of their iniquity, according to the number of the days, three hundred and ninety days: so shalt thou bear the iniquity of the house of Israel. And when thou hast accomplished them, lie again on thy right side, and thou shalt bear the iniquity of the house of Judah forty days: I have appointed thee each day for a year. Therefore thou shalt set thy face toward the siege of Jerusalem, and thine arm shall be uncovered, and thou shalt prophesy against it. Ezekiel 4:4–7.
Ngươi cũng hãy nằm nghiêng bên trái, và đặt tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên trên đó; theo số ngày ngươi sẽ nằm trên đó, ngươi sẽ mang lấy tội lỗi của chúng. Vì Ta đã đặt trên ngươi số năm tội lỗi của chúng theo số ngày, là ba trăm chín mươi ngày; như vậy ngươi sẽ mang lấy tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên. Và khi ngươi đã làm xong các ngày ấy, lại hãy nằm nghiêng bên phải, và ngươi sẽ mang lấy tội lỗi của nhà Giu-đa bốn mươi ngày: mỗi ngày Ta đã định cho ngươi thay một năm. Vậy, ngươi hãy hướng mặt về cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem, cánh tay ngươi phải để trần, và ngươi sẽ nói tiên tri nghịch cùng nó. Ê-xê-chi-ên 4:4–7.
Kadesh and Jerusalem’s destruction represent the alpha and omega rebellion representing the day for a year principle. The “day for a year principle” was the primary rule of the Millerite's and in the history of 1840 to 1844, as typified in the Jubilee line of king Josiah unto October 22. Ezekiel sets forth more dates than any other prophet. Within the dating of Ezekiel, the line of the Jubilee is identified, tying Ezekiel’s witness directly into the history of the first and second angels, and thereafter the history of the third angel.
Ca-đe và sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem tiêu biểu cho cuộc phản nghịch alpha và omega, trình bày nguyên tắc một ngày bằng một năm. “Nguyên tắc một ngày bằng một năm” là quy tắc chủ yếu của những người Millerite và trong lịch sử từ năm 1840 đến 1844, như được tượng trưng trong đường dây Năm Hân Hỉ từ vua Giô-si-a cho đến ngày 22 tháng Mười. Ê-xê-chi-ên nêu ra nhiều niên đại hơn bất cứ vị tiên tri nào khác. Trong hệ thống niên đại của Ê-xê-chi-ên, đường dây của Năm Hân Hỉ được xác định, nối trực tiếp chứng ngôn của Ê-xê-chi-ên vào lịch sử của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, rồi tiếp đến lịch sử của thiên sứ thứ ba.
Along with the “Jubilee line” Ezekiel lies on his side for three hundred and ninety days, then on his other side for forty days. “Four hundred and thirty” is a symbol of the old and new covenants, for Abram’s covenant promise of four hundred years of captivity in Egypt found the second witness of thirty years with the apostle Paul. Together Abram, (later Abraham) of ‘the old’ and Saul, (later Paul) of ‘the new’ combined their witnesses to establish four hundred and thirty years as a symbol of the everlasting covenant. “Three hundred and ninety days” “shalt thou bear the iniquity of the house of Israel.” “And” “thou shalt bear the iniquity of the house of Judah forty days.” Together the right side and the left side equal Abram and Paul.
Cùng với “đường Lễ Hân Hỉ”, Ê-xê-chi-ên nằm nghiêng một bên ba trăm chín mươi ngày, rồi nghiêng sang bên kia bốn mươi ngày. “Bốn trăm ba mươi” là một biểu tượng của các giao ước cũ và mới, vì lời hứa giao ước ban cho Áp-ram về bốn trăm năm làm tôi mọi tại Ai Cập đã tìm được chứng nhân thứ hai là ba mươi năm nơi sứ đồ Phao-lô. Áp-ram, (về sau là Áp-ra-ham) thuộc ‘điều cũ’, và Sau-lơ, (về sau là Phao-lô) thuộc ‘điều mới’, cùng nhau kết hợp lời chứng của mình để xác lập bốn trăm ba mươi năm như một biểu tượng của giao ước đời đời. “Ba trăm chín mươi ngày” “ngươi sẽ mang lấy tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên.” “Và” “ngươi sẽ mang lấy tội lỗi của nhà Giu-đa trong bốn mươi ngày.” Cùng nhau, bên phải và bên trái tương ứng với Áp-ram và Phao-lô.
The covenant was always based upon obedience or disobedience—life or death. The year day principle in Millerite history was a life or death issue, and the history was announced by the first angel as the everlasting gospel. The “gospel” is a life or death issue, and the life or death testing issue of Millerite history was set within the context of the principle of a day equating to a year. The prediction that empowered the message of the first angel was the three hundred ninety-one years and fifteen days prophecy of the second woe. Within the three hundred and ninety days that Ezekiel laid upon his left side is an illustration of the three hundred and ninety-one years and fifteen days time prophecy of the second woe. It requires prophetic discernment to rightly divide the prophecy, but it is nothing less than the continuing work of the Lion of the tribe of Judah unsealing the message of the midnight cry.
Giao ước luôn luôn được đặt trên nền tảng của sự vâng phục hay bất tuân—sự sống hay sự chết. Nguyên tắc ngày-năm trong lịch sử Millerite là một vấn đề sống còn, và lịch sử ấy đã được thiên sứ thứ nhất công bố như là phúc âm đời đời. “Phúc âm” là một vấn đề sống còn, và vấn đề thử nghiệm sống còn của lịch sử Millerite đã được đặt trong bối cảnh của nguyên tắc một ngày tương đương một năm. Lời tiên đoán trao quyền cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất là lời tiên tri ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày về tai vạ thứ hai. Trong ba trăm chín mươi ngày mà Ê-xê-chi-ên nằm nghiêng bên trái mình có một hình minh họa về lời tiên tri thời gian ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày của tai vạ thứ hai. Cần có sự phân biện tiên tri để phân chia lời tiên tri cho đúng, nhưng đó không gì khác hơn là công việc tiếp diễn của Sư tử thuộc chi phái Giu-đa trong việc mở ấn cho sứ điệp của tiếng kêu lúc nửa đêm.
I contend that Ezekiel must be treated as a symbol of the one hundred and forty-four thousand, but primarily as a symbol of the gift of the Spirit of Prophecy, whether represented as a manifestation of a latter-day prophet, or as a manifestation of the covenant people who understand the principle of line upon line methodology.
Tôi cho rằng Ê-xê-chi-ên phải được xem như một biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, nhưng trước hết là một biểu tượng của ân tứ của Thần Khí Tiên Tri, dù được thể hiện như một sự bày tỏ nơi một vị tiên tri thời kỳ cuối cùng, hay như một sự bày tỏ nơi dân giao ước là những người hiểu nguyên tắc của phương pháp từng hàng nối tiếp từng hàng.
I contend that Ezekiel’s light upon the three hundred and ninety-one years and fifteen days prophecy aligns with the dirt brush man casting the jewels into the larger casket.
Tôi khẳng định rằng sự soi sáng của Ê-xê-chi-ên về lời tiên tri ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày phù hợp với việc người đàn ông cầm chổi bụi ném các châu báu vào trong chiếc tráp lớn hơn.
I contend that the light from Ezekiel is an essential element of the capstone message, when the temple is finished.
Tôi cho rằng ánh sáng từ Ê-xê-chi-ên là một yếu tố thiết yếu của sứ điệp chóp đỉnh, khi đền thờ được hoàn tất.
Ezekiel is at October 22 in verse one of chapter forty, and it is there that the vision of the future temple is given to Ezekiel. That temple is the temple of the one hundred and forty-four thousand, of which Ezekiel is a symbol of that number. That group will have passed two tests before they reach the third and litmus test. Ezekiel is portrayed as receiving his light in the temple, and therefore the light he produces as a symbol represents the light that comes when God’s people enter the Most Holy Place in alignment with Daniel chapter ten.
Ê-xê-chi-ên đang ở ngày 22 tháng Mười trong câu một của chương bốn mươi, và chính tại đó, khải tượng về ngôi đền thờ tương lai được ban cho Ê-xê-chi-ên. Đền thờ ấy là đền thờ của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, mà Ê-xê-chi-ên là một biểu tượng của con số đó. Nhóm ấy sẽ đã vượt qua hai sự thử nghiệm trước khi họ bước đến sự thử nghiệm thứ ba, cũng là phép thử quyết định. Ê-xê-chi-ên được mô tả như đang nhận lãnh ánh sáng của mình trong đền thờ, và vì thế, ánh sáng mà ông phát sinh ra, như một biểu tượng, tiêu biểu cho ánh sáng đến khi dân sự của Đức Chúa Trời bước vào Nơi Chí Thánh, phù hợp với Đa-ni-ên chương mười.
The light of the Revelation of Jesus Christ that is unsealed, is unsealed just before probation closes.
Ánh sáng của Sự Mặc Khải về Đức Chúa Jêsus Christ được mở ấn thì được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt.
And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:10, 11.
Và người phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri của sách này; vì kỳ đã gần. Kẻ nào bất chính, cứ để kẻ ấy còn bất chính nữa; kẻ nào ô uế, cứ để kẻ ấy còn ô uế nữa; kẻ nào công chính, cứ để kẻ ấy còn công chính nữa; kẻ nào thánh, cứ để kẻ ấy còn thánh nữa. Khải Huyền 22:10, 11.
The “time is at hand” just before probation closes in verse eleven, and the Revelation of Jesus Christ is therefore unsealed at that time, for “the time is at hand.”
“Thời điểm đã gần kề” ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt trong câu mười một, và vì thế Khải Huyền của Đức Chúa Jêsus Christ được mở ấn vào thời điểm ấy, vì “thời điểm đã gần kề.”
The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to shew unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:1–3.
Sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ, là điều Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài, để tỏ cho các tôi tớ Ngài biết những việc phải xảy đến kíp nữa; Ngài đã sai thiên sứ mình truyền đạt điều ấy cho tôi tớ mình là Giăng: là người đã làm chứng về lời của Đức Chúa Trời, về chứng ngôn của Đức Chúa Jêsus Christ, và về mọi điều mình đã thấy. Phước cho kẻ đọc, và cho những kẻ nghe lời tiên tri nầy, cùng giữ lấy những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần rồi. Khải Huyền 1:1–3.
Probation closes for Laodicean Seventh-day Adventism at the Sunday law and Adventism is represented as Jerusalem in chapter nine of Ezekiel. There those who sigh and cry for the abominations done in the land and in the church receive the seal. The sealing takes place when the east winds of Islam are angering the nations, just before probation closes. In Ezekiel chapter eight the four generations of Adventism conclude with the fourth generation being symbolized by the twenty-five leaders bowing to the sun.
Thời kỳ thử thách của Cơ Đốc Phục Lâm Laodice chấm dứt vào lúc luật ngày Chúa nhật được ban hành, và phong trào Cơ Đốc Phục Lâm được tượng trưng là Giê-ru-sa-lem trong chương chín của Ê-xê-chi-ên. Tại đó, những người than thở và kêu khóc vì các sự gớm ghiếc được thực hiện trong xứ và trong hội thánh nhận được dấu ấn. Việc đóng ấn diễn ra khi những ngọn gió đông của Hồi giáo đang khuấy động các dân tộc, ngay trước khi thời kỳ thử thách chấm dứt. Trong chương tám của Ê-xê-chi-ên, bốn thế hệ của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đi đến chỗ kết thúc, với thế hệ thứ tư được tượng trưng bởi hai mươi lăm nhà lãnh đạo cúi lạy mặt trời.
That vision was given symbolically one day before the Sunday law, or just before the close of probation as represented by six, six, six.
Khải tượng ấy đã được ban cho dưới hình thức biểu tượng một ngày trước luật ngày Chủ nhật, tức là ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, như được biểu trưng bởi sáu, sáu, sáu.
And it came to pass in the sixth year, in the sixth month, in the fifth day of the month, as I sat in mine house, and the elders of Judah sat before me, that the hand of the Lord God fell there upon me. Then I beheld, and lo a likeness as the appearance of fire: from the appearance of his loins even downward, fire; and from his loins even upward, as the appearance of brightness, as the colour of amber. And he put forth the form of an hand, and took me by a lock of mine head; and the spirit lifted me up between the earth and the heaven, and brought me in the visions of God to Jerusalem, to the door of the inner gate that looketh toward the north; where was the seat of the image of jealousy, which provoketh to jealousy. And, behold, the glory of the God of Israel was there, according to the vision that I saw in the plain. Ezekiel 8:1–4.
Và xảy ra trong năm thứ sáu, tháng thứ sáu, ngày mồng năm của tháng, khi tôi đang ngồi trong nhà mình, và các trưởng lão của Giu-đa ngồi trước mặt tôi, thì tay của Chúa Giê-hô-va ngự trên tôi tại đó. Bấy giờ tôi nhìn xem, kìa, có một hình dạng như diện mạo của lửa: từ chỗ giống như lưng Ngài trở xuống là lửa; còn từ lưng Ngài trở lên, như hình dáng của sự sáng chói, như màu hổ phách. Ngài đưa ra hình dạng của một bàn tay, nắm lấy một lọn tóc trên đầu tôi; và Thần nâng tôi lên giữa đất và trời, đem tôi đến Giê-ru-sa-lem trong các khải tượng của Đức Chúa Trời, đến cửa cổng trong quay về hướng bắc, là nơi đặt tượng ghen ghét, là tượng gây nên sự ghen ghét. Và, kìa, vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ở đó, theo khải tượng mà tôi đã thấy tại đồng bằng. Ê-xê-chi-ên 8:1–4.
The vision of the sixth year, sixth month and fifth day came just before ‘666,’ a symbol of the Sunday law, when probation closes for Laodicean Adventism. That vision was “according to the vision” Ezekiel “saw in the plain.” The vision he saw in the plain is found earlier, in chapter three.
Khải tượng vào năm thứ sáu, tháng thứ sáu và ngày thứ năm đến ngay trước “666,” là biểu tượng của luật ngày Chúa nhật, khi thời kỳ ân điển chấm dứt đối với phái Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê. Khải tượng ấy là “theo khải tượng” mà Ê-xê-chi-ên “đã thấy tại đồng bằng.” Khải tượng mà ông đã thấy tại đồng bằng được chép trước đó, trong chương ba.
Then I arose, and went forth into the plain: and, behold, the glory of the Lord stood there, as the glory which I saw by the river of Chebar: and I fell on my face. Ezekiel 3:23.
Bấy giờ tôi đứng dậy và đi ra ngoài đồng bằng; kìa, vinh quang của Đức Giê-hô-va đứng tại đó, như vinh quang mà tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba; và tôi sấp mặt xuống đất. Ê-xê-chi-ên 3:23.
The vision of the “plain”, which was the vision of the sixth year, sixth month and fifth day was the vision Ezekiel had seen earlier at the river of Chebar.
Khải tượng về “đồng bằng”, tức khải tượng vào năm thứ sáu, tháng thứ sáu, ngày mồng năm, chính là khải tượng mà Ê-xê-chi-ên đã thấy trước đó bên bờ sông Kê-ba.
Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, in the fifth day of the month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened, and I saw visions of God. Ezekiel 1:1.
Xảy ra vào năm thứ ba mươi, tháng thứ tư, ngày mồng năm của tháng, khi tôi ở giữa những kẻ phu tù bên sông Kê-ba, thì các tầng trời mở ra, và tôi đã thấy những sự hiện thấy của Đức Chúa Trời. Ê-xê-chi-ên 1:1.
The “visions of God” which Ezekiel “saw,” by the river of Chebar, was the vision of the plain, which was also the vision of Ezekiel chapter eight through eleven. Those visions were presented in the context of Ezekiel looking into the sanctuary, which is where the "marah" looking glass vision of chapter ten is accomplished. Ezekiel represents those who partake of the prophetic light radiating from the Most Holy Place as the Revelation of Jesus Christ is brought forth just before the close of probation.
Những “sự hiện thấy của Đức Chúa Trời” mà Ê-xê-chi-ên đã “thấy” bên bờ sông Kê-ba chính là sự hiện thấy nơi đồng bằng, cũng là sự hiện thấy trong Ê-xê-chi-ên chương tám đến chương mười một. Những sự hiện thấy ấy được trình bày trong bối cảnh Ê-xê-chi-ên nhìn vào đền thánh, là nơi sự hiện thấy qua gương soi “marah” của chương mười được ứng nghiệm. Ê-xê-chi-ên tượng trưng cho những người dự phần vào ánh sáng tiên tri phát ra từ Nơi Chí Thánh khi Sự Mặc Khải của Đức Chúa Jêsus Christ được bày tỏ ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt.
When we identify king Josiah’s Jubilee line that begins with Passover and ends on October 22, we are identifying the symbol of the Spring feasts and the Fall feasts as set forth in Leviticus twenty-three. There the spring and fall feasts are set forth with twenty-two verses each, just as Ezekiel’s ministry was for twenty-two years. Aligning Ezekiel in the thirtieth year of the Jubilee line allows Ezekiel’s birth to align with Josiah’s revival. If he was thirty years old in the thirtieth year of the Jubilee cycle, then Ezekiel would be born at Josiah’s reformation.
Khi chúng ta xác định đường Jubile của vua Giô-si-a bắt đầu với Lễ Vượt Qua và kết thúc vào ngày 22 tháng Mười, chúng ta đang xác định biểu tượng của các kỳ lễ mùa xuân và các kỳ lễ mùa thu như đã được ấn định trong Lê-vi Ký hai mươi ba. Tại đó, các kỳ lễ mùa xuân và mùa thu được trình bày với mỗi bên hai mươi hai câu, cũng như chức vụ của Ê-xê-chi-ên kéo dài hai mươi hai năm. Việc đặt Ê-xê-chi-ên vào năm thứ ba mươi của đường Jubile khiến sự ra đời của ông được sắp thẳng hàng với cuộc phục hưng của Giô-si-a. Nếu ông được ba mươi tuổi trong năm thứ ba mươi của chu kỳ Jubile, thì Ê-xê-chi-ên hẳn đã sinh ra vào thời kỳ cải cách của Giô-si-a.
Ezekiel is a symbol of those who by faith enter into the Most Holy Place. Once there they see the wheels within the wheels representing the complex play of human interactions. As with John in Revelation chapter ten, Ezekiel represents the Millerites, but more directly the one hundred and forty-four thousand. His parallel three-hundred-ninety-one-years and fifteen-days time prophecy illustrates the final judgment of Laodicean Adventism with the destruction of Jerusalem, and it includes the enigma of thirty-eight and forty.
Ê-xê-chi-ên là biểu tượng của những người bởi đức tin bước vào Nơi Chí Thánh. Khi đã ở đó, họ thấy các bánh xe ở trong các bánh xe, tượng trưng cho sự vận hành phức tạp của những tương tác giữa loài người. Cũng như Giăng trong Khải Huyền chương mười, Ê-xê-chi-ên đại diện cho những người Millerite, nhưng trực tiếp hơn là một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Lời tiên tri thời gian song song ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày của ông minh họa sự phán xét cuối cùng đối với Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea cùng với sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, và điều đó bao gồm bí ẩn của ba mươi tám và bốn mươi.
It includes the symbolism of four hundred and thirty years.
Nó bao hàm tính biểu tượng của bốn trăm ba mươi năm.
It includes the four-year period represented by 1333 to 1337, 1449 to 1453 and 1840 to 1844.
Nó bao gồm giai đoạn bốn năm được tiêu biểu bởi các năm 1333 đến 1337, 1449 đến 1453, và 1840 đến 1844.
We will begin our considerations of this most important subject in the next article.
Chúng tôi sẽ bắt đầu những sự suy xét của mình về chủ đề hết sức quan trọng này trong bài viết kế tiếp.
“In the visions given to Isaiah, to Ezekiel, and to John we see how closely heaven is connected with the events taking place upon the earth and how great is the care of God for those who are loyal to Him.” Testimonies, volume 5, 753.
“Trong các sự hiện thấy đã được ban cho Ê-sai, cho Ê-xê-chi-ên, và cho Giăng, chúng ta thấy trời gắn bó mật thiết dường nào với những biến cố đang diễn ra trên đất, và sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với những người trung thành với Ngài là lớn lao biết bao.” Chứng Ngôn, quyển 5, 753.
“Christ Himself was the Lord of the temple. When He should leave it, its glory would depart—that glory once visible in the holy of holies over the mercy seat, where the high priest entered only once a year, on the great day of atonement, with the blood of the slain victim (typical of the blood of the Son of God shed for the sins of the world), and sprinkled it upon the altar. This was the Shekinah, the visible pavilion of Jehovah.
“Chính Đấng Christ là Chúa của đền thờ. Khi Ngài rời khỏi đó, vinh quang của nó sẽ lìa khỏi—vinh quang ấy, thuở xưa từng hiện ra trong nơi chí thánh phía trên nắp thi ân, nơi vị thượng tế chỉ vào một lần mỗi năm, vào ngày đại lễ chuộc tội, mang theo huyết của sinh tế đã bị giết (tiêu biểu cho huyết của Con Đức Chúa Trời đã đổ ra vì tội lỗi của thế gian), rồi rảy huyết ấy trên bàn thờ. Đó là Shekinah, nơi ngự hiện hữu cách hữu hình của Đức Giê-hô-va.”
“It was this glory that was revealed to Isaiah, when he says, ‘In the year that king Uzziah died I saw also the Lord sitting upon a throne, high and lifted up, and his train filled the temple’ [Isaiah 6:1–8 quoted].” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 4, 1139.
“Chính vinh quang này đã được bày tỏ cho Ê-sai, khi ông nói: ‘Vào năm vua Ô-xia băng hà, tôi thấy Chúa ngự trên một ngai cao và được nhấc lên rất cao, và vạt áo Ngài đầy dẫy đền thờ’ [Ê-sai 6:1–8 được trích].” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, tập 4, 1139.
“The vision given to Isaiah represents the condition of God’s people in the last days. They are privileged to see by faith the work that is going forward in the heavenly sanctuary. ‘And the temple of God was opened in heaven, and there was seen in his temple the ark of his testament.’ As they look by faith into the holy of holies, and see the work of Christ in the heavenly sanctuary, they perceive that they are a people of unclean lips,—a people whose lips have often spoken vanity, and whose talents have not been sanctified and employed to the glory of God. Well may they despair as they contrast their own weakness and unworthiness with the purity and loveliness of the glorious character of Christ. But if they, like Isaiah, will receive the impression the Lord designs shall be made upon the heart, if they will humble their souls before God, there is hope for them. The bow of promise is above the throne, and the work done for Isaiah will be performed in them. God will respond to the petitions coming from the contrite heart.
“Khải tượng được ban cho Ê-sai tiêu biểu cho tình trạng của dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Họ có đặc ân được thấy bởi đức tin công việc đang tiến hành trong đền thánh trên trời. ‘Đền thờ Đức Chúa Trời trên trời được mở ra, và trong đền thờ Ngài đã thấy hòm giao ước của Ngài.’ Khi họ nhìn bởi đức tin vào nơi chí thánh, và thấy công việc của Đấng Christ trong đền thánh trên trời, họ nhận ra rằng mình là một dân có môi miệng ô uế,—một dân mà môi miệng thường nói những điều hư không, và những tài năng chưa được thánh hóa và sử dụng cho vinh hiển Đức Chúa Trời. Thật họ có thể tuyệt vọng khi đối chiếu sự yếu đuối và bất xứng của chính mình với sự thanh sạch và vẻ đẹp đáng yêu của bản tính vinh hiển của Đấng Christ. Nhưng nếu họ, như Ê-sai, chịu tiếp nhận ấn tượng mà Chúa muốn ghi khắc vào lòng, nếu họ hạ linh hồn mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, thì vẫn có hy vọng cho họ. Cây cung của lời hứa ở trên ngai, và công việc đã làm cho Ê-sai cũng sẽ được thực hiện trong họ. Đức Chúa Trời sẽ đáp lời những lời cầu xin phát xuất từ tấm lòng ăn năn thống hối.”
“The object of this great and solemn work of God is to gather together the sheaves for the heavenly garner; for the earth is to be filled with the glory of the Lord. Then let none be dismayed as they see the prevailing wickedness and hear the language coming from unclean lips. When the powers of darkness set themselves in array against the people of God; when Satan shall muster his forces for the last great conflict, and his power seems to be great and almost overwhelming, the clear view of the divine glory, the throne high and lifted up, arched with the bow of promise, will give comfort, assurance, and peace.” Review and Herald, December 22, 1896.
“Mục đích của công tác lớn lao và long trọng này của Đức Chúa Trời là quy tụ các bó lúa vào kho trên trời; vì đất sẽ được đầy dẫy sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va. Vậy, chớ để ai kinh hoàng khi thấy sự gian ác đang thịnh hành và nghe những lời phát ra từ môi miệng ô uế. Khi các quyền lực của sự tối tăm dàn trận chống lại dân sự của Đức Chúa Trời; khi Sa-tan tập hợp các đạo binh của nó cho cuộc xung đột lớn lao cuối cùng, và quyền lực của nó dường như mạnh mẽ và gần như không thể chống nổi, thì sự nhìn thấy rõ ràng vinh quang thiêng liêng, ngôi ngai cao cả và được nhấc lên, vòm phủ bởi cầu vồng của lời hứa, sẽ đem lại sự an ủi, sự bảo đảm, và sự bình an.” Review and Herald, December 22, 1896.
“Upon the banks of the river Chebar, Ezekiel beheld a whirlwind seeming to come from the north, ‘a great cloud, and a fire infolding itself, and a brightness was about it, and out of the midst thereof as the color of amber.’ A number of wheels, intersecting one another, were moved by four living beings. High above all these ‘was the likeness of a throne, as the appearance of a sapphire stone: and upon the likeness of the throne was the likeness as the appearance of a man above upon it.’ ‘And there appeared in the cherubims the form of a man’s hand under their wings.’ Ezekiel 1:4, 26; 10:8. The wheels were so complicated in arrangement that at first sight they appeared to be in confusion; but they moved in perfect harmony. Heavenly beings, sustained and guided by the hand beneath the wings of the cherubim, were impelling these wheels; above them, upon the sapphire throne, was the Eternal One; and round about the throne a rainbow, the emblem of divine mercy.
“Bên bờ sông Kê-ba, Ê-xê-chi-ên đã thấy một cơn gió lốc dường như đến từ phương bắc, ‘một đám mây lớn, và một ngọn lửa tự cuộn vào mình, và chung quanh nó có ánh sáng, và từ giữa nó hiện ra như màu hổ phách.’ Nhiều bánh xe, giao nhau với nhau, được chuyển động bởi bốn sinh vật. Cao vượt trên tất cả những điều ấy ‘là hình dạng một ngai, giống như dáng vẻ của đá sa-phia: và trên hình dạng của ngai là hình dạng như dáng vẻ của một người ở phía trên đó.’ ‘Và trong các chê-ru-bim hiện ra hình một bàn tay người ở dưới cánh của chúng.’ Ê-xê-chi-ên 1:4, 26; 10:8. Cách sắp đặt các bánh xe thật phức tạp đến nỗi thoạt nhìn chúng dường như hỗn loạn; nhưng chúng vận hành trong sự hòa hợp trọn vẹn. Các thiên thể, được nâng đỡ và dẫn dắt bởi bàn tay ở dưới cánh của chê-ru-bim, đang làm cho những bánh xe ấy chuyển động; ở trên chúng, trên ngai sa-phia, là Đấng Hằng Hữu; và chung quanh ngai có một cái mống, biểu tượng của lòng thương xót thiêng liêng.
“As the wheel like complications were under the guidance of the hand beneath the wings of the cherubim, so the complicated play of human events is under divine control. Amidst the strife and tumult of nations, He that sitteth above the cherubim still guides the affairs of the earth.
“Như những cơ cấu tựa bánh xe được dẫn dắt bởi bàn tay ở dưới các cánh của chê-ru-bim, thì diễn tiến phức tạp của các biến cố nhân loại cũng ở dưới sự điều khiển của Đức Chúa Trời. Giữa cảnh tranh chấp và náo động của các dân tộc, Đấng ngự trên các chê-ru-bim vẫn đang hướng dẫn các công việc của địa cầu.”
“The history of nations that one after another have occupied their allotted time and place, unconsciously witnessing to the truth of which they themselves knew not the meaning, speaks to us. To every nation and to every individual of today God has assigned a place in His great plan. Today men and nations are being measured by the plummet in the hand of Him who makes no mistake. All are by their own choice deciding their destiny, and God is overruling all for the accomplishment of His purposes.
“Lịch sử của các quốc gia, hết nước này đến nước khác, đã chiếm giữ thời kỳ và vị trí được định phần cho mình, vô thức làm chứng cho lẽ thật mà chính họ cũng không biết ý nghĩa của nó, đang phán với chúng ta. Đối với mọi quốc gia và mọi cá nhân ngày nay, Đức Chúa Trời đã chỉ định một chỗ trong kế hoạch lớn lao của Ngài. Ngày nay, loài người và các quốc gia đang được đo bằng dây dọi trong tay Đấng không hề sai lầm. Tất cả, bởi sự lựa chọn của chính mình, đang quyết định số phận của mình, và Đức Chúa Trời đang tể trị trên hết để hoàn thành các mục đích của Ngài.”
“The history which the great I AM has marked out in His word, uniting link after link in the prophetic chain, from eternity in the past to eternity in the future, tells us where we are today in the procession of the ages, and what may be expected in the time to come. All that prophecy has foretold as coming to pass, until the present time, has been traced on the pages of history, and we may be assured that all which is yet to come will be fulfilled in its order.” Education, 178.
“Lịch sử mà Đấng TỰ HỮU VĨ ĐẠI đã vạch ra trong lời Ngài, kết nối mắt xích này với mắt xích khác trong chuỗi tiên tri, từ cõi đời đời trong quá khứ đến cõi đời đời trong tương lai, cho chúng ta biết ngày nay chúng ta đang ở đâu trong dòng diễn tiến của các thời đại, và điều gì có thể được chờ đợi trong thời gian sắp đến. Mọi điều mà lời tiên tri đã báo trước sẽ xảy đến, cho đến thời điểm hiện tại, đều đã được ghi dấu trên các trang lịch sử, và chúng ta có thể vững lòng rằng tất cả những gì còn ở phía trước cũng sẽ được ứng nghiệm theo đúng trật tự của nó.” Education, 178.