Ezekiel is identified as the “mourning prophet” for he is a symbol of the one hundred and forty-four thousand, who in chapter nine of his book are mourning (sighing and crying) for the abominations done in the land and in the church. In the passage from Testimonies we cited in the last article Sister White penned, “The prophet himself was a stranger in a strange land, where boundless ambition and savage cruelty reigned supreme. That which he saw and heard of human tyranny and wrong distressed his soul, and he mourned bitterly day and night.”

Ê-xê-chi-ên được xác định là “vị tiên tri than khóc”, vì ông là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người trong chương chín của sách ông đang than khóc (thở than và kêu van) vì những sự gớm ghiếc được làm ra trong xứ và trong hội thánh. Trong đoạn trích từ Testimonies mà chúng ta đã dẫn trong bài trước, Chị White đã viết: “Chính vị tiên tri ấy là một kẻ lạ nơi đất khách, nơi tham vọng vô bờ bến và sự tàn bạo hung dữ ngự trị tối thượng. Những gì ông thấy và nghe về sự chuyên chế và điều sai quấy của loài người đã làm linh hồn ông đau đớn, và ông than khóc đắng cay ngày và đêm.”

The one hundred and forty-four thousand are the “outcasts of Israel,” who were scattered, as represented by Ezekiel being taken into captivity. The sealing process represented in Ezekiel nine is the same as Revelation seven, and both those chapters are represented as taking place in the latter days.

Một trăm bốn mươi bốn nghìn người là “những kẻ bị đuổi ra của Y-sơ-ra-ên,” tức những người đã bị tản lạc, như được tượng trưng qua việc Ê-xê-chi-ên bị bắt đi lưu đày. Tiến trình đóng ấn được trình bày trong Ê-xê-chi-ên 9 cũng chính là tiến trình được nói đến trong Khải Huyền 7, và cả hai chương ấy đều được mô tả là diễn ra trong những ngày sau rốt.

“This sealing of the servants of God is the same that was shown to Ezekiel in vision.” Testimonies to Ministers, 445.

“Việc đóng ấn này trên các tôi tớ của Đức Chúa Trời cũng chính là điều đã được bày tỏ cho Ê-xê-chi-ên trong khải tượng.” Testimonies to Ministers, 445.

From the throne, God directs the cherubim who in turn manage the wheels. Ezekiel was to understand from the vision that God was in control, even in the period when everything appeared to be in confusion. Sister White says “in like manner” after setting forth the structure of God on the throne, directing the cherubim who managed the affairs of earth, as she describes John in the sanctuary where Christ walked among the seven churches. Ezekiel and John are symbols of those who live in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand who, as inspiration records, “The scenes to be enacted in our world are not yet even dreamed of.”

Từ ngai, Đức Chúa Trời chỉ huy các chê-ru-bin, và đến lượt chúng điều khiển các bánh xe. Ê-xê-chi-ên phải hiểu từ khải tượng ấy rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, ngay cả trong thời kỳ khi mọi sự dường như đều ở trong cảnh hỗn loạn. Bà White nói “cũng như vậy” sau khi trình bày cơ cấu của Đức Chúa Trời trên ngai, chỉ huy các chê-ru-bin là những hữu thể quản trị các công việc trên đất, cũng như bà mô tả Giăng trong nơi thánh, nơi Đấng Christ đi lại giữa bảy Hội thánh. Ê-xê-chi-ên và Giăng là những biểu tượng của những người sống trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người mà, như Thánh Linh soi dẫn đã chép, “Những cảnh tượng sẽ diễn ra trong thế gian chúng ta hiện vẫn chưa hề được mơ tưởng đến.”

Certainly when Sister White penned those words, those words were true, but in the sealing time they find their perfect fulfillment. Twenty years ago or so, would you have thought that what is now transpiring in the world in conjunction with the swarming of the locusts of Islam? Locusts as a symbol of Islam in chapter nine of Revelation includes the migration in nature of the Locusts of northern Africa. Those swarming locusts of Africa's migration path aligns with the geography that was taken over by Islam. Islam is descendant of Ishmael, and Ishmael’s mother was Hagar. Hagar means “flight” or “to flee.” In Arabic the name is usually rendered Hajar (هاجر), and it is connected to the same root that gives us Hijra (the migration/flight of Muhammad). The roots of Islam are associated with not only the swarming of locusts, but the roots include the meaning of migration. Did anyone ever dream that illegal immigration was a manifestation of the locust of Islam?

Chắc chắn, khi Chị White viết những lời ấy, thì những lời ấy là chân thật; nhưng trong thời kỳ đóng ấn, chúng đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn của mình. Khoảng hai mươi năm trước, liệu bạn có từng nghĩ rằng điều hiện đang diễn ra trong thế giới lại có liên hệ với sự kéo đến thành bầy của những châu chấu của Hồi giáo chăng? Châu chấu như một biểu tượng của Hồi giáo trong chương chín của Khải Huyền bao gồm sự di cư trong tự nhiên của loài châu chấu ở Bắc Phi. Những đàn châu chấu kéo đến ấy trên lộ trình di cư của châu Phi tương ứng với địa lý đã bị Hồi giáo chiếm lấy. Hồi giáo là hậu duệ của Ích-ma-ên, và mẹ của Ích-ma-ên là A-ga. A-ga có nghĩa là “sự bay chạy” hoặc “trốn chạy.” Trong tiếng Ả Rập, tên ấy thường được thể hiện là Hajar (هاجر), và nó được liên kết với cùng một gốc từ vốn cho chúng ta Hijra (cuộc di cư/sự trốn chạy của Muhammad). Các cội rễ của Hồi giáo không những gắn liền với sự kéo đến thành bầy của châu chấu, mà những cội rễ ấy còn bao hàm ý nghĩa của sự di cư. Có ai từng mơ rằng nạn nhập cư bất hợp pháp là một sự biểu hiện của châu chấu của Hồi giáo chăng?

Did anyone dream that the global communists would form an alliance with the Islamic hordes? Both Islam and the globalists dragon power ascend from the bottomless pit in Revelation 9/11 respectively, and the bottomless pit represents a manifestation of satanic power. Both of the current allies are instruments of Satan according to the Scriptures of truth.

Có ai từng nghĩ rằng những người cộng sản toàn cầu sẽ liên minh với các đoàn quân Hồi giáo chăng? Cả Hồi giáo lẫn quyền lực con rồng của những kẻ toàn cầu hóa đều lần lượt đi lên từ vực sâu không đáy trong Khải Huyền 9/11, và vực sâu không đáy tượng trưng cho một sự biểu hiện của quyền lực Sa-tan. Theo Kinh Thánh chân thật, cả hai thế lực hiện đang là đồng minh ấy đều là công cụ của Sa-tan.

“‘When they shall have finished [are finishing] their testimony.’ The period when the two witnesses were to prophesy clothed in sackcloth ended in 1798. As they were approaching the termination of their work in obscurity, war was to be made upon them by the power represented as ‘the beast that ascendeth out of the bottomless pit.’ In many of the nations of Europe the powers that ruled in Church and State had for centuries been controlled by Satan, through the medium of the papacy. But here is brought to view a new manifestation of Satanic power.” The Great Controversy, 268.

“‘Khi họ đã làm xong [đang làm xong] lời chứng của mình.’ Thời kỳ mà hai nhân chứng phải nói tiên tri trong áo vải gai đã chấm dứt vào năm 1798. Khi họ đang tiến gần đến chỗ kết thúc công việc của mình trong sự mờ khuất, chiến tranh sẽ được gây ra chống lại họ bởi quyền lực được biểu tượng là ‘con thú từ vực sâu lên.’ Trong nhiều quốc gia ở châu Âu, các quyền lực cai trị trong Giáo hội và Nhà nước suốt nhiều thế kỷ đã bị Sa-tan khống chế, thông qua trung gian của giáo hoàng. Nhưng ở đây xuất hiện một sự biểu lộ mới của quyền lực Sa-tan.” The Great Controversy, 268.

Sister White here identifies the arrival of socialism in the French Revolution period, while also noting that Satan also controls the papal power. The papal power also comes out of the bottomless pit in Revelation seventeen and in chapter nine of Revelation, Islam is the smoke which came from the bottomless pit. The point still remains; did inspiration truly mean, “The scenes to be enacted in our world are not yet even dreamed of?” Who dreamed that Islam would now be spread across Europe and now descending upon the Americas? Did you dream the locusts would be spread across the globe by the globalists of the United Nations, the European Union and the democratic party of the United States?

Tại đây, Chị White xác định sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ Cách mạng Pháp, đồng thời cũng lưu ý rằng Sa-tan cũng kiểm soát quyền lực giáo hoàng. Quyền lực giáo hoàng cũng đi lên từ vực sâu không đáy trong Khải-huyền chương mười bảy, và trong Khải-huyền chương chín, Hồi giáo là làn khói đã đi lên từ vực sâu không đáy. Điểm cốt yếu vẫn còn nguyên đó: liệu thần cảm thật sự có ý nói rằng, “Những cảnh sẽ diễn ra trong thế giới chúng ta còn chưa hề được mơ thấy nữa sao?” Ai đã mơ rằng Hồi giáo nay sẽ lan khắp châu Âu và giờ đây đang tràn xuống châu Mỹ? Bạn có mơ rằng những châu chấu sẽ được những người theo chủ nghĩa toàn cầu của Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu và đảng Dân chủ của Hoa Kỳ phát tán khắp địa cầu không?

Who dreamed that the educational institutions would be overcome by the communist and Islamic alliance that is now being paid for by tax dollars of citizens that never intended their tax dollars would be employed to destroy the nation supplying the tax dollars.

Ai đã từng nghĩ rằng các cơ sở giáo dục sẽ bị áp đảo bởi liên minh cộng sản và Hồi giáo, liên minh hiện nay đang được tài trợ bằng tiền thuế của những công dân vốn không hề có ý định để đồng tiền thuế của mình bị sử dụng nhằm hủy diệt chính quốc gia đang cung cấp nguồn thuế ấy.

Who dreamed Great Britain would promote an uphold white girls being gang raped, kidnapped and imprisoned and murdered by Islam? Many point out that fact the every communist system ever located in human history has been a complete failure, but the fruit of the socialism of Britain is as much a condemnation of socialism, as the failure of the system’s economic and political philosophies.

Ai từng nghĩ rằng Vương quốc Anh sẽ cổ xúy và dung túng việc những thiếu nữ da trắng bị Hồi giáo cưỡng hiếp tập thể, bắt cóc, giam cầm và sát hại? Nhiều người chỉ ra thực tế rằng mọi hệ thống cộng sản từng tồn tại trong lịch sử nhân loại đều là một sự thất bại hoàn toàn; nhưng hoa quả của chủ nghĩa xã hội tại Anh cũng là một sự kết án đối với chủ nghĩa xã hội, không kém gì sự thất bại của các triết lý kinh tế và chính trị của hệ thống ấy.

Who would have dreamed that the merchants of the earth would be allowed to introduce poisons to accomplish mass murder of over seventeen million people?

Ai có thể ngờ rằng các thương nhân trên đất lại được phép đưa chất độc vào để thực hiện cuộc tàn sát hàng loạt khiến hơn mười bảy triệu người thiệt mạng?

Who dreamed men such as George Soros, Bill Gates and Anthony Fauci would be allowed to accomplish their demonic deeds of evil with absolutely no consequences?

Ai đã từng nghĩ rằng những người như George Soros, Bill Gates và Anthony Fauci sẽ được phép thực hiện những việc làm gian ác đầy quỷ dữ của họ mà hoàn toàn không phải gánh chịu bất cứ hậu quả nào?

When Sister White stated the scenes enacted would not be dreamed about, she did so in the context of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. She was following her comments on Christ warning in Matthew twenty-four where she recorded, “These lessons are for our benefit. We need to stay our faith upon God, for there is just before us a time that will try men’s souls. Christ, upon the Mount of Olives, rehearsed the fearful judgments that were to precede His second coming.”

Khi Chị White tuyên bố rằng những cảnh tượng được thực hiện sẽ không thể được tưởng tượng đến, bà đã nói điều đó trong bối cảnh thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Bà đang tiếp nối những lời bình luận của mình về sự cảnh báo của Đấng Christ trong Ma-thi-ơ hai mươi bốn, nơi bà đã ghi lại: “Những bài học này là vì ích lợi của chúng ta. Chúng ta cần đặt đức tin mình nơi Đức Chúa Trời, vì ngay trước mặt chúng ta là một thời kỳ sẽ thử luyện linh hồn loài người. Đấng Christ, trên Núi Ô-li-ve, đã thuật lại những sự phán xét kinh khiếp sẽ xảy ra trước sự tái lâm của Ngài.”

The lessons she had just referred to were the illustrations of both Ezekiel and John in the sanctuary learning to understand that God is in control of all things. In the confusion and rebellion that is now under way, a confusion and rebellion that will only escalate as history moves forward, those who are God’s messengers, as represented by not only Ezekiel and John in the temple, but also Isaiah will only navigate the history in a fashion that glorifies the Lord if they understand that even the things we never dreamed of are still under the control of God.

Những bài học mà bà vừa nhắc đến là các minh họa về cả Ê-xê-chi-ên lẫn Giăng trong đền thánh, đang học để hiểu rằng Đức Chúa Trời tể trị mọi sự. Giữa sự hỗn loạn và phản nghịch hiện đang diễn ra—một sự hỗn loạn và phản nghịch sẽ chỉ càng gia tăng khi lịch sử tiếp diễn—những người là sứ giả của Đức Chúa Trời, được tiêu biểu không chỉ bởi Ê-xê-chi-ên và Giăng trong đền thờ, mà còn bởi Ê-sai, sẽ chỉ có thể đi qua lịch sử theo cách làm vinh hiển Chúa nếu họ hiểu rằng ngay cả những điều chúng ta chưa từng mơ tưởng đến vẫn còn ở dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời.

Those wheels intersecting the other wheels include the events that were never dreamed of, and they are the events that transpire in the sealing time that began on 9/11. The lessons that are to be learned are only learned by those who by faith enter into the Most Holy Place and see Christ and His light shining from the Ark. When that glory is viewed as represented by Daniel in chapter ten, the class that is benefitted from the light is separated from those who fled from the vision.

Những bánh xe cắt ngang các bánh xe khác ấy bao hàm những biến cố chưa từng được mơ tới, và đó là những biến cố xảy ra trong thời kỳ đóng ấn đã bắt đầu vào ngày 11/9. Những bài học phải được học chỉ được học bởi những người, nhờ đức tin, bước vào Nơi Chí Thánh và nhìn thấy Đấng Christ cùng ánh sáng của Ngài chiếu ra từ Hòm Giao Ước. Khi vinh quang ấy được nhìn thấy như được Đa-ni-ên trình bày trong chương mười, thì nhóm người được ích lợi từ ánh sáng sẽ được phân rẽ khỏi những kẻ đã trốn chạy khỏi khải tượng.

And I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Daniel 10:7.

Và chỉ một mình ta, Đa-ni-ên, đã thấy khải tượng ấy; còn những người ở với ta thì không thấy khải tượng; nhưng một sự run rẩy lớn giáng trên họ, đến nỗi họ trốn đi để ẩn mình. Đa-ni-ên 10:7.

There is much more to be derived from the passage in the previous article, but we will address a wheel as we close this article. We have noted in the last article the symbolism of the number twenty-five and before that we spent time on the number thirty. The light from the book of Ezekiel is not simply symbolic numbers, but it is worthwhile to first familiarize ourselves with some of those numerical symbols before beginning to bring some clarity out of the confusion.

Còn nhiều điều hơn nữa có thể được rút ra từ đoạn văn trong bài trước, nhưng khi kết thúc bài này, chúng ta sẽ đề cập đến một bánh xe. Trong bài trước, chúng ta đã lưu ý đến tính biểu tượng của con số hai mươi lăm, và trước đó nữa chúng ta đã dành thời gian cho con số ba mươi. Ánh sáng phát ra từ sách Ê-xê-chi-ên không chỉ đơn thuần là những con số mang tính biểu tượng, nhưng trước hết, việc làm quen với một số biểu tượng số học ấy là điều hữu ích trước khi bắt đầu rút ra sự sáng tỏ từ giữa sự hỗn độn.

Seventeen

Mười bảy

The three two-hundred and fifty-year prophecies identify a seventeen-year period that begins at the end of the history of the church of Smyrna. From 313 to 330, seventeen years typify the setting up of the image of the beast.

Ba lời tiên tri hai trăm năm mươi năm xác định một giai đoạn mười bảy năm, bắt đầu vào cuối lịch sử của hội thánh Smirna. Từ năm 313 đến năm 330, mười bảy năm ấy là hình bóng của việc dựng nên tượng con thú.

The two hundred and fifty years that began in 457 BC ended in 207 BC, seven years after the battle of Raphia and ten years before the battle of Panium. From Raphia to Panium was seventeen years, and it represents the hidden history of verse forty as set forth in verses eleven through fifteen of Daniel eleven.

Hai trăm năm mươi năm bắt đầu từ năm 457 TCN đã kết thúc vào năm 207 TCN, bảy năm sau trận Raphia và mười năm trước trận Panium. Từ Raphia đến Panium là mười bảy năm, và điều đó tượng trưng cho lịch sử ẩn kín của câu bốn mươi như được trình bày trong các câu mười một đến mười lăm của Đa-ni-ên chương mười một.

Ptolemy IV Philopator (also known as Ptolemy IV) was the ruler who won the Battle of Raphia in 217 BC. He reigned as king (and pharaoh) of Ptolemaic Egypt from 221 BC to 204 BC, thus he reigned for seventeen years. He began his reign before the battle of Raphia, but died before the battle of Panium.

Ptolemaios IV Philopator (cũng được biết đến là Ptolemaios IV) là vị vua đã chiến thắng trong Trận Raphia vào năm 217 TCN. Ông trị vì với tư cách là vua (và pharaon) của Ai Cập Ptolemaios từ năm 221 TCN đến năm 204 TCN, như vậy ông trị vì trong mười bảy năm. Ông bắt đầu triều đại của mình trước Trận Raphia, nhưng qua đời trước Trận Panium.

The battle of Raphia representing the Ukrainian War began in 2014 when the United States brought about a color revolution in the Ukraine. Ptolemy IV, the king of the south typifies Vladimir Putin, who began his reign in 2000, the year before the sealing of the one hundred and forty-four thousand in 2001 began. As with Ptolemy, Putin began to reign before the Ukrainian war, typified by the battle of Raphia beginning in 2014. Before Panium Putin, as typified by Ptolemy is removed. Putin began to reign in 2000, thus aligning with the beginning of the sealing time that began the next year in 2001. Seventeen symbolic years as represented by Ptolemy identifies the period Putin reigns, and he does so during the sealing time.

Trận Raphia, tượng trưng cho cuộc Chiến tranh Ukraine, đã bắt đầu vào năm 2014 khi Hoa Kỳ làm bùng phát một cuộc cách mạng màu tại Ukraine. Ptolemy IV, vua phương nam, là hình bóng của Vladimir Putin, người đã bắt đầu triều đại của mình vào năm 2000, tức năm trước khi việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn ngàn bắt đầu vào năm 2001. Cũng như Ptolemy, Putin đã bắt đầu trị vì trước cuộc chiến tranh Ukraine, được tiêu biểu bởi trận Raphia khởi đầu vào năm 2014. Trước Panium, Putin, như được tiêu biểu bởi Ptolemy, bị loại bỏ. Putin bắt đầu trị vì vào năm 2000, nhờ đó tương ứng với sự khởi đầu của thời kỳ đóng ấn, vốn bắt đầu vào năm kế tiếp là 2001. Mười bảy năm biểu tượng, như được đại diện bởi Ptolemy, xác định giai đoạn Putin trị vì, và ông trị vì trong suốt thời kỳ đóng ấn.

Trump represented by the conclusion of the two hundred and fifty years that began in 457 BC is located in the same hidden history as Putin, a history that is seventeen years long beginning at the battle of Raphia. The dragon (Putin) and false prophet (Trump) are located within the hidden history. In that history the beast, represented as “the robbers of thy people” symbolizing the papal power is located at the end of the seventeen years from Raphia to Panium.

Trump, được biểu trưng bởi sự kết thúc của hai trăm năm mươi năm bắt đầu vào năm 457 TCN, được đặt trong cùng một lịch sử ẩn kín với Putin, một lịch sử kéo dài mười bảy năm, khởi đầu từ trận Raphia. Con rồng (Putin) và tiên tri giả (Trump) được đặt trong lịch sử ẩn kín ấy. Trong lịch sử đó, con thú, được trình bày là “những kẻ cướp bóc trong dân ngươi”, tượng trưng cho quyền lực giáo hoàng, được đặt tại điểm cuối của mười bảy năm từ Raphia đến Panium.

The year 321 represents the Sunday law in the United States, and 321 is located within a seventeen-year period from the Edict of Milan in 313 unto the division of the empire in 330.

Năm 321 tượng trưng cho luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ, và 321 nằm trong khoảng thời gian mười bảy năm, từ Chiếu chỉ Milan năm 313 cho đến sự phân chia đế quốc năm 330.

The history represented from Josiah’s Great Passover as it is called, begins the seventeenth Jubilee cycle of the Jews. From Josiah’s Passover, which is the greatest revival in the Old Testament unto October 22, represents the Millerite history from August 11, 1840 unto October 22, 1844, but more importantly it represents the history of 9/11 unto the Sunday law. The sealing time of the one hundred and forty-four thousand is represented by the seventeenth Jubilee cycle from Josiah unto October 22. Seventeen is a symbol associated with the major events of the sealing time, and the number seventeen is a point where Ezekiel’s wheels intersect.

Lịch sử được tiêu biểu bắt đầu từ Lễ Vượt Qua Trọng Đại của Giô-si-a, như vẫn được gọi, mở đầu chu kỳ Năm Hân Hỉ thứ mười bảy của dân Do Thái. Từ Lễ Vượt Qua của Giô-si-a, là cuộc phục hưng vĩ đại nhất trong Cựu Ước, cho đến ngày 22 tháng 10, tiêu biểu cho lịch sử của phong trào Miller từ ngày 11 tháng 8 năm 1840 đến ngày 22 tháng 10 năm 1844; nhưng quan trọng hơn, nó tiêu biểu cho lịch sử từ biến cố 11/9 cho đến luật ngày Chủ nhật. Thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn được tiêu biểu bởi chu kỳ Năm Hân Hỉ thứ mười bảy từ thời Giô-si-a cho đến ngày 22 tháng 10. Mười bảy là một biểu tượng gắn liền với các biến cố trọng đại của thời kỳ đóng ấn, và số mười bảy là một điểm nơi các bánh xe của Ê-xê-chi-ên giao nhau.

In the hidden history of verse forty of Daniel, as represented in verses ten through fifteen of the same chapter the dragon is associated with the number “17” by Ptolemy’s reign. The history of verses eleven’s battle of Raphia unto verse fifteen’s battle of Raphia is “17” years. That history places Donald Trump in the middle of the seventeen years represented by those two battles. The image of the beast that is formed and set up by Trump in the United States is represented by “17” years from 313 to 330. In verse one of chapter one Ezekiel is in the thirtieth year of the “17th” Jubilee cycle. Did you ever dream that the number seventeen represented one of the wheels Ezekiel saw in the Most Holy Place?

Trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi trong Đa-ni-ên, như được trình bày trong các câu mười đến mười lăm của cùng chương ấy, con rồng được liên kết với con số “17” bởi triều đại của Ptolemy. Lịch sử từ trận Raphia ở câu mười một đến trận Raphia ở câu mười lăm là “17” năm. Lịch sử ấy đặt Donald Trump vào giữa mười bảy năm được tượng trưng bởi hai trận chiến đó. Hình tượng của con thú được Trump tạo thành và dựng lên tại Hoa Kỳ được tượng trưng bởi “17” năm từ 313 đến 330. Trong câu một của chương một, Ê-xê-chi-ên ở năm thứ ba mươi của chu kỳ Năm Hân Hỉ thứ “17”. Bạn có từng nghĩ rằng con số mười bảy tượng trưng cho một trong các bánh xe mà Ê-xê-chi-ên đã thấy trong Nơi Chí Thánh chăng?

Ezekiel is a symbol of those during the sealing time who have by faith entered into the Most Holy Place. They are Peter’s priests.

Ê-xê-chi-ên là biểu tượng của những người, trong thời kỳ đóng ấn, bởi đức tin đã bước vào Nơi Chí Thánh. Họ là những thầy tế lễ của Phi-e-rơ.

Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:5.

Chính anh em cũng như những hòn đá sống, được xây nên một ngôi nhà thiêng liêng, một chức tế lễ thánh, để dâng lên những của lễ thiêng liêng, được Đức Chúa Trời nhậm bởi Đức Chúa Jêsus Christ. 1 Phi-e-rơ 2:5.

They have been commissioned to present a message to God’s former covenant people who are then being passed by, though they are forewarned God’s former covenant people will not see or hear.

Họ đã được ủy thác để trình bày một sứ điệp cho những người thuộc dân giao ước trước kia của Đức Chúa Trời, là những người khi ấy đang bị bỏ qua, mặc dù họ đã được báo trước rằng những người thuộc dân giao ước trước kia của Đức Chúa Trời sẽ không thấy cũng không nghe.

And he said unto me, Son of man, cause thy belly to eat, and fill thy bowels with this roll that I give thee. Then did I eat it; and it was in my mouth as honey for sweetness. And he said unto me, Son of man, go, get thee unto the house of Israel, and speak with my words unto them. For thou art not sent to a people of a strange speech and of an hard language, but to the house of Israel; Not to many people of a strange speech and of an hard language, whose words thou canst not understand. Surely, had I sent thee to them, they would have hearkened unto thee. But the house of Israel will not hearken unto thee; for they will not hearken unto me: for all the house of Israel are impudent and hardhearted. Behold, I have made thy face strong against their faces, and thy forehead strong against their foreheads. As an adamant harder than flint have I made thy forehead: fear them not, neither be dismayed at their looks, though they be a rebellious house. Ezekiel 3:3–9.

Ngài phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, hãy làm cho bụng ngươi ăn, và hãy làm đầy lòng dạ ngươi bằng cuộn sách này mà Ta ban cho ngươi. Bấy giờ tôi ăn nó; và trong miệng tôi, nó ngọt như mật. Ngài lại phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, hãy đi đến nhà Y-sơ-ra-ên, và dùng lời của Ta mà phán với họ. Vì ngươi không được sai đến một dân có tiếng nói xa lạ và ngôn ngữ khó hiểu, nhưng đến nhà Y-sơ-ra-ên; không phải đến nhiều dân có tiếng nói xa lạ và ngôn ngữ khó hiểu, mà lời họ ngươi không thể hiểu được. Chắc chắn, nếu Ta sai ngươi đến với họ, thì họ đã nghe ngươi. Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không nghe ngươi; vì họ không chịu nghe Ta: vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng mặt và cứng lòng. Nầy, Ta đã làm cho mặt ngươi mạnh mẽ đối diện với mặt họ, và trán ngươi mạnh mẽ đối diện với trán họ. Ta đã làm trán ngươi như kim cương, cứng hơn đá lửa: chớ sợ họ, cũng đừng kinh hãi trước vẻ mặt họ, dù họ là một nhà phản nghịch. Ê-xê-chi-ên 3:3–9.

Ezekiel is directed to proclaim a message to the former covenant people as represented by the Protestants of Millerite history and the Laodicean Seventh-day Adventist church in the latter days. If he refuses to proclaim the message the blood of those left unwarned will be upon him.

Ê-xê-chi-ên được truyền phải công bố một sứ điệp cho dân giao ước trước kia, như được đại diện bởi những người Tin Lành trong lịch sử Phong trào Miller và Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy Lao-đi-xê trong những ngày sau rốt. Nếu ông từ chối công bố sứ điệp ấy, thì huyết của những kẻ không được cảnh báo sẽ đổ lại trên ông.

Son of man, I have made thee a watchman unto the house of Israel: therefore hear the word at my mouth, and give them warning from me. When I say unto the wicked, Thou shalt surely die; and thou givest him not warning, nor speakest to warn the wicked from his wicked way, to save his life; the same wicked man shall die in his iniquity; but his blood will I require at thine hand. Yet if thou warn the wicked, and he turn not from his wickedness, nor from his wicked way, he shall die in his iniquity; but thou hast delivered thy soul. Again, When a righteous man doth turn from his righteousness, and commit iniquity, and I lay a stumblingblock before him, he shall die: because thou hast not given him warning, he shall die in his sin, and his righteousness which he hath done shall not be remembered; but his blood will I require at thine hand. Nevertheless if thou warn the righteous man, that the righteous sin not, and he doth not sin, he shall surely live, because he is warned; also thou hast delivered thy soul. Ezekiel 3:17–21.

Hỡi con người, Ta đã lập ngươi làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; vậy hãy nghe lời từ miệng Ta, và thay Ta mà cảnh cáo chúng. Khi Ta phán cùng kẻ ác rằng: Ngươi chắc chắn sẽ chết; mà ngươi không cảnh cáo nó, cũng không nói để cảnh cáo kẻ ác từ bỏ đường lối gian ác của nó hầu cứu mạng sống nó, thì chính kẻ ác ấy sẽ chết trong tội ác mình; nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Tuy nhiên, nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác, mà nó không xây khỏi sự gian ác mình, cũng không từ bỏ đường lối gian ác mình, thì nó sẽ chết trong tội ác mình; còn ngươi đã cứu linh hồn mình. Lại nữa, khi người công chính xây khỏi sự công chính mình mà phạm tội ác, và Ta đặt một vật vấp phạm trước mặt người ấy, thì người ấy sẽ chết: vì ngươi đã không cảnh cáo người ấy, nên người ấy sẽ chết trong tội lỗi mình, và những việc công chính người ấy đã làm sẽ chẳng được nhớ đến; nhưng Ta sẽ đòi máu người ấy nơi tay ngươi. Dầu vậy, nếu ngươi cảnh cáo người công chính để người công chính không phạm tội, và người ấy không phạm tội, thì chắc chắn người ấy sẽ sống, vì người ấy đã được cảnh cáo; còn ngươi cũng đã cứu linh hồn mình. Ê-xê-chi-ên 3:17–21.

In the first ‘eleven’ chapters of Ezekiel, he is shown the destruction of Jerusalem, illustrated by the visions by the river Chebar, the plain and Jerusalem. He is commissioned to proclaim a warning of the impending judgment upon Jerusalem. The warning message of the impending judgment upon Jerusalem is the warning given first to the Laodicean Seventh-day Adventist church. The warning identifies the judgment and rejection of God’s people in Jerusalem who do not possess the seal of God. The warning typified by Ezekiel is the warning of the soon-coming Sunday law.

Trong mười một chương đầu của Ê-xê-chi-ên, ông được cho thấy sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, được minh họa qua các khải tượng bên sông Kê-ba, tại đồng bằng và tại Giê-ru-sa-lem. Ông được ủy nhiệm để công bố lời cảnh cáo về sự phán xét sắp giáng xuống trên Giê-ru-sa-lem. Sứ điệp cảnh cáo về sự phán xét sắp giáng xuống trên Giê-ru-sa-lem là lời cảnh cáo trước hết được ban cho Hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê. Lời cảnh cáo ấy chỉ rõ sự phán xét và sự từ bỏ dân sự của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, là những người không mang ấn của Đức Chúa Trời. Lời cảnh cáo được hình bóng qua Ê-xê-chi-ên chính là lời cảnh cáo về luật ngày Chủ nhật sắp đến.

In those first eleven chapters where these truths are set forth, Ezekiel is made dumb, and only speaks thereafter when God specifically opens his mouth, and this continues until the destruction of Jerusalem, when he again can speak.

Trong mười một chương đầu tiên ấy, nơi những lẽ thật này được trình bày, Ê-xê-chi-ên bị câm, và từ đó về sau chỉ nói khi Đức Chúa Trời đặc biệt mở miệng ông; điều này tiếp diễn cho đến khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, bấy giờ ông lại có thể nói.

Then the spirit entered into me, and set me upon my feet, and spake with me, and said unto me, Go, shut thyself within thine house. But thou, O son of man, behold, they shall put bands upon thee, and shall bind thee with them, and thou shalt not go out among them: And I will make thy tongue cleave to the roof of thy mouth, that thou shalt be dumb, and shalt not be to them a reprover: for they are a rebellious house. But when I speak with thee, I will open thy mouth, and thou shalt say unto them, Thus saith the Lord God; He that heareth, let him hear; and he that forbeareth, let him forbear: for they are a rebellious house. Ezekiel 3:24–27.

Bấy giờ Thần linh nhập vào tôi, đặt tôi đứng trên chân mình, phán cùng tôi và bảo tôi rằng: Hãy đi, đóng cửa lại và ở yên trong nhà ngươi. Còn ngươi, hỡi con người, này, họ sẽ đặt dây trói trên ngươi, và sẽ dùng chúng mà trói ngươi lại, khiến ngươi không thể ra giữa họ được. Ta sẽ làm cho lưỡi ngươi dính vào nóc miệng, để ngươi bị câm và không còn làm kẻ quở trách họ nữa; vì họ là một nhà phản nghịch. Nhưng khi Ta phán với ngươi, Ta sẽ mở miệng ngươi, và ngươi sẽ nói với họ rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy; ai nghe, hãy nghe; ai không chịu nghe, cứ không chịu nghe: vì họ là một nhà phản nghịch. Ê-xê-chi-ên 3:24–27.

When Jerusalem fell, Ezekiel could once again speak.

Khi Giê-ru-sa-lem thất thủ, Ê-xê-chi-ên lại có thể nói được.

And it came to pass in the twelfth year of our captivity, in the tenth month, in the fifth day of the month, that one that had escaped out of Jerusalem came unto me, saying, The city is smitten. Now the hand of the Lord was upon me in the evening, afore he that was escaped came; and had opened my mouth, until he came to me in the morning; and my mouth was opened, and I was no more dumb. Ezekiel 33:21, 22.

Vả, xảy đến trong năm thứ mười hai của sự lưu đày chúng tôi, nhằm tháng thứ mười, ngày mồng năm tháng ấy, rằng có một người trốn thoát từ Giê-ru-sa-lem đến cùng tôi mà nói rằng: Thành đã bị đánh phá. Vả, tay của Chúa đã ở trên tôi vào buổi chiều, trước khi kẻ trốn thoát kia đến; và Ngài đã mở miệng tôi, cho đến khi người ấy đến cùng tôi vào buổi sáng; miệng tôi được mở ra, và tôi không còn câm nữa. Ê-xê-chi-ên 33:21, 22.

The fall of Jerusalem represents the fall of the Laodicean Seventh-day Adventist church in the latter days. That fall occurs while those who were sealed in Jerusalem in chapter nine are then lifted up as the church triumphant. The Laodicean’s within Jerusalem are taken out, and the one hundred and forty-four thousand are lifted up as the kingdom of glory is established. That kingdom of glory was typified by the establishment of the kingdom of grace at the cross. The kingdom of grace at the cross aligns with the kingdom of glory at the Sunday law, and those two kingdoms are placed into the sequence of prophetic history located in the book of Ezekiel. The first eleven chapters, when Ezekiel is placed within the context of the sanctuary is about the purification of God’s church as His people change from the church militant, that is defined as being made up of wheat and tares, into the church triumphant, that is made up of the wheat offering of Pentecost.

Sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem tiêu biểu cho sự sụp đổ của hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ Bảy Lao-đi-xê trong những ngày sau rốt. Sự sụp đổ ấy xảy ra trong khi những người đã được đóng ấn tại Giê-ru-sa-lem trong chương chín khi ấy được cất lên như hội thánh khải hoàn. Những người Lao-đi-xê ở trong Giê-ru-sa-lem bị đem ra khỏi đó, và một trăm bốn mươi bốn ngàn được cất lên khi vương quốc vinh hiển được thiết lập. Vương quốc vinh hiển ấy đã được làm hình bóng bởi sự thiết lập vương quốc ân điển tại thập tự giá. Vương quốc ân điển tại thập tự giá tương ứng với vương quốc vinh hiển tại luật ngày Chủ nhật, và hai vương quốc ấy được đặt vào trình tự của lịch sử tiên tri được ghi lại trong sách Ê-xê-chi-ên. Mười một chương đầu, khi sách Ê-xê-chi-ên được đặt trong bối cảnh đền thánh, nói về sự thanh tẩy hội thánh của Đức Chúa Trời khi dân sự Ngài chuyển từ hội thánh chiến đấu, tức là được xác định là gồm lúa mì và cỏ lùng, sang hội thánh khải hoàn, tức là được cấu thành bởi của lễ lúa mì của lễ Ngũ Tuần.

And thou, profane wicked prince of Israel, whose day is come, when iniquity shall have an end, Thus saith the Lord God; Remove the diadem, and take off the crown: this shall not be the same: exalt him that is low, and abase him that is high. I will overturn, overturn, overturn, it: and it shall be no more, until he come whose right it is; and I will give it him. Ezekiel 21:25–27.

Còn ngươi, hỡi vua gian ác, phàm tục của Y-sơ-ra-ên, ngày của ngươi đã đến, là khi tội ác sẽ đến hồi chấm dứt, Chúa Hằng Hữu phán như vầy; Hãy cất mũ miện đi, và tháo mão triều thiên xuống: sự này sẽ không còn như trước nữa: hãy tôn cao kẻ thấp hèn, và hạ xuống kẻ ở địa vị cao. Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ nó: và nó sẽ không còn nữa, cho đến khi Đấng có quyền trên đó đến; và Ta sẽ ban nó cho Người. Ê-xê-chi-ên 21:25–27.

Zedekiah was the final king of Judah, and he is the “wicked prince of Israel, whose day is come” in the verses. Nebuchadnezzar was about to take Jerusalem and Zedekiah’s crown was to be removed by Babylon who would be overturned by the Medes and Persians, who would in turn be overturned by the Greeks, who would be overturned by Rome. The third overturning arrives at Rome, which is the history when the King “whose right it is” will receive the crown of the kingdom of grace at the setting up of that kingdom at the cross.

Xê-đê-kia là vị vua cuối cùng của Giu-đa, và ông chính là “hoàng tử gian ác của Y-sơ-ra-ên, ngày của ngươi đã đến” trong các câu ấy. Nê-bu-cát-nết-sa sắp chiếm Giê-ru-sa-lem, và mão triều thiên của Xê-đê-kia sẽ bị Ba-by-lôn cất đi; rồi Ba-by-lôn sẽ bị lật đổ bởi người Mê-đi và Ba Tư, đến lượt họ lại bị người Hy Lạp lật đổ, và người Hy Lạp sẽ bị La Mã lật đổ. Sự lật đổ lần thứ ba đến tại La Mã, tức là giai đoạn lịch sử khi Vua, “Đấng có quyền hợp pháp ấy”, sẽ nhận lãnh mão triều thiên của vương quốc ân điển vào lúc vương quốc ấy được thiết lập tại thập tự giá.

“To the ‘profane wicked prince’ had come the day of final reckoning. ‘Remove the diadem,’ the Lord decreed, ‘and take off the crown.’ Not until Christ Himself should set up His kingdom was Judah again to be permitted to have a king. ‘I will overturn, overturn, overturn, it,’ was the divine edict concerning the throne of the house of David; ‘and it shall be no more, until He come whose right it is; and I will give it Him.’ Ezekiel 21:25–27.” Prophets and Kings, 451.

“Đối với ‘vị hoàng tử gian ác phàm tục,’ ngày phán xét cuối cùng đã đến. ‘Hãy cất mũ tế đi,’ Chúa đã phán truyền, ‘và tháo mão triều thiên ra.’ Cho đến khi chính Đấng Christ thiết lập vương quốc của Ngài, Giu-đa sẽ không còn được phép có một vua nữa. ‘Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ nó,’ đó là sắc lệnh thiên thượng liên quan đến ngai của nhà Đa-vít; ‘và nó sẽ không còn nữa, cho đến khi Đấng có quyền trên ngai ấy đến; và Ta sẽ ban nó cho Ngài.’ Ê-xê-chi-ên 21:25–27.” Tiên tri và Các Vua, 451.

In the time of the latter rain, which began when the judgment of the living began on 9/11 Christ sets up his kingdom of glory.

Trong thời kỳ mưa cuối mùa, bắt đầu khi sự phán xét người sống khởi sự vào ngày 9/11, Đấng Christ thiết lập vương quốc vinh hiển của Ngài.

“When the four angels let go, Christ will set up His kingdom.” Spalding and Magan, 3.

“Khi bốn thiên sứ buông tay ra, Đấng Christ sẽ thiết lập vương quốc của Ngài.” Spalding và Magan, 3.

A period of preparation begins at 9/11 and at the Sunday law the glorious holy mountain is lifted up above all the hills and mountains.

Một giai đoạn chuẩn bị bắt đầu từ 9/11, và vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, ngọn núi thánh vinh hiển được nhấc lên cao hơn hết thảy mọi đồi cùng các núi.

The word that Isaiah the son of Amoz saw concerning Judah and Jerusalem. And it shall come to pass in the last days, that the mountain of the Lord’s house shall be established in the top of the mountains, and shall be exalted above the hills; and all nations shall flow unto it. And many people shall go and say, Come ye, and let us go up to the mountain of the Lord, to the house of the God of Jacob; and he will teach us of his ways, and we will walk in his paths: for out of Zion shall go forth the law, and the word of the Lord from Jerusalem. Isaiah 2:1–3.

Lời mà Ê-sai, con trai A-mốt, đã thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt rằng núi của nhà Đức Giê-hô-va sẽ được lập vững trên đỉnh các núi, và sẽ được tôn cao hơn các đồi; mọi dân tộc sẽ tuôn đến đó. Nhiều dân sẽ đi và nói rằng: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Đức Giê-hô-va, đến nhà của Đức Chúa Trời của Gia-cốp; Ngài sẽ dạy chúng ta các đường lối của Ngài, và chúng ta sẽ bước đi trong các nẻo Ngài. Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, và lời của Đức Giê-hô-va từ Giê-ru-sa-lem. Ê-sai 2:1–3.

On 9/11 the winds were released and then restrained, thus marking the beginning of the setting up of the kingdom of Daniel two, that is represented as a rock cut out of the mountain that fills the whole earth.

Vào ngày 11/9, các luồng gió đã được thả ra rồi lại bị kiềm giữ, qua đó đánh dấu sự khởi đầu của việc dựng lập vương quốc trong Đa-ni-ên đoạn hai, được tượng trưng như một hòn đá đẽo ra từ núi và lấp đầy cả đất.

“This view was given in 1847 when there were but very few of the Advent brethren observing the Sabbath, and of these but few supposed that its observance was of sufficient importance to draw a line between the people of God and unbelievers. Now the fulfillment of that view is beginning to be seen. ‘The commencement of that time of trouble,’ here mentioned does not refer to the time when the plagues shall begin to be poured out, but to a short period just before they are poured out, while Christ is in the sanctuary. At that time, while the work of salvation is closing, trouble will be coming on the earth, and the nations will be angry, yet held in check so as not to prevent the work of the third angel. At that time the ‘latter rain,’ or refreshing from the presence of the Lord, will come, to give power to the loud voice of the third angel, and prepare the saints to stand in the period when the seven last plagues shall be poured out.” Early Writings, 85.

“Khải tượng này đã được ban cho vào năm 1847, khi chỉ có rất ít anh em Cơ Đốc Phục Lâm giữ ngày Sa-bát, và trong số đó cũng chỉ có ít người cho rằng việc giữ ngày ấy đủ quan trọng để vạch một ranh giới giữa dân sự của Đức Chúa Trời và những kẻ không tin. Nay sự ứng nghiệm của khải tượng ấy đang bắt đầu được thấy. ‘Sự khởi đầu của thời kỳ hoạn nạn’ được nói đến ở đây không chỉ về thời điểm các tai vạ bắt đầu được trút ra, mà chỉ về một thời gian ngắn ngay trước khi chúng được trút ra, trong khi Đấng Christ ở trong đền thánh. Vào lúc ấy, khi công việc cứu rỗi đang đi đến hồi kết thúc, hoạn nạn sẽ giáng xuống trên đất, và các dân tộc sẽ nổi giận, song vẫn bị kiềm chế để không ngăn trở công việc của thiên sứ thứ ba. Vào lúc ấy, ‘mưa cuối mùa,’ tức sự tươi mới đến từ sự hiện diện của Chúa, sẽ đến, để ban quyền năng cho tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba, và chuẩn bị các thánh đồ đứng vững trong thời kỳ bảy tai vạ cuối cùng sẽ được trút ra.” Early Writings, 85.

Christ sets up His everlasting kingdom during the time of the latter rain, and His kingdom includes the kingdom of grace that was established at the cross and also His kingdom of glory at the Sunday law. Zedekiah to Babylon (1st kingdom), to Medo-Persia (2nd kingdom), to Greece (3rd kingdom) and on to pagan Rome (4th kingdom) identifies the history leading to the kingdom of grace. That history identifies a parallel historical sequence from Papal Rome (spiritual Babylon 5th kingdom), unto the United States (spiritual Medo-Persia 6th kingdom), unto the United Nations (spiritual Greece 7th kingdom) and on unto the threefold union of the dragon, the beast and false prophet, that together make up modern Rome (spiritual Rome 8th kingdom that is of the seven).

Đấng Christ thiết lập vương quốc đời đời của Ngài trong thời kỳ mưa cuối mùa, và vương quốc của Ngài bao gồm vương quốc ân điển đã được thiết lập tại thập tự giá, đồng thời cũng bao gồm vương quốc vinh hiển của Ngài vào thời điểm luật ngày Chủ nhật. Từ Sê-đê-kia đến Ba-by-lôn (vương quốc thứ nhất), đến Mê-đi và Ba Tư (vương quốc thứ hai), đến Hy Lạp (vương quốc thứ ba), rồi đến La Mã ngoại giáo (vương quốc thứ tư) cho thấy lịch sử dẫn đến vương quốc ân điển. Lịch sử ấy chỉ ra một chuỗi lịch sử song song, từ La Mã Giáo hoàng (Ba-by-lôn thuộc linh, vương quốc thứ năm), đến Hoa Kỳ (Mê-đi và Ba Tư thuộc linh, vương quốc thứ sáu), đến Liên Hiệp Quốc (Hy Lạp thuộc linh, vương quốc thứ bảy), rồi đến liên minh tam diện của con rồng, con thú và tiên tri giả, là những thế lực cùng nhau cấu thành La Mã hiện đại (La Mã thuộc linh, vương quốc thứ tám vốn thuộc về bảy).

The triumph of that kingdom in Daniel two is represented by a rock, and God’s faithful are stones in the temple.

Sự khải hoàn của nước ấy trong Đa-ni-ên đoạn hai được tượng trưng bằng một hòn đá, và những người trung tín của Đức Chúa Trời là những viên đá trong đền thờ.

Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:5.

Chính anh em cũng như những hòn đá sống, được xây nên một nhà thiêng liêng, một chức tế lễ thánh, để dâng lên những sinh tế thiêng liêng, đẹp lòng Đức Chúa Trời nhờ Đức Chúa Jêsus Christ. 1 Phi-e-rơ 2:5.

That everlasting triumphs over the kingdoms of the world and fills the entire world. In Ezekiel chapter forty to the end of his book that same kingdom is represented as a temple which fills the world with the water of life.

Đấng ấy chiến thắng đời đời các vương quốc của thế gian và làm đầy dẫy toàn thế giới. Trong Ê-xê-chi-ên chương bốn mươi cho đến hết sách của ông, chính vương quốc ấy được trình bày như một đền thờ làm cho thế gian đầy dẫy nước sự sống.

We will continue these things in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày những điều này trong bài viết kế tiếp.