In the passage from Testimonies¸ volume five, which we have been considering for a few articles now; we are informed of the vision of the temple given to Ezekiel, Isaiah and John:

Trong đoạn trích từ Testimonies, quyển năm, mà chúng ta đã xem xét trong vài bài viết gần đây, chúng ta được biết về khải tượng đền thờ đã được ban cho Ê-xê-chi-ên, Ê-sai và Giăng:

“These lessons are for our benefit. We need to stay our faith upon God, for there is just before us a time that will try men’s souls. Christ, upon the Mount of Olives, rehearsed the fearful judgments that were to precede His second coming: ‘Ye shall hear of wars and rumors of wars.’ ‘Nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom: and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes, in divers places. All these are the beginning of sorrows.’ While these prophecies received a partial fulfillment at the destruction of Jerusalem, they have a more direct application to the last days.”

“Những bài học này là vì ích lợi của chúng ta. Chúng ta cần đặt đức tin mình vững vàng nơi Đức Chúa Trời, vì ngay trước mặt chúng ta là một thời kỳ sẽ thử luyện linh hồn loài người. Trên Núi Ô-li-ve, Đấng Christ đã thuật lại những sự phán xét kinh khiếp sẽ đi trước sự tái lâm của Ngài: ‘Các ngươi sẽ nghe về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh.’ ‘Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân kia, và nước nọ nghịch cùng nước kia; sẽ có đói kém, dịch lệ, và động đất ở nhiều nơi. Tất cả những điều ấy chỉ là khởi đầu của cơn đau đớn.’ Trong khi những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm một phần trong sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, chúng còn có sự ứng dụng trực tiếp hơn đối với những ngày sau rốt.”

The Ninth of Av

Ngày Mùng Chín tháng Av

Tisha B’Av, which means “the Ninth of Av” in Hebrew is the Jewish day that commemorates the destruction of both the First Temple by the Babylonians in 586 BC and the Second Temple by Titus in the year 70. Both destruction's occurred on the same calendar date—the 9th day of the Hebrew month of Av (usually falling in July or August on the Gregorian calendar). When Sister White aligns the destruction of Jerusalem to the “time that will try men’s souls” in the last days, she is identifying two destructions which both illustrate the soon-coming Sunday law.

Tisha B’Av, trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “ngày mồng Chín tháng Av”, là ngày của người Do Thái để tưởng niệm sự hủy diệt của cả Đền Thờ thứ nhất bởi người Ba-by-lôn vào năm 586 TCN và Đền Thờ thứ hai bởi Titus vào năm 70. Cả hai sự hủy diệt đều xảy ra vào cùng một ngày theo lịch—ngày mồng 9 của tháng Av theo lịch Hê-bơ-rơ (thường rơi vào tháng Bảy hoặc tháng Tám theo lịch Gregory). Khi Bà White đặt sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem song hành với “thời kỳ sẽ thử luyện linh hồn loài người” trong những ngày cuối cùng, bà đang xác định hai sự hủy diệt, cả hai đều minh họa cho luật ngày Chúa nhật sắp đến.

Verse sixteen of Daniel eleven represents that Sunday law, and aligns with verse forty-one. In Ezekiel the destruction of Jerusalem is used to illustrate the separation of the wise and foolish virgins at the Sunday law. Ezekiel was a captive in Babylon when he was miraculously transported to Jerusalem to view that very separation in chapter eight through eleven.

Câu mười sáu của Đa-ni-ên 11 tượng trưng cho luật ngày Chúa nhật ấy, và tương ứng với câu bốn mươi mốt. Trong Ê-xê-chi-ên, sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem được dùng để minh họa sự phân rẽ giữa các trinh nữ khôn ngoan và dại dột vào thời điểm luật ngày Chúa nhật. Ê-xê-chi-ên là một kẻ bị lưu đày tại Ba-by-lôn khi ông được đưa đến Giê-ru-sa-lem một cách kỳ diệu để chứng kiến chính sự phân rẽ ấy trong các chương tám đến mười một.

And it came to pass in the sixth year, in the sixth month, in the fifth day of the month, as I sat in mine house, and the elders of Judah sat before me, that the hand of the Lord God fell there upon me. Then I beheld, and lo a likeness as the appearance of fire: from the appearance of his loins even downward, fire; and from his loins even upward, as the appearance of brightness, as the colour of amber. And he put forth the form of an hand, and took me by a lock of mine head; and the spirit lifted me up between the earth and the heaven, and brought me in the visions of God to Jerusalem, to the door of the inner gate that looketh toward the north; where was the seat of the image of jealousy, which provoketh to jealousy. Ezekiel 8:1–3.

Và xảy ra vào năm thứ sáu, tháng thứ sáu, ngày mồng năm trong tháng, khi tôi đang ngồi trong nhà mình, và các trưởng lão của Giu-đa đang ngồi trước mặt tôi, thì tay của Chúa Hằng Hữu đã giáng trên tôi tại đó. Bấy giờ tôi nhìn xem, kìa, có một hình dạng như thể diện mạo của lửa: từ phần hông trở xuống là lửa; còn từ phần hông trở lên thì như diện mạo của sự sáng chói, như màu hổ phách. Ngài đưa ra hình một bàn tay, nắm lấy một lọn tóc trên đầu tôi; và Thần cất tôi lên giữa đất và trời, rồi đem tôi trong các khải tượng của Đức Chúa Trời đến Giê-ru-sa-lem, tới cửa của cổng trong quay về phía bắc, nơi có chỗ đặt hình tượng ghen ghét, là vật gây nên sự ghen ghét. Ê-xê-chi-ên 8:1–3.

The four chapters of eight through eleven are a description of the separation, and Sister White, when commenting on Ezekiel nine identifies not only that it was the same sealing as Revelation chapter seven, but that Jerusalem represents the Laodicean Seventh-day Adventist church in the latter days.

Bốn chương từ tám đến mười một là sự mô tả về cuộc phân rẽ, và Chị White, khi bình luận về Ê-xê-chi-ên chín, không những xác định rằng đó cũng chính là sự đóng ấn của Khải Huyền chương bảy, mà còn cho thấy rằng Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy Lao-đi-xê trong những ngày sau rốt.

“The class who do not feel grieved over their own spiritual declension, nor mourn over the sins of others, will be left without the seal of God. The Lord commissions His messengers, the men with slaughtering weapons in their hands: ‘Go ye after him through the city, and smite: let not your eye spare, neither have ye pity: slay utterly old and young, both maids, and little children, and women: but come not near any man upon whom is the mark; and begin at My sanctuary. Then they began at the ancient men which were before the house.’

“Những người không cảm thấy đau buồn vì sự sa sút thuộc linh của chính mình, cũng không than khóc vì tội lỗi của người khác, sẽ bị để lại mà không có ấn của Đức Chúa Trời. Chúa truyền lệnh cho các sứ giả của Ngài, những người cầm khí giới hủy diệt trong tay: ‘Các ngươi hãy theo sau người ấy mà đi khắp thành, và đánh giết: mắt các ngươi chớ dung tha, cũng đừng thương xót: hãy giết hết thảy, già và trẻ, cả các thiếu nữ, con trẻ, và đàn bà: nhưng chớ đến gần bất cứ người nào có dấu trên mình; và hãy khởi sự từ nơi thánh của Ta. Bấy giờ họ khởi sự từ những người già cả ở trước nhà.’”

Here we see that the church—the Lord’s sanctuary—was the first to feel the stroke of the wrath of God. The ancient men, those to whom God had given great light and who had stood as guardians of the spiritual interests of the people, had betrayed their trust. They had taken the position that we need not look for miracles and the marked manifestation of God’s power as in former days. Times have changed. These words strengthen their unbelief, and they say: The Lord will not do good, neither will He do evil. He is too merciful to visit His people in judgment. Thus ‘Peace and safety’ is the cry from men who will never again lift up their voice like a trumpet to show God’s people their transgressions and the house of Jacob their sins. These dumb dogs that would not bark are the ones who feel the just vengeance of an offended God. Men, maidens, and little children all perish together.

“Ở đây chúng ta thấy rằng hội thánh—đền thánh của Chúa—là nơi đầu tiên cảm nhận đòn giáng của cơn thịnh nộ Đức Chúa Trời. Những trưởng lão, những người mà Đức Chúa Trời đã ban cho ánh sáng lớn lao và đã đứng lên như những người canh giữ các quyền lợi thuộc linh của dân sự, đã phản bội sự ủy thác dành cho mình. Họ đã giữ lấy lập trường rằng chúng ta không cần trông đợi các phép lạ và sự biểu hiện rõ rệt của quyền năng Đức Chúa Trời như trong những ngày trước. Thời thế đã đổi thay. Những lời ấy làm vững mạnh sự vô tín của họ, và họ nói rằng: Chúa sẽ không làm lành, cũng sẽ không làm dữ. Ngài quá nhân từ để đoán phạt dân sự Ngài. Vì vậy, ‘Bình an và an ổn’ là tiếng kêu ra từ những người sẽ không bao giờ còn cất tiếng mình lên như tiếng kèn để chỉ cho dân sự Đức Chúa Trời những sự vi phạm của họ và cho nhà Gia-cốp những tội lỗi của mình. Những con chó câm không chịu sủa ấy chính là những kẻ phải cảm nhận sự báo thù công chính của một Đức Chúa Trời bị xúc phạm. Đàn ông, thiếu nữ, và trẻ nhỏ đều cùng nhau bị diệt vong.

“The abominations for which the faithful ones were sighing and crying were all that could be discerned by finite eyes, but by far the worst sins, those which provoked the jealousy of the pure and holy God, were unrevealed. The great Searcher of hearts knoweth every sin committed in secret by the workers of iniquity. These persons come to feel secure in their deceptions and, because of His long-suffering, say that the Lord seeth not, and then act as though He had forsaken the earth. But He will detect their hypocrisy and will open before others those sins which they were so careful to hide.

“Những sự gớm ghiếc mà các kẻ trung tín than thở và kêu khóc vì đó chỉ là những điều mắt hữu hạn có thể nhận thấy; nhưng những tội lỗi tệ hại hơn nhiều, là những tội khiêu động cơn ghen của Đức Chúa Trời tinh sạch và thánh khiết, thì lại không được bày tỏ ra. Đấng tra xét lòng người vĩ đại biết mọi tội lỗi được phạm cách kín giấu bởi những kẻ làm điều gian ác. Những người này trở nên cảm thấy an ổn trong sự dối trá của mình, và vì sự nhịn nhục lâu dài của Ngài mà nói rằng Chúa không thấy, rồi hành động như thể Ngài đã lìa bỏ đất. Nhưng Ngài sẽ phơi bày sự đạo đức giả của họ, và sẽ mở ra trước mặt người khác những tội lỗi mà họ đã hết sức cẩn thận che giấu.”

“No superiority of rank, dignity, or worldly wisdom, no position in sacred office, will preserve men from sacrificing principle when left to their own deceitful hearts. Those who have been regarded as worthy and righteous prove to be ring-leaders in apostasy and examples in indifference and in the abuse of God’s mercies. Their wicked course He will tolerate no longer, and in His wrath He deals with them without mercy.

“Không một địa vị cao sang nào, phẩm giá nào, hay sự khôn ngoan thuộc thế gian nào, cũng không một chức vụ thánh nào, có thể giữ loài người khỏi hy sinh nguyên tắc khi họ bị phó mặc cho tấm lòng dối trá của chính mình. Những kẻ từng được xem là xứng đáng và công chính lại chứng tỏ mình là những kẻ cầm đầu trong sự bội đạo, và là những gương mẫu về sự thờ ơ cùng việc lạm dụng các ân huệ của Đức Chúa Trời. Ngài sẽ không còn dung thứ đường lối gian ác của họ nữa, và trong cơn thịnh nộ của Ngài, Ngài đối xử với họ chẳng chút thương xót.”

“It is with reluctance that the Lord withdraws His presence from those who have been blessed with great light and who have felt the power of the word in ministering to others. They were once His faithful servants, favored with His presence and guidance; but they departed from Him and led others into error, and therefore are brought under the divine displeasure.” Testimonies, volume 5, 211, 212.

“Đức Chúa Trời chỉ miễn cưỡng rút sự hiện diện của Ngài khỏi những kẻ đã được ban cho ánh sáng lớn và đã cảm nhận quyền năng của lời Ngài khi hầu việc người khác. Họ đã từng là những tôi tớ trung tín của Ngài, được ân đãi bằng sự hiện diện và sự dẫn dắt của Ngài; nhưng họ đã lìa bỏ Ngài và dẫn dắt những người khác vào sự lầm lạc, vì thế họ bị đặt dưới sự không đẹp lòng của Đức Chúa Trời.” Chứng Đạo, quyển 5, 211, 212.

The entire book of Ezekiel is set within the context of the destruction of Jerusalem. In Ezekiel’s testimony the siege of Nebuchadnezzar that lasted a year and a half is specifically marked, but the “more direct application” of Jesus' warning in Matthew twenty-four is in the latter days. In Ezekiel that line of truth is found in chapter twenty-four.

Toàn bộ sách Ê-xê-chi-ên được đặt trong bối cảnh sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem. Trong lời chứng của Ê-xê-chi-ên, cuộc vây hãm của Nê-bu-cát-nết-sa kéo dài một năm rưỡi được ghi dấu cách đặc biệt, nhưng “sự ứng dụng trực tiếp hơn” của lời cảnh báo của Chúa Giê-su trong Ma-thi-ơ đoạn hai mươi bốn lại thuộc về những ngày sau rốt. Trong sách Ê-xê-chi-ên, đường lối lẽ thật ấy được tìm thấy nơi đoạn hai mươi bốn.

January 15, 588 BC

Ngày 15 tháng 1 năm 588 TCN

Again in the ninth year, in the tenth month, in the tenth day of the month, the word of the Lord came unto me, saying, Son of man, write thee the name of the day, even of this same day: the king of Babylon set himself against Jerusalem this same day. Ezekiel 24:1, 2.

Lại nữa, nhằm năm thứ chín, tháng thứ mười, ngày mồng mười trong tháng, lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, hãy ghi lấy tên của ngày nầy, tức chính ngày nầy; vua Ba-by-lôn đã vây hãm Giê-ru-sa-lem trong chính ngày nầy. Ê-xê-chi-ên 24:1, 2.

On this date, which is also established on other biblical witnesses, a siege of eighteen months began. The word of the Lord that came to Ezekiel on that date consisted of the parable of the bloody city that is illustrated with a boiling pot followed by a great fire. The parable clearly is representing the judgment upon Jerusalem, and it is followed in the same chapter with Ezekiel’s wife being laid to rest by a stroke as a symbol that the siege that would ultimately destroy the sanctuary had begun.

Vào ngày này, vốn cũng được xác lập bởi những chứng cứ Kinh Thánh khác, một cuộc vây hãm kéo dài mười tám tháng đã bắt đầu. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Ê-xê-chi-ên vào ngày ấy gồm có ẩn dụ về thành đổ máu, được minh họa bằng một nồi nước sôi tiếp theo là một ngọn lửa lớn. Ẩn dụ ấy rõ ràng tượng trưng cho sự phán xét giáng trên Giê-ru-sa-lem, và trong cùng chương đó, tiếp theo là việc vợ của Ê-xê-chi-ên được đưa vào yên nghỉ bởi một cơn đột quỵ như một dấu hiệu tượng trưng rằng cuộc vây hãm, cuộc vây hãm cuối cùng sẽ hủy diệt đền thánh, đã bắt đầu.

Also the word of the Lord came unto me, saying, Son of man, behold, I take away from thee the desire of thine eyes with a stroke: yet neither shalt thou mourn nor weep, neither shall thy tears run down. Forbear to cry, make no mourning for the dead, bind the tire of thine head upon thee, and put on thy shoes upon thy feet, and cover not thy lips, and eat not the bread of men. So I spake unto the people in the morning: and at even my wife died; and I did in the morning as I was commanded. Ezekiel 24:15–18.

Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, này, Ta sẽ cất khỏi ngươi điều mắt ngươi ao ước chỉ trong một cơn đánh phạt; nhưng ngươi chớ than khóc hay khóc lóc, cũng đừng để nước mắt tuôn rơi. Hãy nén tiếng kêu than, chớ để tang người chết, hãy quấn khăn trên đầu ngươi, mang giày vào chân, chớ che môi, và đừng ăn bánh của người ta. Vậy, buổi sáng tôi nói cùng dân sự; đến chiều, vợ tôi chết; và sáng hôm sau tôi làm y như điều tôi đã được truyền dạy. Ê-xê-chi-ên 24:15–18.

Then the people around Ezekiel asked the meaning of the parable and his wife’s death.

Bấy giờ, dân chúng quanh Ê-xê-chi-ên hỏi ý nghĩa của lời ngụ ngôn ấy và cái chết của vợ ông.

And the people said unto me, Wilt thou not tell us what these things are to us, that thou doest so? Then I answered them, The word of the Lord came unto me, saying, Speak unto the house of Israel, Thus saith the Lord God; Behold, I will profane my sanctuary, the excellency of your strength, the desire of your eyes, and that which your soul pitieth; and your sons and your daughters whom ye have left shall fall by the sword. Ezekiel 24:19–21.

Bấy giờ dân sự nói với tôi rằng: Ông không cho chúng tôi biết những điều ấy có ý nghĩa gì đối với chúng tôi, vì sao ông làm như vậy sao? Tôi bèn trả lời họ: Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Kìa, Ta sẽ làm ô uế nơi thánh của Ta, niềm vinh hiển của sức mạnh các ngươi, điều mắt các ngươi ham muốn, và điều linh hồn các ngươi thương tiếc; còn các con trai và các con gái mà các ngươi đã để lại sẽ ngã bởi gươm. Ê-xê-chi-ên 24:19–21.

Ezekiel’s wife and the sanctuary are both identified as the “desire of your eyes” in the passage. Biblical historians identify the siege lasted eighteen months, whereas the sieges of Cestius and Titus lasted four years from the year 66 unto the year 70. A close count of the time from the first siege of Cestius unto the destruction is three and a half years, but when applying “inclusive reckoning,” which is the most often employed application in the Bible, it is four-years. Knowing that both reckonings are valid allows us to see both three and a half years from Cestius to Titus and also four years.

Trong phân đoạn này, vợ của Ê-xê-chi-ên và đền thánh đều được xác định là “điều mắt ngươi ưa thích”. Các sử gia Kinh Thánh xác định rằng cuộc vây hãm kéo dài mười tám tháng, trong khi các cuộc vây hãm của Cestius và Titus kéo dài bốn năm, từ năm 66 đến năm 70. Nếu tính sát thời gian từ cuộc vây hãm đầu tiên của Cestius cho đến sự hủy diệt thì là ba năm rưỡi; nhưng khi áp dụng “cách tính bao gồm,” là cách áp dụng thường được dùng nhất trong Kinh Thánh, thì là bốn năm. Việc biết rằng cả hai cách tính đều hợp lệ cho phép chúng ta thấy vừa ba năm rưỡi từ Cestius đến Titus, vừa bốn năm.

We have two witnesses of the Sunday law in the two destruction's of Jerusalem, and the details of both histories are to be applied to the soon-coming Sunday law—where Laodicea is spewed out of the mouth of the Lord. The beginning of the siege of Nebuchadnezzar is marked by the death of Ezekiel’s wife. At her death, Ezekiel was commanded not to openly mourn, for he was the sign of the Jews being carried away into captivity.

Chúng ta có hai chứng nhân về luật ngày Chúa nhật trong hai lần hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, và các chi tiết của cả hai lịch sử ấy đều phải được áp dụng cho luật ngày Chúa nhật sắp đến—khi Lao-đi-xê sẽ bị phun ra khỏi miệng của Chúa. Sự khởi đầu của cuộc vây hãm của Nê-bu-cát-nết-sa được đánh dấu bằng cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên. Khi bà qua đời, Ê-xê-chi-ên được truyền lệnh không được công khai than khóc, vì ông là dấu hiệu về việc dân Giu-đa bị đem đi lưu đày.

The beginning of the four-year period of 66 to 70 is marked by the sign of the abomination of desolation, which was the sign for the Christians in Jerusalem to flee.

Sự khởi đầu của giai đoạn bốn năm từ năm 66 đến năm 70 được đánh dấu bởi dấu hiệu của sự gớm ghiếc hoang tàn, là dấu hiệu để các Cơ Đốc nhân tại Giê-ru-sa-lem chạy trốn.

When ye therefore shall see the abomination of desolation, spoken of by Daniel the prophet, stand in the holy place, (whoso readeth, let him understand:) Then let them which be in Judaea flee into the mountains. Matthew 24:15,16.

Vậy khi các ngươi thấy sự gớm ghiếc của sự hoang tàn, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã phán, đứng trong nơi thánh, (ai đọc hãy hiểu:) thì những kẻ ở Giu-đê phải trốn vào núi. Ma-thi-ơ 24:15,16.

Two sieges that clearly align with each other, and both sieges contain a “sign” at the beginning of the siege. When Ezekiel explains what was meant by the death of his wife and the lack of mourning on his part, he explained and then recorded:

Hai cuộc vây hãm rõ ràng tương ứng với nhau, và cả hai cuộc vây hãm đều chứa đựng một “dấu hiệu” ở phần mở đầu của cuộc vây hãm. Khi Ê-xê-chi-ên giải thích ý nghĩa cái chết của vợ mình và việc ông không than khóc, ông đã giải thích rồi ghi chép lại:

Thus Ezekiel is unto you a sign: according to all that he hath done shall ye do: and when this cometh, ye shall know that I am the Lord God. Ezekiel 24:24.

Vậy, Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi: hết thảy những gì người đã làm, các ngươi cũng sẽ làm như vậy; và khi điều này xảy đến, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va. Ê-xê-chi-ên 24:24.

The sign of the death of Ezekiel’s wife was an identification of the soon-coming destruction of Jerusalem and the temple and the following captivity in Babylon. The sign of the abomination of desolation, spoken of by Daniel was a warning to escape the destruction, but both sieges have a sign at the beginning.

Dấu hiệu về cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên là sự đồng nhất với sự hủy diệt sắp đến của Giê-ru-sa-lem và đền thờ, cùng cuộc lưu đày tiếp theo tại Ba-by-lôn. Dấu hiệu của sự gớm ghiếc tàn phá, như Đa-ni-ên đã nói đến, là một lời cảnh báo để trốn khỏi sự hủy diệt, nhưng cả hai cuộc vây hãm đều có một dấu hiệu ở lúc khởi đầu.

There will be a prophetic siege before the soon-coming Sunday law and Ezekiel’s wife’s death is the symbol that the Laodicean Seventh-day Adventist church has been fully passed by, whereas; Ezekiel is a symbol of the one hundred and forty-four thousand, and is the symbol of the ensign that is lifted up at the beginning of the siege. Ezekiel is the ensign of the one hundred and forty-four thousand at the beginning of the siege of Babylon and the sign of the abomination of desolation at the beginning is the “sign” of Rome. One sign speaks to an internal warning and the other to an external warning. There was certainly a warning to the Christians in the year 66, but the warning sign was Rome. The sign in the destruction of Babylon was Ezekiel's wife. Rome is the class who receive the mark of the beast and Ezekiel the sign of those who receive the seal of God.

Sẽ có một cuộc vây hãm mang tính tiên tri trước đạo luật Chúa nhật sắp đến, và cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên là biểu tượng cho việc hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê đã hoàn toàn bị bỏ qua; còn Ê-xê-chi-ên là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn ngàn, và là biểu tượng của ngọn cờ được dựng lên vào lúc khởi đầu cuộc vây hãm. Ê-xê-chi-ên là ngọn cờ của một trăm bốn mươi bốn ngàn vào lúc bắt đầu cuộc vây hãm Ba-by-lôn, và dấu hiệu của sự gớm ghiếc hoang tàn vào lúc khởi đầu là “dấu hiệu” của La Mã. Một dấu hiệu nói đến sự cảnh báo nội bộ, còn dấu hiệu kia nói đến sự cảnh báo bên ngoài. Chắc chắn đã có một lời cảnh báo cho các Cơ Đốc nhân vào năm 66, nhưng dấu hiệu cảnh báo ấy là La Mã. Dấu hiệu trong sự hủy diệt của Ba-by-lôn là vợ của Ê-xê-chi-ên. La Mã là hạng người nhận dấu con thú, còn Ê-xê-chi-ên là dấu hiệu của những người nhận ấn của Đức Chúa Trời.

Two Ending Periods

Hai Giai Đoạn Kết Thúc

The first siege lasted eighteen months and the second siege lasted four years. Both sieges find their “more direct” fulfillment in the latter days, and both sieges are directly connected with the prophecy of three hundred and ninety-one years and fifteen days located in Revelation nine verse fifteen.

Cuộc vây hãm thứ nhất kéo dài mười tám tháng, và cuộc vây hãm thứ hai kéo dài bốn năm. Cả hai cuộc vây hãm đều tìm thấy sự ứng nghiệm “trực tiếp hơn” của mình trong những ngày sau rốt, và cả hai cuộc vây hãm đều liên hệ trực tiếp với lời tiên tri về ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày được chép trong Khải Huyền 9:15.

The beginning of the five months of Revelation nine, verse ten included a history that marks a thirty-eight-year period that culminates in a four-year siege, that is associated with the number thirty-eight, and identified the rising up of Islam. That four-year siege finds its counterpart in the history that began when the (five months) one hundred and fifty years concluded and the three hundred and ninety-one years and fifteen days began. It began on July 27, 1449 and four years later, Islam brought a siege of fifty-five days against Constantinople that concluded on 29 May 1453.

Khởi đầu của năm tháng trong Khải Huyền đoạn chín, câu mười, bao hàm một lịch sử đánh dấu một giai đoạn ba mươi tám năm, đạt đến đỉnh điểm trong một cuộc vây hãm bốn năm, gắn liền với con số ba mươi tám, và xác định sự trỗi dậy của Hồi giáo. Cuộc vây hãm bốn năm ấy có sự tương ứng của nó trong lịch sử bắt đầu khi (năm tháng) một trăm năm mươi năm kết thúc và ba trăm chín mươi mốt năm mười lăm ngày bắt đầu. Nó khởi sự vào ngày 27 tháng 7 năm 1449, và bốn năm sau, Hồi giáo đã đem đến một cuộc vây hãm năm mươi lăm ngày chống lại Constantinople, kết thúc vào ngày 29 tháng 5 năm 1453.

When the time prophecy that began on July 27, 1449 concluded on August 11, 1844, the four years of the movement of the first and second angels from 1840 unto 1844 aligned with the four-year siege of 1333 unto 1337, and also the four-year period from 1449 unto 1453. Those three witnesses, which are all directly part of the same prophetic line, represent a symbolic four-year period when the first and second angel’s movement of 1840 unto 1844 is repeated in the history of the movement of the third angel. Those three witnesses typify a four-year siege in the history of the one hundred and forty-four thousand. That four-year period is also illustrated by the sieges of Jerusalem in 66 and 70.

Khi lời tiên tri về thời gian khởi đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1449 kết thúc vào ngày 11 tháng 8 năm 1844, thì bốn năm của phong trào thiên sứ thứ nhất và thứ hai từ năm 1840 đến năm 1844 tương ứng với cuộc vây hãm bốn năm từ năm 1333 đến năm 1337, và cả giai đoạn bốn năm từ năm 1449 đến năm 1453. Ba chứng nhân ấy, vốn đều trực tiếp thuộc cùng một đường tiên tri, tiêu biểu cho một giai đoạn bốn năm mang tính biểu tượng, trong đó phong trào của thiên sứ thứ nhất và thứ hai từ năm 1840 đến năm 1844 được lặp lại trong lịch sử của phong trào thiên sứ thứ ba. Ba chứng nhân ấy làm hình bóng cho một cuộc vây hãm bốn năm trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Giai đoạn bốn năm ấy cũng được minh họa bởi các cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem vào các năm 66 và 70.

The beginning of the four-year siege by Cestius in 66, and then the ending by Titus in 70 produces an alpha symbol and an omega symbol to a period of four years. That same period is also a represented as three and a half years, which in turn aligns with the three and a half prophetic years that papal Rome trampled down the sanctuary.

Khởi đầu của cuộc vây hãm bốn năm do Cestius tiến hành vào năm 66, rồi sự kết thúc bởi Titus vào năm 70, tạo nên một biểu tượng alpha và một biểu tượng omega cho khoảng thời gian bốn năm ấy. Cũng chính khoảng thời gian đó còn được trình bày như ba năm rưỡi, điều này đến lượt nó tương ứng với ba năm rưỡi tiên tri mà La Mã giáo hoàng đã giày đạp đền thánh.

But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. And I will give power unto my two witnesses, and they shall prophesy a thousand two hundred and threescore days, clothed in sackcloth. Revelation 11: 2, 3.

Nhưng sân ngoài đền thờ thì hãy để ra ngoài, đừng đo nó; vì nó đã được giao cho dân Ngoại; và họ sẽ giày đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng. Và Ta sẽ ban quyền năng cho hai nhân chứng của Ta, và họ sẽ nói tiên tri trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, mặc áo vải thô. Khải Huyền 11:2, 3.

And they shall fall by the edge of the sword, and shall be led away captive into all nations: and Jerusalem shall be trodden down of the Gentiles, until the times of the Gentiles be fulfilled. Luke 21:24.

Và họ sẽ ngã dưới lưỡi gươm, và sẽ bị dẫn đi làm phu tù giữa mọi dân tộc; và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân Ngoại chà đạp, cho đến khi kỳ của dân Ngoại được trọn. Lu-ca 21:24.

It is essential to note that I am employing both “inclusive” and “exclusive” reckoning to the period represented by the alpha symbol of Cestius unto the omega symbol of Titus. This identifies that two applications of time are represented with one history. We have already dealt with this biblical principle when we considered (many articles ago), the time between Jesus’ visit to Caesarea-Philippi (Panium) and His trip to the Mount of Transfiguration. Two biblical authors record six days and one eight days.

Điều cốt yếu cần lưu ý là tôi đang áp dụng cả cách tính “bao hàm” lẫn “loại trừ” cho khoảng thời gian được tượng trưng bởi biểu tượng alpha của Cestius cho đến biểu tượng omega của Titus. Điều này xác định rằng có hai cách áp dụng về thời gian được thể hiện trong cùng một lịch sử. Chúng ta đã bàn đến nguyên tắc Kinh Thánh này khi xem xét (trong nhiều bài viết trước), khoảng thời gian giữa chuyến viếng thăm của Đức Chúa Jêsus đến Caesarea-Philippi (Panium) và chuyến đi của Ngài lên Núi Hóa Hình. Hai tác giả Kinh Thánh ghi lại là sáu ngày, còn một người ghi là tám ngày.

And after six days Jesus taketh Peter, James, and John his brother, and bringeth them up into an high mountain apart. Matthew 17:1.

Sáu ngày sau, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng là em người, cùng đi riêng lên trên một núi cao. Ma-thi-ơ 17:1.

And after six days Jesus taketh with him Peter, and James, and John, and leadeth them up into an high mountain apart by themselves: and he was transfigured before them. Mark 9:2.

Sáu ngày sau, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi riêng với Ngài, dẫn họ lên một ngọn núi cao, chỉ có họ mà thôi; và Ngài đã biến hình trước mặt họ. Mác 9:2.

And it came to pass about an eight days after these sayings, he took Peter and John and James, and went up into a mountain to pray. Luke 9:28.

Khoảng tám ngày sau những lời ấy, Ngài đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ lên núi để cầu nguyện. Lu-ca 9:28.

The destruction of Jerusalem has a “more direct” application to the latter days, and that destruction is two witnesses represented by Babylon and Rome. The two witnesses align with one another but provide different and essential prophetic characteristics in order to amplify the truth. The siege by Rome (66 to 70) was four years that also represents three and a half years. The three and a half years connects with the trampling down of the sanctuary and host accomplished by both paganism and papalism. The trampling down by papalism was for three and a half symbolic years as typified by a literal three and a half years in the siege by Rome.

Sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem có một sự ứng nghiệm “trực tiếp hơn” cho những ngày sau rốt, và sự hủy diệt ấy là hai nhân chứng được tiêu biểu bởi Ba-by-lôn và La Mã. Hai nhân chứng ấy tương ứng với nhau, nhưng cung cấp những đặc điểm tiên tri khác nhau và thiết yếu để làm sáng tỏ chân lý. Cuộc vây hãm bởi La Mã (66 đến 70) kéo dài bốn năm, mà cũng tiêu biểu cho ba năm rưỡi. Ba năm rưỡi ấy liên hệ với việc giày đạp đền thánh và đạo binh, được thực hiện bởi cả ngoại giáo lẫn giáo quyền. Việc giày đạp bởi giáo quyền kéo dài ba năm rưỡi mang tính biểu tượng, như được hình bóng qua ba năm rưỡi theo nghĩa đen trong cuộc vây hãm bởi La Mã.

That four-year siege also connects with the four-year periods associated with the prophetic line that identifies the lifting up of Islam and thereafter the lifting up of the movement of both the first and second and then the third angels. Cestius to Titus intersects with the wheel of papal Rome and also the wheel of Islam. The wheel of Rome and the three and a half years of Cestius and Titus intersects with papal Rome’s three and a half symbolic years, thus identifying the two entities of pagan and papal Rome. The wheel of Islam is connected by the same history as understood as four years, but just as with the wheel of Rome in that history, Islam is associated with a second power subject to the wheel of Islam—that being Adventism. The period of three and a half years represents Rome in both its phases, and the four-year period represents Islam and Adventism. Pagan and papal Rome cannot be separated prophetically and neither can Islam and Adventism.

Cuộc vây hãm kéo dài bốn năm ấy cũng liên hệ với các giai đoạn bốn năm gắn liền với đường tiên tri xác định sự dấy lên của Hồi giáo, và sau đó là sự dấy lên của phong trào gồm cả thiên sứ thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba. Từ Cestius đến Titus giao cắt với bánh xe của La Mã giáo hoàng, và cũng với bánh xe của Hồi giáo. Bánh xe của La Mã và ba năm rưỡi của Cestius và Titus giao cắt với ba năm rưỡi mang tính biểu tượng của La Mã giáo hoàng, nhờ đó xác định hai thực thể là La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng. Bánh xe của Hồi giáo được nối kết bởi cùng một lịch sử ấy khi được hiểu là bốn năm, nhưng cũng như với bánh xe của La Mã trong lịch sử đó, Hồi giáo được liên kết với một quyền lực thứ hai lệ thuộc vào bánh xe của Hồi giáo—đó là Cơ Đốc Phục Lâm. Giai đoạn ba năm rưỡi đại diện cho La Mã trong cả hai pha của nó, còn giai đoạn bốn năm đại diện cho Hồi giáo và Cơ Đốc Phục Lâm. La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng không thể bị tách rời về phương diện tiên tri, và Hồi giáo với Cơ Đốc Phục Lâm cũng vậy.

This demands prophetically that when we consider the siege of Babylon that two understandings of time should be seen in the illustration of the eighteen-month siege. Two representations of time in the siege brought by Rome, prophetically demand two representations of time in the siege brought by Nebuchadnezzar. Nebuchadnezzar’s siege of eighteen months also can be understood as a symbol of one and a half years. Eighteen months is one and a half years, and one and a half can be expressed as 1.5 years. The siege of Nebuchadnezzar was both eighteen months and one point five (1.5) years.

Điều này đòi hỏi theo phương diện tiên tri rằng khi chúng ta xem xét cuộc vây hãm Babylon, phải thấy trong hình minh họa về cuộc vây hãm mười tám tháng có hai cách hiểu về thời gian. Hai sự biểu trưng về thời gian trong cuộc vây hãm do La Mã đem đến, theo tiên tri đòi hỏi phải có hai sự biểu trưng về thời gian trong cuộc vây hãm do Nê-bu-cát-nết-sa đem đến. Cuộc vây hãm mười tám tháng của Nê-bu-cát-nết-sa cũng có thể được hiểu như một biểu tượng của một năm rưỡi. Mười tám tháng là một năm rưỡi, và một năm rưỡi có thể được diễn đạt là 1.5 năm. Cuộc vây hãm của Nê-bu-cát-nết-sa vừa là mười tám tháng vừa là một phẩy năm (1.5) năm.

The eighteen months addresses the power that was to trample down Jerusalem and the 1.5 years addresses Islam. The prophetic wheel of reckoning that identifies eighteen months identifies Babylon and the other prophetic wheel of reckoning identifies Islam. We have not yet set forth an explanation of how we arrive at the application of the 1.5 years in connection with Islam, but it should be noted that the two reckonings of time in the destruction brought by Rome connected with the prophetic wheel of Rome, (both pagan and papal), and the other reckoning connected with the prophetic wheel of Islam. These characteristics are found in both the alpha and omega destruction's of Jerusalem.

Mười tám tháng đề cập đến quyền lực đã giày đạp Giê-ru-sa-lem, còn một năm rưỡi đề cập đến Hồi giáo. Bánh xe tiên tri của sự tính toán, vốn xác định mười tám tháng, xác định Ba-by-lôn; còn bánh xe tiên tri khác của sự tính toán xác định Hồi giáo. Chúng tôi vẫn chưa trình bày lời giải thích về cách chúng tôi đi đến việc áp dụng khoảng thời gian một năm rưỡi trong mối liên hệ với Hồi giáo, nhưng cần lưu ý rằng hai cách tính thời gian trong sự hủy diệt do La Mã mang đến có liên hệ với bánh xe tiên tri của La Mã (cả ngoại giáo lẫn giáo hoàng), và cách tính kia có liên hệ với bánh xe tiên tri của Hồi giáo. Những đặc điểm này được thấy trong cả sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem thời alpha lẫn omega.

The four-year siege of Jerusalem with Cestius and Titus represent the ending of a prophetic line that began with a thirty-eight-year period that concluded with a four-years siege symbolizing the lifting up of Islam, and the final four-year period in that very same line represents the lifting up of the ensign of the one hundred and forty-four thousand.

Bốn năm vây hãm Giê-ru-sa-lem với Cestius và Titus tượng trưng cho sự kết thúc của một đường dây tiên tri đã bắt đầu bằng một giai đoạn ba mươi tám năm, giai đoạn ấy kết thúc bằng một cuộc vây hãm bốn năm tượng trưng cho sự dấy lên của Hồi giáo; và giai đoạn bốn năm cuối cùng trong chính cùng một đường dây ấy tượng trưng cho sự giương cao ngọn cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn ngàn người.

We will continue these things in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục những điều này trong bài viết tiếp theo.