I have been drawing from a passage in Testimonies that provides various lines of truth in connection with the experience of Ezekiel, Isaiah and John within the sanctuary. John turned to see a voice behind him in Revelation chapter one.

Tôi đã trích dẫn từ một đoạn trong Chứng ngôn cung cấp nhiều tuyến chân lý khác nhau liên hệ với kinh nghiệm của Ê-xê-chi-ên, Ê-sai và Giăng trong nơi thánh. Giăng quay lại để xem tiếng phán ở phía sau mình trong Khải Huyền chương một.

I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet, Saying, I am Alpha and Omega, the first and the last: and, What thou seest, write in a book, and send it unto the seven churches which are in Asia; unto Ephesus, and unto Smyrna, and unto Pergamos, and unto Thyatira, and unto Sardis, and unto Philadelphia, and unto Laodicea. And I turned to see the voice that spake with me. And being turned, I saw seven golden candlesticks. Revelation 1:10–12.

Vào ngày của Chúa, tôi được ở trong Thánh Linh, và nghe đằng sau mình có một tiếng lớn như tiếng kèn, phán rằng: Ta là Alpha và Omega, là Đấng đầu tiên và là Đấng sau cùng; điều ngươi thấy, hãy viết vào một sách, rồi gởi đến bảy hội thánh ở A-si-a: Ê-phê-sô, Smirna, Bẹt-găm, Thyatira, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a, và Lao-đi-xê. Tôi bèn quay lại để xem tiếng phán với mình. Và khi đã quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng. Khải Huyền 1:10–12.

From the isle of Patmos and then into the heavenly sanctuary, where John sees the vision of Christ that Sister White informs us of, is the same vision that Daniel saw in chapter ten of his book.

Từ đảo Patmos rồi vào trong đền thánh trên trời, nơi Giăng thấy khải tượng về Đấng Christ mà Bà White cho chúng ta biết đến, đó chính là cùng một khải tượng mà Đa-ni-ên đã thấy trong chương mười của sách ông.

“‘In those days I Daniel was mourning three full weeks. I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all.... Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz. His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude’ (Daniel 10:2–6).

“‘Trong những ngày ấy, ta là Đa-ni-ên, than khóc trọn ba tuần lễ. Ta không ăn bánh ngon, thịt và rượu không hề vào miệng ta, ta cũng chẳng xức dầu gì cả.... Rồi ta ngước mắt lên và nhìn, kìa, có một người mặc áo vải gai mịn, lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha. Thân người như ngọc bích, mặt như ánh chớp, mắt như đuốc lửa, cánh tay và bàn chân như đồng đánh bóng, và tiếng lời người như tiếng của một đám đông’ (Đa-ni-ên 10:2–6).”

This description is similar to that given by John when Christ was revealed to him upon the Isle of Patmos. No less a personage than the Son of God appeared to Daniel. Our Lord comes with another heavenly messenger to teach Daniel what would take place in the latter days.” Sanctified Life, 49.

“Bức mô tả này tương tự như điều Giăng đã ghi lại khi Đấng Christ được bày tỏ cho ông tại đảo Patmos. Không ai khác hơn chính Con Đức Chúa Trời đã hiện ra với Đa-ni-ên. Chúa chúng ta đến cùng với một sứ giả thiên thượng khác để dạy cho Đa-ni-ên biết những gì sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt.” Sanctified Life, 49.

The first nine verses identify how the Revelation of Jesus Christ is unsealed just before the close of human probation. The revelation was given by God to Jesus, who gave it to Gabriel, who gave it to John with a commission for John to send the message to the seven churches. Isaiah received his commission to do the same in chapter six, and Ezekiel received the same mandate in chapters two and three. John is a prisoner when he receives his commission, Ezekiel and Daniel are captives in Babylon and Isaiah is living in the history of the wicked king Ahaz of Judah.

Chín câu đầu tiên xác định cách thức Khải Huyền của Đức Chúa Jêsus Christ được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển dành cho nhân loại chấm dứt. Sự khải thị ấy được Đức Chúa Trời ban cho Đức Chúa Jêsus, Đấng đã trao cho Gáp-ri-ên, và Gáp-ri-ên trao lại cho Giăng cùng với một sự ủy nhiệm để Giăng gửi sứ điệp ấy đến bảy Hội thánh. Ê-sai đã nhận sự ủy nhiệm của mình để làm điều tương tự trong chương sáu, và Ê-xê-chi-ên cũng nhận cùng một mệnh lệnh ấy trong các chương hai và ba. Giăng là một tù nhân khi ông nhận sự ủy nhiệm của mình; Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên là những kẻ bị lưu đày tại Ba-by-lôn, còn Ê-sai thì đang sống trong thời kỳ lịch sử của vua gian ác A-cha của Giu-đa.

There were wheels within wheels in an arrangement so complicated that at first sight they appeared to Ezekiel to be all in confusion. But when they moved, it was with beautiful exactness and in perfect harmony. Heavenly beings were impelling these wheels, and, above all, upon the glorious sapphire throne, was the Eternal One; while round about the throne was the encircling rainbow, emblem of grace and love. Overpowered by the terrible glory of the scene, Ezekiel fell upon his face, when a voice bade him arise and hear the word of the Lord. Then there was given him a message of warning for Israel.” Testimonies, 751.

“Có những bánh xe ở trong những bánh xe, được sắp đặt phức tạp đến nỗi thoạt nhìn, đối với Ê-xê-chi-ên, chúng dường như hoàn toàn rối loạn. Nhưng khi chúng chuyển động, thì đó là với sự chính xác tuyệt mỹ và trong sự hòa hợp trọn vẹn. Các hữu thể thiên thượng thúc đẩy những bánh xe ấy, và trên hết, nơi ngôi bằng bích ngọc rực rỡ vinh hiển, là Đấng Hằng Hữu; còn chung quanh ngôi là vầng mống bao bọc, biểu tượng của ân điển và tình yêu thương. Bị áp đảo bởi vinh quang kinh khiếp của cảnh tượng ấy, Ê-xê-chi-ên sấp mình xuống mặt đất, thì có tiếng phán bảo ông hãy đứng dậy và nghe lời của Đức Giê-hô-va. Rồi một sứ điệp cảnh cáo cho Y-sơ-ra-ên đã được ban cho ông.” Testimonies, 751.

Also I heard the voice of the Lord, saying, Whom shall I send, and who will go for us? Then said I, Here am I; send me. Isaiah 6:8.

Tôi lại nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đây, và ai sẽ đi cho chúng ta? Bấy giờ tôi thưa rằng: Có con đây; xin hãy sai con. Ê-sai 6:8.

“This vision was given to Ezekiel at a time when his mind was filled with gloomy forebodings. He saw the land of his fathers lying desolate...

“Khải tượng này được ban cho Ê-xê-chi-ên vào một thời điểm khi tâm trí ông đầy dẫy những linh cảm u ám. Ông thấy xứ sở của tổ phụ mình đang nằm trong cảnh hoang tàn...”

In like manner, when God was about to open to the beloved John the history of the church for future ages, He gave him an assurance of the Saviour’s interest and care for His people by revealing to him ‘One like unto the Son of man,’ walking among the candlesticks, which symbolized the seven churches. …

“Cũng vậy, khi Đức Chúa Trời sắp mở cho Giăng, môn đồ được yêu dấu, biết lịch sử của hội thánh trong các thời đại tương lai, Ngài đã ban cho ông một sự bảo đảm về mối quan tâm và sự chăm sóc của Đấng Cứu Thế đối với dân sự Ngài bằng cách bày tỏ cho ông thấy ‘Một Đấng giống như Con Người,’ đi giữa các chân đèn, là biểu tượng của bảy hội thánh. …”

These lessons are for our benefit. We need to stay our faith upon God, for there is just before us a time that will try men’s souls. …

“Những bài học này là vì ích lợi của chúng ta. Chúng ta cần đặt đức tin mình nơi Đức Chúa Trời, vì ngay trước mặt chúng ta là một thời kỳ sẽ thử luyện linh hồn loài người. …”

“We are standing on the threshold of great and solemn events. Prophecy is fast fulfilling. The Lord is at the door. There is soon to open before us a period of overwhelming interest to all living. The controversies of the past are to be revived; new controversies will arise. The scenes to be enacted in our world are not yet even dreamed of. Satan is at work through human agencies. Those who are making an effort to change the Constitution and secure a law enforcing Sunday observance little realize what will be the result. A crisis is just upon us.

“Chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa của những biến cố lớn lao và trọng đại. Lời tiên tri đang mau chóng ứng nghiệm. Chúa đang ở trước cửa. Chẳng bao lâu nữa, trước mắt chúng ta sẽ mở ra một thời kỳ có tầm quan tâm hết sức sâu rộng đối với mọi người đang sống. Những cuộc tranh luận của quá khứ sẽ được khơi dậy trở lại; những cuộc tranh luận mới sẽ phát sinh. Những cảnh tượng sẽ diễn ra trong thế giới chúng ta còn chưa hề được ai mường tượng đến. Sa-tan đang hoạt động qua các tác nhân loài người. Những kẻ đang nỗ lực thay đổi Hiến pháp và bảo đảm một đạo luật buộc phải giữ ngày Chủ nhật hầu như không nhận thức được kết quả sẽ là gì. Một cuộc khủng hoảng đang kề cận ngay trước mắt chúng ta.

“But God’s servants are not to trust to themselves in this great emergency. In the visions given to Isaiah, to Ezekiel, and to John we see how closely heaven is connected with the events taking place upon the earth and how great is the care of God for those who are loyal to Him. The world is not without a ruler. The program of coming events is in the hands of the Lord. The Majesty of heaven has the destiny of nations, as well as the concerns of His church, in His own charge. …

“Nhưng các tôi tớ của Đức Chúa Trời không được cậy nơi chính mình trong cơn khẩn cấp lớn lao này. Trong những sự hiện thấy đã được ban cho Ê-sai, cho Ê-xê-chi-ên, và cho Giăng, chúng ta thấy trời liên hệ mật thiết dường nào với những biến cố đang diễn ra trên đất, và sự chăm nom của Đức Chúa Trời đối với những ai trung thành với Ngài là lớn lao dường nào. Thế gian không phải là không có Đấng cai trị. Chương trình của những biến cố sắp đến nằm trong tay Chúa. Đấng Tôn Nghiêm của thiên đàng đang đích thân nắm giữ vận mệnh của các dân tộc, cũng như mọi mối quan tâm của Hội Thánh Ngài. …”

“In Ezekiel’s vision God had His hand beneath the wings of the cherubim. This is to teach His servants that it is divine power that gives them success. He will work with them if they will put away iniquity and become pure in heart and life.

“Trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời có bàn tay Ngài ở dưới các cánh của chê-ru-bim. Điều này nhằm dạy các tôi tớ Ngài rằng chính quyền năng thiêng liêng ban cho họ sự thành công. Ngài sẽ hành động cùng họ nếu họ cất bỏ tội lỗi và trở nên thanh sạch trong lòng và trong đời sống.

“The bright light going among the living creatures with the swiftness of lightning represents the speed with which this work will finally go forward to completion. …

“Ánh sáng rực rỡ đi giữa các sinh vật hằng sống với tốc độ như chớp nhoáng tượng trưng cho sự mau lẹ mà công việc này cuối cùng sẽ được thúc đẩy cho đến khi hoàn tất. …”

“Brethren, it is no time now for mourning and despair, no time to yield to doubt and unbelief. Christ is not now a Saviour in Joseph’s new tomb, closed with a great stone and sealed with the Roman seal; we have a risen Saviour. He is the King, the Lord of hosts; He sitteth between the cherubim; and amid the strife and tumult of nations He guards His people still. He who ruleth in the heavens is our Saviour. He measures every trial. He watches the furnace fire that must test every soul. When the strongholds of kings shall be overthrown, when the arrows of God’s wrath shall strike through the hearts of His enemies, His people will be safe in His hands.” Testimonies, volume 5, 752–754.

“Hỡi anh em, đây không phải là lúc để than khóc và tuyệt vọng, không phải là lúc để đầu hàng sự nghi ngờ và vô tín. Đấng Christ hiện nay không phải là một Đấng Cứu Rỗi ở trong ngôi mộ mới của Giô-sép, bị đóng kín bằng một tảng đá lớn và niêm phong bằng ấn của La Mã; chúng ta có một Đấng Cứu Rỗi đã phục sinh. Ngài là Vua, là Chúa vạn quân; Ngài ngự giữa các chê-ru-bim; và giữa cảnh tranh chiến cùng náo động của các dân tộc, Ngài vẫn gìn giữ dân sự Ngài. Đấng cai trị trên các tầng trời là Đấng Cứu Rỗi của chúng ta. Ngài đo lường mọi thử thách. Ngài canh giữ ngọn lửa của lò phải thử luyện mọi linh hồn. Khi các đồn lũy của các vua sẽ bị đánh đổ, khi những mũi tên thịnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ đâm thấu lòng các kẻ thù Ngài, dân sự Ngài sẽ được an toàn trong tay Ngài.” Testimonies, quyển 5, 752–754.

Four biblical witnesses attest to the fact that the message of the Revelation of Jesus Christ is given to those persons who are typified by these prophet’s experiences in the sanctuary. It is when we enter into the heavenly sanctuary that we are given the message which we have been ordained to proclaim. The “furnace fire” which tests “every soul” is the furnace of Malachi three.

Bốn nhân chứng Kinh Thánh xác nhận sự thật rằng sứ điệp của Sự Mặc Khải của Đức Chúa Jêsus Christ được ban cho những người được hình bóng qua các kinh nghiệm của các vị tiên tri này trong đền thánh. Chính khi chúng ta bước vào đền thánh trên trời, chúng ta mới được ban cho sứ điệp mà chúng ta đã được phong nhiệm để rao truyền. “Lò lửa” thử luyện “mọi linh hồn” chính là lò lửa của Ma-la-chi đoạn ba.

But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:2–4.

Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? và ai sẽ đứng vững khi Ngài hiện ra? vì Ngài giống như lửa của thợ luyện, và như xà-phòng của thợ giặt: Ngài sẽ ngồi như một thợ luyện và làm cho bạc trở nên tinh sạch; Ngài sẽ làm tinh sạch con cháu Lê-vi, và thanh tẩy họ như vàng và bạc, để họ có thể dâng lên Đức Giê-hô-va một của lễ trong sự công chính. Bấy giờ, của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va, như trong những ngày xưa, và như trong những năm trước. Ma-la-chi 3:2–4.

The refiner knows that the silver has been in the furnace for the correct amount of time when the silver is so pure that it reflects the refiner’s face. This fact about how silver was anciently refined, aligns with the causative verb “marah” that Daniel saw in chapter ten. In these final days the Lord is leading His people into the sanctuary to test, purify and purge the candidates to be a part of the ensign of the one hundred and forty-four thousand. In this period of time, “He will work with” us, “if” we “will put away iniquity and become pure in heart and life.” Some as in Daniel ten flee from that experience, but those, symbolized by Daniel do see the great looking glass vision of the revelation of Jesus Christ will, as Isaiah illustrates have their lips touched with a coal from the altar and will be purified and prepared to give a message to both an apostate church, and then the world.

Người luyện bạc biết rằng bạc đã ở trong lò luyện đúng thời gian cần thiết khi bạc trở nên tinh sạch đến mức phản chiếu gương mặt của người luyện. Sự thật này về cách bạc được tinh luyện trong thời cổ xưa phù hợp với động từ sai khiến “marah” mà Đa-ni-ên đã thấy trong chương mười. Trong những ngày cuối cùng này, Chúa đang dẫn dắt dân sự Ngài vào nơi thánh để thử nghiệm, thanh tẩy và tẩy sạch những người là ứng viên được trở thành một phần của ngọn cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Trong khoảng thời gian này, “Ngài sẽ hành động cùng” chúng ta, “nếu” chúng ta “chịu cất bỏ sự gian ác và trở nên tinh sạch trong lòng và trong đời sống.” Một số người, như trong Đa-ni-ên 10, chạy trốn khỏi kinh nghiệm ấy; nhưng những người được biểu tượng bởi Đa-ni-ên, là những người thực sự nhìn thấy khải tượng lớn trong gương soi về sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ, thì, như Ê-sai minh họa, sẽ được than lửa từ bàn thờ chạm đến môi mình và sẽ được thanh tẩy, chuẩn bị để ban ra một sứ điệp cho cả một hội thánh bội đạo, rồi đến thế gian.

The message is presented to those faithful souls in the sanctuary. Leviticus twenty-three when aligned with the Pentecostal season is designed to reflect the Ark of the covenant in the Most Holy Place. By faith the structure of the chapter’s messages identifies three waymarks within the sacred history that the furnace test is accomplished. Divinely profound—the prophetic structure of chapter twenty-three allows the student of prophecy to locate Ezekiel in verse one of chapter one.

Sứ điệp được trình bày cho những linh hồn trung tín ấy trong đền thánh. Lê-vi Ký đoạn hai mươi ba, khi được đặt tương ứng với mùa lễ Ngũ Tuần, được hoạch định để phản chiếu Hòm Giao Ước trong Nơi Chí Thánh. Bởi đức tin, cấu trúc của các sứ điệp trong đoạn ấy xác định ba cột mốc trong lịch sử thánh, tại đó sự thử luyện nơi lò lửa được hoàn tất. Thật sâu nhiệm theo cách thần thượng—cấu trúc tiên tri của đoạn hai mươi ba cho phép người học lời tiên tri định vị Ê-xê-chi-ên tại câu một của đoạn một.

Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, in the fifth day of the month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened, and I saw visions of God. In the fifth day of the month, which was the fifth year of king Jehoiachin’s captivity. Ezekiel 1:1, 2.

Vả, vào năm thứ ba mươi, tháng thứ tư, ngày mồng năm của tháng, khi tôi đang ở giữa những kẻ bị lưu đày bên sông Kê-ba, thì các tầng trời mở ra, và tôi đã thấy những sự hiện thấy của Đức Chúa Trời. Ngày mồng năm của tháng ấy, tức là năm thứ năm kể từ khi vua Giê-hô-gia-kin bị bắt làm phu tù. Ê-xê-chi-ên 1:1, 2.

As a priest during the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, Ezekiel is in the thirtieth year of the seventeenth Jubilee cycle, five years before the third of three sieges of Jerusalem by Nebuchadnezzar in 587 BC. The thirtieth year in the verse is thirty years after the greatest revival of Old Testament history, and it is in the fifth day of the fifth year, thus placing the number five upon Ezekiel's testimony. In the two opening verses we find thirty identified once and the number five mentioned three times. In the structure of Leviticus twenty-three aligned with the Pentecostal season the second test represented by thirty reaches to the feast of trumpets, the five days to the ascension of Christ, then five days to the day of atonement, then five days to the waymark representing both the former (Pentecost) and latter (Tabernacles) rain. The structure presents thirty, followed by three steps of five. Ezekiel is in the temple and the structure of Leviticus twenty-three is the Ark.

Là một thầy tế lễ trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, Ê-xê-chi-ên đang ở năm thứ ba mươi của chu kỳ Năm Hân Hỷ thứ mười bảy, tức năm năm trước cuộc vây hãm thứ ba trong ba cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem bởi Nê-bu-cát-nết-sa vào năm 587 TCN. Năm thứ ba mươi trong câu ấy là ba mươi năm sau cuộc phục hưng vĩ đại nhất của lịch sử Cựu Ước, và nhằm ngày thứ năm của năm thứ năm, bởi đó đặt con số năm lên trên lời chứng của Ê-xê-chi-ên. Trong hai câu mở đầu, chúng ta thấy số ba mươi được xác định một lần và số năm được nhắc đến ba lần. Trong cấu trúc của Lê-vi Ký hai mươi ba tương ứng với mùa lễ Ngũ Tuần, sự thử nghiệm thứ hai được biểu trưng bởi số ba mươi vươn đến lễ thổi kèn, năm ngày đến sự thăng thiên của Đấng Christ, rồi năm ngày đến ngày lễ chuộc tội, rồi năm ngày đến cột mốc tượng trưng cho cả mưa đầu mùa (Ngũ Tuần) lẫn mưa cuối mùa (Lều Tạm). Cấu trúc ấy trình bày số ba mươi, tiếp theo là ba bước năm. Ê-xê-chi-ên ở trong đền thờ và cấu trúc của Lê-vi Ký hai mươi ba là Hòm Giao Ước.

The history attests to the fact that Ezekiel at the point is five years before a symbolic siege that concludes typifying the soon-coming Sunday law as represented by the destruction of Jerusalem. The number ‘five’ is a primary element of the design of Leviticus twenty-three, as is the number thirty.

Lịch sử chứng thực sự kiện rằng, tại thời điểm này, Ê-xê-chi-ên còn cách năm năm trước một cuộc vây hãm mang tính biểu tượng; cuộc vây hãm ấy kết thúc bằng việc tiêu biểu cho luật ngày Chủ nhật sắp đến, như được tượng trưng bởi sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem. Con số “năm” là một yếu tố chủ đạo trong cấu trúc của Lê-vi Ký hai mươi ba, cũng như con số ba mươi.

It has been shown in these articles that when the first twenty-two verses of the chapter are aligned with the final twenty-two verses, and then together those two lines of twenty-two verses are aligned with the Pentecostal season that the three-step testing process, which is the furnace fire of Malachi are clearly illustrated. The three steps possess an alpha and omega in the first and third steps that consists of a series of four waymarks that represent one step.

Đã được chứng minh trong các bài viết này rằng khi hai mươi hai câu đầu của chương được đối chiếu với hai mươi hai câu cuối, rồi tiếp đó hai tuyến gồm hai mươi hai câu ấy cùng được đối chiếu với mùa Lễ Ngũ Tuần, thì tiến trình thử nghiệm ba bước—là lửa lò luyện của Ma-la-chi—được minh họa một cách rõ ràng. Ba bước ấy sở hữu một alpha và omega trong bước thứ nhất và bước thứ ba, gồm một chuỗi bốn mốc đường, tượng trưng cho một bước.

Passover, followed by the feast of unleavened bread, followed by the first fruit offering of barley, then ‘five’ days to the end of the feast of unleavened bread. Those four waymarks make up the first test, and Jesus always illustrates the end by the beginning, and the third test is also made up of four waymarks. The feast of trumpets, then the ascension of Christ followed by the day of atonement, and then five days later the arrival of both Pentecost and Tabernacles. Pentecost is the symbol of the former rain and Tabernacles is a symbol of the latter rain. In the Leviticus twenty-three model both Pentecost and Tabernacles align.

Lễ Vượt Qua, tiếp theo là lễ bánh không men, tiếp theo là lễ dâng trái đầu mùa của lúa mạch, rồi “năm” ngày cho đến cuối lễ bánh không men. Bốn mốc ấy hợp thành sự thử nghiệm thứ nhất, và Đức Chúa Jêsus luôn dùng phần cuối được minh họa bởi phần đầu, và sự thử nghiệm thứ ba cũng được cấu thành bởi bốn mốc. Lễ kèn thổi, rồi sự thăng thiên của Đấng Christ, tiếp theo là ngày chuộc tội, rồi năm ngày sau là sự đến của cả Lễ Ngũ Tuần lẫn Lễ Lều Tạm. Lễ Ngũ Tuần là biểu tượng của mưa đầu mùa, và Lễ Lều Tạm là biểu tượng của mưa cuối mùa. Trong mô hình Lê-vi Ký đoạn hai mươi ba, cả Lễ Ngũ Tuần lẫn Lễ Lều Tạm đều thẳng hàng.

Be glad then, ye children of Zion, and rejoice in the Lord your God: for he hath given you the former rain moderately, and he will cause to come down for you the rain, the former rain, and the latter rain in the first month. Joel 2:23.

Vậy, hỡi con cái Si-ôn, hãy vui mừng và hân hoan trong Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài đã ban cho các ngươi mưa đầu mùa vừa phải, và Ngài sẽ khiến mưa xuống cho các ngươi, cả mưa đầu mùa lẫn mưa cuối mùa, trong tháng thứ nhất. Giô-ên 2:23.

The final testing and purification process began on December 31, 2023. The first test was the foundational test symbolized by the controversy of the “robbers of thy people” that divided the group who had been previously tried by the disappointment of July 18, 2020.

Tiến trình thử nghiệm và thanh lọc cuối cùng đã bắt đầu vào ngày 31 tháng 12 năm 2023. Sự thử nghiệm đầu tiên là sự thử nghiệm nền tảng, được biểu trưng bởi cuộc tranh chấp về “những kẻ cướp bóc của dân ngươi”, là điều đã phân rẽ nhóm người trước đó đã được thử luyện bởi sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020.

“In history and prophecy the Word of God portrays the long continued conflict between truth and error. That conflict is yet in progress. Those things which have been will be repeated. Old controversies will be revived, and new theories will be continually arising. But God’s people, who in their belief and fulfillment of prophecy have acted a part in the proclamation of the first, second, and third angels’ messages, know where they stand. They have an experience that is more precious than fine gold. They are to stand firm as a rock, holding the beginning of their confidence steadfast unto the end.” Manuscript Releases, volume 1, 47.

“Trong lịch sử và lời tiên tri, Lời Đức Chúa Trời mô tả cuộc xung đột kéo dài giữa lẽ thật và sự sai lầm. Cuộc xung đột ấy vẫn còn đang tiếp diễn. Những điều đã xảy ra sẽ được lặp lại. Những cuộc tranh luận xưa sẽ được khơi lại, và các lý thuyết mới sẽ liên tục xuất hiện. Nhưng dân sự của Đức Chúa Trời, là những người trong đức tin của mình và trong sự ứng nghiệm lời tiên tri đã đảm nhận một phần trong việc rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ nhì, và thứ ba, biết rõ lập trường của mình. Họ có một kinh nghiệm quý hơn vàng ròng. Họ phải đứng vững như đá, giữ vững sự tin cậy ban đầu của mình cho đến cuối cùng.” Manuscript Releases, quyển 1, 47.

In Leviticus twenty-three the first test is represented by a prophetic combination of three followed five days later by the end of unleavened bread. Passover was day one, the feast of unleavened bread was the second day and the first fruits offering was the third day. Five days later the feast of unleavened bread ended. The prophetic structure of the first of three tests is also represented in the third and final test. In that third waymark, made up of three waymarks followed by one, the feast of trumpets is day one, and Christ’s ascension is five days later, then the day of atonement follows five days later, then five days later both Pentecost and the feast of Tabernacles mark the soon-coming Sunday law, which is represented in the book of Ezekiel as the destruction of Jerusalem.

Trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi ba, phép thử thứ nhất được tiêu biểu bởi một tổ hợp tiên tri gồm ba sự kiện, rồi năm ngày sau là phần kết thúc của lễ Bánh Không Men. Lễ Vượt Qua là ngày thứ nhất, lễ Bánh Không Men là ngày thứ hai, và của dâng trái đầu mùa là ngày thứ ba. Năm ngày sau, lễ Bánh Không Men chấm dứt. Cấu trúc tiên tri của phép thử thứ nhất trong ba phép thử cũng được tiêu biểu trong phép thử thứ ba và cuối cùng. Trong mốc thứ ba ấy, được cấu thành bởi ba mốc theo sau bởi một mốc, lễ Thổi Kèn là ngày thứ nhất, và sự thăng thiên của Đấng Christ là năm ngày sau đó; rồi ngày Lễ Chuộc Tội theo sau năm ngày sau nữa; rồi năm ngày sau nữa, cả Lễ Ngũ Tuần lẫn lễ Lều Tạm đều đánh dấu luật ngày Chủ nhật sắp đến, điều được tiêu biểu trong sách Ê-xê-chi-ên như là sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem.

Between the end of the feast of unleavened bread and the feast of trumpets there are thirty days, that not only represent a symbol of a priest, but also the second test of the three tests represented within the Divine illustration.

Giữa thời điểm kết thúc Lễ Bánh Không Men và Lễ Kèn có ba mươi ngày, điều này không những tượng trưng cho một thầy tế lễ, mà còn là phép thử thứ hai trong ba phép thử được trình bày trong minh họa thiêng liêng.

The baptism of Christ illustrates the three waymarks of Passover, unleavened bread and first fruits, for those three waymarks represent Christ’s death, burial and resurrection. Those three steps which are followed by five days to the fourth step, represented by the end of the feast of unleavened bread. The baptism presents the three steps in one brief moment when John baptized his Messiah. The spring feasts separates those three steps by one day each, and the fall feasts separates those three steps by five days.

Phép báp-tem của Đấng Christ minh họa ba cột mốc của Lễ Vượt Qua, bánh không men và trái đầu mùa, vì ba cột mốc ấy tượng trưng cho sự chết, sự chôn và sự phục sinh của Đấng Christ. Ba bước ấy tiếp theo là năm ngày dẫn đến bước thứ tư, được tiêu biểu bởi sự kết thúc của lễ bánh không men. Phép báp-tem trình bày ba bước ấy trong một khoảnh khắc ngắn ngủi khi Giăng làm phép báp-tem cho Đấng Mê-si của mình. Các kỳ lễ mùa xuân phân cách ba bước ấy, mỗi bước cách nhau một ngày, còn các kỳ lễ mùa thu phân cách ba bước ấy, mỗi bước cách nhau năm ngày.

When we apply the first test of the spring feasts as a combination of three waymarks that are followed by one waymark five days later; and then apply the fall feasts as three waymarks that are followed five days later by one waymark, there is a prophetic structure established which consists of an alpha waymark of three followed by five days, which is then followed by thirty days, and the third test of the fall feasts as a waymark of three followed by five days—the structure illustrates the first test as covering a total of five days, followed by a second test of thirty days that reach to the third waymark of five days. Five plus thirty, plus five is forty (5 + 30 + 5 = 40).

Khi chúng ta áp dụng phép thử thứ nhất của các kỳ lễ mùa xuân như một tổ hợp gồm ba mốc, tiếp theo là một mốc sau đó năm ngày; rồi áp dụng các kỳ lễ mùa thu như ba mốc, năm ngày sau đó là một mốc, thì một cấu trúc tiên tri được thiết lập, gồm một mốc alpha là ba, tiếp theo là năm ngày, rồi tiếp theo là ba mươi ngày, và phép thử thứ ba của các kỳ lễ mùa thu như một mốc ba, tiếp theo là năm ngày—cấu trúc ấy minh họa phép thử thứ nhất là bao phủ tổng cộng năm ngày, tiếp theo là một phép thử thứ hai gồm ba mươi ngày, vươn tới mốc thứ ba là năm ngày. Năm cộng ba mươi, cộng năm là bốn mươi (5 + 30 + 5 = 40).

Christ’s baptism was immediately followed by forty days, that concluded with three tests. Much more can be recognized in the structure of Leviticus twenty-three in combination with the Pentecostal season, but at another level the chapter represents the Ark in the Most Holy Place.

Phép báp-tem của Đấng Christ ngay sau đó được tiếp nối bởi bốn mươi ngày, kết thúc bằng ba sự thử nghiệm. Còn nhiều điều hơn nữa có thể được nhận ra trong cấu trúc của Lê-vi Ký hai mươi ba khi kết hợp với mùa Lễ Ngũ Tuần, nhưng ở một tầng ý nghĩa khác, chương này tượng trưng cho Hòm Giao Ước trong Nơi Chí Thánh.

The spring and fall feasts in Leviticus twenty-three are placed in the middle of two Sabbaths. Those two Sabbaths represent the two covering cherubs and the waymarks of the Pentecostal season aligned with Leviticus twenty-three represent the Ark and the two covering cherubs. Ezekiel is taken into the sanctuary in chapter one, and when he is taken there, he is located five days before the siege which leads to the destruction of Jerusalem typifying the soon-coming Sunday law. The Sunday law is represented by Pentecost and Tabernacles in Leviticus twenty-three. Ezekiel is in the thirtieth year, and thirty is the period of the second of the three tests that make up the furnace fire of Malachi three. The second test is represented by thirty days, just as Ezekiel is in the thirtieth year of the seventeenth Jubilee cycle that began at Josiah’s Great Passover, as the historians refer to it. Ezekiel is five years before the siege that lasted eighteen months, and he is in the temple, which is the middle of the three final tests that purify and purge the remnant. Peter was at Caesarea-Philippi (Panium), also in the middle of three tests, as represented by Panium (Caesarea-Philippi), the mount of Transfiguration and the cross.

Các kỳ lễ mùa xuân và mùa thu trong Lê-vi Ký hai mươi ba được đặt ở giữa hai ngày Sa-bát. Hai ngày Sa-bát ấy tượng trưng cho hai chê-ru-bim che phủ, và các dấu mốc của mùa lễ Ngũ Tuần phù hợp với Lê-vi Ký hai mươi ba tượng trưng cho Hòm Giao Ước cùng hai chê-ru-bim che phủ. Trong chương một, Ê-xê-chi-ên được đem vào nơi thánh, và khi được đưa đến đó, ông được đặt vào thời điểm năm ngày trước cuộc vây hãm dẫn đến sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem, hình bóng cho luật ngày Chủ nhật sắp đến. Luật ngày Chủ nhật được tượng trưng bởi lễ Ngũ Tuần và lễ Lều Tạm trong Lê-vi Ký hai mươi ba. Ê-xê-chi-ên ở trong năm thứ ba mươi, và ba mươi là giai đoạn của phép thử thứ hai trong ba phép thử hợp thành lò lửa của Ma-la-chi ba. Phép thử thứ hai được tượng trưng bởi ba mươi ngày, cũng như Ê-xê-chi-ên ở trong năm thứ ba mươi của chu kỳ Hân Hỷ thứ mười bảy đã bắt đầu tại Lễ Vượt Qua trọng đại của Giô-si-a, như các sử gia gọi như vậy. Ê-xê-chi-ên ở trước cuộc vây hãm kéo dài mười tám tháng năm năm, và ông ở trong đền thờ, tức là ở giữa ba phép thử cuối cùng thanh tẩy và sàng lọc dân sót lại. Phi-e-rơ ở tại Sê-sa-rê Phi-líp (Panium), cũng ở giữa ba phép thử, như được tượng trưng bởi Panium (Sê-sa-rê Phi-líp), núi Hóa Hình và thập tự giá.

In 592 BC Ezekiel is supernaturally made “dumb” and only speaks when God opens his mouth. That condition continues until the fall of Jerusalem in 585/6 BC. God had caused him to speak when the siege began, the day “the desire of” his “eyes” died, but he was not allowed to speak freely until Jerusalem “the desire of” Israel’s “eyes” had fallen. Jerusalem’s fall represents the soon-coming Sunday law, and it is there that John the Baptist’s father, a priest of the eighth course, who was made dumb while serving in the temple, which is where Ezekiel was (in vision) was also made dumb for about nine months. It was on the eighth day after John’s birth, when John was being circumcised that he was allowed to speak. Two prophets made dumb while in the sanctuary. The third prophet to be made dumb while viewing Christ in the sanctuary was Daniel. In chapter ten, Daniel is in the sanctuary, and just as he is being touched a second of three times he is made dumb. At the middle point Daniel is made dumb.

Vào năm 592 TCN, Ê-xê-chi-ên được làm cho “câm” một cách siêu nhiên và chỉ nói khi Đức Chúa Trời mở miệng ông. Tình trạng ấy tiếp tục cho đến khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ vào năm 585/6 TCN. Đức Chúa Trời đã khiến ông nói khi cuộc vây hãm bắt đầu, vào ngày “điều mắt” ông “ưa thích” qua đời, nhưng ông không được phép nói cách tự do cho đến khi Giê-ru-sa-lem, “điều mắt” Y-sơ-ra-ên “ưa thích,” đã sụp đổ. Sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho luật ngày Chúa nhật sắp đến, và chính tại đó, cha của Giăng Báp-tít, một thầy tế lễ thuộc ban thứ tám, là người đã bị làm cho câm trong khi phục vụ trong đền thờ—là nơi Ê-xê-chi-ên cũng đã ở (trong sự hiện thấy)—cũng đã bị làm cho câm trong khoảng chín tháng. Chính vào ngày thứ tám sau khi Giăng sinh ra, khi Giăng đang được chịu phép cắt bì, thì ông được phép nói. Hai nhà tiên tri bị làm cho câm khi đang ở nơi thánh. Nhà tiên tri thứ ba bị làm cho câm khi đang chiêm ngưỡng Đấng Christ trong nơi thánh là Đa-ni-ên. Trong chương mười, Đa-ni-ên ở trong nơi thánh, và đúng vào lúc ông đang được chạm đến lần thứ hai trong ba lần, thì ông bị làm cho câm. Tại điểm giữa, Đa-ni-ên bị làm cho câm.

And when he had spoken such words unto me, I set my face toward the ground, and I became dumb. And, behold, one like the similitude of the sons of men touched my lips: then I opened my mouth, and spake, and said unto him that stood before me, O my lord, by the vision my sorrows are turned upon me, and I have retained no strength. Daniel 10:15, 16.

Và khi người đã phán những lời ấy với tôi, tôi úp mặt xuống đất, và tôi nên câm lặng. Kìa, có một Đấng giống như hình dạng con cái loài người chạm đến môi tôi; bấy giờ tôi mở miệng, nói, và thưa cùng Đấng đứng trước mặt tôi rằng: Ôi chúa tôi, bởi sự hiện thấy này, những nỗi đau đớn của tôi dồn cả lên tôi, và tôi không còn chút sức lực nào. Đa-ni-ên 10:15, 16.

Speaking

Phát biểu

The symbolism of “speaking” is marked at the soon-coming Sunday law when the United States speaks as a dragon, Balaam’s ass speaks, Habakkuk’s vision speaks and does not lie. The three dumb prophets who are made dumb while in the sanctuary, speak at the destruction of Jerusalem. With Zachariah, he speaks to identify that his son’s new name is correct, thus typifying tho Philadelphian's who are given a new name.

Biểu tượng của việc “nói” được đánh dấu vào thời điểm luật ngày Chủ nhật sắp đến, khi Hoa Kỳ nói như con rồng, con lừa cái của Ba-la-am nói, khải tượng của Ha-ba-cúc nói và không dối trá. Ba tiên tri câm, những người bị làm cho câm khi đang ở trong đền thánh, đã nói vào lúc thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt. Với Xa-cha-ri, ông nói để xác nhận rằng tên mới của con trai ông là đúng, như vậy tiêu biểu cho những người Phi-la-đen-phi là những người được ban cho một tên mới.

Him that overcometh will I make a pillar in the temple of my God, and he shall go no more out: and I will write upon him the name of my God, and the name of the city of my God, which is new Jerusalem, which cometh down out of heaven from my God: and I will write upon him my new name. Revelation 3:12.

Kẻ nào thắng, Ta sẽ làm cho người ấy trở nên một cây trụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời Ta, và người ấy sẽ không bao giờ còn ra khỏi đó nữa; Ta sẽ viết trên người ấy danh của Đức Chúa Trời Ta, và danh của thành Đức Chúa Trời Ta, tức là Giê-ru-sa-lem mới, từ nơi Đức Chúa Trời Ta mà từ trời xuống; và Ta sẽ viết trên người ấy danh mới của Ta. Khải Huyền 3:12.

Zachariah was given a tablet to write the new family name of John.

Xa-cha-ri được ban cho một tấm bảng để viết tên mới của gia đình Giăng.

And it came to pass, that on the eighth day they came to circumcise the child; and they called him Zacharias, after the name of his father. And his mother answered and said, Not so; but he shall be called John. And they said unto her, There is none of thy kindred that is called by this name. And they made signs to his father, how he would have him called. And he asked for a writing table, and wrote, saying, His name is John. And they marvelled all. And his mouth was opened immediately, and his tongue loosed, and he spake, and praised God. Luke 1:59–64.

Và xảy đến rằng, đến ngày thứ tám, họ đến để làm phép cắt bì cho đứa trẻ; và họ gọi nó là Xa-cha-ri, theo tên cha nó. Nhưng mẹ nó đáp rằng: Không phải thế; song nó sẽ được gọi là Giăng. Họ nói với bà: Trong họ hàng của bà không có ai mang tên đó. Rồi họ ra dấu cho cha nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. Ông xin một tấm bảng viết, rồi viết rằng: Tên nó là Giăng. Và mọi người đều lấy làm lạ. Tức thì miệng ông được mở ra, lưỡi ông được cởi trói, và ông nói, ngợi khen Đức Chúa Trời. Lu-ca 1:59–64.

John’s new name aligns with the church of Philadelphia, and the name Zachariah aligns with Laodicea as represented by Zachariah’s unbelief in the message of the third angel. All the prophets address the latter days, and latter days are the history of the third angel. So the angel that brought the message must be the third angel. Zachariah refused to understand that the Lord would pass by the Laodicean Seventh-day Adventist church. There is more to say about the restoration of the voice in these prophets, but we will continue to move towards and understanding of Josiah’s prophetic line.

Tên mới của Giăng tương ứng với hội thánh Phi-la-đen-phi, và tên Xa-cha-ri tương ứng với Lao-đi-xê, như được tiêu biểu qua sự không tin của Xa-cha-ri đối với sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Tất cả các vị tiên tri đều đề cập đến những ngày sau rốt, và những ngày sau rốt là lịch sử của thiên sứ thứ ba. Vậy nên, thiên sứ đã mang sứ điệp ấy hẳn phải là thiên sứ thứ ba. Xa-cha-ri đã từ chối hiểu rằng Chúa sẽ đi ngang qua hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê. Còn nhiều điều cần được nói thêm về sự phục hồi của tiếng nói trong các vị tiên tri này, nhưng chúng ta sẽ tiếp tục tiến tới sự hiểu biết về đường lối tiên tri của Giô-si-a.

Josiah’s Wheel

Bánh Xe của Giô-si-a

We have addressed the seventeenth Jubilee cycle that began at Josiah’s Passover in 622 BC, but the line of Josiah begins well before 622 BC. The rebellion of Israel that brought Saul to the throne as Israel’s first king marked forty years that king Saul would rule, followed by forty years that king David would rule, followed by forty years that Solomon would rule. The rejection of God that so offended the prophet Samuel occurred in 1097 BC, and begins a prophetic line of rebellion that ended at the cross when the Jews pronounced, they had no king, but Caesar.

Chúng ta đã đề cập đến chu kỳ Năm Hân Hỷ thứ mười bảy khởi đầu tại Lễ Vượt Qua của Giô-si-a vào năm 622 TCN, nhưng dòng của Giô-si-a bắt đầu từ rất lâu trước năm 622 TCN. Sự phản nghịch của Y-sơ-ra-ên, điều đã đưa Sau-lơ lên ngôi làm vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, đánh dấu bốn mươi năm vua Sau-lơ sẽ trị vì, tiếp theo là bốn mươi năm vua Đa-vít sẽ trị vì, rồi tiếp theo là bốn mươi năm Sa-lô-môn sẽ trị vì. Sự khước từ Đức Chúa Trời đã xúc phạm sâu xa đến nhà tiên tri Sa-mu-ên ấy đã xảy ra vào năm 1097 TCN, và mở đầu một dòng tiên tri của sự phản nghịch, dòng ấy chấm dứt tại thập tự giá khi người Do Thái tuyên bố rằng họ không có vua nào khác ngoài Sê-sa.

But they cried out, Away with him, away with him, crucify him. Pilate saith unto them, Shall I crucify your King? The chief priests answered, We have no king but Caesar. John 19:15.

Nhưng họ kêu lên rằng: Hãy đem hắn đi, hãy đem hắn đi, đóng đinh hắn trên thập tự giá! Phi-lát phán cùng họ rằng: Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi trên thập tự giá sao? Các thầy tế lễ cả thưa rằng: Chúng tôi không có vua nào ngoài Sê-sa. Giăng 19:15.

In 1097, three kings would reign for forty years each until the death of Solomon in 977 BC, when the kingdom then divided into north and south.

Vào năm 1097 TCN, ba vị vua sẽ trị vì, mỗi người bốn mươi năm, cho đến khi Sa-lô-môn qua đời vào năm 977 TCN, khi ấy vương quốc phân chia thành miền bắc và miền nam.

And afterward they desired a king: and God gave unto them Saul the son of Cis, a man of the tribe of Benjamin, by the space of forty years. Acts 13:21.

Sau đó, họ đòi có một vua; và Đức Chúa Trời ban cho họ Sau-lơ, con trai của Kích, một người thuộc chi phái Bên-gia-min, trong khoảng bốn mươi năm. Công vụ các Sứ đồ 13:21.

David was thirty years old when he began to reign, and he reigned forty years. In Hebron he reigned over Judah seven years and six months: and in Jerusalem he reigned thirty and three years over all Israel and Judah. 2 Samuel 2:4, 5.

Đa-vít được ba mươi tuổi khi bắt đầu trị vì, và người trị vì bốn mươi năm. Tại Hếp-rôn, người trị vì trên Giu-đa bảy năm sáu tháng; còn tại Giê-ru-sa-lem, người trị vì ba mươi ba năm trên toàn thể Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. II Sa-mu-ên 2:4, 5.

Solomon’s reign began in 971 BC; the foundation of the Temple was laid in Solomon’s fourth year (967 BC). Construction lasted seven years (1 Kings 6:37–38), and the Temple was completed in the eighth month of Solomon’s eleventh year. The formal dedication took place in the seventh month (the month of Ethanim), during the Feast of Tabernacles (1 Kings 8; 2 Chronicles 5–7). The kings, the Temple and the nation each are represented in the history with a four-hundred-and-ninety-year period that distinctly marks a prophetic period in relation to either the kings, the Temple or the nation.

Triều đại của Sa-lô-môn bắt đầu vào năm 971 TCN; nền của Đền Thờ được đặt vào năm thứ tư của Sa-lô-môn (967 TCN). Việc xây cất kéo dài bảy năm (1 Các Vua 6:37–38), và Đền Thờ được hoàn tất vào tháng thứ tám của năm thứ mười một triều Sa-lô-môn. Lễ cung hiến chính thức diễn ra vào tháng thứ bảy (tháng Ê-tha-nim), trong kỳ Lễ Lều Tạm (1 Các Vua 8; 2 Sử Ký 5–7). Các vua, Đền Thờ và dân tộc, mỗi bên đều được biểu hiện trong lịch sử bằng một giai đoạn bốn trăm chín mươi năm, một giai đoạn phân biệt rõ ràng như một thời kỳ tiên tri liên hệ hoặc với các vua, hoặc với Đền Thờ, hoặc với dân tộc.

Daniel was taken captive in 607 BC, though the majority of biblical chronologists identify 605 BC. The historical record must align with the prophetic testimony, and the symbolism of the events that are historically marked on the line of history that begins with the desire for a king in 1097 BC demands upon several prophetic witnesses that 607 BC is the accurate application, and not 605 BC. 607 BC marks the end of four-hundred and ninety years in the line of kings, but it also begins one of the three primary representations of seventy years that occur in the line. 607 BC marks the end of seventy years that began with the captivity of Manasseh in 677 BC. The first representation of the symbol of four hundred and ninety years (that possesses three witnesses in the line), concludes where one of the three witnesses of seventy years ends and another witness of seventy years begins the mathematical structure testifies to 607 BC, in spite of the idea that Daniel was taken captive in 605 BC.

Đa-ni-ên bị bắt làm phu tù vào năm 607 TCN, mặc dù đa số các nhà niên đại học Kinh Thánh xác định là năm 605 TCN. Hồ sơ lịch sử phải phù hợp với chứng ngôn tiên tri, và biểu tượng học của các biến cố được đánh dấu về mặt lịch sử trên dòng lịch sử bắt đầu với ước muốn có một vua vào năm 1097 TCN đòi hỏi, dựa trên nhiều nhân chứng tiên tri, rằng năm 607 TCN là sự áp dụng chính xác, chứ không phải năm 605 TCN. Năm 607 TCN đánh dấu sự kết thúc của bốn trăm chín mươi năm trong dòng các vua, nhưng đồng thời cũng khởi đầu một trong ba sự thể hiện chính của bảy mươi năm xuất hiện trong dòng ấy. Năm 607 TCN đánh dấu sự kết thúc của bảy mươi năm đã bắt đầu với sự lưu đày của Ma-na-se vào năm 677 TCN. Sự thể hiện thứ nhất của biểu tượng bốn trăm chín mươi năm (vốn có ba nhân chứng trong dòng ấy) kết thúc tại điểm một trong ba nhân chứng của bảy mươi năm chấm dứt, và một nhân chứng khác của bảy mươi năm bắt đầu; cấu trúc toán học làm chứng cho năm 607 TCN, bất chấp quan điểm cho rằng Đa-ni-ên bị bắt làm phu tù vào năm 605 TCN.

Within the line that contains a period of 490 years associated with the kings from 1097 BC unto 607 BC, there is also 490 years from the dedication of Solomon’s Temple unto the dedication of the post-exile Temple by Zerubbabel in 516 BC. That 490 years consists of 420 years from Solomon’s dedication in his eleventh year, added to the 70 years the Temple was desolate during the captivity equaling 490 years. The third decree of Artaxerxes came 59 years later in 457 BC, and marks the beginning of 490 years that were “determined” (cut off, Daniel 9:24) for God’s people which concluded in the year 34 at the stoning of Stephen. There is of course, many other profound chronological witnesses in the prophetic line that begins with the foundational apostasy of rejecting God and the Spirit of Prophecy in 1097 BC and ends when Stephen saw Christ standing at the right hand of God. Within this testimony we find the prophetic wheel of Josiah.

Trong tuyến thời gian bao gồm giai đoạn 490 năm gắn liền với các vua từ năm 1097 TCN cho đến năm 607 TCN, cũng có 490 năm tính từ lễ cung hiến Đền thờ của Sa-lô-môn cho đến lễ cung hiến Đền thờ thời hậu lưu đày do Xô-rô-ba-bên thực hiện vào năm 516 TCN. Khoảng 490 năm ấy gồm 420 năm kể từ lễ cung hiến của Sa-lô-môn vào năm thứ mười một của ông, cộng với 70 năm Đền thờ bị hoang vu trong thời kỳ lưu đày, tổng cộng là 490 năm. Chiếu chỉ thứ ba của Ạt-ta-xét-xe đến 59 năm sau, vào năm 457 TCN, và đánh dấu sự khởi đầu của 490 năm đã được “định” (cắt ra, Đa-ni-ên 9:24) cho dân sự của Đức Chúa Trời, là khoảng thời gian kết thúc vào năm 34 với việc Ê-tiên bị ném đá. Dĩ nhiên, còn có nhiều chứng cứ niên đại sâu sắc khác trong tuyến tiên tri bắt đầu với sự bội đạo nền tảng là việc chối bỏ Đức Chúa Trời và Thần Linh Tiên Tri vào năm 1097 TCN, và kết thúc khi Ê-tiên thấy Đấng Christ đứng bên hữu Đức Chúa Trời. Trong chứng từ này, chúng ta tìm thấy bánh xe tiên tri của Giô-si-a.

I say “foundational apostasy,” for the beginning of the line identifies when Israel rejected God as King, in their desire to have a worldly king thus marking the foundation of Israel’s human monarchy. I also write this for the wheel of Josiah, which means “foundation of God,” is a symbol of both the foundation and the foundational apostasy of God’s people.

Tôi nói “sự bội đạo nền tảng,” vì điểm khởi đầu của dòng này xác định thời điểm Y-sơ-ra-ên từ chối Đức Chúa Trời làm Vua, do mong muốn có một vị vua thuộc về thế gian, qua đó đánh dấu nền tảng của chế độ quân chủ loài người tại Y-sơ-ra-ên. Tôi cũng viết điều này liên quan đến bánh xe của Giô-si-a, tên có nghĩa là “nền tảng của Đức Chúa Trời,” là một biểu tượng vừa của nền tảng, vừa của sự bội đạo nền tảng của dân Đức Chúa Trời.

When Solomon died and the twelve tribes divided into north and south Jeroboam’s dedication of the counterfeit system of worship was rebuked by the disobedient prophet, and his rebuke contained the prophecy of a coming king named Josiah. At the foundational apostasy of Jeroboam and the ten northern tribes the prophecy of Josiah and his revival that is marked by the Great Passover of 622 BC was predicted. That revival was brought about by the discovery of the writings of Moses’ and the pronouncement of judgment upon God’s people for their continual apostasy. When the words from the writings of Moses were read to king Josiah, it produced the greatest revival of Old Testament history. The prophecy of a future child being born named Josiah also contained of the prophetic condemnation of the foundational apostasy levelled against king Jeroboam by the disobedient prophet.

Khi Sa-lô-môn qua đời và mười hai chi phái phân chia thành phương bắc và phương nam, việc Giê-rô-bô-am thiết lập hệ thống thờ phượng giả mạo đã bị vị tiên tri bất tuân quở trách, và trong lời quở trách ấy có chứa đựng lời tiên tri về một vị vua sẽ đến tên là Giô-si-a. Ngay tại cuộc bội đạo nền tảng của Giê-rô-bô-am và mười chi phái phương bắc, lời tiên tri về Giô-si-a và cuộc phục hưng của ông—được đánh dấu bằng Lễ Vượt Qua trọng đại năm 622 TCN—đã được báo trước. Cuộc phục hưng ấy được mang đến bởi việc phát hiện các bản văn của Môi-se và lời công bố sự phán xét trên dân sự của Đức Chúa Trời vì sự bội đạo liên tục của họ. Khi những lời trong các bản văn của Môi-se được đọc cho vua Giô-si-a, điều đó đã tạo nên cuộc phục hưng vĩ đại nhất trong lịch sử Cựu Ước. Lời tiên tri về một hài nhi sẽ được sinh ra trong tương lai, tên là Giô-si-a, cũng bao hàm sự lên án mang tính tiên tri đối với cuộc bội đạo nền tảng đã được vị tiên tri bất tuân công bố chống lại vua Giê-rô-bô-am.

The curse of Moses as Daniel calls it, is the “seven times” of Leviticus twenty-six, and it became the foundational discovery of William Miller who is the symbol of the foundational truths of Adventism. The empowerment of Miller’s message on August 11, 1840 was brought about through the work of “Josiah” Litch in 1838 and 1840. In 1863 those foundations were set aside and the “seven times” became a symbol of not only the foundational truths of the Philadelphian Millerites, but also the symbol of the rebellion of Laodicean Millerism against the foundations. The history of the Millerites of the first and second angels possesses the symbolism of “Josiah,” that will be repeated to the very letter in the history of the one hundred and forty-four thousand. The wheel of Josiah reaches back to the witchcraft of king Saul and then all the way to the spewing out of the Laodicean Seventh-day Adventist church at the Sunday law. Josiah’s wheel in Ezekiel is now in the process of being unsealed as the climax of the sealing of the one hundred and forty-four thousand.

Sự rủa sả của Môi-se, như Đa-ni-ên gọi, chính là “bảy kỳ” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, và điều ấy đã trở thành sự khám phá nền tảng của William Miller, người là biểu tượng của các lẽ thật nền tảng của Cơ Đốc Phục Lâm. Sự ban quyền năng cho sứ điệp của Miller vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 đã được thực hiện qua công việc của “Giô-si-a” Litch trong các năm 1838 và 1840. Năm 1863, những nền tảng ấy bị gạt bỏ sang một bên, và “bảy kỳ” trở thành biểu tượng không chỉ của các lẽ thật nền tảng của những người Millerite Phi-la-đen-phi, mà còn là biểu tượng của sự phản loạn của chủ nghĩa Millerite Lao-đi-xê chống lại các nền tảng ấy. Lịch sử của những người Millerite thuộc thiên sứ thứ nhất và thứ hai mang trong mình biểu tượng của “Giô-si-a”, là điều sẽ được lặp lại từng chi tiết một trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn ngàn người. Bánh xe của Giô-si-a vươn ngược về thuật phù thủy của vua Sau-lơ, rồi kéo dài mãi đến việc hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy Lao-đi-xê bị mửa ra vào luật ngày Chúa nhật. Bánh xe của Giô-si-a trong Ê-xê-chi-ên hiện đang trong tiến trình được mở ấn như là đỉnh điểm của việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn người.

We will continue these things in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục những điều này trong bài viết tiếp theo.