There are many amazing and important prophetic lines and truths in the book of Ezekiel. Of the biblical illustrations of prophets within the temple, Ezekiel is the one above all others that identifies the wheels within the wheels. Those wheels, according to Sister White represent the complex interplay of human activity illustrating the sequence of events in the time of the latter rain. Those events are represented by the prophet when he became part of the prophecy in an acted-out parable, such as when Ezekiel lies on his left and then right side in chapter four’s illustration of the siege of Jerusalem. There are also thirteen specific dates that outline Ezekiel’s history, and in so doing provide the waymarks of the latter rain period, when the one hundred and forty-four thousand are sealed. There are truths conveyed not only through dates, but also by numbers such as seventeen, nineteen, twenty-five, seventy, forty, three hundred and ninety and of course, thirty. Another number that is perhaps the most important number in the book of Ezekiel is the number one hundred and fifty. Yet the number one hundred and fifty is not found in the book of Ezekiel. Still, line upon line—it is there.
Trong sách Ê-xê-chi-ên có nhiều đường nét tiên tri và lẽ thật kỳ diệu, quan trọng. Trong các minh họa Kinh Thánh về các tiên tri ở trong đền thờ, Ê-xê-chi-ên là người, vượt hơn tất cả những người khác, chỉ ra những bánh xe ở trong các bánh xe. Theo Bà White, những bánh xe ấy tượng trưng cho sự tương tác phức tạp của hoạt động loài người, minh họa trình tự các biến cố trong thời kỳ mưa cuối mùa. Những biến cố ấy được tiên tri trình bày khi chính ông trở thành một phần của lời tiên tri trong một ẩn dụ hành động, như khi Ê-xê-chi-ên nằm nghiêng bên trái rồi bên phải trong minh họa ở chương bốn về cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem. Cũng có mười ba niên điểm cụ thể phác họa lịch sử của Ê-xê-chi-ên, và khi làm như vậy, cung cấp các cột mốc của thời kỳ mưa cuối mùa, khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn. Có những lẽ thật được truyền đạt không chỉ qua các niên điểm, mà còn qua các con số như mười bảy, mười chín, hai mươi lăm, bảy mươi, bốn mươi, ba trăm chín mươi, và dĩ nhiên, ba mươi. Một con số khác có lẽ là con số quan trọng nhất trong sách Ê-xê-chi-ên là con số một trăm năm mươi. Tuy nhiên, con số một trăm năm mươi không được tìm thấy trong sách Ê-xê-chi-ên. Dẫu vậy, hết hàng này đến hàng kia—nó ở đó.
The number one hundred and fifty is prophetically embedded within the line of the siege, and the siege is a distinct prophetic line; or if you will, the siege is a wheel. A prophetic line of history will always possess an alpha and omega, and in so doing the characteristics of alpha and omega must be represented at the beginning and end of the line, or it isn’t a line. The alpha event of the siege was the death of Ezekiel’s wife and the end of the siege was the death of the bride of Christ, as represented by the destruction of Jerusalem.
Con số một trăm năm mươi được gắn kết cách tiên tri trong tuyến của cuộc vây hãm, và cuộc vây hãm là một tuyến tiên tri riêng biệt; hoặc nếu muốn nói như vậy, cuộc vây hãm là một bánh xe. Một tuyến lịch sử tiên tri luôn luôn phải có alpha và omega, và như thế các đặc tính của alpha và omega phải được thể hiện ở phần đầu và phần cuối của tuyến ấy; nếu không, đó không phải là một tuyến. Biến cố alpha của cuộc vây hãm là cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên, và điểm kết thúc của cuộc vây hãm là cái chết của cô dâu Đấng Christ, như được tượng trưng bởi sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem.
And I John saw the holy city, new Jerusalem, coming down from God out of heaven, prepared as a bride adorned for her husband. And I heard a great voice out of heaven saying, Behold, the tabernacle of God is with men, and he will dwell with them, and they shall be his people, and God himself shall be with them, and be their God. And God shall wipe away all tears from their eyes; and there shall be no more death, neither sorrow, nor crying, neither shall there be any more pain: for the former things are passed away. And he that sat upon the throne said, Behold, I make all things new. And he said unto me, Write: for these words are true and faithful. And he said unto me, It is done. I am Alpha and Omega, the beginning and the end. I will give unto him that is athirst of the fountain of the water of life freely. He that overcometh shall inherit all things; and I will be his God, and he shall be my son. But the fearful, and unbelieving, and the abominable, and murderers, and whoremongers, and sorcerers, and idolaters, and all liars, shall have their part in the lake which burneth with fire and brimstone: which is the second death. And there came unto me one of the seven angels which had the seven vials full of the seven last plagues, and talked with me, saying, Come hither, I will show thee the bride, the Lamb’s wife. Revelation 21:2–9.
Và tôi là Giăng đã thấy thành thánh, Giê-ru-sa-lem mới, từ Đức Chúa Trời ở trên trời mà xuống, được chuẩn bị như một cô dâu điểm trang cho chồng mình. Và tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: Kìa, đền tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người, Ngài sẽ ngự với họ, họ sẽ là dân Ngài, chính Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, và làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt họ; sẽ không còn sự chết, cũng không còn tang chế, than khóc hay đau đớn nữa; vì những sự trước kia đã qua rồi. Đấng ngự trên ngai phán rằng: Kìa, Ta làm mới mọi sự. Và Ngài phán với tôi: Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín. Ngài lại phán với tôi: Xong rồi. Ta là Alpha và Omega, là khởi đầu và là cuối cùng. Ta sẽ ban nhưng không cho kẻ khát nước uống từ nguồn nước sự sống. Kẻ nào thắng sẽ thừa hưởng mọi sự; Ta sẽ là Đức Chúa Trời của người ấy, và người ấy sẽ là con trai Ta. Nhưng những kẻ hèn nhát, vô tín, đáng gớm ghiếc, những kẻ giết người, gian dâm, phù phép, thờ thần tượng, và mọi kẻ nói dối, phần của chúng sẽ ở trong hồ cháy bằng lửa và diêm sinh: ấy là sự chết thứ hai. Bấy giờ, một trong bảy thiên sứ cầm bảy bát đầy bảy tai họa cuối cùng đến với tôi và nói chuyện với tôi rằng: Hãy đến đây, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy cô dâu, là vợ của Chiên Con. Khải Huyền 21:2–9.
Ezekiel’s wife dies at the outset of the siege, and she is there identified as the “desire of” Ezekiel’s “eyes,” and in the destruction of Jerusalem set forth in the same chapter, Jerusalem is identified as “the desire” of Israel’s “eyes.”
Vợ của Ê-xê-chi-ên qua đời vào lúc khởi đầu cuộc vây hãm, và tại đó nàng được gọi là “điều ưa thích của” “mắt” Ê-xê-chi-ên; còn trong sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem được trình bày trong cùng chương ấy, Giê-ru-sa-lem được xác định là “điều ưa thích” của “mắt” Y-sơ-ra-ên.
Again in the ninth year, in the tenth month, in the tenth day of the month, the word of the Lord came unto me, saying, … Also the word of the Lord came unto me, saying, Son of man, behold, I take away from thee the desire of thine eyes with a stroke: yet neither shalt thou mourn nor weep, neither shall thy tears run down. Forbear to cry, make no mourning for the dead, bind the tire of thine head upon thee, and put on thy shoes upon thy feet, and cover not thy lips, and eat not the bread of men. So I spake unto the people in the morning: and at even my wife died; and I did in the morning as I was commanded. And the people said unto me, Wilt thou not tell us what these things are to us, that thou doest so?
Lại vào năm thứ chín, tháng thứ mười, ngày mười trong tháng, lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng, … Lại có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, này, Ta cất khỏi ngươi điều mắt ngươi ưa thích chỉ trong một đòn; nhưng ngươi chớ than khóc hay khóc lóc, cũng chớ để nước mắt tuôn rơi. Hãy nén tiếng than, chớ làm tang cho kẻ chết; hãy vấn khăn trên đầu ngươi, mang giày vào chân, chớ che môi, và đừng ăn bánh của người ta. Vậy, buổi sáng tôi nói cùng dân chúng; đến chiều, vợ tôi qua đời; và sáng hôm sau tôi làm theo như điều mình đã được truyền. Bấy giờ dân chúng hỏi tôi rằng: Ông há chẳng nói cho chúng tôi biết những điều này có ý nghĩa gì đối với chúng tôi, mà ông lại làm như vậy sao?
Then I answered them, The word of the Lord came unto me, saying, Speak unto the house of Israel, Thus saith the Lord God; Behold, I will profane my sanctuary, the excellency of your strength, the desire of your eyes, and that which your soul pitieth; and your sons and your daughters whom ye have left shall fall by the sword. And ye shall do as I have done: ye shall not cover your lips, nor eat the bread of men. And your tires shall be upon your heads, and your shoes upon your feet: ye shall not mourn nor weep; but ye shall pine away for your iniquities, and mourn one toward another.
Bấy giờ tôi trả lời họ rằng: Lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, Ta sẽ làm ô uế nơi thánh của Ta, là sự vinh hiển của sức mạnh các ngươi, điều mắt các ngươi ham mến, và điều linh hồn các ngươi thương tiếc; còn con trai và con gái các ngươi, là những kẻ các ngươi đã để lại, sẽ ngã xuống bởi gươm. Các ngươi sẽ làm như ta đã làm: các ngươi sẽ không che môi mình, cũng không ăn bánh của người ta. Khăn quấn đầu các ngươi sẽ ở trên đầu các ngươi, và giày các ngươi sẽ ở nơi chân các ngươi; các ngươi sẽ không than khóc hay khóc lóc, nhưng sẽ hao mòn vì tội ác mình, và than thở với nhau.
Thus Ezekiel is unto you a sign: according to all that he hath done shall ye do: and when this cometh, ye shall know that I am the Lord God. Also, thou son of man, shall it not be in the day when I take from them their strength, the joy of their glory, the desire of their eyes, and that whereupon they set their minds, their sons and their daughters, That he that escapeth in that day shall come unto thee, to cause thee to hear it with thine ears? In that day shall thy mouth be opened to him which is escaped, and thou shalt speak, and be no more dumb: and thou shalt be a sign unto them; and they shall know that I am the Lord. Ezekiel 24:1, 15–27.
Vậy Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi: các ngươi sẽ làm theo mọi điều người ấy đã làm; và khi điều này xảy đến, các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va. Hỡi con người, chẳng phải trong ngày Ta cất khỏi chúng sức mạnh của chúng, niềm vui của vinh quang chúng, điều mắt chúng ham muốn, và điều lòng chúng hướng về, tức là con trai và con gái chúng, thì kẻ thoát nạn trong ngày ấy sẽ đến cùng ngươi để khiến tai ngươi nghe điều đó sao? Trong ngày ấy, miệng ngươi sẽ được mở ra với kẻ thoát nạn ấy, ngươi sẽ nói và không còn câm nữa; ngươi sẽ là một dấu hiệu cho chúng, và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. Ê-xê-chi-ên 24:1, 15–27.
The siege’s alpha is the death of Ezekiel’s desire, and the omega is the death of Israel’s desire.
Alpha của cuộc vây hãm là cái chết của điều mà Ê-xê-chi-ên khao khát, và omega là cái chết của điều mà Y-sơ-ra-ên khao khát.
Hearing, but Not Hearing
Nghe, nhưng Không Nghe
There are five times the elders or the people are portrayed in some fashion as listening to Ezekiel. In Ezekiel 8:1, the elders of Judah sit before him. In Ezekiel 14:1 the elders come and sit before him. In Ezekiel 20:1 the elders of Israel come to inquire of the Lord. In Ezekiel 37:18, God tells Ezekiel: “When the children of thy people shall speak unto thee, saying, Wilt thou not shew us what thou meanest by these?” In chapter twenty-four the people directly ask: “Wilt thou not tell us what these things are to us, that thou doest so?” In each of the five instances the elders or people are in a Laodicean condition.
Có năm lần các trưởng lão hoặc dân sự được mô tả theo một cách nào đó là đang lắng nghe Ê-xê-chi-ên. Trong Ê-xê-chi-ên 8:1, các trưởng lão của Giu-đa ngồi trước mặt ông. Trong Ê-xê-chi-ên 14:1, các trưởng lão đến và ngồi trước mặt ông. Trong Ê-xê-chi-ên 20:1, các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đến để cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Trong Ê-xê-chi-ên 37:18, Đức Chúa Trời phán cùng Ê-xê-chi-ên: “Khi con cái của dân ngươi sẽ nói với ngươi rằng: Ngươi há chẳng tỏ cho chúng ta biết những điều này có ý nghĩa gì sao?” Trong chương hai mươi bốn, dân sự trực tiếp hỏi: “Ngươi há chẳng nói cho chúng ta biết những việc này có ý nghĩa gì đối với chúng ta, là những kẻ mà ngươi làm như vậy sao?” Trong cả năm trường hợp, các trưởng lão hoặc dân sự đều ở trong tình trạng Lao-đi-xê.
And he said, Go, and tell this people, Hear ye indeed, but understand not; and see ye indeed, but perceive not. Make the heart of this people fat, and make their ears heavy, and shut their eyes; lest they see with their eyes, and hear with their ears, and understand with their heart, and convert, and be healed. Isaiah 6:9, 10.
Ngài phán rằng: Hãy đi, và nói với dân này rằng: Các ngươi cứ nghe, nhưng không hiểu; cứ nhìn, nhưng không nhận biết. Hãy làm cho lòng dân này ra chai lì, làm cho tai chúng nặng nề, và bịt mắt chúng lại; e rằng chúng thấy bằng mắt mình, nghe bằng tai mình, hiểu bằng lòng mình, rồi trở lại và được chữa lành. Ê-sai 6:9, 10.
The five representations of the people hearing but not hearing, and the five representations of the people seeing, but not seeing align with the five steps of those who refuse to see and hear in Isaiah’s testimony.
Năm hình ảnh tượng trưng về dân sự nghe mà không nghe, và năm hình ảnh tượng trưng về dân sự thấy mà không thấy, tương ứng với năm bước của những kẻ từ chối nhìn thấy và lắng nghe trong lời chứng của Ê-sai.
But the word of the Lord was unto them precept upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little; that they might go, and fall backward, and be broken, and snared, and taken. Isaiah 28:13.
Nhưng lời của Đức Giê-hô-va đối với họ là điều răn chồng trên điều răn, điều răn chồng trên điều răn; hàng này tiếp hàng kia, hàng này tiếp hàng kia; đây một ít, đó một ít; để họ đi, rồi ngã ngửa ra sau, bị tan vỡ, bị mắc bẫy, và bị bắt lấy. Ê-sai 28:13.
And many among them shall stumble, and fall, and be broken, and be snared, and be taken. Isaiah 8:15.
Và nhiều người trong vòng họ sẽ vấp ngã, và sa xuống, và bị tan vỡ, và bị mắc bẫy, và bị bắt lấy. Ê-sai 8:15.
Signs
Những Dấu Hiệu
In chapter twenty-four of Ezekiel, the period beginning at the siege and the death of Ezekiel’s wife—the desire of his eyes ends at the death of Jerusalem—the desire of Israel’s eyes. The one-and-a-half-year siege contains the signature of Alpha and Omega, and the period begins and ends with a sign. As in Ezekiel twenty-four, Jesus identifies the sign of the siege in Matthew twenty-four.
Trong chương hai mươi bốn của Ê-xê-chi-ên, giai đoạn bắt đầu từ cuộc vây hãm và cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên—niềm ao ước của mắt ông—kết thúc nơi cái chết của Giê-ru-sa-lem—niềm ao ước của mắt Y-sơ-ra-ên. Cuộc vây hãm kéo dài một năm rưỡi mang dấu ấn của Alpha và Omega, và giai đoạn ấy bắt đầu và kết thúc bằng một dấu hiệu. Như trong Ê-xê-chi-ên hai mươi bốn, Chúa Giê-su xác định dấu hiệu của cuộc vây hãm trong Ma-thi-ơ hai mươi bốn.
“Christ’s words had been spoken in the hearing of a large number of people; but when He was alone, Peter, John, James, and Andrew came to Him as He sat upon the Mount of Olives. ‘Tell us,’ they said, ‘when shall these things be? and what shall be the sign of Thy coming, and of the end of the world?’ Jesus did not answer His disciples by taking up separately the destruction of Jerusalem and the great day of His coming. He mingled the description of these two events. Had He opened to His disciples future events as He beheld them, they would have been unable to endure the sight. In mercy to them He blended the description of the two great crises, leaving the disciples to study out the meaning for themselves. When He referred to the destruction of Jerusalem, His prophetic words reached beyond that event to the final conflagration in that day when the Lord shall rise out of His place to punish the world for their iniquity, when the earth shall disclose her blood, and shall no more cover her slain. This entire discourse was given, not for the disciples only, but for those who should live in the last scenes of this earth’s history.
“Những lời của Đấng Christ đã được phán ra trước tai đông đảo dân chúng; nhưng khi Ngài ở riêng, Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ và Anh-rê đến cùng Ngài, lúc Ngài đang ngồi trên Núi Ô-li-ve. Họ thưa rằng: ‘Xin thầy cho chúng tôi biết, những điều ấy sẽ xảy ra khi nào? và sẽ có dấu hiệu gì về sự Ngài đến, và về tận thế?’ Đức Chúa Jêsus đã không trả lời các môn đồ Ngài bằng cách tách riêng sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem và ngày lớn của sự Ngài đến. Ngài đã hòa lẫn sự mô tả về hai biến cố ấy. Nếu Ngài mở ra cho các môn đồ những biến cố tương lai đúng như Ngài thấy, thì họ đã không thể chịu nổi cảnh tượng ấy. Bởi lòng thương xót đối với họ, Ngài đã kết hợp sự mô tả về hai cơn khủng hoảng lớn, để lại cho các môn đồ tự mình suy xét ý nghĩa. Khi Ngài nhắc đến sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, những lời tiên tri của Ngài vươn xa vượt quá biến cố ấy đến cuộc đại hỏa hoạn cuối cùng trong ngày mà Đức Giê-hô-va sẽ từ nơi Ngài ngự đứng lên để phạt thế gian vì tội ác chúng nó, khi đất sẽ phơi bày huyết nó ra và không còn che đậy những kẻ bị giết của mình nữa. Toàn bộ bài giảng này đã được ban ra, không chỉ cho riêng các môn đồ, mà còn cho những người sẽ sống trong những cảnh cuối cùng của lịch sử thế gian này.”
“Turning to the disciples, Christ said, ‘Take heed that no man deceive you. For many shall come in My name, saying, I am Christ; and shall deceive many.’ Many false messiahs will appear, claiming to work miracles, and declaring that the time of the deliverance of the Jewish nation has come. These will mislead many. Christ’s words were fulfilled. Between His death and the siege of Jerusalem many false messiahs appeared. But this warning was given also to those who live in this age of the world. The same deceptions practiced prior to the destruction of Jerusalem have been practiced through the ages, and will be practiced again.
Quay sang các môn đồ, Đấng Christ phán: “Hãy coi chừng, kẻo có ai lừa dối các ngươi. Vì sẽ có nhiều người mạo danh Ta mà đến, xưng rằng: Ta là Đấng Christ; và chúng sẽ lừa dối nhiều người.” Nhiều đấng Mê-si giả sẽ xuất hiện, tự xưng là làm phép lạ, và tuyên bố rằng thời kỳ giải cứu dân tộc Do Thái đã đến. Những kẻ ấy sẽ dẫn dắt nhiều người vào sự lầm lạc. Những lời của Đấng Christ đã được ứng nghiệm. Giữa sự chết của Ngài và cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem, đã xuất hiện nhiều đấng Mê-si giả. Nhưng lời cảnh báo này cũng được ban cho những người đang sống trong thời đại này của thế gian. Cũng chính những sự lừa dối đã được thực hiện trước khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, đã được thực hiện qua các thời đại, và sẽ lại được thực hiện nữa.
“‘And ye shall hear of wars and rumors of wars: see that ye be not troubled: for all these things must come to pass, but the end is not yet.’ Prior to the destruction of Jerusalem, men wrestled for the supremacy. Emperors were murdered. Those supposed to be standing next the throne were slain. There were wars and rumors of wars. ‘All these things must come to pass,’ said Christ, ‘but the end [of the Jewish nation as a nation] is not yet. For nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom: and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes, in divers places. All these are the beginning of sorrows.’ Christ said, As the rabbis see these signs, they will declare them to be God’s judgments upon the nations for holding in bondage His chosen people. They will declare that these signs are the token of the advent of the Messiah. Be not deceived; they are the beginning of His judgments. The people have looked to themselves. They have not repented and been converted that I should heal them. The signs that they represent as tokens of their release from bondage are signs of their destruction.” The Desire of Ages, 628.
“‘Các ngươi sẽ nghe nói về chiến tranh và những tin đồn về chiến tranh: hãy coi chừng, đừng bối rối: vì mọi sự ấy phải xảy đến, nhưng cuối cùng vẫn chưa đến.’ Trước khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, loài người đã tranh giành quyền tối thượng. Các hoàng đế bị ám sát. Những kẻ được cho là đứng kế ngai vàng đã bị giết. Có chiến tranh và những tin đồn về chiến tranh. Đấng Christ phán: ‘Mọi sự ấy phải xảy đến, nhưng cuối cùng [của dân tộc Do Thái với tư cách là một dân tộc] vẫn chưa đến. Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân kia, và nước nọ nghịch cùng nước kia: sẽ có đói kém, dịch lệ, và động đất ở nhiều nơi. Tất cả những điều ấy chỉ là khởi đầu của cơn đau đớn.’ Đấng Christ phán: Khi các ra-bi thấy những dấu hiệu nầy, họ sẽ tuyên bố đó là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng trên các dân tộc vì đã giam giữ dân được chọn của Ngài trong vòng nô lệ. Họ sẽ tuyên bố rằng những dấu hiệu nầy là dấu hiệu về sự quang lâm của Đấng Mê-si. Đừng bị lừa dối; đó là khởi đầu các sự đoán phạt của Ngài. Dân sự đã chỉ nhìn vào chính mình. Họ đã không ăn năn và hoán cải để Ta có thể chữa lành họ. Những dấu hiệu mà họ coi là dấu hiệu của sự giải phóng họ khỏi vòng nô lệ lại là những dấu hiệu của sự hủy diệt họ.” Nguyện Ước Thời Đại, 628.
The siege of Jerusalem in the year 66, contained the sign of Rome placing its standards in the precinct of the sanctuary. Jesus’ commentary of the events of the period of 66 to 70, aligned the destruction of the year 70 with His Second Coming; and there is a sign associated with His Second Coming.
Cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem vào năm 66 bao hàm dấu hiệu rằng Rô-ma đặt các quân kỳ của mình trong khuôn viên thánh. Lời bình giải của Chúa Giê-su về các biến cố trong giai đoạn từ năm 66 đến năm 70 đã đặt sự hủy diệt của năm 70 song hành với sự Tái Lâm của Ngài; và có một dấu hiệu gắn liền với sự Tái Lâm của Ngài.
“Soon our eyes were drawn to the East, for a small black cloud had appeared about half as large as a man’s hand, which we all knew was the Sign of the Son of Man.” The Day Star, 1846.
“Chẳng bao lâu, mắt chúng tôi được hướng về phương Đông, vì một đám mây đen nhỏ đã hiện ra, lớn chừng bằng nửa bàn tay người; và tất cả chúng tôi đều biết đó là Dấu Hiệu của Con Người.” The Day Star, 1846.
The beginning and ending of the history of 66 to 70 AD contain a sign associated with the beginning of the siege and the destruction of the city, that aligns with the alpha and omega sign of the death of the desire of the eyes in 587 BC and 586 BC.
Khởi đầu và kết thúc của lịch sử từ năm 66 đến 70 SCN đều chứa đựng một dấu hiệu gắn liền với sự khởi đầu của cuộc vây hãm và sự hủy diệt của thành, phù hợp với dấu hiệu alpha và omega về cái chết của điều mắt ưa thích vào năm 587 TCN và 586 TCN.
The history of the one-and-a-half-year siege is a “sign,” for the latter days. The foolish virgins represented in the history of Ezekiel find the counterpart in the history of the wise virgins who saw the sign of the siege in the year 66 and fled to safety. The one-and-a-half-year siege is the sign that manifests two classes of worshippers. One class will understand the sign, the other class, represented as “many” by Isaiah—will not see or hear.
Lịch sử của cuộc vây hãm kéo dài một năm rưỡi là một “dấu hiệu” cho những ngày sau rốt. Các trinh nữ dại được tiêu biểu trong lịch sử của Ê-xê-chi-ên có sự đối ứng trong lịch sử của các trinh nữ khôn, là những người đã thấy dấu hiệu của cuộc vây hãm vào năm 66 và chạy trốn đến nơi an toàn. Cuộc vây hãm kéo dài một năm rưỡi là dấu hiệu bày tỏ hai hạng người thờ phượng. Một hạng sẽ hiểu dấu hiệu ấy; hạng kia, được Ê-sai biểu thị là “nhiều người,” sẽ không thấy cũng không nghe.
Many and Few
Nhiều Người và Ít Người
Then said the king to the servants, Bind him hand and foot, and take him away, and cast him into outer darkness; there shall be weeping and gnashing of teeth. For many are called, but few are chosen. Matthew 22:13, 14.
Bấy giờ vua phán cùng các đầy tớ rằng: Hãy trói chân tay nó lại, đem đi, và quăng vào nơi tối tăm ở bên ngoài; tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Vì nhiều kẻ được gọi, nhưng ít người được chọn. Ma-thi-ơ 22:13, 14.
So the last shall be first, and the first last: for many be called, but few chosen. Matthew 20:16.
Vậy, những kẻ ở sau sẽ nên trước, và những kẻ ở trước sẽ nên sau; vì có nhiều kẻ được gọi, nhưng ít kẻ được chọn. Ma-thi-ơ 20:16.
To See and Hear
Thấy và Nghe
There are five acted out parables in the book of Ezekiel and also five times that Ezekiel spoke to the leaders and people. Those two witnesses identify the five foolish virgins who refuse to ‘see’ and refuse to ‘hear.’ They refuse to see or hear the knowledge that is increased when Jesus, who as the Lion of the tribe of Judah unseals His prophetic Word.
Trong sách Ê-xê-chi-ên có năm ẩn dụ được diễn tả bằng hành động, và cũng có năm lần Ê-xê-chi-ên phán với các nhà lãnh đạo và dân sự. Hai nhân chứng ấy xác định năm trinh nữ dại là những kẻ từ chối “thấy” và từ chối “nghe.” Họ từ chối nhìn thấy hoặc lắng nghe tri thức được gia tăng khi Đức Chúa Jêsus, Đấng với tư cách là Sư tử của chi phái Giu-đa, mở các ấn của Lời tiên tri Ngài.
The World will See and Hear
Thế gian sẽ Thấy và Nghe
All ye inhabitants of the world, and dwellers on the earth, see ye, when he lifteth up an ensign on the mountains; and when he bloweth a trumpet, hear ye. Isaiah 18:3.
Hỡi mọi cư dân của thế gian, và những kẻ ở trên đất, hãy nhìn xem khi Ngài dựng cờ hiệu trên các núi; và khi Ngài thổi kèn, hãy lắng nghe. Ê-sai 18:3.
And in that day shall the deaf hear the words of the book, and the eyes of the blind shall see out of obscurity, and out of darkness. Isaiah 29:18.
Và trong ngày đó, người điếc sẽ nghe những lời của sách, và mắt người mù sẽ thấy ra khỏi sự mờ tối, và ra khỏi bóng tối. Ê-sai 29:18.
My Foolish & Sottish People have no Knowledge
Dân Ta ngu dại và mê muội, không có sự hiểu biết
How long shall I see the standard, and hear the sound of the trumpet? For my people is foolish, they have not known me; they are sottish children, and they have none understanding: they are wise to do evil, but to do good they have no knowledge. Jeremiah 4:21, 22.
Tôi sẽ còn thấy cờ hiệu cho đến bao lâu, và còn nghe tiếng kèn cho đến chừng nào? Vì dân Ta là ngu dại, họ chẳng biết Ta; họ là những con cái mê muội, không có sự thông sáng nào cả: họ khôn ngoan để làm điều ác, nhưng để làm điều lành thì chẳng có tri thức. Giê-rê-mi 4:21, 22.
Declare this in the house of Jacob, and publish it in Judah, saying, Hear now this, O foolish people, and without understanding; which have eyes, and see not; which have ears, and hear not. Jeremiah 5:20, 21.
Hãy công bố điều này trong nhà Gia-cốp, và rao truyền nó trong Giu-đa, rằng: Hãy nghe điều này, hỡi dân ngu dại và không có sự hiểu biết; là kẻ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe. Giê-rê-mi 5:20, 21.
A Rebellious House
Một Nhà Phản Nghịch
The word of the Lord also came unto me, saying, Son of man, thou dwellest in the midst of a rebellious house, which have eyes to see, and see not; they have ears to hear, and hear not: for they are a rebellious house. Ezekiel 12:1, 2.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi con người, ngươi ở giữa một nhà phản nghịch, là kẻ có mắt để thấy mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe; vì ấy là một nhà phản nghịch. Ê-xê-chi-ên 12:1, 2.
Therefore speak I to them in parables: because they seeing see not; and hearing they hear not, neither do they understand. And in them is fulfilled the prophecy of Esaias, which saith, By hearing ye shall hear, and shall not understand; and seeing ye shall see, and shall not perceive: For this people’s heart is waxed gross, and their ears are dull of hearing, and their eyes they have closed; lest at any time they should see with their eyes and hear with their ears, and should understand with their heart, and should be converted, and I should heal them.
Vì vậy, Ta phán với họ bằng ẩn dụ, bởi họ nhìn mà không thấy, nghe mà không nghe, cũng không hiểu. Và nơi họ được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai, rằng: Các ngươi có nghe thì sẽ nghe, mà chẳng hiểu; có nhìn thì sẽ nhìn, mà chẳng nhận biết. Vì lòng dân này đã trở nên chai lì, tai họ nghe nặng nề, và mắt họ đã nhắm lại; e rằng có lúc nào đó họ lấy mắt mà thấy, lấy tai mà nghe, lấy lòng mà hiểu, rồi trở lại, và Ta chữa lành cho họ.
But blessed are your eyes, for they see: and your ears, for they hear. For verily I say unto you, That many prophets and righteous men have desired to see those things which ye see, and have not seen them; and to hear those things which ye hear, and have not heard them. Matthew 13:13–17.
Phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; và tai các ngươi, vì nghe được. Vì thật, Ta phán cùng các ngươi rằng, nhiều đấng tiên tri và người công chính đã ao ước được thấy những điều các ngươi thấy mà chưa thấy; và được nghe những điều các ngươi nghe mà chưa nghe. Ma-thi-ơ 13:13–17.
The Old Paths
Các Lối Xưa
Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Jeremiah 6:16, 17.
Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng trên các nẻo đường mà xem xét, hãy hỏi về các lối xưa, đâu là đường lành, rồi hãy đi trong đó, thì các ngươi sẽ tìm được sự yên nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói rằng: Chúng tôi sẽ không đi trong đó. Ta cũng đã lập những kẻ canh giữ trên các ngươi, phán rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói rằng: Chúng tôi sẽ không lắng nghe. Giê-rê-mi 6:16, 17.
The Message of 1840–1844
Sứ Điệp 1840–1844
“All the messages given from 1840–1844 are to be made forcible now, for there are many people who have lost their bearings. The messages are to go to all the churches.
“Mọi sứ điệp đã được ban ra từ năm 1840–1844 phải được trình bày một cách đầy quyền năng trong thời điểm hiện nay, vì có nhiều người đã đánh mất phương hướng. Các sứ điệp ấy phải được truyền đạt đến mọi hội thánh.
“Christ said, ‘Blessed are your eyes, for they see; and your ears, for they hear. For verily I say unto you, That many prophets and righteous men have desired to see those things which ye see, and have not seen them; and to hear those things which ye hear, and have not heard them’ [Matthew 13:16, 17]. Blessed are the eyes which saw the things that were seen in 1843 and 1844.
“Đấng Christ phán: ‘Phước cho mắt các ngươi, vì thấy được; và tai các ngươi, vì nghe được. Vì quả thật, Ta phán cùng các ngươi, rằng nhiều đấng tiên tri và người công bình đã ao ước thấy những điều các ngươi thấy mà không được thấy; và nghe những điều các ngươi nghe mà không được nghe’ [Ma-thi-ơ 13:16, 17]. Phước cho những mắt đã thấy những điều đã được thấy trong các năm 1843 và 1844.”
“The message was given. And there should be no delay in repeating the message, for the signs of the times are fulfilling; the closing work must be done. A great work will be done in a short time. A message will soon be given by God’s appointment that will swell into a loud cry. Then Daniel will stand in his lot, to give his testimony.” Manuscript Releases, volume 21, 437.
“Sứ điệp ấy đã được ban ra. Và không được có sự chậm trễ nào trong việc lặp lại sứ điệp ấy, vì các dấu hiệu của thời đại đang được ứng nghiệm; công việc kết thúc phải được hoàn tất. Một công việc lớn lao sẽ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Chẳng bao lâu nữa, theo sự chỉ định của Đức Chúa Trời, một sứ điệp sẽ được ban ra và sẽ dâng lên thành một tiếng kêu lớn. Khi ấy Đa-ni-ên sẽ đứng trong phần mình, để làm chứng của mình.” Manuscript Releases, quyển 21, 437.
The Sign of the Siege
Dấu Hiệu của Cuộc Vây Hãm
There is five times in the book of Ezekiel where he ‘acted out’ a parable that the people refused to see, and also five times he ‘spoke’ with those people, who refused to hear. The two witnesses of the acted parable and the speaking were presented to the five foolish virgins. One of the acted parables, located in chapter four represents the “sign” of the siege, that warns of the coming destruction. The message of Ezekiel is the message to Laodicea.
Trong sách Ê-xê-chi-ên có năm lần ông “diễn hành” một ẩn dụ mà dân sự không chịu thấy, và cũng có năm lần ông “phán” với chính dân ấy, là những kẻ không chịu nghe. Hai chứng nhân của ẩn dụ được diễn hành và của lời phán đã được trình bày trước năm trinh nữ dại. Một trong các ẩn dụ được diễn hành, chép trong chương bốn, tượng trưng cho “dấu hiệu” của cuộc vây hãm, là lời cảnh cáo về sự hủy diệt sắp đến. Sứ điệp của Ê-xê-chi-ên là sứ điệp gửi cho Lao-đi-xê.
The “sign” given for Laodicea is the ‘sign of the siege’, and the siege of the latter days is represented by several witnesses. The only sign given to the Jews of Christ’s day was the sign of Jonah, who represents an acted-out parable of three days in the belly of a whale.
“Dấu hiệu” được ban cho Laodicea là ‘dấu hiệu về cuộc vây hãm’, và cuộc vây hãm của những ngày sau rốt được tiêu biểu bởi nhiều nhân chứng. Dấu hiệu duy nhất được ban cho người Do Thái trong thời của Đấng Christ là dấu hiệu của Giô-na, người tiêu biểu cho một ẩn dụ bằng hành động về ba ngày trong bụng cá lớn.
Then certain of the scribes and of the Pharisees answered, saying, Master, we would see a sign from thee. But he answered and said unto them, An evil and adulterous generation seeketh after a sign; and there shall no sign be given to it, but the sign of the prophet Jonas: For as Jonas was three days and three nights in the whale’s belly; so shall the Son of man be three days and three nights in the heart of the earth. Matthew 12:38–40.
Bấy giờ, có mấy người trong hàng kinh sư và người Pha-ri-si thưa với Ngài rằng: Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy một dấu lạ từ Thầy. Nhưng Ngài đáp rằng: Một thế hệ gian ác và ngoại tình tìm kiếm dấu lạ; song sẽ chẳng ban cho nó dấu lạ nào, ngoài dấu lạ của tiên tri Giô-na. Vì như Giô-na đã ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm. Ma-thi-ơ 12:38–40.
The Sign of Jonah
Dấu Hiệu của Giô-na
The sign of Jonah was an acted-out parable of a resurrection from death. John represents the same truth, for he was cast into a boiling pot of oil, and came out alive. Daniel in the lion’s den and the three worthies in the furnace of Nebuchadnezzar represent a resurrection from death. All represent the one hundred and forty-four thousand who are resurrected in Revelation chapter eleven.
Dấu lạ của Giô-na là một ẩn dụ được diễn ra bằng hành động về sự phục sinh từ cõi chết. Giăng tượng trưng cho cùng một lẽ thật ấy, vì ông đã bị quăng vào một vạc dầu đang sôi và bước ra vẫn sống. Đa-ni-ên trong hang sư tử và ba người trung kiên trong lò lửa của Nê-bu-cát-nết-sa tượng trưng cho sự phục sinh từ cõi chết. Tất cả đều tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn ngàn người được phục sinh trong Khải-huyền chương mười một.
“The thoughts of the Saviour now returned from contemplating the past and future. While the people were endeavoring to explain what they had seen and heard according to the impressions made upon their minds, and according to the light they possessed, ‘Jesus answered and said, This voice came not because of me, but for your sakes.’ It was the crowning evidence of his Messiahship, the signal of the Father that Jesus had uttered the truth, and was the Son of God. Would the Jews turn from this testimony of high Heaven? They had once asked the Saviour, What sign showest thou that we may see and believe? Innumerable signs had been given all through the ministry of Christ; yet they had closed their eyes and hardened their hearts lest they should be convinced. The crowning miracle of the resurrection of Lazarus did not remove their unbelief, but filled them with increased malice; and now that the Father had spoken, and they could ask for no further sign, their hearts were not softened and they still refused to believe.” Spirit of Prophecy, volume 3, 79.
“Những tư tưởng của Đấng Cứu Thế giờ đây quay trở lại sau khi chiêm ngắm quá khứ và tương lai. Trong khi dân chúng đang cố giải thích những điều họ đã thấy và nghe theo những ấn tượng đã in vào tâm trí họ, và theo ánh sáng họ đang có, thì ‘Đức Chúa Jêsus phán rằng: Tiếng ấy chẳng vì ta mà đến, nhưng vì các ngươi vậy.’ Đây là bằng chứng tối hậu về chức vị Mê-si của Ngài, là dấu hiệu từ Đức Cha rằng Đức Chúa Jêsus đã phán lẽ thật và là Con Đức Chúa Trời. Phải chăng người Do Thái sẽ quay lưng khỏi lời chứng này từ trời cao? Có lần họ đã hỏi Đấng Cứu Thế: Ngài lấy dấu lạ gì mà tỏ cho chúng tôi thấy để chúng tôi thấy và tin? Vô số dấu lạ đã được ban cho trong suốt chức vụ của Đấng Christ; thế nhưng họ đã nhắm mắt và làm lòng mình chai cứng, kẻo họ bị thuyết phục. Phép lạ tối hậu là sự sống lại của La-xa-rơ cũng không cất bỏ sự vô tín của họ, nhưng còn làm cho lòng ác ý của họ gia tăng; và giờ đây, khi Đức Cha đã phán, và họ không thể đòi hỏi thêm một dấu lạ nào nữa, lòng họ vẫn không mềm lại và họ vẫn từ chối tin.” Spirit of Prophecy, quyển 3, 79.
Lazarus was the sign of the resurrection as acted out by Jonah in the belly of the whale. The voice of the Father in connection with the resurrected Lazarus represents the combination of Divinity and humanity, which is of course the nature of Christ, who took human flesh upon Himself. The combination of Divinity with humanity is the ensign of the one hundred and forty-four thousand, and Lazarus is the sign of resurrection power which accomplishes the joining of Creator with creature.
La-xa-rơ là dấu hiệu của sự phục sinh, như đã được Giô-na thể hiện qua hành động khi ở trong bụng cá lớn. Tiếng phán của Đức Chúa Cha liên hệ với La-xa-rơ đã sống lại tiêu biểu cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, vốn dĩ chính là bản tính của Đấng Christ, Đấng đã mặc lấy xác thịt loài người. Sự kết hợp giữa thần tính với nhân tính là cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn ngàn người, và La-xa-rơ là dấu hiệu của quyền năng phục sinh, là quyền năng hoàn tất sự hiệp nhất giữa Đấng Tạo Hóa với thọ tạo.
“By the raising of Lazarus, many were led to believe in Jesus. It was God’s plan that Lazarus should die and be laid in the tomb before the Saviour should arrive. The raising of Lazarus was Christ’s crowning miracle, and because of it many glorified God.” Manuscript Releases, volume 21, 111.
“Qua việc khiến La-xa-rơ sống lại, nhiều người đã được dẫn dắt đến chỗ tin nơi Đức Chúa Jêsus. Ấy là theo chương trình của Đức Chúa Trời rằng La-xa-rơ phải chết và được đặt trong mồ trước khi Đấng Cứu Thế đến nơi. Việc khiến La-xa-rơ sống lại là phép lạ cao cả nhất của Đấng Christ, và bởi đó nhiều người đã tôn vinh Đức Chúa Trời.” Manuscript Releases, volume 21, 111.
Lazarus led the triumphal entry into Jerusalem, and he was the living “sign” of the resurrection that is illustrated by Jonah.
La-xa-rơ dẫn đầu cuộc khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem, và ông là “dấu hiệu” sống động của sự phục sinh được minh họa qua Giô-na.
“Lazarus, whose body had seen corruption in the grave, but who now rejoiced in the strength of glorious manhood, led the beast on which the Saviour rode.” The Desire of Ages, 572.
“Lazarus, người mà thân thể đã thấy sự hư nát trong mồ mả, nhưng nay vui mừng trong sức lực của thời trai tráng vinh hiển, đã dắt con vật mà Đấng Cứu Thế cưỡi.” The Desire of Ages, 572.
The triumphal entry aligns with the Exeter camp meeting, which was the alpha fulfillment of the parable of the ten virgins, and thus aligns the “sign” of Jonah and Lazarus with the omega and perfect fulfillment of the proclamation of the message, “Behold the Bridegroom cometh!”
Sự vào thành khải hoàn tương ứng với kỳ nhóm trại tại Exeter, vốn là sự ứng nghiệm alpha của dụ ngôn mười người nữ đồng trinh, và vì thế gắn kết “dấu lạ” của Giô-na và La-xa-rơ với sự ứng nghiệm omega và trọn vẹn của việc công bố sứ điệp: “Kìa, Chàng Rể đến!”
“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.
“Tôi thường được dẫn đến dụ ngôn về mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan và năm người dại dột. Dụ ngôn này đã được ứng nghiệm và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chi tiết, vì nó có sự ứng dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, nó đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc cuối cùng của thời gian.” Review and Herald, August 19, 1890.
Jonah, Lazarus and Samuel Snow arriving late to the Exeter camp meeting align with Ezekiel’s “sign of the siege.” Lazarus led Christ into Jerusalem on an ass.
Giô-na, La-xa-rơ và Samuel Snow đến trễ tại buổi nhóm trại ở Exeter phù hợp với “dấu chỉ về cuộc vây hãm” của Ê-xê-chi-ên. La-xa-rơ đã dẫn Đấng Christ vào Giê-ru-sa-lem trên một con lừa.
“Bates was one of the important leaders in the Exeter (New Hampshire) camp meeting in August, 1844, when the ‘true midnight cry’ was first presented. Bates, it happened, was the preacher chosen for that morning’s service at the camp. He was exhorting his hearers to be faithful and calmly assuring them that God was simply testing them, that they were in the tarrying time, and similar sentiments, when Samuel S. Snow rode into the camp on horseback. Taking a seat beside his sister, Mrs. John Couch, Snow reiterated his conviction that Christ would appear at the time appointed. Greatly stirred, Mrs. Couch startled the audience by rising and declaring, ‘Here is a man with a message from God!’” Leroy Froom, The Prophetic Faith of our Fathers, volume 4, 549.
“Bates là một trong những nhà lãnh đạo quan trọng tại hội trại nhóm họp ở Exeter (New Hampshire) vào tháng Tám năm 1844, khi ‘tiếng kêu nửa đêm chân thật’ lần đầu tiên được trình bày. Tình cờ thay, Bates là người được chọn làm diễn giả cho buổi nhóm sáng hôm ấy tại hội trại. Ông đang khuyên giục những người nghe mình phải trung tín và bình tĩnh trấn an họ rằng Đức Chúa Trời chỉ đang thử nghiệm họ, rằng họ đang ở trong thời kỳ chần chờ, cùng những ý tương tự như vậy, thì Samuel S. Snow cưỡi ngựa tiến vào hội trại. Ngồi xuống bên cạnh chị mình là bà John Couch, Snow nhắc lại niềm xác tín của ông rằng Đấng Christ sẽ xuất hiện vào thời điểm đã được chỉ định. Hết sức xúc động, bà Couch làm cả cử tọa sửng sốt khi đứng dậy và tuyên bố: ‘Đây là một người mang sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời!’” Leroy Froom, The Prophetic Faith of our Fathers, quyển 4, 549.
In April, 1521 Martin Luther travelled in a horse drawn wagon to the Diet of Worms, where he rejected papal traditions and customs and stated, “Unless I am convinced by the testimony of the Scriptures or by clear reason… I cannot and will not recant anything, since it is neither safe nor right to go against conscience. Here I stand. I can do no other. God help me. Amen.”
Vào tháng Tư năm 1521, Martin Luther đã đi bằng một cỗ xe ngựa đến Nghị hội Worms, tại đó ông bác bỏ các truyền thống và tập tục của giáo hoàng và tuyên bố: “Trừ phi tôi được thuyết phục bởi chứng cớ của Kinh Thánh hoặc bởi lý lẽ minh nhiên… tôi không thể và sẽ không rút lại bất cứ điều gì, vì đi ngược lại lương tâm thì chẳng những không an toàn mà cũng không đúng. Đây là lập trường của tôi. Tôi không thể làm khác được. Xin Đức Chúa Trời giúp tôi. A-men.”
As the Pharisees opposed Christ’s triumphal entry, the papal authorities opposed Luther’s entry. Luther then changed his name (a symbol of the sealing) and was hidden away while he translated the New Testament into the German language. His presentation at the Diet of Worms typified the Midnight Cry which led to the death decree from the church state authorities of the time, thus typifying the Sunday law. After ten months in hiding under the name of ‘Junker Jörg’ the threat from authorities had changed, largely to two military problems faced by the corrupt Charles V. Those two military threats were France and Islam, representing the same unholy alliance of socialism and Islam that today is confronting mankind.
Cũng như người Pha-ri-si chống đối cuộc khải hoàn nhập thành của Đấng Christ, các giới chức giáo hoàng đã chống đối việc Luther tiến vào. Sau đó Luther đổi tên mình (một biểu tượng của sự đóng ấn) và được cất giấu trong khi ông dịch Tân Ước sang tiếng Đức. Sự trình diện của ông tại Hội nghị Worms tiêu biểu cho Tiếng Kêu Nửa Đêm, là điều dẫn đến sắc lệnh tử hình từ các nhà cầm quyền liên minh giáo hội—nhà nước đương thời, bởi đó làm hình bóng cho luật ngày Chủ nhật. Sau mười tháng ẩn náu dưới tên “Junker Jörg”, mối đe dọa từ các giới chức đã thay đổi, phần lớn là sang hai vấn đề quân sự mà Charles V bại hoại phải đối diện. Hai mối đe dọa quân sự ấy là Pháp và Hồi giáo, tượng trưng cho cùng một liên minh ô uế giữa chủ nghĩa xã hội và Hồi giáo, là thế lực ngày nay đang đối đầu với nhân loại.
“The work of God in the earth presents, from age to age, a striking similarity in every great reformation or religious movement. The principles of God’s dealing with men are ever the same. The important movements of the present have their parallel in those of the past, and the experience of the church in former ages has lessons of great value for our own time.” The Great Controversy, 343.
“Công việc của Đức Chúa Trời trên đất, từ thời đại này sang thời đại khác, biểu hiện một sự tương đồng nổi bật trong mọi cuộc cải chánh lớn hay phong trào tôn giáo. Các nguyên tắc trong sự Đức Chúa Trời đối xử với loài người luôn luôn như nhau. Những phong trào quan trọng của hiện tại có những đối ứng song song với các phong trào trong quá khứ, và kinh nghiệm của hội thánh trong các thời đại trước có những bài học hết sức quý giá cho thời đại của chính chúng ta.” The Great Controversy, 343.
An ass led by Lazarus brought Christ into Jerusalem, a horse drawn carriage brought Luther to the Diet of Worms, and a horse brought Snow to the Exeter camp meeting, thus identifying the ass, and horse, both members of the “Equidae” family in the genus “Equus,” as the sign of the message of the Midnight Cry.
Một con lừa do La-xa-rơ dắt đã đưa Đấng Christ vào Giê-ru-sa-lem; một cỗ xe ngựa đã đưa Luther đến Quốc hội Worms; và một con ngựa đã đưa Snow đến buổi nhóm trại tại Exeter; như vậy, con lừa và con ngựa, đều là những thành viên của họ “Equidae” thuộc chi “Equus”, được xác định là dấu hiệu của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm.
Rejoice greatly, O daughter of Zion; shout, O daughter of Jerusalem: behold, thy King cometh unto thee: he is just, and having salvation; lowly, and riding upon an ass, and upon a colt the foal of an ass. Zechariah 9:9.
Hỡi con gái Si-ôn, hãy hết sức vui mừng; hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy cất tiếng reo hò: kìa, Vua ngươi đến cùng ngươi: Ngài là công chính, và đem theo sự cứu rỗi; khiêm nhu, và cưỡi trên lừa, tức trên lừa con, là con của lừa cái. Xa-cha-ri 9:9.
The sign of the Midnight Cry message is the arrival of the ass or horse, both symbols of Islam. The chosen messenger of the true message of the midnight cry arrived upon a horse in alignment with Christ arriving on an ass. The “siege” in the latter days is marked by the fulfillment of Ellen White’s identification that the city of Nashville is to be struck by “fireballs.”
Dấu hiệu của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm là sự đến của con lừa hoặc con ngựa, cả hai đều là những biểu tượng của Hồi giáo. Sứ giả được chọn của sứ điệp chân thật về tiếng kêu nửa đêm đã đến trên lưng ngựa, phù hợp với việc Đấng Christ đến trên lưng lừa. “Cuộc vây hãm” trong những ngày sau rốt được đánh dấu bởi sự ứng nghiệm lời xác định của Ellen White rằng thành phố Nashville sẽ bị đánh bởi “những quả cầu lửa.”
Why does the siege begin at the fireballs of Nashville? Is it because Islam is represented by the ass and the horse in God’s prophetic Word?
Tại sao cuộc vây hãm lại bắt đầu từ những quả cầu lửa của Nashville? Có phải vì Hồi giáo được tượng trưng bởi con lừa và con ngựa trong Lời tiên tri của Đức Chúa Trời không?
Smyrna
Smyrna
The Emperor Nero marks the beginning of the church of Smyrna when the city of Rome was burned in the year 64. The date marks the beginning of the persecution of the Christian church accomplished over a two hundred and fifty year period that concluded at the Edict of Milan in the year 313. The formation of the image of the beast represents the alpha waymark that introduces a period that ends with an omega waymark represented by the mark of the beast at the soon-coming Sunday law. The period is identified as beginning with “edicts.”
Hoàng đế Nero đánh dấu sự khởi đầu của hội thánh Smyrna khi thành Rô-ma bị thiêu hủy vào năm 64. Mốc thời gian ấy đánh dấu sự khởi đầu của cuộc bách hại hội thánh Cơ Đốc, được thực hiện trong suốt một giai đoạn hai trăm năm mươi năm, kết thúc tại Sắc lệnh Milan vào năm 313. Sự hình thành của hình tượng con thú tiêu biểu cho waymark alpha, là dấu mốc mở đầu cho một thời kỳ kết thúc với waymark omega, được tượng trưng bởi dấu của con thú tại luật Chủ nhật sắp đến. Thời kỳ ấy được xác định là bắt đầu bằng những “sắc lệnh”.
“If the reader would understand the agencies to be employed in the soon-coming contest, he has but to trace the record of the means which Rome employed for the same object in ages past. If he would know how papists and Protestants united will deal with those who reject their dogmas, let him see the spirit which Rome manifested toward the Sabbath and its defenders.
“Nếu độc giả muốn hiểu những thế lực sẽ được sử dụng trong cuộc tranh đấu sắp xảy đến, thì người ấy chỉ cần lần theo ký thuật về những phương tiện mà La Mã đã dùng cho cùng một mục đích trong các thời đại đã qua. Nếu muốn biết những người Công giáo và Tin Lành khi hiệp nhất với nhau sẽ đối xử thế nào với những ai khước từ các giáo điều của họ, thì hãy xem tinh thần mà La Mã đã biểu lộ đối với ngày Sa-bát và những người bảo vệ ngày ấy.
“Royal edicts, general councils, and church ordinances sustained by secular power were the steps by which the pagan festival attained its position of honor in the Christian world. The first public measure enforcing Sunday observance was the law enacted by Constantine. (A.D. 321; see Appendix note for page 53.) This edict required townspeople to rest on ‘the venerable day of the sun,’ but permitted countrymen to continue their agricultural pursuits. Though virtually a heathen statute, it was enforced by the emperor after his nominal acceptance of Christianity.” The Great Controversy, 574.
“Các sắc lệnh hoàng gia, các công đồng phổ quát, và những quy định của hội thánh được quyền lực thế tục hậu thuẫn, chính là những bước mà nhờ đó lễ hội ngoại giáo đã đạt đến địa vị tôn vinh trong thế giới Cơ Đốc giáo. Biện pháp công khai đầu tiên cưỡng bách việc tuân giữ ngày Chủ nhật là đạo luật do Constantine ban hành. (A.D. 321; xem ghi chú Phụ lục cho trang 53.) Sắc lệnh này buộc dân cư thành thị phải nghỉ ngơi vào ‘ngày đáng tôn kính của mặt trời,’ nhưng cho phép dân cư thôn quê tiếp tục các công việc nông nghiệp của mình. Mặc dù thực chất là một đạo luật ngoại giáo, nó đã được hoàng đế thi hành sau khi ông trên danh nghĩa chấp nhận Cơ Đốc giáo.” Thiện Ác Đấu Tranh, 574.
The first royal edict that marked a transition from the church of Smyrna to the church of Pergamos was the Edict of Milan in 313. It represented the first step which led to the first Sunday law of 321. The destruction of Jerusalem typifies the Sunday law, and two prophetic witnesses identify a siege that preceded the destruction. Those two sieges represented by Babylon’s third siege in 587 BC and Rome’s second siege in the year 70 identify that the waymark that precedes the waymark of the Sunday law—is a prophetic siege.
Sắc lệnh hoàng gia đầu tiên đánh dấu sự chuyển tiếp từ hội thánh Smyrna sang hội thánh Pergamos là Sắc lệnh Milan năm 313. Nó tượng trưng cho bước đầu tiên dẫn đến luật ngày Chúa nhật đầu tiên vào năm 321. Sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem là hình bóng của luật ngày Chúa nhật, và hai nhân chứng tiên tri xác định một cuộc vây hãm đã diễn ra trước sự hủy diệt ấy. Hai cuộc vây hãm đó, được tiêu biểu bởi cuộc vây hãm thứ ba của Ba-by-lôn vào năm 587 TCN và cuộc vây hãm thứ hai của La Mã vào năm 70, cho thấy rằng mốc chỉ đường đi trước mốc chỉ đường của luật ngày Chúa nhật chính là một cuộc vây hãm có tính chất tiên tri.
Nebuchadnezzar laid siege against Jehoiakim, then Jehoiachin and finally Zedekiah. Cestius laid siege in the year 66, and fulfilled the sign Jesus had given the church, just as the third siege of 587 BC possessed the sign of Ezekiel’s wife’s death. The waymark that precedes the destruction of Jerusalem is a siege, and it is also a “sign.” The waymark that preceded the Sunday law of 321 was the Edict of Milan, where the transition from a church (Smyrna) that has no condemnation into Pergamos, the symbol of a compromised church.
Nê-bu-cát-nết-sa đã vây hãm Giê-hô-gia-kim, rồi đến Giê-hô-gia-chin, và sau cùng là Xê-đê-kia. Cestius đã vây hãm vào năm 66, và làm trọn dấu hiệu mà Đức Chúa Jêsus đã ban cho hội thánh, cũng như cuộc vây hãm thứ ba vào năm 587 TCN đã mang dấu hiệu về cái chết của vợ Ê-xê-chi-ên. Dấu mốc đi trước sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem là một cuộc vây hãm, và đó cũng là một “dấu hiệu.” Dấu mốc đi trước luật ngày Chủ nhật năm 321 là Chiếu chỉ Milan, nơi diễn ra sự chuyển tiếp từ một hội thánh (Smyrna) không có sự quở trách sang Pergamos, biểu tượng của một hội thánh đã thỏa hiệp.
The Edict of Milan is therefore the beginning of a prophetic siege, and it is also a sign. It also marks where the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand transitions unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand.
Vì vậy, Sắc lệnh Milan là khởi điểm của một cuộc vây hãm mang tính tiên tri, đồng thời cũng là một dấu hiệu. Nó cũng đánh dấu điểm mà phong trào Lao-đi-xê của một trăm bốn mươi bốn nghìn chuyển sang phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn nghìn.
Philadelphia and Smyrna, represent the only two churches in Revelation’s seven churches which have no condemnation. This fact in turn identifies that transition, as the transition of the church militant unto the church triumphant. That transition aligns with the Edict of Milan, where the latter-day movement of the one hundred and forty-four thousand becomes that eighth church, that is of the seven. Philadelphia and Smyrna are also the only two churches that struggle with those who claim they are Jews, but are actually of the synagogue of Satan.
Phi-la-đen-phi và Smirna tượng trưng cho hai Hội Thánh duy nhất trong bảy Hội Thánh của sách Khải Huyền không bị quở trách. Sự kiện này, đến lượt nó, xác định sự chuyển tiếp ấy là sự chuyển tiếp từ Hội Thánh chiến đấu sang Hội Thánh đắc thắng. Sự chuyển tiếp ấy phù hợp với Chiếu chỉ Milan, nơi phong trào cuối cùng của một trăm bốn mươi bốn ngàn trở thành Hội Thánh thứ tám ấy, tức là Hội Thánh thuộc về bảy Hội Thánh. Phi-la-đen-phi và Smirna cũng là hai Hội Thánh duy nhất phải tranh chiến với những kẻ tự xưng là người Do Thái, nhưng thực ra thuộc về hội đường của Sa-tan.
That waymark of 313 also aligns with the Exeter camp meeting from August 12 to 17 in 1844. When the camp meeting ended, the message swept across the eastern seaboard of the United States like a tidal wave until the door closed on October 22, 1844.
Cột mốc ấy của năm 313 cũng tương ứng với buổi nhóm trại tại Exeter từ ngày 12 đến 17 tháng Tám năm 1844. Khi buổi nhóm trại kết thúc, sứ điệp ấy lan khắp dọc duyên hải phía đông của Hoa Kỳ như một làn sóng triều cho đến khi cánh cửa đóng lại vào ngày 22 tháng Mười năm 1844.
“Like a tidal wave the movement swept over the land. From city to city, from village to village, and into remote country places it went, until the waiting people of God were fully aroused. Fanaticism disappeared before this proclamation like early frost before the rising sun. Believers saw their doubt and perplexity removed, and hope and courage animated their hearts. The work was free from those extremes which are ever manifested when there is human excitement without the controlling influence of the word and Spirit of God. It was similar in character to those seasons of humiliation and returning unto the Lord which among ancient Israel followed messages of reproof from His servants. It bore the characteristics that mark the work of God in every age. There was little ecstatic joy, but rather deep searching of heart, confession of sin, and forsaking of the world. A preparation to meet the Lord was the burden of agonizing spirits. There was persevering prayer and unreserved consecration to God.” The Great Controversy, 400, 401.
“Như một cơn sóng triều, phong trào ấy quét khắp đất nước. Từ thành thị đến thành thị, từ làng mạc đến làng mạc, và đến cả những nơi thôn dã xa xôi, phong trào ấy lan đến, cho đến khi dân sự Đức Chúa Trời đang chờ đợi được đánh thức trọn vẹn. Chủ nghĩa cuồng tín tan biến trước lời rao truyền này như sương giá ban mai trước mặt trời đang lên. Các tín hữu thấy sự nghi ngờ và bối rối của mình được cất bỏ, còn niềm hy vọng và lòng can đảm thì làm sinh động lòng họ. Công việc ấy không có những thái cực thường bộc lộ khi có sự kích động của con người mà không có ảnh hưởng kiểm soát của lời và Thánh Linh Đức Chúa Trời. Về tính chất, nó tương tự như những thời kỳ hạ mình và trở lại cùng Chúa, là điều đã theo sau những sứ điệp quở trách của các tôi tớ Ngài giữa Y-sơ-ra-ên thời xưa. Nó mang những đặc điểm đánh dấu công việc của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại. Có rất ít niềm vui xuất thần, nhưng thay vào đó là sự tra xét lòng sâu xa, sự xưng tội, và sự từ bỏ thế gian. Sự chuẩn bị để gặp Chúa là gánh nặng của những tâm linh quặn thắt. Có sự cầu nguyện bền đỗ và sự dâng mình cho Đức Chúa Trời cách trọn vẹn, không dè giữ.” The Great Controversy, 400, 401.
The door closing on October 22, 1844 typifies the soon-coming Sunday law, and the waymark that preceded the closed door of October 22, was the Exeter camp meeting. The Exeter camp meeting therefore aligns with the Edict of Milan. It also aligns with Christ’s triumphal entry.
Cánh cửa đóng lại vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 là hình bóng tiêu biểu cho luật ngày Chủ nhật sắp đến, và cột mốc báo trước cánh cửa đóng lại của ngày 22 tháng 10 chính là buổi nhóm trại tại Exeter. Vì vậy, buổi nhóm trại tại Exeter tương ứng với Sắc lệnh Milan. Nó cũng tương ứng với việc Đấng Christ khải hoàn tiến vào.
“The midnight cry was not so much carried by argument, though the Scripture proof was clear and conclusive. There went with it an impelling power that moved the soul. There was no doubt, no questioning. Upon the occasion of Christ’s triumphal entry into Jerusalem, the people who were assembled from all parts of the land to keep the feast, flocked to the Mount of Olives, and as they joined the throng that were escorting Jesus, they caught the inspiration of the hour, and helped to swell the shout, ‘Blessed is he that cometh in the name of the Lord!’ [Matthew 21:9.] In like manner did unbelievers who flocked to the Adventist meetings—some from curiosity, some merely to ridicule—feel the convincing power attending the message, ‘Behold, the Bridegroom cometh!’” Spirit of Prophecy, volume 4, 250.
“Tiếng kêu lúc nửa đêm không chủ yếu được truyền đi bằng luận chứng, mặc dù bằng chứng Kinh Thánh thì rõ ràng và dứt khoát. Đi kèm với nó là một quyền năng thúc giục làm chuyển động linh hồn. Không có sự nghi ngờ, không có sự chất vấn. Nhân dịp Đấng Christ khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem, dân chúng từ khắp mọi miền trong xứ nhóm lại để giữ kỳ lễ, đã đổ về Núi Ô-li-ve; và khi họ nhập vào đoàn người đang hộ tống Đức Chúa Jêsus, họ tiếp nhận cảm hứng của giờ phút ấy và góp phần làm vang dội tiếng tung hô: ‘Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!’ [Ma-thi-ơ 21:9.] Cũng theo cách đó, những kẻ vô tín kéo đến các buổi nhóm của những người Cơ Đốc Phục Lâm—một số vì tò mò, một số chỉ để chế nhạo—đã cảm nhận quyền năng thuyết phục đi kèm theo sứ điệp: ‘Kìa, Chàng Rể đến!’” Spirit of Prophecy, volume 4, 250.
The Edict of Milan marks the prophetic siege that was typified by Nebuchadnezzar in 587 BC and Cestius in the year 66. Those two sieges led to the destruction of Jerusalem in 586 BC and 70, respectively. The siege of Cestius ended and three and a half years later, the siege resumed under Titus, thus providing a prophetic period that begins with an alpha Roman ruler and ends with an omega ruler. Those three and a half years represent the trampling down of Jerusalem by the papacy, and the soon-coming Sunday law when the papacy’s deadly wound is healed and she reigns again for three and a half symbolic years.
Sắc lệnh Milan đánh dấu cuộc vây hãm mang tính tiên tri, được tiêu biểu bởi Nebuchadnezzar vào năm 587 TCN và Cestius vào năm 66. Hai cuộc vây hãm ấy đã dẫn đến sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem lần lượt vào năm 586 TCN và năm 70. Cuộc vây hãm của Cestius chấm dứt, và ba năm rưỡi sau, cuộc vây hãm được tiếp tục dưới quyền Titus, nhờ đó cung cấp một giai đoạn tiên tri bắt đầu với một nhà cai trị La Mã alpha và kết thúc với một nhà cai trị omega. Ba năm rưỡi ấy tượng trưng cho sự giày đạp Giê-ru-sa-lem bởi giáo hoàng quyền, và luật ngày Chúa nhật sắp đến, khi vết thương chí tử của giáo hoàng quyền được chữa lành và nó lại cai trị trong ba năm rưỡi tượng trưng.
But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. Revelation 11:2.
Nhưng sân ở ngoài đền thờ thì hãy để ra ngoài, đừng đo nó; vì sân ấy đã được giao cho dân Ngoại; và họ sẽ giày đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 11:2.
In 538, and then again at the coming Sunday law the trampling down of Jerusalem begins. Those two Sunday laws were represented by the year 321 when Constantine the Great passed the first Sunday law. In 538, the papacy was empowered to persecute (trample down) God’s church for three and a half years, as represented by the history from Cestius to Titus. In 538, the papacy passed a Sunday law at the third Counsel of Orleans. The soon-coming Sunday law identifies when the papacy is again empowered to trample down the temple (persecute).
Vào năm 538, rồi một lần nữa vào lúc luật ngày Chủ nhật được ban hành, sự giày đạp Giê-ru-sa-lem bắt đầu. Hai luật ngày Chủ nhật ấy đã được tiêu biểu bởi năm 321, khi Constantine Đại đế ban hành luật ngày Chủ nhật đầu tiên. Vào năm 538, giáo hoàng quyền đã được trao quyền để bức hại (giày đạp) hội thánh của Đức Chúa Trời trong ba năm rưỡi, như được tiêu biểu bởi lịch sử từ Cestius đến Titus. Vào năm 538, giáo hoàng quyền đã ban hành một luật ngày Chủ nhật tại Công đồng Orléans thứ ba. Luật ngày Chủ nhật sắp đến xác định thời điểm giáo hoàng quyền một lần nữa được trao quyền để giày đạp đền thờ (bức hại).
313 identifies the first edict that led to the first Sunday law in 321. Then in 330, the empire was prophetically divided into east and west, thus marking the omega conclusion of the second period of papal persecution of “forty-two” symbolic months—a period of persecution and trampling down that began at the alpha Sunday law in the United States.
Năm 313 xác định sắc lệnh đầu tiên đã dẫn đến luật Chủ nhật đầu tiên vào năm 321. Rồi đến năm 330, đế quốc được phân chia theo lời tiên tri thành phương Đông và phương Tây, nhờ đó đánh dấu sự kết thúc omega của thời kỳ thứ hai trong cuộc bách hại của giáo hoàng kéo dài “bốn mươi hai” tháng biểu tượng—một thời kỳ bách hại và chà đạp đã bắt đầu tại luật Chủ nhật alpha ở Hoa Kỳ.
And the third angel followed them, saying with a loud voice, If any man worship the beast and his image, and receive his mark in his forehead, or in his hand, The same shall drink of the wine of the wrath of God, which is poured out without mixture into the cup of his indignation; and he shall be tormented with fire and brimstone in the presence of the holy angels, and in the presence of the Lamb: And the smoke of their torment ascendeth up for ever and ever: and they have no rest day nor night, who worship the beast and his image, and whosoever receiveth the mark of his name. Here is the patience of the saints: here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus. Revelation 14:9–12.
Và vị thiên sứ thứ ba theo sau họ, cất tiếng lớn mà rằng: Nếu ai thờ lạy con thú và hình tượng nó, và nhận dấu của nó trên trán mình hoặc trên tay mình, thì chính kẻ ấy sẽ uống rượu thịnh nộ của Đức Chúa Trời, thứ đã được rót nguyên chất vào chén phẫn nộ của Ngài; và kẻ ấy sẽ bị hành hạ bằng lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Và khói của sự đau đớn họ cứ bốc lên đời đời vô cùng; những kẻ thờ lạy con thú và hình tượng nó, cùng bất cứ ai nhận dấu của tên nó, thì không có sự yên nghỉ ngày hay đêm. Đây là sự nhịn nhục của các thánh đồ: ấy là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus. Khải Huyền 14:9–12.
The Plain
Đồng Bằng
The Latin meaning of ‘Milan’ means the middle of the plain. In the middle of east and west, in the year 313 Constantine of the west sought an alliance with Licinius of the east. The edict represented the attempt to bring east and west together, and the edict was ratified, by a treaty marriage, when Constantine’s half-sister Constantia married Licinius. Yet just as the first treaty marriage of Daniel eleven between the Seleucids of the north and Ptolemy of the south, the marriage was destined to fail as the old adage was fulfilled that says ‘east is east, and west is west, and never the twain shall meet.’
Ý nghĩa theo tiếng Latinh của “Milan” là ở giữa đồng bằng. Ở giữa đông và tây, vào năm 313, Constantinus của phương tây đã tìm kiếm một liên minh với Licinius của phương đông. Sắc lệnh ấy tiêu biểu cho nỗ lực đem phương đông và phương tây lại với nhau, và sắc lệnh ấy đã được chuẩn nhận bằng một cuộc hôn nhân hiệp ước, khi Constantia, em gái cùng cha khác mẹ của Constantinus, kết hôn với Licinius. Tuy nhiên, cũng như cuộc hôn nhân hiệp ước đầu tiên trong Đa-ni-ên chương mười một giữa nhà Seleucid ở phương bắc và Ptolemy ở phương nam, cuộc hôn nhân ấy đã được định sẵn là sẽ thất bại, khi châm ngôn xưa được ứng nghiệm rằng: “đông là đông, và tây là tây, và hai bên ấy sẽ chẳng bao giờ gặp nhau.”
The year ‘330’ is directly presented in Daniel eleven verses twenty-four, twenty-seven and twenty-nine. This brings the seventeen years of 313 unto 330 into the prophetic line of Daniel eleven, and of prophetic necessity it identifies that treaty marriage of east and west in 313 as a parallel to the first treaty marriage in the same chapter.
Năm “330” được nêu ra trực tiếp trong Đa-ni-ên chương mười một các câu hai mươi bốn, hai mươi bảy, và hai mươi chín. Điều này đưa mười bảy năm từ 313 đến 330 vào trong dòng tiên tri của Đa-ni-ên chương mười một, và theo sự tất yếu của lời tiên tri, nó xác định cuộc hôn nhân hiệp ước giữa Đông và Tây vào năm 313 ấy là một sự song hành với cuộc hôn nhân hiệp ước thứ nhất trong chính chương đó.
“The prophecy in the eleventh of Daniel has nearly reached its complete fulfillment. Much of the history that has taken place in fulfillment of this prophecy will be repeated.” Manuscript Releases, number 13, 394.
“Lời tiên tri trong Đa-ni-ên đoạn mười một hầu như đã đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó. Phần lớn lịch sử đã diễn ra trong sự ứng nghiệm lời tiên tri này sẽ được lặp lại.” Manuscript Releases, số 13, tr. 394.
Antiochus II Theos who reigned from 261–246 BC, set aside his first wife Laodice I for Berenice, daughter of Ptolemy II Philadelphus of Egypt. The marriage was part of the peace settlement that ended the Second Syrian War in 252 BC. When Constantine thereafter defeated Licinius in 324 the marriage ended, as did the marriage of Antiochus and Bernice, when Laodice, the first wife poisoned Antiochus in 246 BC. The marriage which had marked the end of the second Syrian war, and the murder of Antiochus, and thereafter Bernice, her child and Egyptian entourage marked the beginning of the third Syrian war. The treaty marriage of 313 ended the period of persecution represented by the church of Smyrna and began the period of compromise represented by the church of Pergamos.
Antiochus II Theos, người trị vì từ năm 261–246 TCN, đã gạt bỏ người vợ đầu là Laodice I để cưới Berenice, con gái của Ptolemy II Philadelphus xứ Ai Cập. Cuộc hôn nhân ấy là một phần của thỏa ước hòa bình chấm dứt Chiến tranh Syria lần thứ hai vào năm 252 TCN. Khi về sau Constantine đánh bại Licinius vào năm 324, cuộc hôn nhân ấy chấm dứt, cũng như cuộc hôn nhân của Antiochus và Bernice đã chấm dứt khi Laodice, người vợ thứ nhất, đầu độc Antiochus vào năm 246 TCN. Cuộc hôn nhân đã đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Syria lần thứ hai, và việc sát hại Antiochus, rồi sau đó là Bernice, con của bà, cùng đoàn tùy tùng Ai Cập của bà, đã đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh Syria lần thứ ba. Cuộc hôn nhân theo hiệp ước năm 313 đã chấm dứt thời kỳ bắt bớ được tiêu biểu bởi hội thánh Smyrna và mở đầu thời kỳ thỏa hiệp được tiêu biểu bởi hội thánh Pergamos.
The marriage at the beginning of the Seleucid history typified the treaty marriage at the end of the Seleucid empire when Antiochus the Great gave his daughter Cleopatra I to Ptolemy V Epiphanes. The marriage took place at Raphia in 193 BC, but the alliance was soon finished, as had been the first treaty marriage between the king of the north and king of the south. The alpha and omega treaty marriages of the Seleucid empire, typify the treaty marriage noted later in the prophetic history of Daniel eleven when Octavian gave his sister Octavia Minor to Mark Antony in 40 BC. Mark Antony and Octavian were in a power struggle over the eastern and western areas of Rome that had broken out in 44 BC with the assassination of Julius Caesar. The treaty of Brundisium was put in place at the marriage in 40 BC, and eight years later in 32 BC Mark Antony formerly divorced Octavia and precipitated the battle of Actium in 31 BC where both Mark Antony and Cleopatra, (the very last Cleopatra) came to the end.
Cuộc hôn nhân vào lúc khởi đầu lịch sử Seleucid là hình bóng của cuộc hôn nhân liên minh vào cuối đế quốc Seleucid, khi Antiochus Đại Đế gả con gái mình là Cleopatra I cho Ptolemy V Epiphanes. Cuộc hôn nhân ấy diễn ra tại Raphia vào năm 193 TCN, nhưng liên minh chẳng bao lâu đã chấm dứt, cũng như cuộc hôn nhân liên minh đầu tiên giữa vua phương bắc và vua phương nam. Các cuộc hôn nhân liên minh alpha và omega của đế quốc Seleucid là hình bóng của cuộc hôn nhân liên minh được ghi nhận về sau trong lịch sử tiên tri của Đa-ni-ên 11, khi Octavian gả em gái mình là Octavia Minor cho Mark Antony vào năm 40 TCN. Mark Antony và Octavian đang ở trong một cuộc tranh giành quyền lực về các khu vực phía đông và phía tây của La Mã, vốn đã bùng nổ vào năm 44 TCN với vụ ám sát Julius Caesar. Hiệp ước Brundisium được thiết lập tại cuộc hôn nhân ấy vào năm 40 TCN, và tám năm sau, vào năm 32 TCN, Mark Antony chính thức ly dị Octavia và làm bùng phát trận Actium vào năm 31 TCN, tại đó cả Mark Antony lẫn Cleopatra, (Cleopatra cuối cùng), đều đi đến hồi kết.
The omega marriage treaty of the Seleucid empire introduced the first Cleopatra who typified the last Cleopatra, whose line of descent formed the link to the prophetic alpha marriage treaty of the Roman empire in 40 BC. Those three treaty marriages typify the treaty marriage of the Edict of Milan. The Edict of Milan marks the beginning of a prophetic siege, it represents a prophetic sign, it marks a transition of a righteous church to an unrighteous church, thus aligning with the enigma of the eighth being of the seven. It marks a treaty marriage that ends a war, until the divorce of the treaty marriage thus marking the beginning of a war. In the two Roman marriages, the divorce precipitates the uniting of the empire. 313 also marks the Exeter camp meeting where the proclamation of the message of the Midnight Cry begins and leads to the closed door of October 22.
Hiệp ước hôn nhân omega của đế quốc Seleucid đã đưa vào Cleopatra thứ nhất, là hình bóng của Cleopatra cuối cùng, mà dòng dõi của bà đã tạo nên mối liên kết với hiệp ước hôn nhân alpha mang tính tiên tri của đế quốc La Mã vào năm 40 TCN. Ba cuộc hôn nhân theo hiệp ước ấy là hình bóng của cuộc hôn nhân theo hiệp ước của Sắc lệnh Milan. Sắc lệnh Milan đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc vây hãm mang tính tiên tri; nó tiêu biểu cho một dấu hiệu tiên tri; nó đánh dấu sự chuyển tiếp từ một hội thánh công chính sang một hội thánh bất chính, vì thế phù hợp với huyền nhiệm về sinh vật thứ tám thuộc về bảy. Nó đánh dấu một cuộc hôn nhân theo hiệp ước chấm dứt chiến tranh, cho đến khi sự ly dị của cuộc hôn nhân theo hiệp ước ấy xảy ra, nhờ đó đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh. Trong hai cuộc hôn nhân của La Mã, sự ly dị làm phát sinh việc hiệp nhất đế quốc. Năm 313 cũng đánh dấu buổi nhóm trại Exeter, tại đó sự công bố sứ điệp của tiếng kêu lúc nửa đêm bắt đầu và dẫn đến cánh cửa đóng lại của ngày 22 tháng Mười.
We will continue to consider these truths in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục xem xét những lẽ thật này trong bài viết kế tiếp.