Peter is at Panium (Caesarea Philippi), which is just six or eight days before the middle of the three times Peter, John and James went alone with Jesus. The first was the demonstration of His power at the resurrection of Jarius’ twelve-year-old daughter; the second was the demonstration of His glory at the mount of transfiguration; and the third was Gethsemane the demonstration of His suffering. At Panium in chapter eleven Peter is aligned just before the cross of verse sixteen. The mount was the midpoint of the three exclusive trips of three disciples. At the mount the heavenly Father also spoke the second of three times; the Father spoke at the baptism, the mount and then just before the cross. Peter is twice at a midpoint of three specific events. He is also the midpoint of chapters eleven through twenty-two of Matthew.

Phêrơ đang ở tại Panium (Caesarea Philippi), tức là chỉ sáu hoặc tám ngày trước điểm giữa của ba lần mà Phêrơ, Giăng và Gia-cơ đi riêng với Chúa Jêsus. Lần thứ nhất là sự bày tỏ quyền năng của Ngài trong việc làm sống lại con gái mười hai tuổi của Giai-ru; lần thứ hai là sự bày tỏ vinh quang của Ngài trên núi hóa hình; và lần thứ ba là Ghết-sê-ma-nê, sự bày tỏ sự thương khó của Ngài. Tại Panium trong chương mười một, Phêrơ được đặt ngay trước thập tự giá của câu mười sáu. Ngọn núi là điểm giữa của ba chuyến đi riêng biệt chỉ dành cho ba môn đồ. Trên núi, Đức Chúa Cha trên trời cũng phán lần thứ hai trong ba lần; Cha đã phán tại lễ báp-tem, trên núi, rồi sau đó ngay trước thập tự giá. Phêrơ hai lần ở tại điểm giữa của ba biến cố cụ thể. Ông cũng là điểm giữa của các chương mười một đến hai mươi hai của Ma-thi-ơ.

The Ass

Con Lừa

The mount came before the triumphal entry, which began with the ass being loosed to carry the offering into Jerusalem, the way Abraham’s ass carried the wood for the offering on Moriah, the ancient cite of the temple in Jerusalem. The feast of trumpets in the line of Leviticus twenty-three marks the loosing of the ass, so the experience of the mount of transfiguration preceded the triumphal entry, thus placing Peter in the history of the thirty days of Leviticus twenty-three aligned with the Pentecostal season. In those thirty days the temple (the middle test) is brought upon the candidates to be among the eighty valiant priests. In the testimony of king Uzziah’s rebellion in the holy place the eighty priests are identified as valiant, thus suggesting there were priests who did not participate.

Núi đến trước cuộc vào thành khải hoàn, cuộc vào thành ấy bắt đầu với việc con lừa được tháo ra để chở của lễ vào Giê-ru-sa-lem, giống như con lừa của Áp-ra-ham đã chở củi cho của lễ trên Mô-ri-a, địa điểm cổ xưa của đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Lễ thổi kèn trong trình tự của Lê-vi Ký hai mươi ba đánh dấu việc tháo con lừa ra, vì vậy kinh nghiệm trên núi hóa hình đã đi trước cuộc vào thành khải hoàn, qua đó đặt Phi-e-rơ vào trong lịch sử của ba mươi ngày trong Lê-vi Ký hai mươi ba, tương ứng với mùa Ngũ Tuần. Trong ba mươi ngày ấy, đền thờ (bài thử nghiệm ở giữa) được đem đến trên những người dự tuyển để trở thành một trong tám mươi thầy tế lễ dũng cảm. Trong lời chứng về sự phản nghịch của vua Ô-xia tại nơi thánh, tám mươi thầy tế lễ được xác định là dũng cảm, do đó hàm ý rằng đã có những thầy tế lễ không tham dự.

And Azariah the priest went in after him, and with him fourscore priests of the Lord, that were valiant men: And they withstood Uzziah the king, and said unto him, It appertaineth not unto thee, Uzziah, to burn incense unto the Lord, but to the priests the sons of Aaron, that are consecrated to burn incense: go out of the sanctuary; for thou hast trespassed; neither shall it be for thine honour from the Lord God. 2 Chronicles 26:17, 18.

Bấy giờ, thầy tế lễ A-xa-ria đi theo sau người, và cùng với ông có tám mươi thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, là những người dũng cảm. Họ chống lại vua Ô-xia và nói với người rằng: Hỡi Ô-xia, việc dâng hương lên Đức Giê-hô-va chẳng thuộc về ngươi, nhưng thuộc về các thầy tế lễ, con cháu A-rôn, là những người đã được thánh hiến để dâng hương: hãy ra khỏi nơi thánh; vì ngươi đã phạm lỗi; điều đó cũng sẽ chẳng đem lại vinh dự cho ngươi từ nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời. II Sử ký 26:17, 18.

The valiant priests are those who follow the Lamb whithersoever He goes.

Các thầy tế lễ dũng cảm là những người theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi.

These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. Revelation 14:4.

Đây là những người không bị ô uế với đàn bà; vì họ là những đồng trinh. Đây là những người theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi. Những người này đã được chuộc ra từ giữa loài người, làm trái đầu mùa dâng lên Đức Chúa Trời và Chiên Con. Khải Huyền 14:4.

The Lion of the tribe of Judah leads His people into the Most Holy Place and has them gaze into the ark of the covenant, and consider the High Priest who is there ministering in His final work of blotting out sin. Peter was resurrected on December 31, 2023 and then was confronted with the foundation test over the role of Rome in establishing the external vision of prophecy. Then the second test of the temple arrived for Peter, and it is there that the vision of the internal line is represented in the looking glass vision of Daniel chapter ten.

Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa dẫn dắt dân Ngài vào Nơi Chí Thánh và khiến họ chăm xem hòm giao ước, đồng thời suy ngẫm về Vị Thượng Tế đang thi hành chức vụ tại đó trong công việc cuối cùng của Ngài là xóa bỏ tội lỗi. Phi-e-rơ đã được phục sinh vào ngày 31 tháng 12 năm 2023, rồi sau đó đã phải đối diện với sự thử nghiệm nền tảng liên quan đến vai trò của La Mã trong việc thiết lập khải tượng bề ngoài của lời tiên tri. Kế đó, sự thử nghiệm thứ hai về đền thờ đã đến với Phi-e-rơ, và chính tại đó khải tượng về đường lối nội tại được trình bày trong khải tượng như gương soi của Đa-ni-ên chương mười.

Peter had denied his Lord on July 18, 2020, and he did so three times.

Phi-e-rơ đã chối Chúa của mình vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, và ông đã làm điều đó ba lần.

“Three times Peter had openly denied his Lord, and three times Jesus drew from him the assurance of his love and loyalty, pressing home that pointed question, like a barbed arrow to his wounded heart. Before the assembled disciples Jesus revealed the depth of Peter’s repentance, and showed how thoroughly humbled was the once boasting disciple.” The Desire of Ages, 812.

“Ba lần Phi-e-rơ đã công khai chối Chúa mình, và ba lần Chúa Giê-su đã rút ra từ ông lời bảo đảm về tình yêu thương và lòng trung thành của ông, nhấn mạnh câu hỏi sắc bén ấy như một mũi tên có ngạnh đâm vào tấm lòng bị tổn thương của ông. Trước mặt các môn đồ đang nhóm lại, Chúa Giê-su bày tỏ chiều sâu của sự ăn năn nơi Phi-e-rơ, và cho thấy người môn đồ từng khoác lác ấy đã bị hạ mình một cách triệt để dường nào.” Nguyện Ước Thời Đại, 812.

Peter represented two classes of worshippers.

Phi-e-rơ tượng trưng cho hai hạng người thờ phượng.

“For each of the classes represented by the Pharisee and the publican there is a lesson in the history of the apostle Peter. In his early discipleship Peter thought himself strong. Like the Pharisee, in his own estimation he was ‘not as other men are.’ When Christ on the eve of His betrayal forewarned His disciples, ‘All ye shall be offended because of Me this night,’ Peter confidently declared, ‘Although all shall be offended, yet will not I.’ Mark 14:27, 29. Peter did not know his own danger. Self-confidence misled him. He thought himself able to withstand temptation; but in a few short hours the test came, and with cursing and swearing he denied his Lord.” Christ’s Object Lessons, 152.

“Đối với mỗi hạng người được tiêu biểu bởi người Pha-ri-si và người thâu thuế, đều có một bài học trong lịch sử của sứ đồ Phi-e-rơ. Trong những ngày đầu làm môn đồ, Phi-e-rơ tưởng mình mạnh mẽ. Giống như người Pha-ri-si, theo sự lượng định của chính mình, ông ‘không như những người khác.’ Khi Đấng Christ, vào đêm trước khi Ngài bị phản bội, đã báo trước cho các môn đồ rằng: ‘Đêm nay, hết thảy các ngươi sẽ vấp phạm vì Ta,’ Phi-e-rơ quả quyết tuyên bố: ‘Dầu mọi người đều vấp phạm, nhưng tôi thì không.’ Mác 14:27, 29. Phi-e-rơ không biết sự nguy hiểm của chính mình. Sự tự tin đã dẫn ông lầm lạc. Ông tưởng mình có thể đứng vững trước cám dỗ; nhưng chỉ trong ít giờ ngắn ngủi, thử thách đã đến, và với sự nguyền rủa và thề thốt, ông đã chối Chúa mình.” Christ’s Object Lessons, 152.

The Publican went to his home justified.

Người thu thuế trở về nhà mình, được xưng công bình.

“The Pharisee and the publican represent two great classes into which those who come to worship God are divided. Their first two representatives are found in the first two children that were born into the world.” Christ’s Object Lessons, 152.

“Người Pha-ri-si và người thu thuế tượng trưng cho hai hạng lớn mà những kẻ đến thờ phượng Đức Chúa Trời được phân chia vào. Hai đại diện đầu tiên của họ được thấy nơi hai người con đầu tiên được sinh ra trong thế gian.” Christ’s Object Lessons, 152.

Abel and the publican are a symbol of justification by faith.

A-bên và người thâu thuế là biểu tượng của sự xưng công bình bởi đức tin.

And the publican, standing afar off, would not lift up so much as his eyes unto heaven, but smote upon his breast, saying, God be merciful to me a sinner. I tell you, this man went down to his house justified rather than the other: for every one that exalteth himself shall be abased; and he that humbleth himself shall be exalted. Luke 18:13, 14.

Còn người thu thuế đứng đằng xa, chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con là kẻ có tội. Ta phán cùng các ngươi, người này trở về nhà mình được xưng công chính hơn người kia; vì hễ ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. Lu-ca 18:13, 14.

The message of 1888 was accompanied by the descent of the angel of Revelation eighteen.

Sứ điệp năm 1888 đã đi kèm với sự giáng xuống của thiên sứ trong Khải Huyền 18.

“The Lord in His great mercy sent a most precious message to His people through Elders Waggoner and Jones. This message was to bring more prominently before the world the uplifted Saviour, the sacrifice for the sins of the whole world. It presented justification through faith in the Surety; it invited the people to receive the righteousness of Christ, which is made manifest in obedience to all the commandments of God. Many had lost sight of Jesus. They needed to have their eyes directed to His divine person, His merits, and His changeless love for the human family. All power is given into His hands, that He may dispense rich gifts unto men, imparting the priceless gift of His own righteousness to the helpless human agent. This is the message that God commanded to be given to the world. It is the third angel’s message, which is to be proclaimed with a loud voice, and attended with the outpouring of His Spirit in a large measure.” Testimonies to Ministers, 91.

“Trong lòng thương xót lớn lao của Ngài, Chúa đã sai đến cho dân sự Ngài một sứ điệp hết sức quý báu qua các Trưởng lão Waggoner và Jones. Sứ điệp này nhằm đem Cứu Chúa được tôn cao đặt ra một cách nổi bật hơn trước thế gian, là của lễ hy sinh vì tội lỗi của cả thế gian. Sứ điệp ấy trình bày sự xưng công bình bởi đức tin nơi Đấng Bảo Chứng; nó mời gọi dân sự tiếp nhận sự công bình của Đấng Christ, được bày tỏ trong sự vâng phục đối với mọi điều răn của Đức Chúa Trời. Nhiều người đã đánh mất tầm nhìn về Đức Chúa Jêsus. Họ cần được hướng mắt mình đến thân vị thiêng liêng của Ngài, đến công đức của Ngài, và đến tình yêu không đổi thay của Ngài đối với gia đình nhân loại. Mọi quyền năng đều được giao vào tay Ngài, để Ngài có thể ban phát những ân tứ phong phú cho loài người, truyền đạt tặng phẩm vô giá là chính sự công bình của Ngài cho con người bất lực. Đây là sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã truyền phải được ban cho thế gian. Đó là sứ điệp của thiên sứ thứ ba, sứ điệp phải được công bố bằng tiếng lớn, và đi kèm với sự tuôn đổ Thánh Linh của Ngài trong một mức độ lớn lao.” Testimonies to Ministers, 91.

The Laodicean Message

Sứ Điệp Gửi Hội Thánh Lao-đi-xê-a

The message given us by A. T. Jones, and E. J. Waggoner is the message of God to the Laodicean church, and woe be unto anyone who professes to believe the truth and yet does not reflect to others the God-given rays.” The 1888 Materials, 1053.

“Sứ điệp được ban cho chúng ta qua A. T. Jones và E. J. Waggoner là sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho Hội thánh Lao-đi-xê, và khốn thay cho bất cứ ai xưng mình tin lẽ thật mà lại không phản chiếu cho người khác những tia sáng do Đức Chúa Trời ban cho.” The 1888 Materials, 1053.

The Latter Rain Message

Sứ điệp Mưa Cuối

“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.

“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời ngự xuống, và cả đất sẽ được soi sáng bởi vinh quang của người.” Review and Herald, April 21, 1891.

New York City and 9/11

Thành phố New York và 9/11

“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.

“Giờ đây lại có lời rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị một cơn sóng thủy triều cuốn trôi sao? Điều này tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn đang được dựng lên tại đó, tầng này chồng lên tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh khiếp nào sẽ xảy ra khi Chúa đứng lên để lay chuyển dữ dội đất! Khi ấy những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp giáng trên đất. Nhưng tôi không nhận được ánh sáng đặc biệt nào liên quan đến điều sẽ xảy đến cho New York, ngoại trừ việc tôi biết rằng một ngày kia những tòa nhà lớn tại đó sẽ bị quật đổ bởi sự xoay chuyển và lật đổ của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt đang ở trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, chỉ một cái chạm của quyền năng oai dũng Ngài, và những công trình đồ sộ này sẽ sụp đổ. Những cảnh tượng sẽ diễn ra mà mức độ kinh hoàng của chúng chúng ta không thể tưởng tượng nổi.” Review and Herald, ngày 5 tháng 7 năm 1906.

Peter the publican, represents a soul who is justified by faith, and justification by faith is the third angel’s message, it is the Laodicean message that arrived at 9/11, when the great buildings of New York came down and Revelation 18:1–3 was fulfilled. Then the latter rain began to sprinkle and the sealing of the one hundred and forty-four thousand began. At the ending of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand the angel of Revelation eighteen descended as Michael the archangel and resurrected Peter by three tests. The first test began on December 31, 2023, and represented the foundational truth that Rome is the power in verse fourteen of Daniel eleven that establishes the vision. That vision is the chazon vision, that represents the external line of prophecy, which Solomon says is life or death.

Phi-e-rơ, người thâu thuế, tiêu biểu cho một linh hồn được xưng công bình bởi đức tin, và sự xưng công bình bởi đức tin là sứ điệp của thiên sứ thứ ba; đó là sứ điệp Lao-đi-xê đã đến vào ngày 11/9, khi những tòa nhà lớn của Niu Y-oóc sụp đổ và Khải Huyền 18:1–3 được ứng nghiệm. Bấy giờ mưa cuối mùa bắt đầu rơi lất phất và việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người bắt đầu. Vào lúc kết thúc thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, thiên sứ của Khải Huyền mười tám đã ngự xuống như Mi-ca-ên, tổng lãnh thiên sứ, và làm cho Phi-e-rơ sống lại qua ba sự thử nghiệm. Sự thử nghiệm thứ nhất bắt đầu vào ngày 31 tháng 12 năm 2023, và tiêu biểu cho lẽ thật nền tảng rằng La Mã là quyền lực trong câu mười bốn của Đa-ni-ên mười một, là quyền lực thiết lập khải tượng. Khải tượng ấy là khải tượng chazon, tiêu biểu cho đường lối tiên tri bên ngoài, mà Sa-lô-môn nói là sự sống hay sự chết.

Where there is no [chazon] vision, the people perish: but he that keepeth the law, happy is he. Proverbs 29:18.

Nơi nào không có sự hiện thấy [chazon], dân sự sẽ diệt vong; nhưng ai giữ luật pháp, người ấy có phước. Châm-ngôn 29:18.

Peter’s second test is the temple test that requires entering the Most Holy Place by faith as Sister White illustrated in her first visions. There she saw the seventh-day Sabbath commandment glowing above the other nine commandments. That doctrine at the opening of the judgment represents the doctrine of the incarnation that glows above the other prophetic doctrines in the latter days, during the closing of the judgment. The incarnation of Christ the Divine, taking upon Himself fallen sinful flesh, though He knew no sin, is represented in a variety of illustrations. The most significant is the doctrine of the seven times. The doctrine of the seven times was the alpha of Miller’s prophetic discoveries, and it was the doctrine in 1856, that represented the omega doctrine of Millerite history where Millerite Philadelphian Adventism rebelled over seven years and became the Laodicean Seventh-day Adventist church in 1863.

Thử thách thứ hai của Phi-e-rơ là thử thách về đền thờ, đòi hỏi phải bởi đức tin mà bước vào Nơi Chí Thánh, như Chị White đã minh họa trong các sự hiện thấy đầu tiên của bà. Tại đó, bà thấy điều răn về ngày Sa-bát thứ bảy sáng chói vượt trên chín điều răn kia. Giáo lý ấy, vào lúc cuộc phán xét bắt đầu, tiêu biểu cho giáo lý về sự nhập thể đang sáng chói vượt trên các giáo lý tiên tri khác trong những ngày sau rốt, trong khi cuộc phán xét đi đến chỗ kết thúc. Sự nhập thể của Đấng Christ là Đức Chúa Trời, nhận lấy trên chính mình xác thịt sa ngã tội lỗi, dù Ngài vốn không hề biết tội lỗi, được tiêu biểu qua nhiều minh họa khác nhau. Điều quan trọng nhất là giáo lý về bảy kỳ. Giáo lý về bảy kỳ là alpha trong những khám phá tiên tri của Miller, và đó là giáo lý vào năm 1856, tiêu biểu cho giáo lý omega của lịch sử Millerite, khi phái Cơ Đốc Phục Lâm Philadelphia theo Miller đã phản nghịch trong suốt bảy năm và trở thành Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy Laodicea vào năm 1863.

The two sticks of Ezekiel thirty-seven represent the two 2,520-year judgments against the northern and southern kingdoms. The northern kingdom represents human flesh and the southern kingdom represents the mind that was designed to be united with the mind of Christ; thus, Divinity would be united with humanity. That is the doctrine of the incarnation in a simplified representation. The seven times was the alpha and omega of Millerite history and as it represents the incarnation it is also the omega of Seventh-day Adventist history in relation to the alpha Sabbath doctrine in 1844. One is a sign of the seventh-day Sabbath and the other is the sign of the seventh-year Sabbath.

Hai cây gậy trong Ê-xê-chi-ên ba mươi bảy tiêu biểu cho hai sự phán xét 2.520 năm giáng trên các vương quốc miền bắc và miền nam. Vương quốc miền bắc tiêu biểu cho xác thịt của con người, còn vương quốc miền nam tiêu biểu cho tâm trí đã được định để hiệp nhất với tâm trí của Đấng Christ; như vậy, Thần tính sẽ hiệp nhất với nhân tính. Đó là giáo lý về sự nhập thể trong một hình thức trình bày giản lược. “Bảy kỳ” là an-pha và ô-mê-ga của lịch sử Phong trào Miller, và vì nó tiêu biểu cho sự nhập thể nên nó cũng là ô-mê-ga của lịch sử Cơ Đốc Phục Lâm Phục Lâm Thất Nhật trong mối liên hệ với giáo lý Sa-bát an-pha vào năm 1844. Một bên là dấu hiệu của ngày Sa-bát thứ bảy, còn bên kia là dấu hiệu của năm Sa-bát thứ bảy.

Peter’s name is changed at Panium, which was the second step for Abraham’s representation of the first covenant with a chosen people, and Peter becomes the representative of the last covenant with a chosen people at his second step. It is the second step in the line of chapters eleven through twenty-two, and it is the second of three times Peter, James and John went with Jesus away from the other disciples and the second of three times the heavenly Father spoke. Nero’s line ends at the midpoint between the battles of Raphia and Panium, for it aligns with the other two periods of 250 years that began in 457 BC and 1776. 457 BC ended in 207 BC and 1776 ends in 2026. Peter is at 207 BC, 2026, 313 and the temple test that precedes the third and litmus test of the loosing of the ass, which is represented as the feast of trumpets.

Tên của Phi-e-rơ được đổi tại Panium, là bước thứ hai đối với sự tiêu biểu của Áp-ra-ham về giao ước thứ nhất với một dân được chọn, và Phi-e-rơ trở thành người tiêu biểu cho giao ước cuối cùng với một dân được chọn tại bước thứ hai của ông. Đó là bước thứ hai trong tuyến của các chương mười một đến hai mươi hai, và đó là lần thứ hai trong ba lần Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi riêng với Đức Chúa Jêsus khỏi các môn đồ khác, đồng thời là lần thứ hai trong ba lần Đức Cha trên trời phán. Tuyến của Nero chấm dứt tại điểm giữa của các trận chiến Raphia và Panium, vì nó tương ứng với hai giai đoạn 250 năm kia đã bắt đầu vào năm 457 TCN và 1776. Năm 457 TCN chấm dứt vào năm 207 TCN, và năm 1776 chấm dứt vào năm 2026. Phi-e-rơ ở tại năm 207 TCN, 2026, 313, và phép thử về đền thờ, là điều đi trước phép thử thứ ba và phép thử quyết định về việc tháo con lừa, được tiêu biểu như là lễ thổi kèn.

Peter’s test is to follow Christ into the Most Holy Place, and his work is to correct and then proclaim the corrected message of the fireballs of Nashville. Peter’s message of the fireballs of Nashville is the message of Pentecost that was first presented in the upper room and thereafter in the temple. He presents his message identifying the fireballs of Nashville, and the fulfillment of the battle of Raphia, in conjunction with the battle of Panium, which becomes the battle of Actium at the Sunday law of verse sixteen. The Sunday law of verse sixteen is also the Sunday law of verse forty-one and of verse twenty-two. Those three verses also align with verse thirty-one where the papacy took control in 538 and passed a Sunday law at the third Council of Orleans. The verses that lead to verse thirty-one identify waymarks that led to the Sunday law of 538 and typify the history that precedes the soon coming Sunday law.

Sự thử luyện của Phi-e-rơ là đi theo Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh, và công việc của ông là chỉnh sửa rồi công bố sứ điệp đã được chỉnh sửa về những quả cầu lửa của Nashville. Sứ điệp của Phi-e-rơ về những quả cầu lửa của Nashville là sứ điệp Lễ Ngũ Tuần đã được trình bày lần đầu trong phòng cao, rồi sau đó tại đền thờ. Ông trình bày sứ điệp của mình, xác định những quả cầu lửa của Nashville, và sự ứng nghiệm của trận chiến Raphia, trong mối liên hệ với trận chiến Panium, là trận chiến trở thành trận Actium tại luật ngày Chủ nhật của câu mười sáu. Luật ngày Chủ nhật của câu mười sáu cũng là luật ngày Chủ nhật của câu bốn mươi mốt và của câu hai mươi hai. Ba câu ấy cũng tương ứng với câu ba mươi mốt, nơi giáo hoàng nắm quyền kiểm soát vào năm 538 và ban hành một luật ngày Chủ nhật tại Công đồng Orléans lần thứ ba. Những câu dẫn đến câu ba mươi mốt xác định các mốc chỉ đường đã dẫn đến luật ngày Chủ nhật năm 538 và tiêu biểu cho lịch sử đi trước luật ngày Chủ nhật sắp đến trong nay mai.

For the ships of Chittim shall come against him: therefore he shall be grieved, and return, and have indignation against the holy covenant: so shall he do; he shall even return, and have intelligence with them that forsake the holy covenant. And arms shall stand on his part, and they shall pollute the sanctuary of strength, and shall take away the daily sacrifice, and they shall place the abomination that maketh desolate. Daniel 11:30, 31.

Vì những tàu từ Chittim sẽ đến chống lại hắn; bởi đó hắn sẽ buồn giận, rồi quay về và nổi cơn phẫn nộ chống lại giao ước thánh; hắn sẽ làm như vậy; hắn thậm chí sẽ quay về và thông đồng với những kẻ từ bỏ giao ước thánh. Và các đạo binh sẽ đứng về phía hắn, chúng sẽ làm ô uế đền thánh kiên cố, sẽ cất bỏ của lễ hằng ngày, và chúng sẽ đặt sự gớm ghiếc gây ra cảnh hoang tàn. Đa-ni-ên 11:30, 31.

The “ships of Chittim” represented the Vandals, who are also represented as the second trumpet in Revelation chapter eight. The progressive demise of Rome began in 330, when Constantine divided the kingdom into east and west. He thereafter divided it up to his three sons. The Roman Empire that had been invincible from the battle of Actium was then divided into two parts, then three parts, then the first four trumpets of Revelation eight represented the onslaught of enemies that brought western Rome to a conclusion in 476. Eastern Rome at Constantinople continued until the end of the fifth and beginning of the sixth trumpets, which are also the first and second woes. The time prophecy of one hundred and fifty years of the first woe ended on the date that the time prophecy of the second woe began. That date was the fall of Constantinople to the Ottoman Turks in 1453.

“Các tàu Chittim” tượng trưng cho dân Vandal, cũng được tượng trưng là tiếng kèn thứ hai trong chương tám sách Khải Huyền. Sự suy tàn dần dần của La Mã bắt đầu vào năm 330, khi Constantine chia vương quốc thành đông và tây. Sau đó, ông lại phân chia nó cho ba người con trai của mình. Đế quốc La Mã, vốn đã bất khả chiến bại kể từ trận Actium, khi ấy bị chia thành hai phần, rồi ba phần; rồi bốn tiếng kèn đầu của Khải Huyền chương tám tượng trưng cho cuộc tấn công dữ dội của các kẻ thù đã đưa Tây La Mã đến chỗ chấm dứt vào năm 476. Đông La Mã tại Constantinople tiếp tục tồn tại cho đến cuối tiếng kèn thứ năm và đầu tiếng kèn thứ sáu, vốn cũng là tai vạ thứ nhất và thứ hai. Lời tiên tri thời gian một trăm năm mươi năm của tai vạ thứ nhất chấm dứt đúng vào ngày lời tiên tri thời gian của tai vạ thứ hai bắt đầu. Ngày ấy là ngày Constantinople thất thủ trước người Thổ Ottoman vào năm 1453.

Babylon fell in one night, maybe you would argue that Cyrus first had to divert the river and that took a period of time, but the fall of Babylon was in one night; whereas, the fall of Rome covered 1123 years. Those years contained specific prophetic waymarks that describe the progressive demise of Imperial Rome, and Imperial pagan Rome typifies the United States in its work of placing the papacy upon the throne as the fifth kingdom of Bible prophecy in 538. The papacy is placed upon the throne at the Sunday law of verse sixteen of Daniel eleven. The waymarks that typify the work of the United States are represented in the waymarks of pagan Rome’s progressive demise.

Ba-by-lôn sụp đổ chỉ trong một đêm; có lẽ bạn sẽ lập luận rằng trước hết Si-ru phải chuyển dòng con sông, và điều đó cần một khoảng thời gian; nhưng sự sụp đổ của Ba-by-lôn diễn ra trong một đêm; trong khi đó, sự sụp đổ của La Mã kéo dài suốt 1123 năm. Những năm ấy bao hàm các mốc tiên tri cụ thể mô tả sự suy vong tiệm tiến của La Mã Đế quốc, và La Mã ngoại giáo thời đế quốc là hình bóng tiêu biểu cho Hoa Kỳ trong công việc đưa giáo hoàng lên ngôi như vương quốc thứ năm của lời tiên tri Kinh Thánh vào năm 538. Giáo hoàng được đặt lên ngôi vào luật ngày Chủ nhật nơi câu mười sáu của Đa-ni-ên 11. Những mốc tiêu biểu cho công việc của Hoa Kỳ được thể hiện trong các mốc của sự suy vong tiệm tiến của La Mã ngoại giáo.

The ships of Chittim represented a financial disaster for Rome, for the navy of the Vandals brought havoc to the shipping lanes of the Mediterranean. In the latter days, Islam is portrayed as a financial disaster for the kings of the earth. The Vandals and their ships were the second trumpet power and the three woes are Islamic trumpet powers. The first was Arabia, the second Turkey and the third is worldwide.

Những tàu của Chittim tượng trưng cho một tai họa tài chính đối với La Mã, vì hải quân của người Vandal đã gây tàn phá cho các tuyến hàng hải trên Địa Trung Hải. Trong những ngày sau rốt, Hồi giáo được mô tả như một tai họa tài chính đối với các vua trên đất. Người Vandal và các tàu của họ là quyền lực của tiếng kèn thứ hai, còn ba sự khốn thay là các quyền lực tiếng kèn của Hồi giáo. Sự thứ nhất là Ả Rập, sự thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ, và sự thứ ba là toàn thế giới.

Ships are a symbol of economic power, and in the Scriptures the ships of Chittim are the premier symbols of economic power. Those ships are sunk by an angry east wind in the midst of the seas, and in the Scriptures Islam is the children of the east. When Islam is noted in the prophetic sequence of events it produces an economic crisis. Islam is represented with Balaam as an ass, which is the Hebrew word that is translated as “wild man” in the first introduction of Ishmael in the Scriptures. Ishmael is the father of Islam at the prophetic level, not denying Abraham as Ishamel’s father, but Ishmael’s twelve tribes become known as the children of the east in the Scriptures.

Tàu thuyền là biểu tượng của quyền lực kinh tế, và trong Kinh Thánh, các tàu của Chittim là những biểu tượng hàng đầu của quyền lực kinh tế. Những tàu ấy bị nhận chìm bởi ngọn gió đông thịnh nộ giữa lòng biển, và trong Kinh Thánh, Hồi giáo là các con cái của phương đông. Khi Hồi giáo được lưu ý trong trình tự các biến cố tiên tri, điều đó tạo ra một cuộc khủng hoảng kinh tế. Hồi giáo được tiêu biểu nơi Ba-la-am như một con lừa, là từ Hê-bơ-rơ được dịch là “người hoang dã” trong lần đầu tiên Ích-ma-ên được giới thiệu trong Kinh Thánh. Ở cấp độ tiên tri, Ích-ma-ên là tổ phụ của Hồi giáo, không phủ nhận Áp-ra-ham là cha của Ích-ma-ên, nhưng mười hai chi phái của Ích-ma-ên trở nên được biết đến trong Kinh Thánh như các con cái của phương đông.

In the latter days Balaam, symbol of the United States as a false prophet, strikes his ass three times, representing three strikes of Islam. 9/11 was the first of those strikes and marked the arrival of the sealing angel, who ascends from the east during the rough east winds of strife. The second strike of Islam is twofold, for the second step marks a doubling. October 7, 2023 Islam unexpectedly struck literal Israel and when Nashville, Tennessee is unexpectedly struck by Islam spiritual Israel will have been struck. In the story of Balaam, the second waymark came between two vineyards and the two vineyards of the Lord of Hosts were ancient literal Israel and the United States, modern spiritual Israel. Balaam’s third waymark was when the ass spoke; and the symbol of speaking that marks the end of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand that began at 9/11 is the Sunday law, when the United States speaks as a dragon. The great earthquake of Revelation eleven is that Sunday law, where the third woe cometh quickly, where the United States, the ass and Zechariah speak.

Trong những ngày sau rốt, Ba-la-am, biểu tượng của Hoa Kỳ với tư cách là tiên tri giả, đánh lừa mình ba lần, tượng trưng cho ba đòn đánh của Hồi giáo. Sự kiện 11/9 là đòn đánh thứ nhất trong những đòn ấy và đánh dấu sự xuất hiện của thiên sứ đóng ấn, là vị từ phương đông đi lên giữa những ngọn gió đông dữ dội của sự tranh chiến. Đòn đánh thứ hai của Hồi giáo có tính chất kép, vì bước thứ hai đánh dấu một sự nhân đôi. Ngày 7 tháng 10 năm 2023, Hồi giáo bất ngờ tấn công Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen, và khi Nashville, Tennessee bất ngờ bị Hồi giáo tấn công, Y-sơ-ra-ên thuộc linh sẽ đã bị đánh. Trong câu chuyện về Ba-la-am, mốc chỉ đường thứ hai nằm giữa hai vườn nho, và hai vườn nho của Chúa Vạn Quân là Y-sơ-ra-ên cổ xưa theo nghĩa đen và Hoa Kỳ, tức Y-sơ-ra-ên thuộc linh hiện đại. Mốc chỉ đường thứ ba của Ba-la-am là khi con lừa nói; và biểu tượng của sự nói đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người đã bắt đầu vào ngày 11/9 chính là luật ngày Chủ nhật, khi Hoa Kỳ nói như một con rồng. Cơn động đất lớn trong Khải Huyền đoạn mười một chính là luật ngày Chủ nhật ấy, nơi tai họa thứ ba đến mau chóng, nơi Hoa Kỳ, con lừa và Xa-cha-ri đều nói.

The father of John the Baptist was of the eighth of twenty-four courses of priests set up by David to serve in the temple. Zechariah the priest, was struck dumb due to disbelief until the birth of his son John and is a symbol of the number eight, (a symbol of the priesthood). At the Sunday law the final generation of priests, represented by John the Baptist, will speak as represented by His father Zechariah. Christ identified John as Elijah, and Elijah’s latter-day message is represented by a father and child relationship, as was Zechariah and John. John was typified by Jeremiah who had been told that if he would return, he would be God’s mouth.

Cha của Giăng Báp-tít thuộc ban thứ tám trong hai mươi bốn ban thầy tế lễ do Đa-vít lập nên để phục vụ trong đền thờ. Thầy tế lễ Xa-cha-ri bị câm vì sự vô tín cho đến khi con trai ông là Giăng chào đời, và ông là biểu tượng của số tám (biểu tượng của chức tế lễ). Vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, thế hệ thầy tế lễ cuối cùng, được tượng trưng bởi Giăng Báp-tít, sẽ cất tiếng nói, như được tiêu biểu qua cha ông là Xa-cha-ri. Đấng Christ đã xác nhận Giăng là Ê-li, và sứ điệp của Ê-li trong thời kỳ cuối cùng được tiêu biểu bởi mối quan hệ cha và con, như trường hợp của Xa-cha-ri và Giăng. Giăng được hình bóng qua Giê-rê-mi, người đã được phán bảo rằng nếu ông trở lại, ông sẽ là miệng của Đức Chúa Trời.

Jeremiah was lamenting the first disappointment of July 18, 2020 and if he returned, he would become God’s mouth at the Sunday law, when he presented the prophetic message of Habakkuk, which had tarried, but was to “speak” at the end. Jeremiah, and therefore John, and therefore Peter was to speak the message of Habakkuk at the point that the ass of Islam speaks, and when the United States speaks as a dragon.

Giê-rê-mi đang than khóc về sự thất vọng thứ nhất vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, và nếu ông trở lại, ông sẽ trở nên miệng của Đức Chúa Trời tại luật ngày Chúa nhật, khi ông trình bày sứ điệp tiên tri của Ha-ba-cúc, là sứ điệp đã trì hoãn, nhưng sẽ “phán” vào lúc cuối cùng. Giê-rê-mi, và bởi đó là Giăng, và bởi đó là Phi-e-rơ, sẽ phán sứ điệp của Ha-ba-cúc vào thời điểm con lừa của Hồi giáo lên tiếng, và khi Hoa Kỳ phán như một con rồng.

Peter at Caesarea Philippi, which is Panium is in a period of time that preceded the waymark of the “mount” that was to be followed by the triumphal entry which led to the cross, or the Sunday law. The period of time is represented by the battle of Panium, which ends in victory for the pope and his proxy power of the United States. Panium is the third of three proxy wars, the first of which concluded at the wall of Berlin in 1989, and the last or third proxy war concludes at the tearing down of the “wall” of separation of church and state. 1989 marked the climax of a proxy war called the “cold war” that had began at the end of the second World War, and Panium represents a cold war that ends at the third World War represented by the battle of Actium. In the middle of the first and third waymarks of three proxy wars the literal war in the Ukraine represented by the battle of Raphia in verses eleven and twelve.

Phi-e-rơ tại Sê-sa-rê Phi-líp, tức Panium, ở trong một giai đoạn thời gian đi trước dấu đường của “núi”, là dấu sẽ được tiếp nối bởi cuộc khải hoàn tiến vào thành, dẫn đến thập tự giá, hay luật ngày Chủ nhật. Giai đoạn thời gian ấy được tiêu biểu bởi trận Panium, là trận kết thúc trong chiến thắng dành cho giáo hoàng và quyền lực đại diện của nó là Hoa Kỳ. Panium là cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ ba trong ba cuộc chiến tranh ủy nhiệm, trong đó cuộc thứ nhất kết thúc tại bức tường Béc-lin vào năm 1989, và cuộc chiến tranh ủy nhiệm cuối cùng, tức cuộc thứ ba, kết thúc tại việc giật đổ “bức tường” ngăn cách giữa hội thánh và nhà nước. Năm 1989 đánh dấu đỉnh điểm của một cuộc chiến tranh ủy nhiệm gọi là “chiến tranh lạnh”, vốn đã bắt đầu vào cuối Thế chiến thứ hai, và Panium tượng trưng cho một cuộc chiến tranh lạnh kết thúc tại Thế chiến thứ ba, được tiêu biểu bởi trận Actium. Ở giữa dấu đường thứ nhất và thứ ba của ba cuộc chiến tranh ủy nhiệm là cuộc chiến tranh theo nghĩa đen tại Ukraine, được tiêu biểu bởi trận Raphia trong các câu mười một và mười hai.

Panium is a cold war that leads to the third World War as represented by the cold war that ended at the time of the end in 1989, and that had begun at the end of the second World War. In the waymarks represented by verse ten and 1989, verse eleven and twelve and the Ukrainian War that began in 2014 and verses thirteen through fifteen and the current cold war between MAGA-ism and globalism there were three presidents that marked alliances between the papacy and the United States.

Panium là một cuộc chiến tranh lạnh dẫn đến Thế chiến thứ ba, như được biểu tượng bởi cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, và đã bắt đầu vào lúc kết thúc Thế chiến thứ hai. Trong các mốc được biểu thị bởi câu mười và năm 1989, câu mười một và mười hai cùng cuộc Chiến tranh Ukraina bắt đầu vào năm 2014, và các câu mười ba đến mười lăm cùng cuộc chiến tranh lạnh hiện nay giữa chủ nghĩa MAGA và chủ nghĩa toàn cầu, đã có ba tổng thống đánh dấu các liên minh giữa giáo hoàng quyền và Hoa Kỳ.

Ronald Reagan was a secret alliance with Pope John Paul II, a conservative pope in terms of the satanic Fatima prophecies and is connected with the prophetic history of verse ten. Obama’s presidency aligns with the history of the battle of Raphia in verse eleven and twelve. In his presidency there were two symbolic popes, for the second waymark identifies a doubling. The third waymark of verses thirteen to fifteen the pope is the first pope from the United States. We initially assumed Pope Leo was a conservative pope as typified by John Paul II, but when applied under the prophetic application of a triple application, the third waymark possesses the characteristics of the first two fulfillment's, so Leo is the conservative John Paul II, he is the former head of the Office of the Inquisition, Benedict XVI, who resigned for the woke pope Francis during Obama’s term.

Ronald Reagan là một liên minh bí mật với Giáo hoàng Gioan Phaolô II, một giáo hoàng bảo thủ xét theo các lời tiên tri mang tính Sa-tan về Fatima, và có liên hệ với lịch sử tiên tri của câu mười. Nhiệm kỳ tổng thống của Obama tương ứng với lịch sử của trận Raphia trong câu mười một và mười hai. Trong nhiệm kỳ của ông đã có hai giáo hoàng mang tính biểu tượng, vì mốc đường thứ hai xác định một sự gấp đôi. Ở mốc đường thứ ba của các câu mười ba đến mười lăm, giáo hoàng là vị giáo hoàng đầu tiên đến từ Hoa Kỳ. Ban đầu chúng tôi cho rằng Giáo hoàng Lêô là một giáo hoàng bảo thủ, như được hình bóng bởi Gioan Phaolô II; nhưng khi được áp dụng dưới ứng dụng tiên tri của một sự ứng nghiệm ba tầng, mốc đường thứ ba mang những đặc tính của hai sự ứng nghiệm đầu tiên; vì vậy, Lêô là Gioan Phaolô II bảo thủ; ông là cựu người đứng đầu Văn phòng Tòa Dị giáo, Bênêđictô XVI, người đã thoái vị để nhường chỗ cho giáo hoàng thức tỉnh Phanxicô trong nhiệm kỳ của Obama.

The first proxy war is represented by one verse, the second by two and the third by three verses. The cold war that ended in 1989, began at the end of the second World War and the third World War represented by the battle of Actium begins at the end of the cold war that is represented by the battle of Panium. The three world wars, as with the three proxy wars are governed by the principles associated with a triple application of prophecy. The end of the second world war began a cold war that ended with the eighth president from Roosevelt in 1945, who was Reagan. Reagan at the time of the end in 1989 began a series of eight presidents leading to Trump (who is of the seven). The cold war of Trump began in 2015, when he announced his candidacy for president and stirred up the globalists, in fulfillment of Daniel eleven verse two. That cold war ends at the Sunday law, which is the battle of Actium, the third obstacle of Rome before she rules supremely.

Cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ nhất được tượng trưng bởi một câu, cuộc chiến thứ hai bởi hai câu, và cuộc chiến thứ ba bởi ba câu. Cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt vào năm 1989 đã bắt đầu vào cuối Thế chiến thứ hai, và Thế chiến thứ ba, được tượng trưng bởi trận Actium, bắt đầu vào cuối cuộc chiến tranh lạnh vốn được tượng trưng bởi trận Panium. Ba cuộc thế chiến, cũng như ba cuộc chiến tranh ủy nhiệm, được chi phối bởi các nguyên tắc gắn liền với sự ứng nghiệm ba lần của lời tiên tri. Sự kết thúc của Thế chiến thứ hai đã mở đầu một cuộc chiến tranh lạnh, và cuộc chiến ấy chấm dứt với vị tổng thống thứ tám kể từ Roosevelt vào năm 1945, tức Reagan. Reagan, vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, đã khởi đầu một chuỗi tám tổng thống dẫn đến Trump (là một người thuộc về bảy vị ấy). Cuộc chiến tranh lạnh của Trump bắt đầu vào năm 2015, khi ông công bố việc ra tranh cử tổng thống và khuấy động các nhà toàn cầu hóa, ứng nghiệm Đa-ni-ên 11:2. Cuộc chiến tranh lạnh ấy chấm dứt vào luật Chúa nhật, tức là trận Actium, chướng ngại thứ ba của La Mã trước khi bà cai trị một cách tối thượng.

Roosevelt began eight presidents to Reagan which began eight presidents to Trump. Roosevelt marks the second World War, dying in April 12th of 1945, and then Truman was president when the European war ended on May 8th, and the Pacific war ended on September 2nd. The European war was largely a land battle and the Pacific war was a sea battle, just as Panium represents a land battle and Actium represents a sea battle. The first illustrates the last, and the sequence of eight presidents is established upon the witness of Daniel eleven, verses two and three, and also upon the enigma of the eighth being of the seven. In the first two Continental Congresses at the beginning of the history of the earth beast of Revelation thirteen, there were seven terms of presidents. In that history George Washington was appointed as Commander and Chief. As the first official president, Washington’s appointment in the Second Continental Congress symbolizes Washington in the very beginning as the eighth of seven presidents.

Roosevelt khởi đầu một chuỗi tám tổng thống dẫn đến Reagan, là chuỗi đã khởi đầu một chuỗi tám tổng thống dẫn đến Trump. Roosevelt đánh dấu Đệ nhị Thế chiến, qua đời ngày 12 tháng 4 năm 1945, rồi Truman là tổng thống khi chiến tranh tại châu Âu chấm dứt vào ngày 8 tháng 5, và chiến tranh tại Thái Bình Dương chấm dứt vào ngày 2 tháng 9. Chiến tranh tại châu Âu phần lớn là một cuộc chiến trên bộ, còn chiến tranh tại Thái Bình Dương là một cuộc chiến trên biển, cũng như Panium tiêu biểu cho một trận chiến trên bộ và Actium tiêu biểu cho một trận chiến trên biển. Điều thứ nhất minh họa điều sau chót, và chuỗi tám tổng thống được xác lập trên chứng liệu của Đa-ni-ên 11, câu 2 và 3, cũng như trên câu đố về vị thứ tám thuộc về bảy vị. Trong hai Quốc hội Lục địa đầu tiên vào lúc khởi đầu lịch sử của con thú từ đất trong Khải Huyền 13, đã có bảy nhiệm kỳ tổng thống. Trong lịch sử ấy, George Washington đã được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh. Với tư cách là tổng thống chính thức đầu tiên, việc Washington được bổ nhiệm trong Quốc hội Lục địa thứ hai tượng trưng cho Washington ngay từ thuở ban đầu là vị thứ tám trong bảy tổng thống.

The first president was the eighth of the first seven presidents, and the last president is the eighth that is of the seven. The priest Zechariah speaks at the birth of John, when the ass speaks, and when the earth beast speaks. This is where the vision of Habakkuk speaks as well. The birth of John, typifying the ensign of the one hundred and forty-four thousand at the Sunday law is the last generation of Zechariah the priest. Zechariah was in the eighth of twenty-four courses of priests. At the Sunday law Zechariah (the priests) speak, when Islam (the ass) speaks and the United States speaks as a dragon. At that waymark the papal deadly wound is healed and she becomes the eighth that is of the seven. Trump is also the eighth that is of the seven, and it is he that forms the image of the beast that is finalized at the Sunday law. The priesthood of the one hundred and forty-four thousand then become God’s mouth, and speak the message in the loud cry of the third angel. That priesthood is the eight church that is of the seven.

Vị tổng thống thứ nhất là vị thứ tám của bảy vị tổng thống đầu tiên, và vị tổng thống cuối cùng là vị thứ tám mà thuộc về bảy vị ấy. Thầy tế lễ Xa-cha-ri nói tại sự ra đời của Giăng, khi con lừa nói, và khi con thú từ đất nói. Đây cũng là nơi khải tượng của Ha-ba-cúc lên tiếng. Sự ra đời của Giăng, tiêu biểu cho cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn nghìn người vào thời điểm luật Chúa nhật, là thế hệ cuối cùng của thầy tế lễ Xa-cha-ri. Xa-cha-ri thuộc ban thứ tám trong hai mươi bốn ban thầy tế lễ. Vào thời điểm luật Chúa nhật, Xa-cha-ri (các thầy tế lễ) nói, khi Hồi giáo (con lừa) nói và Hoa Kỳ nói như một con rồng. Tại cột mốc ấy, vết thương chí tử của giáo hoàng được chữa lành và bà trở thành vị thứ tám mà thuộc về bảy vị. Trump cũng là vị thứ tám mà thuộc về bảy vị ấy, và chính ông là người dựng nên hình tượng của con thú, điều được hoàn tất vào thời điểm luật Chúa nhật. Khi ấy, chức tế lễ của một trăm bốn mươi bốn nghìn người trở thành miệng của Đức Chúa Trời, và rao truyền sứ điệp trong tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba. Chức tế lễ ấy là hội thánh thứ tám mà thuộc về bảy hội thánh.

Roosevelt begins eight presidents that lead to the time of the end in 1989, and he marks the transition from the second World War unto the cold war that ends in 1989. President Truman followed Roosevelt and reigned when the earth and sea battles that made up the second world war ended. As president, Truman reigned when the United Nations began on October 24, 1945. The relation of Roosevelt and Truman is established by the year 1945. Both were presidents in that year, and in that year the twofold war that was the second World War ended, and the United Nations was formed, and the cold war began.

Roosevelt khởi đầu tám đời tổng thống dẫn đến thời kỳ cuối cùng vào năm 1989, và ông đánh dấu sự chuyển tiếp từ Thế chiến thứ hai sang cuộc chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1989. Tổng thống Truman kế nhiệm Roosevelt và cai trị vào thời điểm các cuộc chiến trên đất liền và trên biển cấu thành Thế chiến thứ hai chấm dứt. Với tư cách là tổng thống, Truman cai trị khi Liên Hiệp Quốc được thành lập vào ngày 24 tháng 10 năm 1945. Mối liên hệ giữa Roosevelt và Truman được xác lập bởi năm 1945. Cả hai đều là tổng thống trong năm ấy, và trong năm ấy cuộc chiến kép là Thế chiến thứ hai đã chấm dứt, Liên Hiệp Quốc đã được thành lập, và cuộc chiến tranh lạnh đã bắt đầu.

In 1989 there also were two presidents, as with 1945; Ronald Reagan and George Bush the first. Reagan ended the cold war and George Bush the first, announced that he was first and foremost a globalist when he addressed the “forty-fifth” UN General Assembly on October 1, 1990, where he spoke about building a “new world order.” In the speech he stated, “It is in our hands to leave these dark machines behind, in the Dark Ages where they belong, and to press forward to cap a historic movement towards a new world order and a long era of peace.”

Năm 1989 cũng có hai tổng thống, như năm 1945; Ronald Reagan và George Bush cha. Reagan đã chấm dứt chiến tranh lạnh, còn George Bush cha đã tuyên bố rằng ông trước hết và trên hết là một người theo chủ nghĩa toàn cầu khi ông phát biểu trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc “lần thứ bốn mươi lăm” vào ngày 1 tháng 10 năm 1990, nơi ông nói về việc xây dựng một “trật tự thế giới mới.” Trong bài phát biểu ấy, ông tuyên bố: “Trong tay chúng ta là việc để lại phía sau những cỗ máy đen tối này, trong Thời kỳ Tăm tối, nơi chúng thuộc về, và tiến lên để hoàn tất một phong trào mang tính lịch sử hướng tới một trật tự thế giới mới và một kỷ nguyên hòa bình lâu dài.”

In this speech, Bush linked the concept to post-Cold War cooperation, the Gulf Crisis (Iraq’s invasion of Kuwait), strengthening the UN, and a new partnership of nations based on the rule of law. Bush first popularized the phrase “new world order” a few weeks earlier in a September 11, 1990, address to a joint session of Congress.

Trong bài diễn văn này, Bush đã gắn kết khái niệm ấy với sự hợp tác thời hậu Chiến tranh Lạnh, cuộc Khủng hoảng vùng Vịnh (việc Iraq xâm lược Kuwait), việc củng cố Liên Hiệp Quốc, và một quan hệ đối tác mới giữa các quốc gia dựa trên pháp quyền. Bush lần đầu tiên phổ biến cụm từ “trật tự thế giới mới” vài tuần trước đó trong bài diễn văn ngày 11 tháng 9 năm 1990 trước phiên họp chung của Quốc hội.

Notice the fact that Bush placed his UN speech in a context where he identified the recent cold war ending in terms of the “Dark Ages.” The Dark Ages ended at the time of the end in 1798, and Bush was at the time of the end of 1989. Notice that his first coining of the phrase “new world order,” Islam was angering the nations, and the speech was given on 9/11. Roosevelt to Carter was eight presidents, and from Reagan to Trump was eight presidents. Trump is the last president and he was typified by the first president, who was the eighth of the first seven presidents.

Hãy lưu ý thực tế rằng Bush đã đặt bài diễn văn của mình tại Liên Hiệp Quốc trong một bối cảnh nơi ông xác định sự chấm dứt của cuộc chiến tranh lạnh gần đây theo các thuật ngữ của “Thời kỳ Tăm tối.” Thời kỳ Tăm tối đã chấm dứt vào thời kỳ cuối cùng năm 1798, và Bush đang ở vào thời kỳ cuối cùng của năm 1989. Hãy lưu ý rằng khi ông lần đầu tiên đặt ra cụm từ “trật tự thế giới mới,” Hồi giáo đang chọc giận các quốc gia, và bài diễn văn ấy đã được trình bày vào ngày 11/9. Từ Roosevelt đến Carter là tám đời tổng thống, và từ Reagan đến Trump cũng là tám đời tổng thống. Trump là vị tổng thống cuối cùng, và ông đã được tiêu biểu bởi vị tổng thống đầu tiên, là người thứ tám của bảy vị tổng thống đầu tiên.

The time of the end in 1798 identifies the deadly wound of the papacy, and the papacy was the power that reigned over the kings of Europe during the Dark Ages. In Revelation seventeen that relationship is portrayed as a whore that is riding upon, and reigning over a beast. In 1798 the support of European kings was removed and the beast was dead. In 1799 the pope died in exile. 1798 and 1799 represent the time of the end in its fullest sense, just as the time of the end in the time of Christ is marked by the birth of John the Baptist and then six months later the birth of Christ. Bush’s remarks of 1990 represent Bush as the second of two presidents that mark the time of the end, and mark the movement towards globalism, which is the dragon power. Bush’s symbolism marks a step towards the Sunday law when the United States ends as the sixth kingdom of Bible prophecy by speaking as a dragon. At The Sunday law the United States becomes the voice of the United Nations. In that very context Islam is angering the nations, and 9/11 is marked. September 11, 1990 when Bush the first spoke about his globalist agenda to the Congress he was typifying when Islam would again anger the nations at 9/11 in 2001, but then the president would be Bush the last.

Thời kỳ cuối cùng vào năm 1798 xác định vết thương chí mạng của giáo hoàng, và giáo hoàng là quyền lực đã cai trị trên các vua chúa của Âu châu trong thời kỳ Hắc Ám. Trong Khải-huyền 17, mối quan hệ ấy được mô tả như một dâm phụ đang cưỡi trên và cai trị một con thú. Vào năm 1798, sự hậu thuẫn của các vua chúa Âu châu bị cất đi, và con thú đã chết. Năm 1799, giáo hoàng chết trong cảnh lưu đày. Các năm 1798 và 1799 tượng trưng cho thời kỳ cuối cùng theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, cũng như thời kỳ cuối cùng vào thời Đấng Christ được đánh dấu bởi sự ra đời của Giăng Báp-tít, rồi sáu tháng sau là sự ra đời của Đấng Christ. Những phát biểu của Bush vào năm 1990 tiêu biểu cho Bush như vị tổng thống thứ hai trong hai vị tổng thống đánh dấu thời kỳ cuối cùng, đồng thời đánh dấu phong trào hướng tới chủ nghĩa toàn cầu, tức là quyền lực của con rồng. Biểu tượng của Bush đánh dấu một bước tiến tới luật ngày Chủ nhật khi Hoa Kỳ chấm dứt vai trò là vương quốc thứ sáu của lời tiên tri Kinh Thánh bằng cách nói như con rồng. Vào lúc luật ngày Chủ nhật, Hoa Kỳ trở thành tiếng nói của Liên Hiệp Quốc. Chính trong bối cảnh ấy, Hồi giáo đang chọc giận các dân tộc, và biến cố 11/9 được đánh dấu. Ngày 11 tháng 9 năm 1990, khi Bush thứ nhất phát biểu với Quốc hội về chương trình nghị sự toàn cầu của mình, ông đang làm hình bóng cho thời điểm Hồi giáo một lần nữa sẽ chọc giận các dân tộc vào ngày 11/9 năm 2001, nhưng khi ấy tổng thống sẽ là Bush cuối cùng.

Roosevelt, the first of eight presidents marked the end of the second World War in 1945, and was followed by the next president ushering in the United Nations. Reagan, the first of eight presidents marked the end of the cold war in 1989, and was followed by with the next president promoting the United Nations. The last president of eight presidents will end a cold war that started when he announced his intent to run in 2015, and begin the third World War. He will transition the sixth kingdom of Bible prophecy into the head of the seventh kingdom of Bible prophecy (the UN), and then agree to give that kingdom to the beast at the Sunday law.

Roosevelt, vị đầu tiên trong số tám tổng thống, đã đánh dấu sự kết thúc của Thế chiến thứ hai vào năm 1945, và tiếp theo là vị tổng thống kế nhiệm mở đường cho Liên Hiệp Quốc. Reagan, vị đầu tiên trong số tám tổng thống, đã đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh lạnh vào năm 1989, và tiếp theo là vị tổng thống kế nhiệm cổ vũ Liên Hiệp Quốc. Vị tổng thống cuối cùng trong số tám tổng thống sẽ chấm dứt một cuộc chiến tranh lạnh đã bắt đầu khi ông tuyên bố ý định ra tranh cử vào năm 2015, và khởi đầu Thế chiến thứ ba. Ông sẽ chuyển tiếp vương quốc thứ sáu của lời tiên tri trong Kinh Thánh thành đầu của vương quốc thứ bảy của lời tiên tri trong Kinh Thánh (Liên Hiệp Quốc), rồi sau đó đồng ý trao vương quốc ấy cho con thú vào luật ngày Chủ nhật.

Just as the second World War was made up of a ground and a sea war, the last president will have a cold war, represented by the land battle of Panium that leads to the sea battle of Actium. At the Sunday law the cold war that began with Trump stirring up the globalists in 2015, changes to the third World War as represented by the land and sea battles of World War II. At the end of World War II the next step was the globalism of the United Nations, just as was the case at the end of the cold war with Reagan and Bush. First the United States ends at the Sunday law, then Bush’s “new world order” introduces the seventh kingdom, which immediately agrees to give their authority to the eighth kingdom.

Cũng như Thế chiến thứ hai bao gồm một cuộc chiến trên bộ và một cuộc chiến trên biển, vị tổng thống cuối cùng sẽ có một cuộc chiến tranh lạnh, được tượng trưng bởi trận chiến trên bộ tại Panium, dẫn đến trận hải chiến tại Actium. Vào luật ngày Chúa nhật, cuộc chiến tranh lạnh đã bắt đầu với việc Trump khuấy động những người theo chủ nghĩa toàn cầu vào năm 2015 sẽ chuyển thành Thế chiến thứ ba, như được tượng trưng bởi các trận chiến trên bộ và trên biển của Thế chiến thứ hai. Vào cuối Thế chiến thứ hai, bước tiếp theo là chủ nghĩa toàn cầu của Liên Hiệp Quốc, cũng như đã từng xảy ra vào cuối cuộc chiến tranh lạnh với Reagan và Bush. Trước hết, Hoa Kỳ chấm dứt tại luật ngày Chúa nhật; rồi “trật tự thế giới mới” của Bush đưa vào vương quốc thứ bảy, là vương quốc ngay lập tức đồng ý trao quyền lực của mình cho vương quốc thứ tám.

Bush the first and Bush the last are tied together by the first’s announcement of the “new world order” to Congress at 9/11 and the last’s Patriot Act of 2001. Both waymarks are placed within the context of Islam angering the nations.

Bush thứ nhất và Bush cuối cùng được gắn kết với nhau bởi việc người thứ nhất công bố trước Quốc hội về “trật tự thế giới mới” vào ngày 11/9 và Đạo luật Yêu nước năm 2001 của người sau. Cả hai dấu mốc ấy đều được đặt trong bối cảnh Hồi giáo chọc giận các dân tộc.

We will continue these things in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục những điều này trong bài viết kế tiếp.