I contend that it is important to understand the connection of the symbol of four generations with the latter rain message to have the best hope of recognizing the significance of the opening four verses of Joel chapter one. Joel sings the song of the vineyard, but his opening stanza is the covenant’s prophetic association with four generations.

Tôi cho rằng điều quan trọng là phải hiểu mối liên hệ giữa biểu tượng về bốn thế hệ với sứ điệp mưa rào cuối mùa để có hy vọng tốt nhất nhận ra ý nghĩa của bốn câu mở đầu chương một sách Giô-ên. Giô-ên cất lên bài ca về vườn nho, nhưng khổ mở đầu của ông là mối liên hệ mang tính tiên tri của giao ước với bốn thế hệ.

And he said unto Abram, Know of a surety that thy seed shall be a stranger in a land that is not theirs, and shall serve them; and they shall afflict them four hundred years; And also that nation, whom they shall serve, will I judge: and afterward shall they come out with great substance. And thou shalt go to thy fathers in peace; thou shalt be buried in a good old age. But in the fourth generation they shall come hither again: for the iniquity of the Amorites is not yet full. Genesis 15:13–16.

Ngài phán với Áp-ram: Ngươi phải biết chắc rằng dòng dõi ngươi sẽ làm khách lạ trong một xứ không thuộc về họ; chúng sẽ phục dịch người ta, và người ta sẽ hà hiếp chúng bốn trăm năm. Nhưng Ta cũng sẽ xét đoán dân tộc mà chúng phục dịch; rồi sau đó, chúng sẽ ra khỏi đó với của cải lớn. Phần ngươi, ngươi sẽ về cùng tổ phụ mình cách bình an; ngươi sẽ được chôn trong tuổi già tốt đẹp. Đến đời thứ tư, họ sẽ trở lại đây, vì tội ác của người A-mô-rít vẫn chưa trọn. Sáng Thế Ký 15:13-16.

This passage is the prophecy that was fulfilled through the life of Moses. When the book of Joel begins the song of the vineyard by referencing four generations of escalating destruction, it is aligning the book of Joel with the prophetic fourth and final generation. That generation is Peter’s “chosen generation” who have been called out of darkness into His “marvelous light.” They are contrasted with their generational counterpart represented as a generation of vipers. That fourth and final generation is represented by John, who is a symbol of the one hundred and forty-four thousand, who “are called, and chosen, and faithful.”

Đoạn này là lời tiên tri đã được ứng nghiệm qua cuộc đời của Moses. Khi sách Joel mở đầu bài ca về vườn nho bằng việc nhắc tới bốn thế hệ với mức độ hủy diệt tăng dần, điều đó gắn sách Joel với thế hệ thứ tư và cuối cùng theo lời tiên tri. Thế hệ ấy là “thế hệ được chọn” của Peter, những người đã được gọi ra khỏi bóng tối vào “ánh sáng diệu kỳ” của Ngài. Họ được đặt trong thế đối chiếu với đối trọng cùng thế hệ của họ, được mô tả như một thế hệ rắn độc. Thế hệ thứ tư và cuối cùng ấy được đại diện bởi John, người là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, những người “được gọi, được chọn lựa và trung tín.”

Called at 9/11, chosen in the Midnight Cry and faithful at the Sunday law crisis, just as the Levites were faithful in Aarons and Jeroboams’ golden calf rebellions. The souls who are purified as silver in Malachi three, are Levites who are chosen during the message of the Midnight Cry, for the sealing is accomplished with, and by, an outpouring of the Holy Spirit.

Được kêu gọi vào 9/11, được chọn trong Tiếng Kêu Nửa Đêm và trung tín trong cơn khủng hoảng luật ngày Chủ nhật, cũng như người Lê-vi đã trung tín trong các cuộc nổi loạn con bò vàng của A-rôn và Giê-rô-bô-am. Những linh hồn được tinh luyện như bạc trong Ma-la-chi đoạn ba là những người Lê-vi được chọn trong thời kỳ sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, vì sự đóng ấn được thực hiện bằng, và qua, sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh.

In the previous article we brought out lines from the history of Moses, who Sister White identifies as the alpha of Bible prophecy, who prophetically connects with Christ as the omega of Bible prophecy. Moses is the foundation stone and Christ is the capstone. They both are symbols of deliverance from sin, as represented by the deliverance from Egypt with Moses. Yet all the manifestations of the power of God that occurred at the hands of Moses, were far surpassed, when Christ confirmed the covenant with many for one week. Moses is the alpha and Christ is the omega, and the omega is the number “22” and the alpha is the number “1.”

Trong bài viết trước, chúng ta đã nêu lên những nét từ lịch sử của Môi-se, người mà Bà White xác định là “anpha” của lời tiên tri Kinh Thánh, và người được kết nối cách tiên tri với Đấng Christ là “ômega” của lời tiên tri Kinh Thánh. Môi-se là viên đá nền tảng và Đấng Christ là viên đá chóp. Cả hai đều là biểu tượng của sự giải cứu khỏi tội lỗi, điều được thể hiện qua cuộc giải cứu khỏi Ai Cập dưới sự lãnh đạo của Môi-se. Tuy nhiên, mọi sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời đã diễn ra qua tay Môi-se đều bị vượt xa khi Đấng Christ xác nhận giao ước với nhiều người trong một tuần lễ. Môi-se là anpha và Đấng Christ là ômega, và ômega là con số “22” còn anpha là con số “1”.

Dealing with Moses we find the deliverance which pervades his prophetic testimony is set within water. His deliverance from the water of the Nile at his birth, typified Noah in the ark. The baptism at the Red Sea aligns with Noah and the eight within the ark, which in turn aligns with the baptism of Joshua at the Jordan River, that was repeated by Christ at the very same spot. The testimony of Moses begins with deliverance at the Nile River and ends at the banks of the Jordan River. The baptism of Christ was His anointing to witness for three and a half years leading up to His death, which was represented at the beginning at His baptism. At His resurrection there was a few drops until the full outpouring at Pentecost.

Khi xét đến Môi-se, chúng ta thấy sự giải cứu thấm nhuần lời chứng tiên tri của ông gắn liền với nước. Sự giải cứu ông khỏi nước sông Nin khi mới sinh phảng phất hình bóng của Nô-ê trong chiếc tàu. Phép báp-têm tại Biển Đỏ tương ứng với Nô-ê và tám người ở trong tàu, và điều đó lại tương ứng với phép báp-têm của Giô-suê tại sông Giô-đanh, điều đã được Đấng Christ lặp lại ngay tại chính địa điểm ấy. Lời chứng của Môi-se bắt đầu với sự giải cứu tại sông Nin và kết thúc ở bờ sông Giô-đanh. Phép báp-têm của Đấng Christ là sự xức dầu để Ngài làm chứng trong ba năm rưỡi cho đến khi Ngài chịu chết, điều đã được biểu thị ngay từ ban đầu trong phép báp-têm của Ngài. Khi Ngài phục sinh thì chỉ mới là vài giọt, cho đến khi sự tuôn đổ trọn vẹn vào Lễ Ngũ Tuần.

God’s covenant promise to mankind begins with Noah, and His covenant promise to a chosen people through Abraham was fulfilled with Moses. Moses the alpha typified Jesus the omega who would come and confirm the covenant with “many,” not just a chosen people. As a type of Christ, Moses’ birth aligns with the covenant given to Noah, with the rainbow as the sign for all people. Moses also aligns with the covenant given to a chosen people, with circumcision as the sign for the chosen people. Moses’ covenant work was with “many,” not simply a chosen people. If that had not been the case, they would not have been constantly plagued by the mixed multitude.

Lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời đối với nhân loại bắt đầu với Nô-ê, và lời hứa giao ước của Ngài đối với một dân được chọn qua Áp-ra-ham đã được làm trọn qua Môi-se. Môi-se, Anpha, tiêu biểu cho Giê-su, Ômêga, Đấng sẽ đến và xác nhận giao ước với "nhiều người", chứ không chỉ với một dân được chọn. Là hình bóng của Đấng Christ, sự ra đời của Môi-se tương ứng với giao ước ban cho Nô-ê, với cầu vồng làm dấu cho mọi người. Môi-se cũng tương ứng với giao ước dành cho một dân được chọn, với phép cắt bì làm dấu cho dân được chọn. Công việc giao ước của Môi-se là với "nhiều người", chứ không đơn thuần với một dân được chọn. Nếu không phải như vậy, họ đã không liên tục bị quấy nhiễu bởi đám dân tạp.

In the middle of all the various ‘waters of deliverance’ represented throughout the life of Moses, the baptism at Bethabara on the Jordan River connects the beginning of ancient Israel’s covenant history in the Promised Land and with the end of its history, during the week that Christ confirmed the covenant with many. Christ’s baptism aligns with ancient Israel’s baptism and both histories speak to His resurrection when He breathed a few drops of rain, before the plentiful showers at Pentecost fifty days later. The entire line of alpha and omega in terms of Moses to Christ is portrayed within the waters of deliverance.

Giữa mọi dạng 'những dòng nước giải cứu' được thể hiện xuyên suốt đời Môi-se, phép báp-têm tại Bethabara trên sông Giô-đanh kết nối khởi đầu lịch sử giao ước của Y-sơ-ra-ên cổ đại trong Đất Hứa với phần kết thúc lịch sử ấy, trong tuần lễ khi Đấng Christ xác nhận giao ước với nhiều người. Phép báp-têm của Đấng Christ tương ứng với phép báp-têm của Y-sơ-ra-ên cổ đại, và cả hai lịch sử đều nói về sự phục sinh của Ngài, khi Ngài thở ra vài giọt mưa, trước những cơn mưa rào dồi dào tại Lễ Ngũ Tuần năm mươi ngày sau. Toàn bộ mạch từ Alpha đến Ômêga, xét từ Môi-se đến Đấng Christ, được khắc họa trong các dòng nước giải cứu.

“In teaching these disciples, Jesus showed the importance of the Old Testament as a witness to His mission. Many professed Christians now discard the Old Testament, claiming that it is no longer of any use. But such is not Christ’s teaching. So highly did He value it that at one time He said, ‘If they hear not Moses and the prophets, neither will they be persuaded, though one rose from the dead.’ Luke 16:31.

Khi dạy các môn đồ ấy, Chúa Giê-xu cho thấy tầm quan trọng của Cựu Ước như lời chứng cho sứ mệnh của Ngài. Nhiều người tự xưng là Cơ Đốc nhân hiện nay gạt bỏ Cựu Ước, cho rằng nó không còn ích dụng gì nữa. Nhưng đó không phải là sự dạy dỗ của Đấng Christ. Ngài coi trọng nó đến nỗi có lần Ngài phán: “Nếu họ không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dẫu có người từ kẻ chết sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.” Lu-ca 16:31.

It is the voice of Christ that speaks through patriarchs and prophets, from the days of Adam even to the closing scenes of time. The Saviour is revealed in the Old Testament as clearly as in the New. It is the light from the prophetic past that brings out the life of Christ and the teachings of the New Testament with clearness and beauty. The miracles of Christ are a proof of His divinity; but a stronger proof that He is the world’s Redeemer is found in comparing the prophecies of the Old Testament with the history of the New.” The Desire of Ages, 799.

"Chính tiếng phán của Đấng Christ vang qua các tổ phụ và các tiên tri, từ những ngày của A-đam cho đến những cảnh cuối cùng của thời gian. Đấng Cứu Thế được bày tỏ trong Cựu Ước rõ ràng như trong Tân Ước. Chính ánh sáng từ quá khứ tiên tri làm sáng tỏ đời sống của Đấng Christ và những giáo huấn của Tân Ước với sự rõ ràng và vẻ đẹp. Những phép lạ của Đấng Christ là bằng chứng về thần tính của Ngài; nhưng một bằng chứng mạnh mẽ hơn rằng Ngài là Đấng Cứu Chuộc của thế gian được tìm thấy khi so sánh các lời tiên tri của Cựu Ước với lịch sử của Tân Ước." The Desire of Ages, 799.

In the articles addressing the book of Joel, we have been “comparing the prophecies of the Old Testament with the history of the New,” and also the history of modern spiritual Israel. Whether it is the Old or New Testaments or the history of the three angels that began in 1798, all of those lines are represented as “the voice of Christ.” The written testimony of the Bible and the Spirit of Prophecy is the voice of Christ, and the voice of Christ, is the voice of He who is the Word of God.

Trong các bài viết bàn về sách Giô-ên, chúng ta đã "so sánh các lời tiên tri của Cựu Ước với lịch sử của Tân Ước", và cũng so sánh với lịch sử của Y-sơ-ra-ên thuộc linh thời hiện đại. Dù là Cựu hay Tân Ước, hoặc lịch sử về ba thiên sứ bắt đầu vào năm 1798, tất cả những điều ấy đều được trình bày như "tiếng phán của Đấng Christ." Lời chứng viết của Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri là tiếng phán của Đấng Christ, và tiếng phán của Đấng Christ là tiếng phán của Đấng là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời.

The “voice” of the Word of God, is God’s message as represented in His written Word. His message in the last days is the message of the latter rain, which includes a former rain, followed by a former and latter rain, according to Joel.

“Tiếng nói” của Lời Đức Chúa Trời là sứ điệp của Đức Chúa Trời, được bày tỏ trong Lời đã chép của Ngài. Sứ điệp của Ngài trong những ngày sau rốt là sứ điệp về mưa cuối mùa, bao gồm mưa đầu mùa, rồi kế đến là mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, theo Giô-ên.

John the Revelator represents the one hundred and forty-four thousand who return to the old paths, for he hears a “voice” behind him. The “voice” behind is the voice of Christ “from the days of Adam” onward.

Gioan, người nhận khải thị, đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người trở về những nẻo xưa, vì ông nghe một "tiếng" phía sau mình. "Tiếng" phía sau ấy là tiếng của Chúa Kitô "từ thời A-đam" trở đi.

And I turned to see the voice that spake with me. And being turned, I saw seven golden candlesticks. Revelation 1:12.

Tôi quay lại để xem tiếng nói đã phán cùng tôi. Và khi quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng. Khải Huyền 1:12.

The verse represents a break in chapter one, for up until the previous verse John was in the isle which is called Patmos, but in verse twelve he turns, and from there on John is in the Heavenly Sanctuary. When he turns, he is doing so, for in verse ten he had heard a voice from behind.

Câu ấy đánh dấu một chỗ ngắt trong chương một, vì cho đến câu trước đó Giăng còn ở trên hòn đảo gọi là Patmos, nhưng ở câu mười hai ông quay lại, và từ đó trở đi Giăng ở trong Đền thánh trên trời. Khi ông quay lại là vì ở câu mười ông đã nghe một tiếng nói từ phía sau.

I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet, Saying, I am Alpha and Omega, the first and the last: and, What thou seest, write in a book, and send it unto the seven churches which are in Asia; unto Ephesus, and unto Smyrna, and unto Pergamos, and unto Thyatira, and unto Sardis, and unto Philadelphia, and unto Laodicea. Revelation 1:10, 11.

Tôi ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là đầu tiên và là cuối cùng; điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách, và gửi cho bảy hội thánh ở A-si-a: Ê-phê-sô, Si-miếc-nơ, Bẹt-gam, Thi-a-ti-ra, Sạt-đê, Phi-la-đen-phi, và Lao-đi-xê. Khải Huyền 1:10, 11.

John represents those who hear the voice of Christ behind them. He hears Jeremiah’s trumpet message to return to the old paths, the paths the wicked refused to walk in and the warning trumpet they refuse to listen to. John listened, and the voice behind him identified himself as Alpha and Omega—the One who illustrates the new path, with the old path.

Giăng đại diện cho những người nghe tiếng của Đấng Christ phía sau họ. Ông nghe sứ điệp tiếng kèn của Giê-rê-mi kêu gọi trở về các nẻo xưa, những nẻo đường mà kẻ ác đã từ chối bước đi, và tiếng kèn cảnh báo mà họ không chịu lắng nghe. Giăng đã lắng nghe, và tiếng nói phía sau ông tự xưng là An-pha và Ô-mê-ga—Đấng bày tỏ con đường mới cùng với con đường xưa.

And in the midst of the seven candlesticks one like unto the Son of man, clothed with a garment down to the foot, and girt about the paps with a golden girdle. His head and his hairs were white like wool, as white as snow; and his eyes were as a flame of fire; And his feet like unto fine brass, as if they burned in a furnace; and his voice as the sound of many waters. And he had in his right hand seven stars: and out of his mouth went a sharp twoedged sword: and his countenance was as the sun shineth in his strength. Revelation 1:13–16.

Và ở giữa bảy chân đèn, có một Đấng giống như Con Người, mặc áo dài đến chân, thắt ngang ngực bằng một đai vàng. Đầu và tóc Ngài trắng như lông chiên, trắng như tuyết; mắt Ngài như ngọn lửa. Chân Ngài giống như đồng đánh bóng, dường như đã luyện trong lò; và tiếng Ngài như tiếng của nhiều dòng nước. Trong tay hữu Ngài có bảy ngôi sao; từ miệng Ngài ra một thanh gươm bén hai lưỡi; và dung mạo Ngài chói sáng như mặt trời chiếu sáng trong sức mạnh của nó. Khải Huyền 1:13-16.

In verse twelve John turns around and sees a vision of Christ which Sister White aligns with the vision of Christ that Daniel had, which is the vision Isaiah, Jeremiah, Ezekiel and Paul had.

Trong câu 12, Giăng quay lại và thấy một khải tượng về Đấng Christ, mà Bà White cho là trùng với khải tượng về Đấng Christ mà Đa-ni-ên đã thấy, cũng là khải tượng mà Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và Phao-lô đã thấy.

“It is with an earnest longing that I look forward to the time when the events of the day of Pentecost shall be repeated with even greater power than on that occasion. John says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory.’ Then, as at the Pentecostal season, the people will hear the truth spoken to them, every man in his own tongue.

Với niềm khao khát tha thiết, tôi trông đợi thời điểm khi những sự kiện trong ngày Lễ Ngũ Tuần sẽ được lặp lại với quyền năng còn lớn hơn cả khi ấy. Giăng nói: "Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy." Bấy giờ, như vào dịp Lễ Ngũ Tuần, dân chúng sẽ nghe lẽ thật được nói với họ, mỗi người bằng tiếng riêng của mình.

God can breathe new life into every soul that sincerely desires to serve Him [Adam and Ezekiel’s valley of bones], and can touch the lips with a live coal from off the altar [Isaiah], and cause them to become eloquent with His praise. Thousands of voices will be imbued with the power to speak forth the wonderful truths of God’s Word. The stammering tongue will be unloosed [Isaiah’s other tongue], and the timid will be made strong to bear courageous testimony to the truth. May the Lord help His people to cleanse the soul temple from every defilement [Malachi’s Levites], and to maintain such a close connection with Him that they may be partakers of the latter rain when it shall be poured out.” Review and Herald, July 20, 1886.

“Đức Chúa Trời có thể hà hơi sự sống mới vào mọi linh hồn thật lòng ao ước phục vụ Ngài [A-đam và thung lũng xương khô của Ê-xê-chi-ên], và có thể chạm môi bằng một hòn than hồng lấy từ trên bàn thờ [Ê-sai], khiến họ trở nên hùng hồn trong sự ngợi khen Ngài. Hàng ngàn tiếng nói sẽ được ban quyền năng để rao truyền những lẽ thật kỳ diệu của Lời Đức Chúa Trời. Lưỡi ấp úng sẽ được tháo mở [“lưỡi khác” của Ê-sai], và kẻ nhút nhát sẽ được làm cho mạnh mẽ để làm chứng cách can đảm cho lẽ thật. Nguyện Chúa giúp dân Ngài thanh tẩy đền thờ của linh hồn khỏi mọi ô uế [các Lê-vi của Ma-la-chi], và giữ mối liên hệ mật thiết với Ngài đến nỗi họ có thể dự phần vào mưa cuối mùa khi được đổ xuống.” Review and Herald, 20 tháng 7, 1886.

The vision we are considering includes the description of Christ’s voice. When John turns and hears Christ’s voice, it is as the sound of “many waters.” When Christ’s voice speaks of His covenant with men or with a chosen people it is associated with many waters. The message of Daniel seven through nine was unsealed in 1798, and then, in 1989 the message of Daniel ten through twelve was unsealed. 1798 is associated with the voice of the Ulai River and 1989 is the voice of the Hiddekel River.

Khải tượng mà chúng ta đang xem xét bao gồm mô tả về tiếng phán của Đấng Christ. Khi Giăng quay lại và nghe tiếng phán của Đấng Christ, thì tiếng ấy như tiếng của “nhiều nước”. Khi tiếng phán của Đấng Christ nói về giao ước của Ngài với loài người hoặc với một dân được chọn, thì nó gắn liền với nhiều nước. Thông điệp của Đa-ni-ên đoạn 7 đến 9 đã được mở ấn vào năm 1798, và rồi, vào năm 1989, thông điệp của Đa-ni-ên đoạn 10 đến 12 đã được mở ấn. Năm 1798 tương ứng với tiếng của sông Ulai và năm 1989 là tiếng của sông Hiddekel.

“The light that Daniel received from God was given especially for these last days. The visions he saw by the banks of the Ulai and the Hiddekel, the great rivers of Shinar, are now in process of fulfillment, and all the events foretold will soon come to pass.” Testimonies to Ministers, 112.

"Ánh sáng mà Daniel nhận từ Đức Chúa Trời đã được ban đặc biệt cho những ngày sau rốt này. Những khải tượng ông thấy bên bờ sông Ulai và Hiddekel, những con sông lớn của Shinar, hiện đang được ứng nghiệm, và mọi sự kiện đã được báo trước sẽ sớm xảy ra." Testimonies to Ministers, 112.

The River Jordan is the link between the alpha covenant history and the omega covenant history of ancient Israel. The word Jordan means ‘descender’ and represents Christ ‘the great descender.’

Sông Giô-đanh là mối liên kết giữa lịch sử giao ước Anpha và lịch sử giao ước Ômêga của Israel cổ đại. Từ 'Giô-đanh' nghĩa là 'người đi xuống' và tượng trưng cho Đấng Christ, 'Đấng đi xuống vĩ đại'.

Let this mind be in you, which was also in Christ Jesus: Who, being in the form of God, thought it not robbery to be equal with God: But made himself of no reputation, and took upon him the form of a servant, and was made in the likeness of men: And being found in fashion as a man, he humbled himself, and became obedient unto death, even the death of the cross. Philippians 2:5–9.

Hãy để tâm trí này ở trong anh em, vốn cũng ở trong Đấng Christ Jêsus: Ngài, vốn có hình Đức Chúa Trời, không cho rằng sự ngang bằng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ; nhưng Ngài đã tự bỏ mình, mặc lấy hình dạng của một đầy tớ, trở nên giống như loài người; và khi đã hiện ra như một người, Ngài tự hạ mình, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá. Phi-líp 2:5-9.

The Jordan River represents Christ ‘the great descender’ and the Jordan is the connection between the alpha and omega history of the chosen people of God, who were given a vineyard to maintain. Moses’ waters of deliverance represent the voice of Christ, that can be heard if a soul would but turn around, to hear ‘the voice behind them,’ and the voice they would then hear is—the voice of many waters. From the flood of Noah to the destruction of Jerusalem in 70 AD, waters of deliverance are set forth as waymarks for God’s covenant people. Those waymarks represent the internal history of God’s final covenant people, the one hundred and forty-four thousand. The water that supplies the Jordan River originates in the dew and snow that accumulates in the Hermon mountains, which form the head waters of the Jordan River.

Sông Giô-đanh tượng trưng cho Đấng Christ, “Đấng giáng xuống vĩ đại”, và sông Giô-đanh là mối liên kết giữa lịch sử An-pha và Ô-mê-ga của dân được Đức Chúa Trời chọn, những người được giao một vườn nho để chăm giữ. Những làn nước giải cứu của Môi-se tượng trưng cho tiếng phán của Đấng Christ, có thể được nghe nếu một linh hồn chỉ chịu quay lại để nghe “tiếng ở phía sau mình”, và tiếng họ sẽ nghe khi ấy là tiếng của nhiều dòng nước. Từ trận đại hồng thủy thời Nô-ê đến sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên, những làn nước giải cứu được đặt ra như các cột mốc chỉ đường cho dân giao ước của Đức Chúa Trời. Những cột mốc ấy tượng trưng cho lịch sử nội tại của dân giao ước cuối cùng của Đức Chúa Trời, tức một trăm bốn mươi bốn nghìn. Nguồn nước cung cấp cho sông Giô-đanh bắt đầu từ sương móc và tuyết tích tụ trên dãy núi Hẹt-môn, nơi tạo thành đầu nguồn của sông Giô-đanh.

A Song of degrees of David. Behold, how good and how pleasant it is for brethren to dwell together in unity! It is like the precious ointment upon the head, that ran down upon the beard, even Aaron’s beard: that went down to the skirts of his garments; As the dew of Hermon, and as the dew that descended upon the mountains of Zion: for there the Lord commanded the blessing, even life for evermore. Psalms 133:1–3.

Bài ca đi lên của Đa-vít. Kìa, anh em cùng sống hiệp một, thật tốt lành và dễ chịu biết bao! Khác nào dầu thơm quý giá đổ trên đầu, chảy xuống râu, tức là râu của Aaron, chảy xuống tới gấu áo của người; Như sương Hermon, như sương rơi trên các núi Zion; vì tại đó Chúa truyền ban phước lành, tức là sự sống đời đời. Thi Thiên 133:1-3.

Those waters also produce the grotto of Pan, a deep pool, set within a cave located in Panium of Daniel 11:13–15, and Caesarea Philippi in the days of Peter. The head waters of the Jordan River also produce the satanic pool of the grotto of Pan. The voice of many waters identifies that the great controversy between Christ and Satan originated in the high mountain peaks of the Hermon mountains.

Những dòng nước ấy cũng tạo nên hang động của Pan, một hồ nước sâu, nằm trong một hang tọa lạc tại Panium của Daniel 11:13-15, và tại Caesarea Philippi vào thời của Phi-e-rơ. Thượng nguồn sông Jordan cũng tạo nên hồ của Sa-tan trong hang động của Pan. Tiếng của nhiều dòng nước chỉ ra rằng cuộc đại tranh chiến giữa Đấng Christ và Sa-tan bắt nguồn từ các đỉnh núi cao của dãy Hermon.

And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. Matthew 16:18.

Và Ta cũng nói với ngươi: ngươi là Phê-rô; và trên tảng đá này Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi Hội Thánh ấy. Mát-thêu 16:18.

The name “Hermon” means “sacred, consecrated, devoted, or set apart,” and is a symbol of Heaven, the source of all water and the beginning of the great controversy as represented by “the gates of hell,” which was the label Jesus attached to the grotto of Pan, when at Caesarea Philippi. In that setting Simon Barjona was changed to Peter. Simon means ‘one who hears,’ and Barjona means ‘son of the dove.’ Simon was a symbol of the soul who heard the message of Jesus baptism that was represented by the Holy Spirit in the form of a dove. As one who heard the message of Christ’s baptism is changed in Peter representing 144,000. Peter was sealed while at Panium, which is verses thirteen through fifteen of Daniel eleven.

Tên "Hermon" có nghĩa là "thiêng liêng, được hiến thánh, tận hiến, hoặc được biệt riêng", và là một biểu tượng của Thiên đàng, nguồn của mọi dòng nước và là khởi đầu của cuộc đại tranh chiến, được biểu thị bằng "các cửa âm phủ"—tên gọi mà Giê-su đã đặt cho hang động của thần Pan khi ở Caesarea Philippi. Trong bối cảnh đó, Simon Barjona được đổi tên thành Peter. Simon nghĩa là "người lắng nghe", và Barjona nghĩa là "con của chim bồ câu". Simon là biểu tượng cho linh hồn đã nghe sứ điệp về phép báp-têm của Giê-su, điều được Đức Thánh Linh biểu hiện dưới hình dạng một con bồ câu. Và người nghe sứ điệp về phép báp-têm của Đấng Christ được đổi thành Peter, đại diện cho 144,000. Peter đã được đóng ấn khi ở Panium, điều này tương ứng với các câu mười ba đến mười lăm của Daniel chương mười một.

From Hermon’s waters, the Jordan river, a symbol of Christ—the great descender concludes His journey at the Dead Sea. From Heaven, where the dew of life originates, Christ descended to the death of the cross, represented by the Dead Sea. The Dead Sea shoreline is the deepest exposed surface land on earth. The Jordon river that descends, descends to the lowest water level on earth, as Christ descended to His death on the cross. From the water of life to the water of death, the River Jordan represents the descent of Christ from heaven to the cross.

Khởi từ nguồn nước của Hermon, sông Jordan—biểu tượng của Đấng Christ, Đấng hạ mình vĩ đại—kết thúc hành trình ở Biển Chết. Từ thiên đàng, nơi sương của sự sống khởi nguồn, Đấng Christ đã hạ mình xuống đến cái chết của thập giá, được tượng trưng bởi Biển Chết. Bờ Biển Chết là nơi đất liền lộ thiên thấp nhất trên trái đất. Sông Jordan cứ chảy xuống, xuống đến mực nước thấp nhất trên trái đất, như Đấng Christ đã hạ mình đến cái chết trên thập giá. Từ nước của sự sống đến nước của sự chết, sông Jordan tượng trưng cho sự hạ mình của Đấng Christ từ thiên đàng xuống thập giá.

Important themes of Bible prophecy are associated with water, and Bible prophecy is the voice of Christ, which is a voice of many waters. The whore of Babylon is seated upon many waters, and the waters of the Euphrates are dried up to prepare the way of the kings of the east, and the merchants and kings stand a far off and lament for the ships of Tarshish are destroyed in the midst of the seas, and the covenant of death that the drunkards of Ephraim accepted when the hid themselves under lies, is disannulled by the overwhelming flood of the papal Sunday law.

Những chủ đề quan trọng của lời tiên tri Kinh Thánh gắn liền với nước, và lời tiên tri Kinh Thánh là tiếng của Đấng Christ, tiếng của nhiều dòng nước. Dâm phụ Babylon ngồi trên nhiều nước, và nước sông Euphrates bị làm khô cạn để dọn đường cho các vua từ phương đông, còn các thương nhân và các vua thì đứng ở đằng xa mà than khóc vì các tàu của Tarshish bị hủy diệt giữa biển khơi; và giao ước với sự chết mà những kẻ say sưa của Ephraim đã chấp nhận khi họ ẩn mình dưới sự dối trá bị vô hiệu bởi cơn lũ tràn ngập của luật Chủ nhật của Giáo hoàng.

When Sister White references the “great rivers of Shinar,” she is addressing the Tigris and Euphrates Rivers. Those waters can be traced back to the Garden of Eden where they are the third and fourth river to come out of Eden.

Khi Bà White nhắc đến “những con sông lớn của Shinar”, bà đang nói đến sông Tigris và sông Euphrates. Những con sông ấy bắt nguồn từ Vườn Ê-đen, nơi chúng là con sông thứ ba và thứ tư chảy ra từ Ê-đen.

And the name of the third river is Hiddekel: that is it which goeth toward the east of Assyria. And the fourth river is Euphrates. Genesis 2:14.

Và tên của con sông thứ ba là Hiddekel: tức là sông chảy về phía đông A-si-ri. Và con sông thứ tư là Euphrates. Sáng Thế Ký 2:14.

The Hiddekel is the Tigris, and of course, the Euphrates was the Euphrates, though modern historians and theologians disagree. They insist that the Ulai was not a great river, but simply a man-made aqueduct in Persia, not Shinar. Those same human authorities identify that the only two rivers of any note that are associated with Shinar, were the Tigris and Euphrates, and the prophetess states that the Ulai and the Hiddekel were “the great rivers of Shinar.”

Hiddekel chính là sông Tigris, và dĩ nhiên, sông Euphrates thì vẫn là sông Euphrates, dù các sử gia và thần học gia hiện đại không đồng ý. Họ khăng khăng rằng Ulai không phải là một con sông lớn, mà chỉ là một kênh dẫn nước do con người xây dựng ở Ba Tư, chứ không phải ở Shinar. Chính những học giả đó cho rằng hai con sông đáng kể duy nhất gắn với Shinar là Tigris và Euphrates, còn nữ tiên tri thì nói rằng Ulai và Hiddekel là "các con sông lớn của Shinar."

The prophetess words on the message of water opposes the modern experts, as did the ancient experts—who opposed Noah’s message of water. We are informed that the two visions represented by the two rivers are in the process of fulfillment, and therefore, everything represented within those two visions that were given by “the two great rivers of Shinar,” will soon come to pass. The message associated with those rivers is the voice of Christ, for His voice is as many waters. The Tigris and Euphrates represent a major prophetic theme, and their testimony is related to the covenant that the alpha Moses set forth, which is the same covenant that the omega Christ confirmed.

Lời của nữ tiên tri về sứ điệp về nước đi ngược lại các chuyên gia hiện đại, cũng như các chuyên gia xưa—những người đã chống đối sứ điệp về nước của Nô‑ê. Chúng ta được cho biết rằng hai khải tượng được biểu trưng bởi hai con sông đang trong quá trình ứng nghiệm; vì thế, mọi điều được biểu thị trong hai khải tượng ấy, được ban qua “hai con sông lớn của Shinar”, sẽ sớm xảy ra. Sứ điệp gắn với những con sông ấy là tiếng của Đấng Christ, vì tiếng Ngài như tiếng nhiều nước. Sông Tigris và Euphrates tiêu biểu cho một chủ đề tiên tri lớn, và lời chứng của chúng liên quan đến giao ước mà Môi‑se alpha đã đưa ra, cũng là giao ước mà Đấng Christ omega đã xác nhận.

In prophecy the Tigris represents Assyria and the Euphrates is Babylon. In this relation they are the two powers, represented as lions by Jeremiah who would carry first the northern kingdom and thereafter the southern kingdom into captivity.

Trong lời tiên tri, sông Tigris tượng trưng cho A-si-ri, còn sông Euphrates tượng trưng cho Ba-by-lôn. Trong mối liên hệ này, hai quyền lực ấy được tiên tri Giê-rê-mi-a mô tả như những con sư tử, sẽ đưa trước hết vương quốc phương bắc, rồi đến vương quốc phương nam, vào cảnh lưu đày.

Israel is a scattered sheep; the lions have driven him away: first the king of Assyria hath devoured him; and last this Nebuchadrezzar king of Babylon hath broken his bones. Jeremiah 50:17.

Y-sơ-ra-ên là một con chiên tản lạc; các sư tử đã xua đuổi nó: trước hết vua A-si-ri đã nuốt chửng nó; và sau cùng, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bẻ gãy xương cốt nó. Giê-rê-mi 50:17.

Both Assyria and Babylon were northern enemies in relation to either kingdom of Israel, and are therefore types of the counterfeit king of the north—the papal power. Essentially the same political and religious traditions were carried out by the two powers that arose from the same cultural setting, but Assyria’s political structure emphasized statecraft, whereas; Babylon emphasized churchcraft, though very similar. Pagan Rome and papal Rome at some levels are identical, but still, pagan Rome represents statecraft and papal Rome churchcraft. Assyria, in prophetic relation to Babylon was a kingdom of statecraft, followed by Babylon a similar power that emphasized churchcraft. Assyria represented pagan Rome and Babylon represents papal Rome. All four of these powers trampled down God’s sanctuary and host. Assyria is associated with the Tigris and Babylon the Euphrates. This is in agreement with the drying up of the Euphrates in the book of Revelation, to prepare the way for the kings of the east as typified by the work of Cyrus in diverting the Euphrates to bring down Babylon. Babylon is the Euphrates; Assyria is the Tigris.

Assyria và Babylon đều là kẻ thù phương bắc đối với cả hai vương quốc của Israel, và vì thế là hình bóng của vua phương bắc giả mạo - quyền lực giáo hoàng. Về cơ bản, cùng những truyền thống chính trị và tôn giáo giống nhau đã được thực thi bởi hai quyền lực vốn xuất phát từ cùng một bối cảnh văn hóa, nhưng cơ cấu chính trị của Assyria nhấn mạnh quyền lực nhà nước, còn Babylon thì nhấn mạnh quyền lực giáo hội, tuy rất giống nhau. La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng ở một số phương diện thì giống hệt, nhưng dẫu vậy, La Mã ngoại giáo đại diện cho quyền lực nhà nước còn La Mã giáo hoàng đại diện cho quyền lực giáo hội. Assyria, trong mối liên hệ tiên tri với Babylon, là một vương quốc của quyền lực nhà nước; tiếp theo là Babylon, một quyền lực tương tự nhưng nhấn mạnh quyền lực giáo hội. Assyria tượng trưng cho La Mã ngoại giáo và Babylon tượng trưng cho La Mã giáo hoàng. Cả bốn quyền lực này đều chà đạp đền thánh và đạo binh của Đức Chúa Trời. Assyria gắn liền với sông Tigris và Babylon với sông Euphrates. Điều này phù hợp với việc sông Euphrates bị làm khô cạn trong sách Khải Huyền, để dọn đường cho các vua từ phương đông, như được tiêu biểu bởi việc Cyrus chuyển hướng dòng Euphrates để lật đổ Babylon. Babylon là Euphrates; Assyria là Tigris.

The king of the north in prophecy conquers the world during the Sunday law crisis and thereafter falls, but the conquering is often represented as an overwhelming flood. The story of the king of the north, as represented by Assyria and Babylon, is symbolized by rivers for the story is told by the voice of many waters.

Trong lời tiên tri, vua phương bắc chinh phục thế giới trong thời kỳ khủng hoảng về luật ngày Chủ nhật và sau đó sụp đổ, nhưng sự chinh phục ấy thường được mô tả như một trận lụt áp đảo. Câu chuyện về vua phương bắc, như được đại diện bởi Assyria và Babylon, được tượng trưng bằng các con sông, vì câu chuyện được kể bởi tiếng của nhiều dòng nước.

The land between the two rivers is called Mesopotamia, which means ‘the land between two rivers.’ The two rivers represent the northern power which God employs to chastise His apostate people by scattering them into captivity. One of the tributary streams of the voice of many waters is found in the name “Padanaram,” which is referenced only ten times in the Scriptures. The first mention is in association with the covenant, for it identifies the blood roots of Rebekah, the wife of Isaac. The verse says:

Vùng đất giữa hai con sông được gọi là Mesopotamia, nghĩa là ‘vùng đất giữa hai con sông.’ Hai con sông ấy tượng trưng cho thế lực phương bắc mà Đức Chúa Trời dùng để sửa phạt dân bội đạo của Ngài bằng cách phân tán họ vào cảnh lưu đày. Một trong những phụ lưu của “tiếng của nhiều dòng nước” được thấy trong tên “Padanaram”, tên này chỉ được nhắc đến mười lần trong Kinh Thánh. Lần nhắc đầu tiên gắn với giao ước, vì nó xác định gốc gác huyết thống của Rebekah, vợ của Isaac. Câu Kinh Thánh chép:

And Isaac was forty years old when he took Rebekah to wife, the daughter of Bethuel the Syrian of Padanaram, the sister to Laban the Syrian.

Và Isaac được bốn mươi tuổi khi ông cưới Rebekah làm vợ, con gái của Bethuel, người Syria ở Padanaram, em gái của Laban, người Syria.

The end of forty years has been shown upon the three witnesses of Moses to lead to Kadesh, 1863 and the Sunday law. The marriage of Isaac is a covenant marriage typifying the marriage of Christ to the one hundred and forty-four thousand at the Sunday law, which is 1863, which is Kadesh, which is the end of a forty-year covenant history. Rebekah was a daughter of a Syrian and the sister of Laban a Syrian, (who in the next generation of covenant history, broke a covenant with Isaac’s son Jacob.)

Sự kết thúc của bốn mươi năm đã được chỉ ra, qua ba nhân chứng của Môi-se, rằng nó dẫn đến Kadesh, năm 1863 và luật ngày Chủ nhật. Cuộc hôn nhân của Y-sác là một cuộc hôn nhân giao ước, tượng trưng cho cuộc hôn nhân của Đấng Christ với một trăm bốn mươi bốn nghìn tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, tức là năm 1863, tức là Kadesh, tức là sự kết thúc của một lịch sử giao ước bốn mươi năm. Rê-bê-ca là con gái của một người Sy-ri và là chị của La-ban, một người Sy-ri, (người mà trong thế hệ kế tiếp của lịch sử giao ước, đã phá vỡ một giao ước với Gia-cốp, con trai của Y-sác.)

Bethuel means ‘house of desolation or desolator,’ so Rebekah was the daughter of “the house of the desolator.’ Syria means highland and plateau, and Padanaram means Mesopotamia, or the land between. Rebekah was from the bloodline of Syrians who came from Mesopotamia the highland between ‘the Tigris of Assyria’ and ‘the Euphrates of Babylon,’ who represent the lions which the Lord used to scatter his apostate sheep. The house of the desolators was joined with the house of God in the marriage of Isaac and Rebekah. It is not an accident that in the first mention of Padanaram, these two rivers representing the prophetic king of the north who is represented as an overflowing flood is first mention in Genesis 25:20.

Bethuel có nghĩa là "nhà của sự hoang tàn" hoặc "kẻ gây hoang tàn", nên Rebekah là con gái của "nhà của kẻ gây hoang tàn". Syria có nghĩa là vùng đất cao và cao nguyên, còn Padanaram có nghĩa là Mesopotamia, tức vùng đất ở giữa. Rebekah xuất thân từ dòng dõi người Syria đến từ Mesopotamia, vùng đất cao giữa "the Tigris of Assyria" và "the Euphrates of Babylon", là những con sông tượng trưng cho những con sư tử mà Chúa dùng để làm tan lạc bầy chiên bội đạo của Ngài. Nhà của những kẻ gây hoang tàn đã được kết hiệp với nhà của Đức Chúa Trời trong cuộc hôn nhân của Isaac và Rebekah. Không phải tình cờ mà ngay trong lần đầu Padanaram được nhắc đến, hai con sông này—đại diện cho vị vua phương bắc trong lời tiên tri, người được mô tả như một trận lụt tràn ngập—cũng được nhắc đến lần đầu trong Genesis 25:20.

The connection of the house of desolation with God’s covenant people continues when Jacob flees from Esau, and ends up at his uncle Laban’s and there serves two periods’ of 2520 days in order to secure the next covenant marriage. One marriage ends with the scattering of the northern kingdom of Israel and the other marriage ends with the scattering of the southern kingdom. When those two kingdoms respective period of scattering ended in 1798 and 1844, the marriage that Jacob labored to accomplish over two periods of 2520 was fulfilled, as the bridegroom came to the marriage on October 22, 1844.

Mối liên hệ giữa nhà hoang tàn và dân giao ước của Đức Chúa Trời tiếp tục khi Gia-cốp chạy trốn khỏi Ê-sau, rồi đến nhà người cậu La-ban và ở đó làm việc trong hai thời kỳ, mỗi thời kỳ 2520 ngày, để giành lấy cuộc hôn nhân giao ước kế tiếp. Một cuộc hôn nhân kết thúc bằng sự tản lạc của vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên, và cuộc hôn nhân kia kết thúc bằng sự tản lạc của vương quốc phía nam. Khi các thời kỳ tản lạc tương ứng của hai vương quốc ấy chấm dứt vào các năm 1798 và 1844, cuộc hôn nhân mà Gia-cốp đã lao nhọc để hoàn thành qua hai thời kỳ 2520 ngày đã được làm trọn, khi chàng rể đến dự lễ cưới vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

Did Christ then marry Leah, which means ‘weary and tired,’ or did He marry Rachel, which means ‘a good traveler?’ Leah and Rachel represent two classes of travelling virgins, one virgin who ‘grows weary’ and one virgin who ‘travels well’ on the path to marry Jacob on October 22, 1844.

Vậy Đấng Christ đã cưới Lê‑a, nghĩa là “mệt mỏi và rã rời,” hay Ngài đã cưới Ra‑chên, nghĩa là “một người lữ hành giỏi”? Lê‑a và Ra‑chên tượng trưng cho hai hạng trinh nữ đang lữ hành, một trinh nữ “trở nên mệt mỏi” và một trinh nữ “đi đường tốt” trên hành trình tiến đến kết hôn với Gia‑cốp vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

“They had a bright light set up behind them at the beginning of the path, which an angel told me was the ‘midnight cry.’ This light shone all along the path, and gave light for their feet, so that they might not stumble.

Họ có một ánh sáng rực rỡ được đặt phía sau họ ở đầu con đường, mà một thiên sứ nói với tôi rằng đó là 'tiếng kêu nửa đêm'. Ánh sáng ấy chiếu rọi suốt dọc con đường và soi bước chân họ, để họ không vấp ngã.

“If they kept their eyes fixed on Jesus, who was just before them, leading them to the city, they were safe. But soon some grew weary, and said the city was a great way off, and they expected to have entered it before. Then Jesus would encourage them by raising His glorious right arm, and from His arm came a light which waved over the advent band, and they shouted ‘Alleluia!Others rashly denied the light behind them, and said that it was not God that had led them out so far. The light behind them went out, leaving their feet in perfect darkness, and they stumbled and lost sight of the mark and of Jesus, and fell off the path down into the dark and wicked world below.” Early Writings, 15.

"Nếu họ giữ mắt mình chăm nhìn Chúa Giê-su, Đấng đang ở ngay trước mặt họ, dẫn họ đến thành, thì họ được an toàn. Nhưng chẳng bao lâu, một số người trở nên mệt mỏi và nói rằng thành còn rất xa, và họ đã tưởng rằng lẽ ra họ đã vào được trước đó. Bấy giờ Chúa Giê-su khích lệ họ bằng cách giơ cánh tay phải vinh hiển của Ngài lên, và từ cánh tay Ngài phát ra một luồng sáng chiếu rọi trên đoàn người Advent, và họ kêu lên: 'Ha-lê-lu-gia!' Những người khác thì vội vàng chối bỏ ánh sáng phía sau họ, và nói rằng chẳng phải Đức Chúa Trời đã dẫn họ đi xa đến thế. Ánh sáng phía sau họ tắt mất, để bước chân họ trong bóng tối hoàn toàn, và họ vấp ngã, không còn thấy mốc cũng như Chúa Giê-su nữa, và rơi khỏi con đường, tuột xuống thế gian tối tăm và gian ác bên dưới." Những Bài Viết Ban Đầu, 15.

In 1844, the Philadelphian Millerite movement went into the marriage. The marriage of October 22, 1844 separated two classes of worshippers represented by Rachel and Leah. Rachel, represents a class who had successfully travelled on the path to the marriage of October 22, 1844, but Leah’s class grew weary. They were then separated and the testing process of the third angel began, right where the testing-process of the Midnight Cry concluded.

Năm 1844, phong trào Millerite Phi-la-đen-phi đã bước vào lễ cưới. Lễ cưới ngày 22 tháng 10 năm 1844 đã phân tách hai nhóm người thờ phượng được đại diện bởi Ra-chên và Lê-a. Ra-chên đại diện cho một nhóm đã thành công đi trên con đường dẫn đến lễ cưới ngày 22 tháng 10 năm 1844, còn nhóm của Lê-a thì trở nên mỏi mệt. Sau đó họ bị tách ra và tiến trình thử thách của thiên sứ thứ ba bắt đầu, ngay nơi tiến trình thử thách của Tiếng Kêu Nửa Đêm đã kết thúc.

The marriage had commenced and it was to thereafter to be consummated and tested. The marriage was consummated in 1846, and the testing process of the third angel began. In 1849 and 1850 the Lord was stretching out His hand a second time to gather His remnant. The second table of Habakkuk was then placed into history, as typified by the second sets of Commandments. After Moses broke the first set, the second set of tables were set forth. The 1850 chart replaced the 1843, and in 1850, the testing of ancient Israel as God’s new covenant bride continued towards Kadesh and 1863.

Hôn nhân đã khởi sự và sau đó sẽ được hoàn tất và được thử nghiệm. Cuộc hôn nhân đã được hoàn tất vào năm 1846, và tiến trình thử nghiệm của thiên sứ thứ ba bắt đầu. Vào các năm 1849 và 1850, Chúa dang tay lần thứ hai để quy tụ những người còn sót lại của Ngài. Bảng thứ hai của Habakkuk khi ấy được đưa vào lịch sử, như được tiêu biểu bởi bộ Điều Răn thứ hai. Sau khi Moses làm vỡ bộ thứ nhất, bộ bảng thứ hai được ban ra. Biểu đồ 1850 thay thế biểu đồ 1843, và vào năm 1850, sự thử nghiệm đối với Israel cổ đại như tân nương của giao ước mới của Đức Chúa Trời tiếp tục hướng về Kadesh và năm 1863.

In 1856, more water from the two rivers came through the pen of Hiram Edson. The light upon the “seven times” which came through Edson’s pen, was the light represented by the two rivers that began their prophetic testimony at the Garden of Eden. The Garden of Eden is a symbol of mankind’s rebellion against God’s law, and is where the waters of the Ulai and Hiddekel rivers begin their journey. They travel through covenant history, for that Garden, the symbol of rebellion, is also where a lamb was slain to provide clothes to replace the fig leaves upon Adam and Eve. Covenant history begins with the covenant of life between Adam and God. That covenant symbolized by the tree of life, led to the broken covenant by Adam and Eve, that initiated a new covenant of life, when the Lamb slain from the foundation of the world provided clothing for the naked and lost pair. The two rivers which flow from that Garden ultimately become the symbols of the powers God employs as His rod of chastisement.

Năm 1856, nhiều nước hơn từ hai con sông đã chảy qua ngòi bút của Hiram Edson. Ánh sáng về "bảy lần" đến qua bút tích của Edson chính là ánh sáng được hai con sông tượng trưng, những con sông đã khởi đầu lời chứng tiên tri của mình tại Vườn Ê-đen. Vườn Ê-đen là biểu tượng cho sự phản nghịch của loài người chống lại luật pháp của Đức Chúa Trời, và cũng là nơi nước của sông Ulai và sông Hiddekel bắt đầu hành trình của mình. Chúng chảy xuyên suốt lịch sử giao ước, vì khu vườn ấy, biểu tượng của sự phản nghịch, cũng là nơi một con chiên đã bị giết để ban y phục thay thế những chiếc lá vả mà A-đam và Ê-va đã mặc. Lịch sử giao ước khởi đầu với giao ước sự sống giữa A-đam và Đức Chúa Trời. Giao ước ấy, được biểu tượng bởi cây sự sống, rồi đã bị A-đam và Ê-va bội ước, qua đó khởi đầu một giao ước sự sống mới, khi Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế ban y phục cho cặp đôi trần truồng và lạc mất. Hai con sông chảy ra từ khu vườn ấy rốt cuộc trở thành những biểu tượng cho các quyền lực mà Đức Chúa Trời sử dụng như cây gậy sửa phạt của Ngài.

O Assyrian, the rod of mine anger, and the staff in their hand is mine indignation. I will send him against an hypocritical nation, and against the people of my wrath will I give him a charge, to take the spoil, and to take the prey, and to tread them down like the mire of the streets. Isaiah 10:5, 6.

Hỡi A-si-ri, cây gậy của cơn thịnh nộ Ta; cây trượng trong tay nó là cơn phẫn nộ của Ta. Ta sẽ sai nó chống lại một dân giả hình, và chống lại dân của cơn thịnh nộ Ta, Ta sẽ giao cho nó mệnh lệnh: để cướp lấy chiến lợi phẩm, để bắt lấy mồi, và để giày đạp họ như bùn nơi đường phố. Ê-sai 10:5, 6.

Those two rivers flowed out of Eden into the lineage of Rebekah and her covenant marriage to Isaac, and onward to Jacob, where the water of the two rivers is represented as two distinct periods of seven times. Then, the same two rivers flow through the last six chapters of Daniel, where three chapters are represented by each river. One river represents the increase of knowledge which was unsealed in chapters seven, eight and nine and the other river represents the increase of knowledge which was unsealed in chapters ten, eleven and twelve.

Hai con sông ấy chảy ra khỏi Ê-đen, đi vào dòng dõi của Rê-bê-ca và cuộc hôn nhân giao ước của bà với Y-sác, rồi tiếp đến Gia-cốp, nơi nước của hai con sông được biểu trưng thành hai giai đoạn riêng biệt, mỗi giai đoạn gồm bảy kỳ. Rồi, chính hai con sông ấy chảy xuyên qua sáu chương cuối của Đa-ni-ên, trong đó mỗi con sông tương ứng với ba chương. Một con sông tượng trưng cho sự gia tăng hiểu biết đã được mở ấn trong các chương bảy, tám và chín, còn con sông kia tượng trưng cho sự gia tăng hiểu biết đã được mở ấn trong các chương mười, mười một và mười hai.

Chapters seven, eight and nine are represented as the vision of the Ulai and Christ is portrayed in a similar way in chapters ten, eleven and twelve. In both river visions, represented by three chapters—Christ is represented as standing upon the water.

Các chương bảy, tám và chín được trình bày như một thị kiến về sông Ulai, và Đấng Christ được khắc họa theo cách tương tự trong các chương mười, mười một và mười hai. Trong cả hai thị kiến về sông—mỗi thị kiến được trình bày qua ba chương—Đấng Christ được mô tả là đứng trên mặt nước.

And it came to pass, when I, even I Daniel, had seen the vision, and sought for the meaning, then, behold, there stood before me as the appearance of a man. And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. Daniel 8:15, 16.

Và đã xảy ra rằng, khi tôi, chính tôi là Daniel, đã thấy khải tượng và tìm hiểu ý nghĩa, thì kìa, trước mặt tôi có một hình dáng như một người đang đứng. Tôi nghe một giọng người ở giữa hai bờ sông Ulai gọi và nói: “Gabriel, hãy làm cho người này hiểu khải tượng.” Daniel 8:15, 16.

The vision of Christ in chapter ten is similar to the vision John witnessed in Revelation chapter one, and in Daniel’s vision of chapter eight Palmoni is upon the waters, as He was in chapter twelve, where He was clothed in linen.

Khải tượng về Chúa Kitô trong chương mười tương tự với khải tượng mà Gioan đã chứng kiến trong Khải Huyền chương một, và trong khải tượng của Đa-ni-ên ở chương tám, Palmoni ở trên mặt nước, như Ngài ở trong chương mười hai, nơi Ngài mặc vải gai.

“At the time of Gabriel’s visit, the prophet Daniel was unable to receive further instruction; but a few years afterward, desiring to know more of subjects not yet fully explained, he again set himself to seek light and wisdom from God. ‘In those days I Daniel was mourning three full weeks. I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all…. Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen whose loins were girded with fine gold of Uphaz. His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in color to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude.’

Khi thiên sứ Ga-bri-ên đến thăm, nhà tiên tri Đa-ni-ên chưa thể nhận thêm sự chỉ dạy; nhưng vài năm sau, khao khát biết thêm về những điều vẫn chưa được giải thích trọn vẹn, ông lại dốc lòng tìm kiếm ánh sáng và sự khôn ngoan từ Đức Chúa Trời. "Trong những ngày ấy, tôi, Đa-ni-ên, chịu tang suốt ba tuần lễ trọn. Tôi không ăn bánh ngon, thịt và rượu chẳng vào miệng tôi, cũng không xức dầu gì cả.... Bấy giờ tôi ngước mắt lên, nhìn xem, kìa có một người mặc vải gai, lưng thắt đai bằng vàng ròng của U-pha. Thân thể người cũng như bích ngọc, mặt người như ánh chớp, mắt người như đèn lửa, tay và chân người có màu như đồng đánh bóng, và tiếng nói của người như tiếng của một đoàn dân đông đảo."

“No less a personage than the Son of God appeared to Daniel. This description is similar to that given by John when Christ was revealed to him upon the Isle of Patmos. Our Lord now comes with another heavenly messenger to teach Daniel what would take place in the latter days. This knowledge was given to Daniel and recorded by inspiration for us upon whom the ends of the world are come.” Review and Herald, February 8, 1881.

“Không ai khác hơn là Con Đức Chúa Trời đã hiện ra với Đa-ni-ên. Sự mô tả này tương tự như điều Giăng đã thuật lại khi Đấng Christ được tỏ ra cho ông trên đảo Pat-mô. Chúa chúng ta nay đến cùng với một vị thiên sứ khác để dạy Đa-ni-ên biết điều gì sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt. Sự hiểu biết này đã được ban cho Đa-ni-ên và được ghi lại bởi sự cảm thúc để dành cho chúng ta, là những người mà sự tận cùng của thế gian đã đến.” Review and Herald, ngày 8 tháng 2, 1881.

In the Hiddekel vision of Christ in chapter ten Christ is upon the water and clothed in linen and in the Ulai vision He is upon the water. The vision of Revelation one aligns with the vision presented in the Ulai and Hiddekel visions, where Sister White identifies that it is “no less a personage than the Son of God.” When she identifies the angel of Revelation ten she states the angel was “no less a personage than Jesus Christ.” The angel in Revelation ten lifts up His hand to heaven and swears by Him that liveth forever and ever, connected with the vision of Christ in chapter twelve who lifts up both His hand to heaven and swears by Him that liveth forever and ever. In Revelation ten He is upon both the water and land.

Trong khải tượng Hiddekel về Đấng Christ ở chương mười, Đấng Christ đứng trên mặt nước và mặc áo vải lanh; và trong khải tượng Ulai, Ngài cũng ở trên mặt nước. Khải tượng ở Khải Huyền chương một tương hợp với điều được bày tỏ trong các khải tượng Ulai và Hiddekel, nơi Bà White xác định rằng đó là "không phải ai khác ngoài Con Đức Chúa Trời." Khi bà xác định thiên sứ trong Khải Huyền mười, bà nói thiên sứ ấy "không phải ai khác ngoài Chúa Giê-su Christ." Thiên sứ trong Khải Huyền mười giơ tay lên trời và thề bởi Đấng hằng sống đời đời; điều này liên hệ với khải tượng về Đấng Christ ở chương mười hai, Đấng giơ cả hai tay lên trời và thề bởi Đấng hằng sống đời đời. Trong Khải Huyền mười, Ngài đứng trên cả mặt nước và đất.

What exists “between the banks” of a river is water, and Daniel heard “a man’s voice between the banks,” so the voice came from the man upon the water, and the voice was the sound of the waters of the Ulai river.

Giữa hai bờ của một con sông là nước, và Daniel đã nghe “tiếng một người đàn ông ở giữa hai bờ”, nên tiếng ấy phát ra từ người ở trên mặt nước, và tiếng ấy là âm thanh của nước sông Ulai.

And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel; Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold

Và vào ngày thứ hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi ở bên bờ con sông lớn, tên là Hiddekel; bấy giờ tôi ngước mắt lên, nhìn, và kìa

a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz: His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude. …

Một người nọ mặc vải lanh, thắt lưng bằng vàng ròng của Uphaz; thân thể người cũng giống như bích ngọc, mặt như ánh chớp, mắt như những ngọn đuốc lửa, cánh tay và chân như màu đồng đánh bóng, và tiếng nói của người như tiếng của một đám đông. ...

But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased. Then I Daniel looked, and, behold, there stood other two, the one on this side of the bank of the river, and the other on that side of the bank of the river. And one said to the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, How long shall it be to the end of these wonders? And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished.

Nhưng ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy giữ kín những lời này và niêm phong cuốn sách cho đến kỳ cuối cùng; nhiều người sẽ chạy ngược chạy xuôi, và sự hiểu biết sẽ gia tăng. Bấy giờ tôi, Đa-ni-ên, nhìn lên, và kìa, có hai người khác đứng đó: một người ở bờ sông bên này, và người kia ở bờ sông bên kia. Một người nói với người mặc áo vải gai, đang ở trên mặt nước của con sông: Đến bao giờ thì những điều kỳ diệu này mới chấm dứt? Tôi nghe người mặc áo vải gai, đang ở trên mặt nước sông, giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời rằng sẽ là một thời, các thời, và nửa thời; và khi đã làm tan tác quyền lực của dân thánh, thì mọi điều ấy sẽ được hoàn tất.

And I heard, but I understood not: then said I, O my Lord, what shall be the end of these things? And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 10:4–6; 12:4–10.

Tôi đã nghe, nhưng không hiểu; bấy giờ tôi nói: Lạy Chúa tôi, chung cuộc những điều ấy sẽ ra sao? Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được làm cho tinh sạch, nên trắng và được thử luyện; nhưng kẻ ác cứ làm ác; chẳng có kẻ ác nào hiểu, nhưng người khôn ngoan sẽ hiểu. Đa-ni-ên 10:4-6; 12:4-10.

The great rivers of Shinar as Sister White identifies them, are both attached to a vision where Christ is upon the water speaking, for His voice is as the sound of many waters. In both visions the question of “how long” is asked. Both rivers are also represented in Daniel’s ‘question and answer’ of chapter eight, which is the central pillar and foundation of Adventism. There, the two rivers are symbols of the “seven times” of scattering and trampling down of both the sanctuary and the host. The two rivers fulfill their role as God’s rod of chastisement, only to thereafter flow into the Millerite history of the first angel, where William Miller discovered his first prophetic jewel, which was the line of the “seven times” in Leviticus twenty-six. The two rivers represent the two scatterings of 2520 years, which were accomplished by the two lions of Assyria and Babylon, who are represented by the Tigris and Euphrates, and of course by Leah and Rachel, nieces of Rebekah, whose covenant marriage occurred when Isaac was forty years old, as recorded in Genesis 2520.

Những con sông lớn của Sinear, như Bà White xác định, đều gắn với một khải tượng nơi Đấng Christ ở trên mặt nước mà phán, vì tiếng Ngài như tiếng của nhiều dòng nước. Trong cả hai khải tượng, câu hỏi “bao lâu” được đặt ra. Cả hai con sông cũng được thể hiện trong phần “hỏi và đáp” của Đa-ni-ên chương tám, vốn là trụ cột trung tâm và nền tảng của Phục Lâm. Ở đó, hai con sông là biểu tượng của “bảy lần” tán lạc và chà đạp cả đền thánh lẫn đạo binh. Hai con sông hoàn thành vai trò như roi sửa phạt của Đức Chúa Trời, rồi sau đó chảy vào lịch sử Millerite của thiên sứ thứ nhất, nơi William Miller khám phá viên ngọc tiên tri đầu tiên của ông, đó là dòng “bảy lần” trong Lê-vi Ký hai mươi sáu. Hai con sông tượng trưng cho hai cuộc tản lạc 2520 năm, được thực hiện bởi hai sư tử của A-si-ri và Ba-by-lôn, vốn được đại diện bởi sông Tigris và Euphrates, và dĩ nhiên bởi Lê-a và Ra-chên, cháu gái của Rê-bê-ca; cuộc hôn nhân giao ước của Rê-bê-ca diễn ra khi Y-sác bốn mươi tuổi, như được chép trong Sáng-thế Ký 2520.

Miller only presented the scattering of “seven times” against the southern kingdom of Judah, which was fulfilled with the 2300-year prophecy in 1844. In 1856, the “new wine” of the “seven times” identified the same scattering upon the northern kingdom ending in 1798. As the first prophetic discovery of William Miller, the water of the river Euphrates arrived as the alpha doctrine in the history of the first angel. The water of the Ulai river arrived with the third angel. The alpha discovery of Miller was the seven times represented by the river Ulai and the omega discovery of Hiram Edson was the seven times represented by the Hiddekel river.

Miller chỉ trình bày sự tản lạc của “bảy thời” giáng trên vương quốc miền nam Giu-đa, điều đã được ứng nghiệm cùng với lời tiên tri 2300 năm vào năm 1844. Năm 1856, “rượu mới” của “bảy thời” xác định cùng sự tản lạc ấy giáng trên vương quốc miền bắc, kết thúc vào năm 1798. Là khám phá tiên tri đầu tiên của William Miller, nước của sông Euphrates xuất hiện như giáo lý alpha trong lịch sử của thiên sứ thứ nhất. Nước của sông Ulai xuất hiện cùng với thiên sứ thứ ba. Khám phá alpha của Miller là “bảy thời” được biểu trưng bởi sông Ulai, và khám phá omega của Hiram Edson là “bảy thời” được biểu trưng bởi sông Hiddekel.

The 2520 represents the length of the period that is the same for each kingdom, but that begins and ends forty-six years apart. 1798 marks the time of the end and the arrival of the first angel of Revelation fourteen. 1798 is the fulfillment of the 2520 years of scattering brought upon the northern kingdom by the lion of Assyria. 1844 is the fulfillment of the “seven times” brought upon the southern kingdom and is represented by the lion of Babylon. The two rivers are the bookends for the history of the first and second angels’ messages that ended with the arrival of the third on October 22, 1844, when both the seventh trumpet and also the jubilee trumpet were sounded on the antitypical Day of Atonement.

Con số 2520 biểu thị độ dài của một thời kỳ giống nhau cho mỗi vương quốc, nhưng thời kỳ ấy bắt đầu và kết thúc cách nhau bốn mươi sáu năm. Năm 1798 đánh dấu thời kỳ cuối cùng và sự xuất hiện của thiên sứ thứ nhất trong Khải Huyền 14. Năm 1798 là sự ứng nghiệm của 2520 năm tản lạc giáng trên vương quốc miền bắc bởi sư tử của A-si-ri. Năm 1844 là sự ứng nghiệm của “bảy lần” giáng trên vương quốc miền nam và được tượng trưng bởi sư tử của Ba-by-lôn. Hai con sông làm mốc đầu và cuối cho lịch sử các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai; lịch sử ấy kết thúc bằng sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, khi cả kèn thứ bảy lẫn kèn Năm Hân Hỉ đều được thổi trong Ngày Lễ Chuộc Tội đối hình.

Then shalt thou cause the trumpet of the jubilee to sound on the tenth day of the seventh month, in the day of atonement shall ye make the trumpet sound throughout all your land. Leviticus 25:9.

Bấy giờ ngươi hãy cho vang tiếng kèn của Năm Hồng Ân vào ngày mồng mười của tháng thứ bảy; trong Ngày Lễ Chuộc Tội, các ngươi hãy làm cho tiếng kèn vang khắp cả xứ của các ngươi. Lê-vi Ký 25:9.

The sounding of the seventh trumpet is a symbol of Christ’s work in combining His Divinity with humanity, and is represented by the 2300 years of the Ulai River vision, and the sounding of the jubilee trumpet is a symbol of the covenant of the land that was broken and brought upon God’s people, what Daniel called the curse and oath of Moses, and what Moses called the “quarrel of God’s covenant.”

Tiếng kèn thứ bảy vang lên là biểu tượng cho công việc của Đấng Christ trong việc kết hiệp Thần tính của Ngài với nhân tính, và được biểu trưng bởi 2300 năm của khải tượng tại sông Ulai; còn tiếng kèn Năm Hân Hỉ vang lên là biểu tượng cho giao ước về xứ đã bị phá vỡ và giáng trên dân của Đức Chúa Trời, điều mà Đa-ni-ên gọi là sự rủa và lời thề của Môi-se, và Môi-se gọi là "sự tranh tụng của giao ước Đức Chúa Trời".

Yea, all Israel have transgressed thy law, even by departing, that they might not obey thy voice; therefore the curse is poured upon us, and the oath that is written in the law of Moses the servant of God, because we have sinned against him. Daniel 9:11.

Phải, cả Y-sơ-ra-ên đều đã phạm luật pháp của Ngài, đã quay lưng lìa bỏ, không vâng theo tiếng Ngài; vì vậy sự rủa sả đã đổ trên chúng con, và lời thề đã chép trong luật pháp của Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, vì chúng con đã phạm tội cùng Ngài. Đa-ni-ên 9:11.

The “curse” and the “oath” written of “in the law of Moses” is the “seven times” of Leviticus twenty-six. The word translated as “oath” is the same Hebrew word that in Leviticus is translated as “seven times.” The curse, for breaking the oath of the covenant in chapter twenty-five, is set forth in chapter twenty-six, where Moses identifies the curse as the “quarrel of the covenant.”

“Lời nguyền” và “lời thề” được nói đến “trong luật pháp của Moses” chính là “bảy lần” của Leviticus hai mươi sáu. Từ được dịch là “lời thề” là cùng một từ tiếng Hê-bơ-rơ mà trong Leviticus được dịch là “bảy lần”. Lời nguyền, vì vi phạm lời thề của giao ước trong chương hai mươi lăm, được nêu ra trong chương hai mươi sáu, nơi Moses gọi lời nguyền ấy là “sự tranh chấp của giao ước”.

Then will I also walk contrary unto you, and will punish you yet seven times for your sins. And I will bring a sword upon you, that shall avenge the quarrel of my covenant: and when ye are gathered together within your cities, I will send the pestilence among you; and ye shall be delivered into the hand of the enemy. Leviticus 26:24, 25.

Vậy Ta cũng sẽ nghịch lại các ngươi và sẽ phạt các ngươi thêm bảy lần vì tội lỗi của các ngươi. Ta sẽ đem gươm đến trên các ngươi để báo thù việc phá vỡ giao ước của Ta; và khi các ngươi nhóm lại trong các thành của mình, Ta sẽ sai dịch bệnh ở giữa các ngươi; và các ngươi sẽ bị phó vào tay kẻ thù. Lê-vi Ký 26:24, 25.

The Lord brought the sword of the lion of Assyria upon the northern kingdom to “punish” them by delivering them into “the hand of the enemy,” in 723 BC. Forty-six years later in 677 BC, the southern kingdom felt the curse of Moses. The curse of Moses is the quarrel of the covenant. For forty-six years the lions of Mesopotamia were employed by God to remove and trample down the host. At the end of that period of forty-six years Nebuchadnezzar destroyed the sanctuary. The host of Daniel’s question in verse thirteen of Daniel eight was enslaved by their enemies over a forty-six-year period that culminated with the destruction of the sanctuary, which was the other subject that was to be trampled down in verse thirteen. When those rivers reached 1798 and 1844 respectably, a host had been gathered together as a temple, for the host is a body, and the body is a temple. At the end of that period the temple erected over the forty-six years was to join with the heavenly temple in the marriage of Divinity with humanity. Marriage is between two temples, and what God joins together is not to be apart.

Chúa đã giáng thanh gươm của sư tử Assyria trên vương quốc phía bắc để "trừng phạt" họ bằng cách trao họ vào "tay kẻ thù", vào năm 723 TCN. Bốn mươi sáu năm sau, vào năm 677 TCN, vương quốc phía nam chịu lấy lời rủa của Moses. Lời rủa của Moses là cuộc tranh cãi của giao ước. Suốt bốn mươi sáu năm, những con sư tử của Mesopotamia đã được Chúa dùng để loại bỏ và giày đạp đạo binh. Cuối khoảng thời gian bốn mươi sáu năm ấy, Nebuchadnezzar đã phá hủy đền thánh. Đạo binh trong câu hỏi của Daniel ở câu mười ba của Daniel đoạn tám đã bị kẻ thù bắt làm nô lệ trong một giai đoạn bốn mươi sáu năm, kết thúc bằng sự hủy phá đền thánh, vốn là điều còn lại cũng sẽ bị giày đạp trong câu mười ba. Khi những dòng sông ấy đạt đến các mốc 1798 và 1844, lần lượt, một đạo binh đã được nhóm lại như một đền thờ, vì đạo binh là một thân thể, và thân thể là một đền thờ. Cuối giai đoạn đó, đền thờ được dựng nên suốt bốn mươi sáu năm sẽ hiệp với đền thờ trên trời trong cuộc hôn phối giữa thần tính và nhân tính. Hôn nhân là giữa hai đền thờ, và điều gì Đức Chúa Trời đã kết hiệp thì chớ phân rẽ.

The water of the Tigris came to 1798 and the water of the Euphrates came to 1844. Just before the arrival of the third angel, the second angel arrived, and thereafter at the Exeter, New Hampshire camp meeting on August 12–17, 1844, the message of the Midnight Cry was poured out. Exeter means “a water fortress,” and at the camp meeting, there was a counterfeit meeting held in a different tent, set up by a group from Watertown, Massachusetts. The waters that originated in Eden, according to Sister White, were about to be dispersed as “a tidal wave” across the eastern seaboard of the United States. The earthquake which triggered that tidal wave occurred in the Garden of Eden when Satan conquered mankind, causing a seismic upheaval in Eden whose waves reached the Midnight Cry of the Millerite history. That tidal wave floods into the Midnight Cry in the history of the one hundred and forty-four thousand, and the wave that began at the earthquake of Adam’s sin reaches to the earthquake of the Sunday law of Revelation chapter eleven.

Nước của sông Tigris đến mốc năm 1798 và nước của sông Euphrates đến mốc năm 1844. Ngay trước khi thiên sứ thứ ba xuất hiện, thiên sứ thứ hai đã xuất hiện, và sau đó, tại hội trại ở Exeter, New Hampshire từ ngày 12-17 tháng 8 năm 1844, sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm đã được tuôn đổ. Exeter có nghĩa là “một pháo đài nước”, và tại hội trại đó, có một buổi nhóm giả mạo được tổ chức trong một chiếc lều khác, do một nhóm từ Watertown, Massachusetts dựng lên. Theo Bà White, những dòng nước bắt nguồn từ Ê-đen sắp được lan tỏa như “một cơn sóng thần” khắp dải bờ biển phía Đông của Hoa Kỳ. Trận động đất khởi phát cơn sóng thần ấy đã xảy ra trong Vườn Ê-đen khi Sa-tan chinh phục loài người, gây nên một biến động địa chấn ở Ê-đen mà các làn sóng của nó vươn tới Tiếng Kêu Nửa Đêm trong lịch sử Millerite. Cơn sóng thần ấy tràn vào Tiếng Kêu Nửa Đêm trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn, và làn sóng khởi đầu từ trận động đất do tội lỗi của A-đam vươn tới trận động đất của luật ngày Chủ nhật trong Khải Huyền chương mười một.

The voice of Christ is the voice of many waters, and the waters combined make up the message of the latter rain. Isaiah and his son Shearjashub are standing in verse three of chapter seven at the pool from the upper conduit, presenting the latter rain message in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. There Isaiah’s pronouncement upon the foolish and wicked king Ahaz is that the Lord would send upon Ahaz the waters of Assyria, king Sennacherib and his water would flow up to the neck.

Tiếng của Chúa Kitô là tiếng của nhiều dòng nước, và các dòng nước hợp lại làm nên sứ điệp của mưa cuối mùa. Trong câu ba của chương bảy, Isaiah và con trai ông, Shearjashub, đang đứng tại hồ thuộc ống dẫn nước phía trên, trình bày sứ điệp mưa cuối mùa vào thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Tại đó, lời tuyên bố của Isaiah đối với vị vua Ahaz ngu muội và gian ác là rằng Chúa sẽ sai đến trên Ahaz những dòng nước của Assyria, tức vua Sennacherib, và nước ấy sẽ dâng lên tới cổ.

The Lord spake also unto me again, saying, Forasmuch as this people refuseth the waters of Shiloah that go softly, and rejoice in Rezin and Remaliah’s son; Now therefore, behold, the Lord bringeth up upon them the waters of the river, strong and many, even the king of Assyria, and all his glory: and he shall come up over all his channels, and go over all his banks: And he shall pass through Judah; he shall overflow and go over, he shall reach even to the neck; and the stretching out of his wings shall fill the breadth of thy land, O Immanuel. Isaiah 8:5–8.

Đức Chúa lại phán với tôi rằng: Vì dân này khước từ nước Si-lô-ê chảy êm ả, mà lại vui mừng vì Rê-xin và con trai của Rê-ma-li-a; nên bây giờ, kìa, Chúa sẽ khiến nước sông dâng lên trên họ, mạnh mẽ và dồi dào—tức là vua A-si-ri cùng với tất cả vinh quang của người; dòng nước ấy sẽ tràn lên trên mọi nhánh của nó và vượt qua mọi bờ bãi của nó. Nó sẽ đi qua Giu-đa; sẽ ngập lụt và tràn qua, sẽ dâng lên đến tận cổ; và đôi cánh nó dang rộng sẽ phủ đầy bề rộng xứ ngươi, hỡi Immanuel. Ê-sai 8:5-8.

Ahaz refused the waters that were ‘sent’ by the Lord, so the Lord ‘sent’ the waters of Assyria to Ahaz. Ahaz “rejoiced” in the confederacy of “Rezin and Remaliah’s son.” Ahaz “rejoices” in a counterfeit latter rain message represented by Rezin and Remaliah’s son.

Ahaz đã từ chối những dòng nước được Chúa 'sai' đến, nên Chúa đã 'sai' các dòng nước của Assyria đến với Ahaz. Ahaz "vui mừng" trong liên minh của "Rezin và con trai của Remaliah." Ahaz "vui mừng" trong một thông điệp mưa muộn giả mạo được đại diện bởi Rezin và con trai của Remaliah.

Rezin and the son of Remaliah, who is Pekah, king of the northern kingdom, represent a counterfeit of Isaiah and his son. The foolish and wicked king Ahaz “rejoices” in the confederacy represented by the ten northern tribes of Israel and Syria, typifying the unlawful relationship of church and state at the Sunday law. Ahaz rejoices, for shame and joy are the two opposites emotions that are employed by inspiration to address those who are represented in the debate of the latter rain. When Jeremiah ate the little book it was the joy and rejoicing of his heart, and Joel informs us God’s people will never be ashamed. Ahaz, as a Laodicean is blind, so he is rejoicing in the false water message and rejecting Isaiah’s true water message. He should be ashamed for trusting in the counterfeit latter rain message represented by the flood of the king of the north, but he has rejected the message of Shiloah.

Rezin và con trai của Remaliah, tức Pekah, vua của vương quốc phía bắc, tượng trưng cho một sự giả mạo của Isaiah và con trai ông. Vua Ahaz ngu muội và gian ác “vui mừng” trong liên minh được tượng trưng bởi mười chi phái phía bắc của Israel và Syria, tiêu biểu cho mối quan hệ bất hợp pháp giữa giáo hội và nhà nước vào thời điểm luật Chủ nhật. Ahaz vui mừng, vì xấu hổ và vui mừng là hai cảm xúc đối nghịch được cảm hứng sử dụng để nói với những người được đại diện trong cuộc tranh luận về mưa cuối mùa. Khi Jeremiah ăn quyển sách nhỏ, đó là niềm vui và sự hoan hỉ của lòng ông, và Joel cho biết dân của Đức Chúa Trời sẽ chẳng bao giờ hổ thẹn. Ahaz, như một người Laodicea, thì mù lòa, nên ông đang vui mừng trong sứ điệp về nước giả và khước từ sứ điệp về nước chân thật của Isaiah. Lẽ ra ông phải hổ thẹn vì đã tin cậy vào sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo được tượng trưng bởi trận lụt của vua phương bắc, nhưng ông đã khước từ sứ điệp của Shiloah.

The message of Shiloah in Isaiah eight is the message of the latter rain. The pool of Shiloah is identified in the New Testament as the pool of Siloam. In Hebrew or Greek it means “sent.” It was expedient for Christ to leave that He might “send” the Holy Spirit. Isaiah and Ahaz are at the pool of Shiloah, and the test is based upon whether to have faith in the pool Shiloah as represented by Isaiah and his son, or faith in Rezin and Remaliah’s son? Ahaz is choosing between two waters, the waters of Shiloah or the waters of the King of Assyria. Ahaz rejoiced in the alliance and message represented by Rezin and Remaliah’s son and he therefore received the flood of desolation, instead of the water that runs softly at his judgment. His judgment represents the Sunday law when the king of the north overflows the entire world like a flood. It does so from the Sunday law onward, when the flood of the Midnight Cry is also sweeping the world.

Thông điệp của Shiloah trong Ê-sai chương tám là thông điệp của mưa rào cuối mùa. Hồ Shiloah được gọi trong Tân Ước là hồ Siloam. Trong tiếng Hê-bơ-rơ hoặc Hy Lạp, nó có nghĩa là “được sai đi.” Điều đó là ích lợi để Đấng Christ rời đi để Ngài có thể “sai” Đức Thánh Linh. Ê-sai và Ahaz ở bên hồ Shiloah, và cuộc thử thách dựa trên việc liệu có đặt đức tin nơi hồ Shiloah như được đại diện bởi Ê-sai và con trai ông, hay đặt đức tin nơi Rezin và con trai của Remaliah? Ahaz đang chọn giữa hai dòng nước, nước của Shiloah hoặc nước của vua Assyria. Ahaz vui mừng trong liên minh và thông điệp được đại diện bởi Rezin và con trai của Remaliah, và vì vậy ông nhận lấy trận lụt tàn phá, thay vì dòng nước chảy êm dịu khi ông bị phán xét. Sự phán xét của ông tượng trưng cho luật ngày Chủ nhật, khi vua phương bắc tràn ngập cả thế giới như một trận lụt. Điều đó diễn ra từ thời điểm luật ngày Chủ nhật trở đi, khi trận lụt của Tiếng Kêu Nửa Đêm cũng đang quét khắp thế giới.

Ahaz rejoices in the alliance of the ten northern tribes and Syria, and thus rejoices in the message that combines church and state, as represented by every unlawful alliance found within God’s Word. Isaiah represents a Philadelphian and Ahaz a Laodicean. Christ connects Isaiah’s testimony with His own when He cures the blind man, a Laodicean at the pool of Siloam.

Ahaz vui mừng về liên minh giữa mười chi phái miền Bắc và Syria, và do đó vui mừng trước sứ điệp kết hợp giáo hội với nhà nước, như được minh họa bởi mọi liên minh trái phép trong Lời Đức Chúa Trời. Ê-sai tiêu biểu cho người Phi-la-đen-phi, còn Ahaz cho người Lao-đi-xê. Đấng Christ gắn kết lời chứng của Ê-sai với chính lời chứng của Ngài khi Ngài chữa lành người mù, một người Lao-đi-xê, tại hồ Si-lô-ác.

And as Jesus passed by, he saw a man which was blind from his birth. And his disciples asked him, saying, Master, who did sin, this man, or his parents, that he was born blind?

Khi Chúa Giê-su đi ngang qua, Ngài thấy một người mù từ khi mới sinh. Các môn đệ của Ngài hỏi rằng: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người này hay cha mẹ người, mà người ấy sinh ra đã mù?”

Jesus answered, Neither hath this man sinned, nor his parents: but that the works of God should be made manifest in him. I must work the works of him that sent me, while it is day: the night cometh, when no man can work. As long as I am in the world, I am the light of the world. When he had thus spoken, he spat on the ground, and made clay of the spittle, and he anointed the eyes of the blind man with the clay, And said unto him, Go, wash in the pool of Siloam, (which is by interpretation, Sent.) He went his way therefore, and washed, and came seeing.

Giê-xu đáp: Người này không phạm tội, cha mẹ người cũng không; nhưng để các công việc của Đức Chúa Trời được bày tỏ nơi người. Ta phải làm những việc của Đấng đã sai ta, khi còn ban ngày; đêm đến, lúc chẳng ai có thể làm việc. Bao lâu ta còn ở trong thế gian, ta là ánh sáng của thế gian. Khi Ngài nói như vậy xong, Ngài nhổ xuống đất, trộn nước bọt thành bùn, rồi bôi bùn ấy lên mắt người mù, và bảo người: Hãy đi rửa ở hồ Si-lô-ác (nghĩa là: Được sai đi). Vậy người đi, rửa, rồi trở lại thấy được.

The neighbours therefore, and they which before had seen him that he was blind, said, Is not this he that sat and begged? Some said, This is he: others said, He is like him: but he said, I am he. Therefore said they unto him, How were thine eyes opened?

Vì vậy những người láng giềng, và những người trước kia đã thấy ông ấy mù, nói: Há chẳng phải người này là kẻ ngồi ăn xin sao? Có người nói: Chính là ông ấy; kẻ khác nói: Trông giống ông ấy thôi; nhưng ông ấy nói: Chính tôi đây. Vậy họ hỏi ông: Mắt ông đã được mở ra thế nào?

He answered and said, A man that is called Jesus made clay, and anointed mine eyes, and said unto me, Go to the pool of Siloam, and wash: and I went and washed, and I received sight. John 9:1–11.

Người ấy đáp rằng: Một người tên là Giê-su đã trộn bùn, thoa mắt tôi, và bảo tôi: Hãy đến ao Si-lô-ê mà rửa; tôi bèn đi, rửa, và được sáng mắt. Giăng 9:1-11.

The blind man along with the foolish and wicked king Ahaz are tested as to whether to place their confidence in the pool of Siloam or the flood of Assyria. The blind man knows he is blind, but Ahaz is rich, increased with goods and in need of nothing. Ahaz is the foolish virgin at the pool of the latter rain, and the blind man a wise virgin. The waters that are Sent from, or the waters that are sent from Assyria are the test.

Người mù cùng với vua Ahaz ngu dại và gian ác được thử xem có đặt lòng tin nơi hồ Siloam hay nơi cơn lũ của Assyria. Người mù biết mình mù, nhưng Ahaz thì giàu có, dư dật của cải và chẳng thiếu thốn gì. Ahaz là trinh nữ dại bên hồ của mưa cuối mùa, còn người mù là trinh nữ khôn ngoan. Những dòng nước được sai đi, hoặc những dòng nước được sai từ Assyria, là phép thử.

A pool is where water is gathered together, and prophetically a pool is where the various streams, rivers, creeks, seas, oceans, lakes, rain and dew of all the “waters” which represent the voice of Christ are gathered together. The pool of the latter rain is formed by the water which flows from the upper pool. The pool represents the message of the latter rain in the context of a test. Ahaz rejected the waters that flow softly, but the blind man was obedient to the message connected with the pool. Jesus took some of His Divinity, represented as “spit” and combined it with clay, representing the combination of Divinity with humanity that is accomplished by Christ in the Most Holy Place.

Một hồ là nơi nước tụ lại, và theo nghĩa tiên tri, một hồ là nơi các dòng suối, sông, rạch, biển, đại dương, hồ, mưa và sương — tức mọi “nguồn nước” tượng trưng cho tiếng nói của Đấng Christ — được quy tụ. Hồ của mưa cuối mùa được hình thành bởi nước chảy từ hồ ở phía trên. Hồ tượng trưng cho sứ điệp của mưa cuối mùa trong bối cảnh của một sự thử thách. Ahaz đã khước từ những dòng nước chảy êm dịu, nhưng người mù thì vâng phục sứ điệp gắn liền với hồ. Chúa Giê-su lấy một phần Thần Tính của Ngài, được tượng trưng là “nước bọt”, và kết hợp nó với đất sét, tượng trưng cho sự kết hợp giữa Thần Tính với nhân tính mà Đấng Christ thực hiện tại Nơi Chí Thánh.

Christ spat on the ground and mixed His spit to form clay. He used the message of the combination of Divinity and humanity to anoint the eyes of the blind man. The message represented by the combination of Divinity and humanity is the message of 1888, and it is designed to transform a person from the condition of Laodicea unto the condition of Philadelphia. But the message requires human participation. They must go to the pool, then wash.

Đức Kitô nhổ nước miếng xuống đất và trộn nước miếng của Ngài với đất thành bùn. Ngài dùng sứ điệp về sự kết hợp giữa Thần tính và nhân tính để xức lên mắt người mù. Sứ điệp được biểu trưng bởi sự kết hợp giữa Thần tính và nhân tính chính là sứ điệp năm 1888, và nó nhằm biến đổi một người từ tình trạng của Laodicea sang tình trạng của Philadelphia. Nhưng sứ điệp ấy đòi hỏi sự tham gia của con người. Họ phải đến hồ, rồi rửa.

All have sinned and come short of the glory of God, but Jesus said the blind man and his parents had not sinned. Jesus is removing the question of blame from the blind man’s condition, and identifies him as a man that was raised up to glorify the Lord, and the prophetic man in Bible prophecy that is raised up for the purpose that “the works of God should be made manifest” are the ensign, which is made up of men and women who have transitioned from Laodicea to Philadelphia. The ensign is where the works of God are manifested, for His work was to combine Divinity with humanity (as represented by the ointment of clay), and the trophies of that work are those who not only heard the Laodicean message, but those who followed the prescription in the message. The prescription for the blind man was to go and wash. Once he could see he did not need to try and glorify God, the circumstances surrounding him made that happen.

Mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Giê-su nói rằng người mù kia và cha mẹ ông không phạm tội. Đức Chúa Giê-su loại bỏ câu hỏi đổ lỗi khỏi tình trạng của người mù, và xác định ông là một người được dấy lên để làm vinh hiển Chúa; còn trong lời tiên tri Kinh Thánh, những người được dấy lên với mục đích để “các công việc của Đức Chúa Trời được bày tỏ” chính là tiêu kỳ, gồm những người nam và nữ đã chuyển từ Laodicea sang Philadelphia. Tiêu kỳ là nơi các công việc của Đức Chúa Trời được bày tỏ, vì công việc của Ngài là hiệp thần tính với nhân tính (được tượng trưng bằng thuốc xức bằng bùn), và thành quả của công việc ấy là những người không chỉ nghe sứ điệp Laodicea mà còn làm theo đơn thuốc trong sứ điệp. Đơn thuốc cho người mù là hãy đi và rửa. Khi đã thấy được, ông không cần phải cố gắng tôn vinh Đức Chúa Trời; các hoàn cảnh chung quanh ông đã khiến điều đó xảy ra.

It began with Christ’s approach, followed by Christ’s work. The last work of Christ in the Heavenly sanctuary in relation to man is to transform a human being from a valley of dead dry bones, or from being dead in the streets or from being blind as a bat. His last work is to recreate His people into His image, and that is the very work He did when He created Adam out of the dust of the ground, then breathed into him the breath of life. The last work is the first work, for He first made the clay and then anointed that clay with the life of His Spirit. With Adam the Spirit was His breath, with the blind man it was the water. With Ezekiel’s valley of dead bones it was a gathering message which created the body. Then a message of the four winds was breathed upon the body, and then it stood up as an mighty army.

Khởi đầu là sự đến gần của Đấng Christ, tiếp theo là công việc của Ngài. Công việc sau cùng của Đấng Christ trong đền thánh trên trời đối với loài người là biến đổi con người khỏi thung lũng xương khô, hoặc khỏi cảnh chết nơi đường phố, hoặc khỏi sự mù như dơi. Công việc sau cùng của Ngài là tái tạo dân Ngài theo hình ảnh của Ngài, và đó chính là việc Ngài đã làm khi dựng nên A-đam từ bụi đất, rồi hà hơi sự sống vào ông. Công việc sau cùng cũng là công việc đầu tiên, vì trước hết Ngài nắn đất sét rồi ban cho đất sét ấy sự sống của Thánh Linh Ngài. Với A-đam, Thánh Linh là hơi thở của Ngài; với người mù, đó là nước. Còn với thung lũng xương khô của Ê-xê-chi-ên, đó là một sứ điệp quy tụ tạo nên thân thể. Rồi một sứ điệp của bốn phương gió được hà hơi vào thân thể ấy, và nó đứng dậy như một đạo quân hùng mạnh.

While the blind man was yet blind, Jesus saw Him and then approached him. He approaches the blind man within the context of a question that was raised by His disciples, thus allowing Him to establish the proper prophetic setting for the illustration. The “works of God” are a prophetic symbol upon many various lines of witnesses in the Bible. Every manifestation of the “works of God” in the Scriptures is fulfilled in the time of the latter rain. Jesus is placing the context of the story in terms of the final message, as represented by Elijah in the last verses of Malachi.

Khi người mù vẫn còn mù, Chúa Giê-su thấy ông và tiến lại gần. Ngài đến với người mù trong bối cảnh một câu hỏi do các môn đồ của Ngài nêu ra, qua đó cho phép Ngài thiết lập bối cảnh tiên tri thích hợp cho sự minh họa này. “Các công việc của Đức Chúa Trời” là một biểu tượng tiên tri trên nhiều mạch lời chứng khác nhau trong Kinh Thánh. Mọi sự bày tỏ của “các công việc của Đức Chúa Trời” trong Kinh Thánh đều được ứng nghiệm vào thời kỳ mưa cuối mùa. Chúa Giê-su đang đặt bối cảnh của câu chuyện trong khuôn khổ sứ điệp cuối cùng, được biểu trưng bởi Ê-li trong những câu cuối của sách Ma-la-chi.

The parents and the blind child are not condemned as sinners, for this is the time of God’s marvelous works, and in that time the hearts of the parents and the hearts of the children will get turned to see the issue at hand. The issue being—whether the blind Laodicean man has been changed into a anointed Philadelphian man. That is the issue that confronts the parents and the child in the time of the latter rain, for that is also the time of judgment. And the time of judgment is carried out during the third and fourth generations according to Abraham’s covenant prophecy. The blind man is the last and fourth generation, and his parents are the third. In that period the Elijah message places families into circumstances where they are forced to accept or reject the message of the pool of Siloam. The foolish and wicked king Ahaz rejected the message of that pool, but the blind man accepted. The Elijah message of Malachi is set in the context of a curse before the great and terrible day of the Lord.

Cha mẹ và đứa trẻ mù không bị kết tội là tội nhân, vì đây là thời kỳ những việc lạ lùng của Đức Chúa Trời; và trong thời kỳ ấy, lòng của cha mẹ và lòng của con cái sẽ được quay lại để thấy vấn đề trước mắt. Vấn đề là—liệu người La-ô-đi-xê mù có được biến đổi trở thành một người Phi-la-đen-phi được xức dầu hay không. Đó là vấn đề đối diện với cha mẹ và đứa trẻ trong thời kỳ mưa muộn, vì đó cũng là thời kỳ phán xét. Và thời kỳ phán xét được thi hành trong đời thứ ba và thứ tư theo lời tiên tri về giao ước của Áp-ra-ham. Người mù là thế hệ sau cùng, tức đời thứ tư; còn cha mẹ của người ấy là đời thứ ba. Trong thời kỳ đó, sứ điệp Ê-li đặt các gia đình vào hoàn cảnh buộc họ phải chấp nhận hoặc khước từ sứ điệp về hồ Si-lô-am. Vua A-cha ngu dại và gian ác đã khước từ sứ điệp của hồ ấy, nhưng người mù thì đã chấp nhận. Sứ điệp Ê-li trong Ma-la-chi được đặt trong bối cảnh của một lời rủa sả trước ngày lớn và đáng sợ của Chúa.

When Jesus organized the setting we are considering, He included in His summary of the purpose of the miracle was that He must work then, for a time will come when no man can work. The work He referred to takes place in the daylight, and the end of work is represented as night. His reference is to the close of probation.

Khi Đức Chúa Jêsus sắp đặt bối cảnh mà chúng ta đang xem xét, Ngài đã nêu trong phần tóm tắt về mục đích của phép lạ rằng Ngài phải làm việc ngay lúc ấy, vì sẽ đến lúc chẳng ai có thể làm việc được. Công việc mà Ngài nói đến diễn ra vào ban ngày, và sự kết thúc của công việc được ví như ban đêm. Ở đây Ngài ám chỉ đến sự kết thúc thời kỳ ân điển.

When He finishes His work of judgment, he takes off His priestly garments and puts on His garments of vengeance. When He finishes that work of separating the lost from the saved, the work of salvation ends. Probation is closed and it is now nighttime when no man can work. Christ’s message was not only the Laodicean message to a blind man, but it was the Elijah message set within the context of the nearness of the close of probation, which is Christ’s sanctified motivation to work for the saving of souls.

Khi Ngài hoàn tất công việc phán xét của mình, Ngài cởi bỏ y phục thầy tế lễ và khoác áo báo thù. Khi Ngài hoàn tất công việc phân rẽ kẻ hư mất khỏi người được cứu, công cuộc cứu rỗi chấm dứt. Cánh cửa ân điển đóng lại, và bấy giờ là đêm tối, khi không ai có thể làm việc. Sứ điệp của Đấng Christ không chỉ là sứ điệp La-ô-đi-xê gửi đến người mù lòa, nhưng còn là sứ điệp Ê-li, được đặt trong bối cảnh sự gần kề của việc kết thúc thời kỳ ân điển; đó là động lực thánh khiết thúc đẩy Đấng Christ lao tác cho việc cứu rỗi các linh hồn.

First Christ approached the blind man, then prepared and applied the ointment, then gave instructions for a work that the blind man must do for himself, and just as importantly is that as he takes up the work his sight is restored. Once he has sight he has transformed from a blind Laodicean into a Philadelphian. The transformation period of those two churches was fulfilled in the beginning from 1856 unto 1863.

Trước hết, Đấng Christ đến gần người mù, rồi chuẩn bị và xức thuốc mỡ, sau đó đưa ra chỉ dẫn cho một việc mà người mù phải tự mình làm, và điều quan trọng không kém là khi ông bắt tay vào việc, thị lực của ông được phục hồi. Khi đã có thị lực, ông đã được biến đổi từ một người La-ô-đi-xê mù lòa thành một người Phi-la-đen-phi. Thời kỳ biến đổi của hai hội thánh ấy đã được hoàn tất vào buổi đầu, từ năm 1856 đến năm 1863.

That period represents the separation of the wheat and tares, and the final sealing of the one hundred and forty-four thousand who are thereafter lifted up as an ensign. The blind man immediately became the public focus—once he changed from a Laodicean unto a Philadelphian. The blind man is the one hundred and forty-four thousand and the wicked and foolish king Ahaz are the former covenant people who are spewed out of the mouth of the Lord. At the same point in history, Jesus is either using his spit to anoint His new covenant people, or He is spitting the old covenant people out of His mouth.

Thời kỳ đó tượng trưng cho sự phân tách giữa lúa mì và cỏ lùng, và sự đóng ấn cuối cùng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, là những người sau đó được giương lên như một lá cờ hiệu. Người mù lập tức trở thành tâm điểm của công chúng—ngay khi ông chuyển từ một người La-ô-đi-xê thành một người Phi-la-đê-phi. Người mù là một trăm bốn mươi bốn nghìn; còn vua Ahaz gian ác và ngu muội là dân giao ước trước kia, những kẻ bị mửa ra khỏi miệng của Chúa. Vào cùng thời điểm lịch sử đó, Chúa Giê-su hoặc đang dùng nước bọt của Ngài để xức cho dân giao ước mới của Ngài, hoặc Ngài đang nhổ dân giao ước cũ ra khỏi miệng Ngài.

We will continue these thoughts in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mạch suy nghĩ này trong bài viết tiếp theo.

“The Coming Crisis

Cuộc khủng hoảng sắp tới

“With unerring accuracy the Infinite One keeps an account with all nations. While his mercy is offered with calls to repentance, this account will remain open; but when a certain limit which God has fixed is reached, the ministry of his wrath begins. The account is then closed; divine patience ceases; there is no more pleading for mercy in their behalf.

Với độ chính xác không hề sai lầm, Đấng Vô Cùng lưu giữ hồ sơ về mọi dân tộc. Bao lâu lòng thương xót của Ngài còn được ban ra cùng với những lời kêu gọi ăn năn, hồ sơ này sẽ còn mở; nhưng khi đạt đến một giới hạn nhất định mà Đức Chúa Trời đã ấn định, sự thi hành cơn thịnh nộ của Ngài bắt đầu. Bấy giờ hồ sơ ấy được đóng lại; sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời chấm dứt; không còn lời khẩn cầu xin thương xót nào thay cho họ nữa.

“The prophet, looking down the ages, had our time presented before his vision. The nations of this age have been the recipients of unprecedented mercies. The choicest of Heaven’s blessings have been given them; but increased pride, covetousness, idolatry, contempt of God, and base ingratitude, are written against them. They are fast closing up their account with God.

Vị tiên tri, khi nhìn xuyên qua các thời đại, thấy thời đại của chúng ta hiện ra trước mắt. Các dân tộc của thời đại này đã nhận được những ân huệ chưa từng có. Những phước lành quý báu nhất của Trời đã được ban cho họ; nhưng sự kiêu ngạo gia tăng, lòng tham lam, thờ hình tượng, coi thường Đức Chúa Trời, và sự vô ơn đê tiện đã được ghi lại chống lại họ. Họ đang nhanh chóng khép lại sổ sách của mình trước mặt Đức Chúa Trời.

“The days are fast approaching when there will be great perplexity and confusion in the religious world. There will be gods many and lords many; every wind of doctrine will be blowing; and Satan, clothed in angel robes, would deceive, if it were possible, the very elect.

Những ngày đang nhanh chóng đến gần, khi trong thế giới tôn giáo sẽ có sự hoang mang và rối loạn lớn. Sẽ có nhiều thần và nhiều chúa; mọi luồng gió giáo lý đều sẽ thổi; và Sa-tan, mặc áo thiên sứ, sẽ lừa dối, nếu có thể được, cả những người được chọn.

“The universal scorn thrown upon true piety and holiness, leads those who have not a living connection with God to lose their reverence for his law. And as the disrespect for the divine law becomes more manifest, the line of demarcation between its observers and the world and a world-loving church will become more distinct. Love of God’s precepts increases with one class, according as contempt for them increases with the other.

Sự khinh miệt phổ biến nhắm vào lòng mộ đạo và sự thánh khiết chân chính khiến những người không có mối liên hệ sống động với Đức Chúa Trời đánh mất lòng tôn kính luật pháp của Ngài. Và khi sự bất kính đối với luật pháp của Đức Chúa Trời ngày càng lộ rõ, ranh giới phân định giữa những người tuân giữ luật ấy với thế gian và với một hội thánh chuộng thế gian sẽ trở nên rõ rệt hơn. Tình yêu đối với các điều răn của Đức Chúa Trời nơi một nhóm càng tăng bao nhiêu, thì sự khinh miệt chúng nơi nhóm kia cũng càng tăng bấy nhiêu.

“The great I AM is vindicating his law. He is speaking to those who make it void in storms, in floods, in tempests, in earthquakes, in perils by land and by sea. Now is the time for his people to show themselves true to principle.

Đấng Ta Là vĩ đại đang bênh vực luật pháp của Ngài. Ngài đang phán với những kẻ làm cho luật pháp ấy ra vô hiệu trong những cơn bão, trong lũ lụt, trong cuồng phong, trong động đất, trong các hiểm nguy trên đất liền và ngoài biển. Bây giờ là lúc dân sự của Ngài tỏ ra trung thành với nguyên tắc.

“We are standing on the threshold of great and solemn events. The Lord is at the door. Upon the Mount of Olives the Saviour rehearsed the scenes that were to precede this great event: ‘Ye shall hear of wars and rumors of wars,’ he said. ‘Nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom; and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes in divers places. All these are the beginning of sorrows.’ While these prophecies received a partial fulfilment at the destruction of Jerusalem, they have a more direct application in the last days.

Chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa của những sự kiện trọng đại và trang nghiêm. Chúa đang ở trước cửa. Trên núi Ô-liu, Đấng Cứu Thế đã thuật lại những cảnh sẽ xảy ra trước biến cố trọng đại này: 'Các ngươi sẽ nghe nói về chiến tranh và những tin đồn về chiến tranh,' Ngài phán. 'Dân này sẽ dấy lên nghịch cùng dân kia, và nước này nghịch cùng nước khác; và sẽ có nạn đói, dịch bệnh, và động đất ở nhiều nơi. Tất cả những điều ấy là khởi đầu của cơn đau đớn.' Dù những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm một phần khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, chúng có sự áp dụng trực tiếp hơn trong những ngày sau rốt.

“John and the other prophets also were witnesses of the terrible scenes that will take place as signs of Christ’s coming. They saw armies mustering for battle, and men’s hearts failing them for fear. They saw the earth moved out of its place, the mountains carried into the midst of the sea, the waves thereof roaring and troubled, and the mountains shaking with the swelling thereof. They saw the vials of God’s wrath opened, and pestilence, famine, and death come upon the inhabitants of the earth.

Giăng và các nhà tiên tri khác cũng đã chứng kiến những cảnh tượng khủng khiếp sẽ xảy ra như những dấu hiệu về sự tái lâm của Đấng Christ. Họ thấy các đạo quân tập hợp để giao chiến, và lòng người rụng rời vì sợ hãi. Họ thấy đất bị dời khỏi chỗ của nó, núi non bị ném vào giữa biển, sóng gầm thét và dậy động, và núi non rung chuyển bởi sự dâng trào của nó. Họ thấy các chén thịnh nộ của Đức Chúa Trời được mở ra, và dịch bệnh, nạn đói, cùng sự chết giáng trên cư dân trên mặt đất.

“Already the restraining Spirit of God is being withdrawn from the world. And hurricanes, tempests, disasters by sea and land, follow each other in quick succession. Science seeks to explain all these. The signs thickening around us, telling of the near approach of the Son of God, are attributed to any other than the true cause. Men cannot discern the sentinel angels restraining the four winds that they may not blow until the servants of God are sealed; but when God shall bid his angels loose the winds, there will be such a scene of his avenging wrath as no pen can picture.

Hiện nay tác động kiềm chế của Đức Thánh Linh đang dần được rút khỏi thế gian. Và các cơn cuồng phong, bão tố, tai họa trên biển và trên đất liền, nối tiếp nhau dồn dập. Khoa học tìm cách giải thích tất cả những điều ấy. Những dấu hiệu dày đặc quanh chúng ta, cho biết Con Đức Chúa Trời sắp đến gần, lại bị quy cho đủ mọi nguyên nhân khác chứ không phải nguyên nhân thật. Con người không nhận ra các thiên sứ canh gác đang kiềm giữ bốn luồng gió để chúng không thổi cho đến khi các tôi tớ của Đức Chúa Trời được đóng ấn; nhưng khi Đức Chúa Trời truyền các thiên sứ của Ngài thả các luồng gió ra, sẽ có một cảnh tượng cơn thịnh nộ báo trả của Ngài mà không bút nào có thể diễn tả.

“A crisis is just upon us; but God’s servants are not to trust to themselves in this great emergency. In the visions given to Isaiah, Ezekiel, and John, we see how closely heaven is connected with the events transpiring upon the earth. We see the care of God for those who are loyal to him. The world is not without a ruler. The program of coming events is in the hands of the Lord. The Majesty of heaven has the destiny of nations, as well as the concerns of his church, in his own keeping.

Một cơn khủng hoảng đang ập đến; nhưng các tôi tớ của Đức Chúa Trời không được cậy vào chính mình trong cơn nguy cấp lớn này. Trong những khải tượng ban cho Ê-sai, Ê-xê-chi-ên và Giăng, chúng ta thấy thiên đàng gắn bó mật thiết như thế nào với những biến cố đang diễn ra trên đất. Chúng ta thấy sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với những ai trung thành với Ngài. Thế giới không phải vô chủ. Tiến trình của những sự kiện sắp đến ở trong tay Chúa. Đấng Tối Cao của thiên đàng nắm giữ vận mệnh các dân tộc, cũng như công việc của Hội Thánh Ngài, trong tay chính Ngài.

God has revealed what is to take place in the last days, that his people may be prepared to stand against the tempests of opposition and wrath. Those who have been warned of the events before them are not to sit in calm expectation of the coming storm, comforting themselves that the Lord will shelter his faithful ones in the day of trouble. We are to be as men waiting for their Lord, not in idle expectancy, but in earnest work, with unwavering faith. It is no time now to allow our minds to be engrossed with things of minor importance.

Đức Chúa Trời đã bày tỏ những điều sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt, để dân sự của Ngài được chuẩn bị đứng vững trước những cơn bão tố của sự chống đối và cơn thịnh nộ. Những người đã được cảnh báo về những biến cố trước mắt không được ngồi yên mà bình thản trông đợi cơn bão sắp đến, tự an ủi rằng Chúa sẽ che chở những người trung tín của Ngài trong ngày hoạn nạn. Chúng ta phải như những người đang chờ đợi Chúa mình, không phải trong sự mong đợi lười nhác, nhưng trong công việc sốt sắng, với đức tin không lay chuyển. Bây giờ không phải là lúc để tâm trí chúng ta bị cuốn vào những điều thứ yếu.

“While men are sleeping, Satan is actively arranging matters so that the Lord’s people may not have mercy or justice. The Sunday movement is now making its way in darkness. The leaders are concealing the true issue, and many who unite in the movement do not themselves see whither the under-current is tending. Its professions are mild, and apparently Christian; but when it shall speak, it will reveal the spirit of the dragon. It is our duty to do all in our power to avert the threatened danger. We should bring before the people the real question at issue, thus interposing the most effectual protest against measures to restrict liberty of conscience. We should search the Scriptures, and be able to give the reason for our faith. Says the prophet, ‘The wicked shall do wickedly, and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand.’

Trong khi người ta đang ngủ, Sa-tan đang tích cực sắp đặt mọi việc để dân của Chúa không được hưởng lòng thương xót hay công lý. Phong trào Chủ Nhật hiện đang lặng lẽ tiến bước trong bóng tối. Các nhà lãnh đạo đang che giấu vấn đề thực sự, và nhiều người liên kết với phong trào ấy chính họ cũng không thấy dòng chảy ngầm đang hướng về đâu. Những lời tuyên bố của nó thì ôn hòa và bề ngoài có vẻ Cơ Đốc; nhưng khi nó lên tiếng, nó sẽ bộc lộ tinh thần của con rồng. Bổn phận của chúng ta là làm tất cả trong khả năng để ngăn chặn mối nguy đang đe dọa. Chúng ta nên trình bày trước dân chúng câu hỏi thực sự đang được đặt ra, qua đó đưa ra sự phản đối hữu hiệu nhất đối với các biện pháp hạn chế tự do lương tâm. Chúng ta nên tra xem Kinh Thánh và có thể đưa ra lý do cho đức tin của mình. Tiên tri nói: “Kẻ ác sẽ làm điều ác, và chẳng có ai trong bọn ác hiểu; nhưng người khôn sáng sẽ hiểu.”

“The important future is before us. To meet its trials and temptations, and to perform its duties, will require great faith, energy, and perseverance. But we may triumph gloriously; for not one watching, praying, believing soul will be ensnared by the devices of the enemy. All heaven is interested in our welfare, and waits our demand upon its wisdom and strength. Every opposing influence, whether open or secret, may be successfully resisted, ‘not by might nor by power, but by my Spirit, saith the Lord of hosts.’ God is just as willing now as anciently to work through human efforts, and to accomplish great things through weak instrumentalities. We shall not gain the victory through numbers, but through full surrender of the soul to Jesus.

Một tương lai trọng đại đang ở trước mắt chúng ta. Để đối diện với những thử thách và cám dỗ của nó, và để chu toàn các bổn phận, chúng ta sẽ cần đức tin lớn lao, nhiệt huyết và lòng bền bỉ. Nhưng chúng ta có thể chiến thắng vẻ vang; vì không một linh hồn tỉnh thức, cầu nguyện và tin cậy nào sẽ bị mắc bẫy bởi mưu kế của kẻ thù. Cả thiên đàng đều quan tâm đến phúc lợi của chúng ta, và chờ đợi chúng ta kêu cầu sự khôn ngoan và sức mạnh của thiên đàng. Mọi ảnh hưởng chống đối, dù công khai hay kín đáo, đều có thể được kháng cự cách đắc thắng, 'không phải bởi quyền thế hay sức lực, nhưng bởi Thần Ta, Chúa của muôn quân phán vậy.' Đức Chúa Trời hiện nay cũng sẵn lòng như thuở xưa để hành động qua nỗ lực của con người, và để thực hiện những điều lớn lao qua các khí cụ yếu đuối. Chúng ta sẽ không đạt được chiến thắng nhờ số đông, mà nhờ sự phó thác trọn vẹn linh hồn cho Chúa Giê-su.

“Now, while mercy still lingers, while Jesus is making intercession for us, let us make thorough work for eternity.” Southern Watchman, December 25, 1906.

Bây giờ, khi lòng thương xót vẫn còn nán lại, khi Chúa Giê-su đang cầu thay cho chúng ta, chúng ta hãy làm công việc cách triệt để cho cõi đời đời. Southern Watchman, ngày 25 tháng 12 năm 1906.