The four generations of Joel represent a progressive destruction of God’s vineyard from 1863 unto the Sunday law. The number four also symbolizes four attributes of Christ’s character. The cherubim in the sanctuary have four facial manifestations, and those manifestations align with the fourfold division of ancient Israel as they encamped around the sanctuary. They also represent the four gospels.

Bốn thế hệ trong sách Giô-ên biểu thị sự tàn phá dần dần vườn nho của Đức Chúa Trời từ năm 1863 cho đến đạo luật Chủ nhật. Con số bốn cũng tượng trưng cho bốn phẩm chất trong tính cách của Đấng Christ. Các chê-ru-bim trong đền thánh có bốn khuôn mặt, và những khuôn mặt ấy tương ứng với sự phân chia làm bốn phía của Y-sơ-ra-ên xưa khi họ đóng trại quanh đền thánh. Chúng cũng đại diện cho bốn sách Tin Lành.

As for the likeness of their faces, they four had the face of a man, and the face of a lion, on the right side: and they four had the face of an ox on the left side; they four also had the face of an eagle. Ezekiel 1:10.

Còn về hình dạng các mặt của chúng, thì cả bốn đều có mặt người; và mặt sư tử ở bên hữu; cả bốn đều có mặt bò ở bên tả; cả bốn cũng có mặt đại bàng. Ê-xê-chi-ên 1:10.

And the first beast was like a lion, and the second beast like a calf, and the third beast had a face as a man, and the fourth beast was like a flying eagle. Revelation 4:7.

Và con thú thứ nhất giống như sư tử, con thú thứ hai giống như con bê, con thú thứ ba có mặt như người, và con thú thứ tư giống như đại bàng đang bay. Khải Huyền 4:7.

The Bible (Numbers 2) describes the 12 tribes (excluding Levi, who camped immediately around the tabernacle) organized into four camps of three tribes each, positioned on the four cardinal directions around the sanctuary, each under a standard, meaning, banner or ensign. The arrangement created a symbolic parallel, where the earthly camp mirrors the heavenly throne guarded by the cherubim.

Kinh Thánh (Dân Số Ký 2) mô tả mười hai chi phái (trừ chi phái Lê-vi, là những người đóng trại ngay xung quanh Đền Tạm) được sắp xếp thành bốn trại, mỗi trại gồm ba chi phái, bố trí theo bốn hướng chính quanh Đền Tạm, mỗi trại đều có một tiêu kỳ, tức cờ hiệu hay biểu kỳ. Sự sắp xếp này tạo nên một sự song song mang tính biểu tượng, trong đó trại dưới đất phản chiếu ngai trời được các chê-ru-bim canh giữ.

Judah faced east, toward the rising sun at the entrance of the sanctuary. Judah’s standard was a lion, for it represents the Lion of the tribe of Judah. The two tribes with Judah were Issachar and Zebulun. In the vision of John, the first beast was as a lion, just as Ezekiel’s cherubim had a face of a lion. Rueben, the symbol of man was on the south with Simeon and Gad. On the west was Ephraim, with Benjamin and Manasseh represented by the ox. On the north was Dan, with Asher and Naphtali, represented by the eagle. The tribe’s association with the four faces of the heavenly sanctuary are represented in the four gospels.

Giu-đa quay mặt về phía đông, hướng về mặt trời mọc tại lối vào đền thánh. Tiêu kỳ của Giu-đa là sư tử, vì nó tượng trưng cho Sư Tử của chi phái Giu-đa. Hai chi phái ở cùng Giu-đa là Y-sa-ca và Sa-bu-lôn. Trong khải tượng của Giăng, con thú thứ nhất giống như sư tử, cũng như các chê-ru-bim của Ê-xê-chi-ên có một khuôn mặt là sư tử. Ru-bên, biểu tượng của loài người, ở phía nam cùng với Si-mê-ôn và Gát. Ở phía tây là Ép-ra-im, cùng với Bên-gia-min và Ma-na-se; họ được tượng trưng bởi bò đực. Ở phía bắc là Đan, cùng với A-se và Nép-ta-li; họ được tượng trưng bởi đại bàng. Mối liên hệ của các chi phái với bốn khuôn mặt của đền thánh trên trời được thể hiện trong bốn sách Phúc Âm.

Matthew is the Lion of the tribe of Judah, Mark is the sacrificial ox, Luke the man and John the high-flying eagle. Christ as the Lion of the tribe of Judah defines Himself as the one who seals and unseals His prophetic Word. The book of Matthew has more direct references to fulfillments of Messianic prophecies (12) as the other three gospels combined. It is not even close.

Ma-thi-ơ là Sư tử của chi phái Giu-đa, Mác là con bò tế lễ, Lu-ca là người, và Giăng là đại bàng bay cao. Đấng Christ, với tư cách là Sư tử của chi phái Giu-đa, tự xác định mình là Đấng đóng ấn và mở ấn Lời tiên tri của Ngài. Sách Ma-thi-ơ có nhiều chỗ đề cập trực tiếp đến sự ứng nghiệm các lời tiên tri về Đấng Mê-si (12) hơn cả ba sách Phúc Âm còn lại cộng lại. Chênh lệch là rất lớn.

The book of Matthew represents God’s prophetic Word. Luke, who was a doctor presents his gospel from the perspective of Christ as the Son of Man, for Luke is the face of the man. Mark presents his gospel of Christ from the perspective of the sacrificial offering which Christ represented, for Mark is the ox. John is the high-flying eagle, who presented the deep things of God in his presentation of the gospel of Christ.

Sách Ma-thi-ơ tượng trưng cho Lời tiên tri của Đức Chúa Trời. Lu-ca, vốn là một thầy thuốc, trình bày Phúc Âm của ông từ góc nhìn về Đấng Christ như Con Người, vì Lu-ca là gương mặt của con người. Mác trình bày Phúc Âm về Đấng Christ từ góc nhìn của lễ tế hy sinh mà Đấng Christ đại diện, vì Mác là con bò. Giăng là con đại bàng bay vút, người bày tỏ những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời khi trình bày Phúc Âm về Đấng Christ.

It is important to understand the book of Matthew as it is represented within the prophetic Word. The book of Matthew is the Lion of the tribe of Judah, the master of His prophetic Word, the Wonderful Numberer of secrets, the Wonderful Linguist, the one who seals and unseals His Word. Jesus is the Alpha and Omega, and He is the Word. The first book of the New Testament and the last book of the New Testament are prophetic books. Most know this fact about the book of Revelation, but they might not have recognized that Matthew is the alpha of the New Testament, so it must align with the omega of the New Testament. It must represent the end, which is the book of Revelation.

Điều quan trọng là phải hiểu sách Ma-thi-ơ theo như nó được trình bày trong Lời tiên tri. Sách Ma-thi-ơ là Sư Tử của chi phái Giu-đa, là Đấng chủ tể của Lời tiên tri của Ngài, Đấng kỳ diệu trong việc định số các điều kín nhiệm, Đấng kỳ diệu về ngôn ngữ, Đấng niêm phong và mở ấn Lời của Ngài. Chúa Giê-xu là Anpha và Ômêga, và Ngài là Lời. Sách đầu tiên của Tân Ước và sách cuối cùng của Tân Ước đều là sách tiên tri. Hầu hết mọi người biết điều này về sách Khải Huyền, nhưng họ có thể chưa nhận ra rằng Ma-thi-ơ là Anpha của Tân Ước, nên nó phải tương ứng với Ômêga của Tân Ước. Nó phải đại diện cho phần kết, tức là sách Khải Huyền.

Therefore, when we find in Matthew the parallel line of Genesis’ line of covenant history set forth in chapters eleven through twenty-two, it is nothing less than a truth which the Lion of the tribe of Matthew is unsealing. The twelve chapters of covenant history that are represented in Genesis, Matthew and Revelation are now being unsealed and what we are identifying is that chapter twenty-three of Matthew represents the separation of the wise and foolish in the parable of the vineyard. Eight woes upon the former covenant people, that find their prophetic counterpart in the eight souls representing the one hundred and forty-four thousand who get on the ark of safety. 23 is a representation of the work that began in the Heavenly sanctuary when the 2300 days reached its conclusion on October 22, 1844, and will do so again at the soon-coming Sunday law. Chapter 23 is marking this truth.

Vì vậy, khi chúng ta thấy trong Ma-thi-ơ một dòng song song với dòng lịch sử giao ước của Sáng Thế Ký được trình bày trong các chương từ mười một đến hai mươi hai, thì đó không gì khác hơn là một lẽ thật mà Sư Tử của chi phái Ma-thi-ơ đang mở ấn. Mười hai chương của lịch sử giao ước được trình bày trong Sáng Thế Ký, Ma-thi-ơ và Khải Huyền hiện đang được mở ấn, và điều chúng ta đang xác định là chương hai mươi ba của Ma-thi-ơ đại diện cho sự phân biệt giữa những người khôn ngoan và dại dột trong dụ ngôn vườn nho. Tám lời khốn cho dân giao ước trước đây, những lời khốn ấy có đối ứng tiên tri là tám linh hồn đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người lên con tàu an toàn. Chương 23 là một biểu tượng cho công việc đã bắt đầu trong đền thánh trên trời khi 2300 ngày đi đến kết thúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, và sẽ lại như vậy khi luật Chủ nhật sắp đến. Chương 23 đang đánh dấu lẽ thật này.

Chapter twenty-four takes place as Christ has just ended His dialogue with apostate Israel and left the Jew’s temple for the final time. The number 24 is a symbol of the transition of ancient to modern Israel, the very point in prophetic history where Christ stood, when He presented His message in Matthew twenty-four. The prophetic message of Matthew 24 is a Divine illustration of line upon line methodology, that specifically addresses the history of the Millerites, and therefore the history of the one hundred and forty-four thousand. 24 is represented by the church of Revelation twelve, which stands upon the moon that reflects the light of the sun of righteousness. On her head are twelve stars that represent 24, for she represents the history leading up to the birth of Christ when ancient Israel’s 12 tribes would become modern Israel’s twelve disciples. In chapter twenty-four the Millerite history from 1798 unto the great disappointment are represented. Then comes Matthew 25.

Chương hai mươi bốn diễn ra khi Đấng Christ vừa kết thúc cuộc đối thoại với Israel bội đạo và rời đền thờ của người Do Thái lần cuối cùng. Con số 24 là biểu tượng cho sự chuyển tiếp từ Israel cổ đại sang Israel hiện đại, chính điểm trong lịch sử tiên tri nơi Đấng Christ đã đứng khi Ngài trình bày sứ điệp của mình trong Ma-thi-ơ hai mươi bốn. Sứ điệp tiên tri của Ma-thi-ơ 24 là một minh họa thiêng liêng về phương pháp “dòng trên dòng”, nhằm nói cụ thể đến lịch sử của những người Millerite, và vì thế cũng là lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Con số 24 được biểu trưng bởi hội thánh trong Khải Huyền mười hai, hội thánh đứng trên mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời công chính. Trên đầu nàng có mười hai ngôi sao tượng trưng cho 24, vì nàng đại diện cho lịch sử dẫn đến sự giáng sinh của Đấng Christ, khi mười hai chi phái của Israel cổ đại sẽ trở thành mười hai môn đồ của Israel hiện đại. Trong chương hai mươi bốn, lịch sử của những người Millerite từ năm 1798 cho đến sự thất vọng lớn được trình bày. Sau đó là Ma-thi-ơ 25.

The number 25 is a symbol of the Levites, whether good or bad, but just as significantly it represents the separation of the wise and wicked Levites. Matthew 25 identifies upon three witnesses, or three parables, the separation process that is represented by the number twenty-five. Of course, the parable of the ten virgins represents the history of the Millerites, and also the history of the one hundred and forty-four thousand. That history is the history of the first angel, the parable of the talents is the second angel and the parable of sheep and goats is the judgment of the third angel.

Số 25 là một biểu tượng của những người Lê-vi, dù tốt hay xấu, nhưng cũng quan trọng không kém, nó đại diện cho sự phân chia giữa những người Lê-vi khôn ngoan và gian ác. Ma-thi-ơ 25 cho thấy, qua ba chứng nhân, tức ba dụ ngôn, quá trình phân tách được tượng trưng bởi con số hai mươi lăm. Dĩ nhiên, dụ ngôn mười trinh nữ tượng trưng cho lịch sử của phong trào Millerite, và cũng cho lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Lịch sử ấy là lịch sử của thiên sứ thứ nhất, dụ ngôn về các nén bạc là thiên sứ thứ hai, và dụ ngôn chiên và dê là sự phán xét của thiên sứ thứ ba.

Chapters twenty-six through twenty-eight identify the history of Passover to the post crucifixion gospel commission.

Các chương hai mươi sáu đến hai mươi tám trình bày lịch sử từ Lễ Vượt Qua đến sứ mạng rao giảng Tin Mừng sau cuộc đóng đinh.

And it came to pass, when Jesus had finished all these sayings, he said unto his disciples, Ye know that after two days is the feast of the passover, and the Son of man is betrayed to be crucified. Matthew 26:1, 2.

Khi Chúa Giê-xu nói xong tất cả những lời ấy, Ngài bảo các môn đệ rằng: “Các con biết rằng sau hai ngày nữa là lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh.” Ma-thi-ơ 26:1, 2.

A summary of the various waymarks in chapter 26 is the plot to kill Jesus in verses three through five. Then Jesus is anointed at Bethany in verses six through thirteen. In verses fourteen through sixteen Judas betrays Christ for thirty pieces of silver. Then came Passover with His disciples, in verses seventeen through twenty-five. Verses twenty-six through twenty-nine, Jesus institutes the Lord’s supper, and in verse thirty, Jesus foretells Peter’s denial. In verses thirty-six through forty-six Jesus is in Gethsemane. Verse forty-seven through fifty-six Jesus is arrested, then in verses fifty-seven through sixty-eight, Jesus is before Caiaphas and the Sanhedrin. From verse sixty-nine onward Peter’s denial of Christ is set forth. The chapter contains ten specific waymarks that are to be repeated during the latter days.

Bản tóm lược các dấu mốc khác nhau trong chương 26 là: âm mưu giết Chúa Giê-su ở các câu 3–5. Rồi Chúa Giê-su được xức dầu tại Bê-tha-ni ở các câu 6–13. Ở các câu 14–16, Giu-đa phản bội Đấng Christ để lấy ba mươi miếng bạc. Rồi đến Lễ Vượt Qua với các môn đồ của Ngài, ở các câu 17–25. Các câu 26–29, Chúa Giê-su thiết lập Tiệc Thánh; và ở câu 30, Chúa Giê-su báo trước việc Phi-e-rơ chối Ngài. Ở các câu 36–46, Chúa Giê-su ở Ghết-sê-ma-nê. Các câu 47–56, Chúa Giê-su bị bắt; rồi ở các câu 57–68, Chúa Giê-su ở trước Cai-phe và Thượng Hội đồng. Từ câu 69 trở đi, việc Phi-e-rơ chối Đấng Christ được thuật lại. Chương này chứa mười dấu mốc cụ thể sẽ được lặp lại trong những ngày sau rốt.

Chapter twenty-seven has ten distinct waymarks as well. Jesus is delivered to Pilate, then Judas hangs himself, then Jesus is taken before Pilate, then Barabbas is chosen, Pilate delivers Jesus to be crucified, then Jesus is mocked, then the crucifixion, then the death of Jesus, then Jesus is buried and then the guard at the tomb testifies.

Chương hai mươi bảy cũng có mười dấu mốc riêng biệt. Giê-su bị giao nộp cho Phi-lát, rồi Giu-đa thắt cổ, rồi Giê-su được đưa ra trước mặt Phi-lát, rồi Ba-ra-ba được chọn, Phi-lát giao nộp Giê-su để bị đóng đinh, rồi Giê-su bị nhạo báng, rồi sự đóng đinh, rồi cái chết của Giê-su, rồi Giê-su được chôn cất, và rồi đội canh mộ làm chứng.

Chapter twenty-eight has but three waymarks, the first being the resurrection, followed by the lie of the Sanhedrin and then the great commission. Three chapters with twenty-three distinct waymarks of the cross that will be repeated in the history of the one hundred and forty-four thousand.

Chương hai mươi tám chỉ có ba dấu mốc, dấu mốc thứ nhất là sự phục sinh, tiếp theo là lời nói dối của Thượng Hội đồng Do Thái rồi đến Đại Mạng Lệnh. Ba chương với hai mươi ba dấu mốc riêng biệt của thập tự giá sẽ được lặp lại trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn.

Matthew 26 – Ten Waymarks

Ma-thi-ơ 26 - Mười dấu mốc

  1. 1. Plot by chief priests and elders to kill Jesus (vv. 3–5)

    Âm mưu của các thượng tế và các trưởng lão nhằm giết Giê-su (câu 3-5)

  2. 2. Anointing at Bethany by the woman with alabaster box (vv. 6–13)

    Người phụ nữ cầm bình bạch ngọc xức dầu tại Bê-tha-ni (câu 6–13)

  3. 3. Judas agrees to betray Jesus for 30 pieces of silver (vv. 14–16)

    Giu-đa đồng ý phản bội Giê-su để lấy ba mươi đồng bạc (cc. 14-16)

  4. 4. Preparation and eating of the Passover with the disciples (vv. 17–25)

    Chuẩn bị và ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ (cc. 17–25)

  5. 5. Institution of the Lord’s Supper (vv. 26–29)

    Sự thiết lập Tiệc Thánh (câu 26-29)

  6. 6. Prediction of Peter’s denial (vv. 30–35)

    Lời tiên báo về sự chối của Phêrô (câu 30–35)

  7. 7. Agony in Gethsemane (vv. 36–46)

    Cơn thống khổ tại Ghết-sê-ma-nê (c. 36-46)

  8. 8. Betrayal and arrest of Jesus (vv. 47–56)

    Sự phản bội và việc bắt giữ Đức Giê-su (cc. 47-56)

  9. 9. Jesus tried before Caiaphas and the Sanhedrin (vv. 57–68)

    Đức Giê-su bị xét xử trước Caipha và Thượng Hội Đồng Do Thái (cc. 57-68)

  10. 10. Peter’s threefold denial (vv. 69–75)

    Sự chối ba lần của Phêrô (câu 69–75)

Matthew 27 – Ten Waymarks

Ma-thi-ơ 27 - Mười cột mốc

  1. 1. Jesus delivered to Pilate (vv. 1–2)

    Đức Giê-su bị nộp cho Phi-lát (câu 1-2)

  2. 2. Judas’s remorse and suicide (vv. 3–10)

    Sự hối hận và tự sát của Giu-đa (câu 3-10)

  3. 3. Jesus before Pilate – the formal Roman trial (vv. 11–14)

    Giê-su trước Phi-lát - phiên tòa La Mã chính thức (c. 11-14)

  4. 4. Choice of Barabbas over Jesus (vv. 15–26)

    Sự lựa chọn Ba-ra-ba thay vì Giê-su (cc. 15–26)

  5. 5. Pilate delivers Jesus to be crucified (included in the release of Barabbas)

    Phi-la-tô trao nộp Giê-su để bị đóng đinh (bao gồm việc tha Ba-ra-ba)

  6. 6. Mocking and scourging by the soldiers (vv. 27–31)

    Sự chế nhạo và đánh đòn của quân lính (câu 27-31)

  7. 7. The crucifixion (vv. 32–44)

    Sự đóng đinh (c. 32-44)

  8. 8. The death of Jesus (vv. 45–50)

    Sự chết của Chúa Giê-su (câu 45-50)

  9. 9. Supernatural signs and burial by Joseph of Arimathea (vv. 51–61)

    Các dấu lạ siêu nhiên và việc an táng do Giuse người Arimathê thực hiện (cc. 51–61)

  10. 10. Posting of the guard at the tomb (vv. 62–66)

    Đặt lính canh tại mộ (cc. 62-66)

Matthew 28 – Three Waymarks

Ma-thi-ơ 28 - Ba cột mốc

  1. 1. The resurrection and empty tomb (vv. 1–10)

    Sự phục sinh và ngôi mộ trống (cc. 1–10)

  2. 2. The lie of the chief priests and elders to the soldiers (vv. 11–15)

    Lời dối trá của các thượng tế và các trưởng lão nói với các lính canh (câu 11–15)

  3. 3. The Great Commission (vv. 16–20)

    Đại Mệnh Lệnh (câu 16-20)

Just as Christ’s experience from the anointing at Bethany to the Great Commission marked the close of His earthly ministry and the beginning of the gospel to all nations, so these same waymarks are repeated in the experience of God’s remnant as they approach the close of probation and their final triumph.

Cũng như kinh nghiệm của Đấng Christ từ sự xức dầu tại Bê-tha-ni đến Đại Mạng Lệnh đã đánh dấu sự kết thúc chức vụ trần thế của Ngài và sự khởi đầu của việc rao truyền Tin Lành cho mọi dân tộc, thì các cột mốc ấy cũng được lặp lại trong kinh nghiệm của dân sót của Đức Chúa Trời khi họ tiến gần đến sự kết thúc thời kỳ ân điển và chiến thắng cuối cùng của mình.

Chapters twenty-six through twenty-eight represent the Passover history structured upon 23 distinct waymarks that are repeated during the history leading to and following after the Sunday law.

Các chương 26 đến 28 trình bày lịch sử Lễ Vượt Qua được cấu trúc dựa trên 23 mốc riêng biệt, những mốc này được lặp lại trong lịch sử trước và sau luật ngày Chủ nhật.

“The coming of Christ as our high priest to the most holy place, for the cleansing of the sanctuary, brought to view in Daniel 8:14; the coming of the Son of man to the Ancient of Days, as presented in Daniel 7:13; and the coming of the Lord to His temple, foretold by Malachi, are descriptions of the same event; and this is also represented by the coming of the bridegroom to the marriage, described by Christ in the parable of the ten virgins, of Matthew 25.” The Great Controversy, 427.

“Sự đến của Đấng Christ với tư cách là thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta vào nơi chí thánh để thanh tẩy đền thánh, được trình bày trong Đa-ni-ên 8:14; sự Con Người đến cùng Đấng Thượng Cổ, như được trình bày trong Đa-ni-ên 7:13; và sự Chúa đến đền thờ Ngài, được Ma-la-chi báo trước, đều là những mô tả về cùng một sự kiện; và điều này cũng được minh họa bằng việc chàng rể đến dự tiệc cưới, được Đấng Christ mô tả trong dụ ngôn mười trinh nữ ở Ma-thi-ơ 25.” The Great Controversy, 427.

The end of the 2300 days on October 22, 1844 is repeated at the Sunday law. The 23 waymarks located in the last three chapters of Matthew identify the precious blood that is employed to combine Divinity with humanity.

Sự kết thúc của 2.300 ngày vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 được lặp lại tại thời điểm luật ngày Chủ nhật. 23 cột mốc nằm trong ba chương cuối của sách Ma-thi-ơ chỉ ra huyết báu được dùng để kết hợp Thần tính với nhân tính.

“The intercession of Christ in man’s behalf in the sanctuary above is as essential to the plan of salvation as was His death upon the cross. By His death He began that work which after His resurrection He ascended to complete in heaven. We must by faith enter within the veil, ‘whither the forerunner is for us entered.’ Hebrews 6:20. There the light from the cross of Calvary is reflected. There we may gain a clearer insight into the mysteries of redemption. The salvation of man is accomplished at an infinite expense to heaven; the sacrifice made is equal to the broadest demands of the broken law of God. Jesus has opened the way to the Father’s throne, and through His mediation the sincere desire of all who come to Him in faith may be presented before God.” The Great Controversy, 489.

Sự cầu thay của Đấng Christ thay cho con người tại đền thánh ở trên trời cũng thiết yếu đối với kế hoạch cứu rỗi như cái chết của Ngài trên thập tự giá. Bằng sự chết của mình, Ngài đã khởi đầu công việc mà, sau khi sống lại, Ngài đã thăng thiên để hoàn tất ở trên trời. Chúng ta phải bởi đức tin bước vào bên trong bức màn, 'nơi mà Đấng Tiền Phong đã vì chúng ta vào trước.' Hê-bơ-rơ 6:20. Tại đó, ánh sáng từ thập tự giá trên đồi Can-vê được phản chiếu. Tại đó, chúng ta có thể có cái nhìn rõ ràng hơn về những lẽ mầu nhiệm của sự cứu chuộc. Sự cứu rỗi của con người được thực hiện với cái giá vô hạn đối với thiên đàng; sự hy sinh đã được thực hiện đáp ứng trọn vẹn những đòi hỏi lớn nhất của luật pháp của Đức Chúa Trời bị bẻ gãy. Chúa Giê-su đã mở đường đến ngai của Cha, và qua sự trung gian của Ngài, ước nguyện chân thành của mọi người đến với Ngài bằng đức tin có thể được trình dâng trước mặt Đức Chúa Trời. Cuộc Xung Đột Vĩ Đại, 489.

Chapter 23 of Matthew emphasizes the condemnation upon the counterfeit priesthood. Chapters twenty-six through twenty-eight are the omega to chapter twenty-three. The counterfeit Levites, the old men’s escalating rebellion over four generations produced the waymarks in the last three chapters.

Chương 23 của sách Ma-thi-ơ nhấn mạnh sự lên án đối với chức tư tế giả mạo. Các chương 26 đến 28 là omega cho chương 23. Những người Lê-vi giả mạo — sự nổi loạn ngày càng leo thang của những người già qua bốn thế hệ — đã tạo ra những dấu mốc trong ba chương cuối.

Chapter twenty-four identifies the line upon line methodology as the methodology of Christ, as He employs the destruction of Jerusalem to describe the things that are, the things that have been and the things that will be.

Chương hai mươi bốn xác định phương pháp “dòng nối dòng” là phương pháp của Đấng Christ, khi Ngài dùng sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem để mô tả những điều hiện có, những điều đã có và những điều sẽ có.

The fall of Jerusalem in 70 AD, took place on the same day of the year that Jerusalem was first destroyed by Nebuchadnezzar. The destruction of Jerusalem by Nebuchadnezzar was past history, and Christ’s history, when Titus took Jerusalem, typified the end of the world. Matthew 24 is lifting up the line upon line methodology, thus identifying “methodology” as an element of the prophetic testimony.

Sự thất thủ của Jerusalem vào năm 70 sau Công nguyên diễn ra đúng vào cùng ngày trong năm khi Jerusalem lần đầu tiên bị Nebuchadnezzar phá hủy. Sự tàn phá Jerusalem bởi Nebuchadnezzar đã thuộc về quá khứ, và vào thời của Đấng Christ, khi Titus chiếm Jerusalem, điều đó là hình bóng cho tận thế. Matthew 24 làm nổi bật phương pháp dòng trên dòng, qua đó xác định "phương pháp" là một yếu tố của lời chứng tiên tri.

It is in chapter 24 that Christ identifies the necessity of understanding the “abomination of desolation” spoken of by Daniel the prophet, the very foundational understanding of William Miller, and the symbol that establishes the vision in Daniel. It also represents the rebellion of Adventism, as they rejected the Millerite understanding of “the daily” in the book of Daniel, and thus partook of the strong delusion of 2 Thessalonians chapter two. The chapter directly connects with Luke 21, thus identifying August 11, 1840 through October 22, 1844, which typifies 9/11 unto the Sunday law. It also connects with the “times of the Gentiles” in Luke 21:24, which is a primary key in unlocking the “seven times” of Moses, while also aligning with the measuring of the temple in Revelation eleven.

Chính ở chương 24, Đấng Christ nêu rõ sự cần thiết phải hiểu về “sự gớm ghiếc hoang tàn” mà tiên tri Đa-ni-ên đã nói—vốn là nền tảng hiểu biết của William Miller và là biểu tượng xác lập khải tượng trong sách Đa-ni-ên. Nó cũng đại diện cho sự phản nghịch của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, vì họ đã bác bỏ cách hiểu của phái Miller về “của lễ hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên, và như vậy đã dự phần vào sự mê lầm mạnh mẽ của 2 Tê-sa-lô-ni-ca chương hai. Chương này liên kết trực tiếp với Lu-ca 21, qua đó xác định khoảng từ ngày 11 tháng 8 năm 1840 đến ngày 22 tháng 10 năm 1844, vốn là hình bóng cho lộ trình từ 9/11 đến luật ngày Chúa nhật. Nó cũng liên hệ với “thời kỳ của Dân Ngoại” trong Lu-ca 21:24, là chìa khóa chủ yếu để mở ra “bảy lần” của Môi-se, đồng thời tương ứng với việc đo đền thờ trong Khải Huyền chương mười một.

Beginning with chapter twenty-three, followed by 24 and 25, and then concluding with chapters 26 through 27, three chapters which possess twenty-three waymarks that are the omega to the alpha of chapter twenty-three. Chapter twenty-six added to twenty-seven and twenty-eight equals “81,” which is a symbol of the priesthood. Upon three witnesses (Genesis, Matthew and Revelation) chapters 11 through 22 are one line. Chapters 23 through 28 are a line of truth which begins with 23 and ends with 23.

Bắt đầu với chương 23, tiếp theo là 24 và 25, rồi kết thúc với các chương 26 đến 27, ba chương có 23 cột mốc là omega đối với alpha của chương 23. Chương 26 cộng với 27 và 28 bằng "81", là một biểu tượng của chức tư tế. Dựa trên ba nhân chứng (Genesis, Matthew and Revelation) các chương 11 đến 22 là một mạch. Các chương 23 đến 28 là một mạch chân lý bắt đầu với 23 và kết thúc với 23.

Chapters one through ten are the first of three prophetic lines in the book of Matthew. Ten chapters, followed by twelve chapters, followed by six chapters. Inspiration informs us that all the books of the Bible meet and end in the Revelation, and therefore all the books of the Bible meet and end in Matthew. Matthew, as the face of the lion of the tribe of Judah identifies twelve distinct Messianic prophecies, and those twelve passages produce the waymarks of the history of the Millerites and the one hundred and forty-four thousand. As the book of Revelation begins with the revelation of Jesus Christ, Matthew chapter one presents a revelation of Jesus Christ which connects with the life and testimony of Moses, with the history of Antichrist while identifying the three elements of the church triumphant as represented by the prophet, the priest and the king.

Các chương từ một đến mười là dòng tiên tri thứ nhất trong ba dòng tiên tri trong sách Ma-thi-ơ. Mười chương, tiếp theo là mười hai chương, rồi sáu chương. Sự linh hứng cho chúng ta biết rằng mọi sách trong Kinh Thánh đều gặp gỡ và kết thúc trong sách Khải Huyền, và vì vậy mọi sách trong Kinh Thánh cũng gặp gỡ và kết thúc trong sách Ma-thi-ơ. Ma-thi-ơ, với tư cách là gương mặt của sư tử thuộc chi phái Giu-đa, xác định mười hai lời tiên tri về Đấng Mê-si riêng biệt, và mười hai đoạn ấy tạo nên những cột mốc cho lịch sử của phái Millerite và một trăm bốn mươi bốn nghìn. Cũng như sách Khải Huyền mở đầu bằng sự mặc khải về Chúa Giê-su Christ, chương một của Ma-thi-ơ trình bày một sự mặc khải về Chúa Giê-su Christ liên kết với đời sống và lời chứng của Môi-se, với lịch sử về kẻ chống Đấng Christ, đồng thời xác định ba yếu tố của hội thánh đắc thắng được đại diện bởi tiên tri, thầy tế lễ và vua.

Matthew begins with the revelation of Jesus Christ in the context of God’s covenant with a chosen people. From Abraham to David was 14 generations, from David to captivity in Babylon was fourteen generations, and from Babylon to Christ is another fourteen generations. The genealogy of Christ in Matthew aligns with Moses, for Moses is the alpha of Christ the omega. Moses life of one hundred and twenty years, aligns with the one hundred and twenty years of probationary time in the history of Noah. Noah’s covenant is therefore connected with the covenant of a chosen people. The one hundred and twenty years of Moses represents three periods of forty years that concluded with Moses slaying the Egyptian at the end of forty years, and the first born, Pharaoh and his army being slain at the end of the second forty-year period. The second forty-year period ended at a rebellion at Kadesh and the third forty-year period ended at the second rebellion of Kadesh. All of the three prophetic lines of the alpha end at Kadesh and the three prophetic lines of Matthew’s genealogy end at David, captivity in Babylon and the Messenger of the covenant.

Ma-thi-ơ mở đầu với sự mặc khải về Chúa Giê-su Christ trong bối cảnh giao ước của Đức Chúa Trời với một dân được chọn. Từ Áp-ra-ham đến Đa-vít là mười bốn đời, từ Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lôn là mười bốn đời, và từ Ba-by-lôn đến Đấng Christ là thêm mười bốn đời nữa. Gia phả của Đấng Christ trong Ma-thi-ơ tương ứng với Môi-se, vì Môi-se là An-pha còn Đấng Christ là Ô-mê-ga. Cuộc đời một trăm hai mươi năm của Môi-se tương ứng với một trăm hai mươi năm thời kỳ ân huệ trong lịch sử của Nô-ê. Bởi đó, giao ước của Nô-ê được liên kết với giao ước của một dân được chọn. Một trăm hai mươi năm của Môi-se đại diện cho ba giai đoạn bốn mươi năm, kết thúc bằng việc Môi-se giết người Ai Cập vào cuối bốn mươi năm thứ nhất, và các con đầu lòng, Pha-ra-ôn cùng đạo quân của ông bị giết vào cuối giai đoạn bốn mươi năm thứ hai. Giai đoạn bốn mươi năm thứ hai kết thúc bằng một cuộc nổi loạn tại Ka-đê và giai đoạn bốn mươi năm thứ ba kết thúc tại cuộc nổi loạn lần thứ hai ở Ka-đê. Cả ba dòng tiên tri của An-pha đều kết thúc tại Ka-đê, và ba dòng tiên tri trong gia phả Ma-thi-ơ kết thúc ở Đa-vít, thời kỳ lưu đày tại Ba-by-lôn và Sứ giả của giao ước.

When the alpha of Moses is aligned with the omega of Christ there are six witnesses of Kadesh, which is 1863 and the Sunday law. Matthew’s genealogy places king David at Kadesh, which is where apostate Adventism is taken to Babylon, as Christ confirms the covenant with the one hundred and forty-four thousand. By placing David at the Sunday law a second witness of David is established with David being one of three human representatives that began to serve when they were thirty years old. Christ, David, Joseph and Ezekiel all began their work at thirty years of age. Together the four thirty-year-old’s that began to serve represent the combination of Divinity with humanity, when the church militant is transformed into the church triumphant. That church is made up of a prophet, a priest and a king. The transformation is marked at the Sunday law, which is also Kadesh, so David in the genealogy of Matthew aligns with the thirty year old David.

Khi anpha của Môi-se được liên kết với ômega của Đấng Christ, có sáu chứng cớ về Ca-đê, tức là 1863 và luật ngày Chủ nhật. Gia phả của Ma-thi-ơ đặt vua Đa-vít tại Ca-đê, là nơi Phục Lâm giáo bội đạo bị đưa vào Ba-by-lôn, khi Đấng Christ xác nhận giao ước với một trăm bốn mươi bốn ngàn. Bằng cách đặt Đa-vít tại mốc luật ngày Chủ nhật, một chứng nhân thứ hai về Đa-vít được thiết lập, vì Đa-vít là một trong ba đại diện thuộc loài người bắt đầu phục vụ khi họ ba mươi tuổi. Đấng Christ, Đa-vít, Giô-sép và Ê-xê-chi-ên đều khởi sự công việc ở tuổi ba mươi. Cùng nhau, bốn người khởi sự phục vụ ở tuổi ba mươi này đại diện cho sự kết hợp giữa Thần tính và nhân tính, khi Hội thánh chiến đấu được biến đổi thành Hội thánh đắc thắng. Hội thánh ấy được cấu thành bởi một tiên tri, một thầy tế lễ và một vua. Sự biến đổi ấy được đánh dấu tại luật ngày Chủ nhật, cũng chính là Ca-đê; vì vậy Đa-vít trong gia phả của Ma-thi-ơ tương ứng với Đa-vít lúc ba mươi tuổi.

The thirty years of preparation aligns with the four hundred and thirty years of Abraham’s covenant, and also the age of a priest and the 1290 years of Daniel 12:11. In the next article we will consider each of those twelve Messianic prophecies within the book of Matthew. We are first identifying three prophetic lines within Matthew; chapters one through ten, followed by chapters eleven through twenty-two, and then twenty-three through twenty-eight.

Ba mươi năm chuẩn bị tương ứng với bốn trăm ba mươi năm của giao ước Áp-ra-ham, và cả độ tuổi của thầy tế lễ, cũng như 1.290 năm trong Đa-ni-ên 12:11. Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét từng lời trong số mười hai lời tiên tri về Đấng Mê-si ấy trong sách Ma-thi-ơ. Trước hết, chúng ta xác định ba mạch tiên tri trong sách Ma-thi-ơ: các chương 1 đến 10, tiếp theo là các chương 11 đến 22, và sau đó là các chương 23 đến 28.

“For a time after the disappointment in 1844, I did hold, in common with the advent body, that the door of mercy was then forever closed to the world. This position was taken before my first vision was given me. It was the light given me of God that corrected our error, and enabled us to see the true position.

Trong một thời gian sau nỗi thất vọng năm 1844, tôi cũng đã tin, như cộng đồng những người trông đợi sự tái lâm, rằng cánh cửa thương xót khi ấy đã vĩnh viễn đóng lại đối với thế gian. Tôi đã giữ lập trường này trước khi được ban khải tượng đầu tiên. Chính ánh sáng Đức Chúa Trời ban cho tôi đã sửa chữa sai lầm của chúng tôi và giúp chúng tôi nhận thấy lập trường đúng đắn.

I am still a believer in the shut-door theory, but not in the sense in which we at first employed the term or in which it is employed by my opponents.

Tôi vẫn là người tin vào thuyết cửa đóng, nhưng không theo nghĩa mà ban đầu chúng tôi đã dùng thuật ngữ ấy, cũng không theo nghĩa mà thuật ngữ ấy được những người phản đối tôi sử dụng.

“There was a shut door in Noah’s day. There was at that time a withdrawal of the Spirit of God from the sinful race that perished in the waters of the Flood. God Himself gave the shut-door message to Noah: ‘My spirit shall not always strive with man, for that he also is flesh: yet his days shall be an hundred and twenty years’ (Genesis 6:3).

Trong thời Nô-ê có một cánh cửa đóng. Vào thời điểm đó, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã rút khỏi nhân loại tội lỗi, là những kẻ đã bị diệt vong trong làn nước của Đại Hồng Thủy. Chính Đức Chúa Trời đã ban sứ điệp về cửa đóng cho Nô-ê: 'Thần Ta sẽ không luôn luôn tranh đấu với loài người, vì họ cũng là xác thịt; nhưng số ngày của họ sẽ là một trăm hai mươi năm' (Sáng thế ký 6:3).

“There was a shut door in the days of Abraham. Mercy ceased to plead with the inhabitants of Sodom, and all but Lot, with his wife and two daughters, were consumed by the fire sent down from heaven.

Trong thời của Abraham, có một cánh cửa đã đóng lại. Lòng thương xót đã thôi van nài người dân Sodom, và tất cả, ngoại trừ Lot cùng vợ và hai con gái của ông, đều bị lửa từ trời giáng xuống thiêu rụi.

“There was a shut door in Christ’s day. The Son of God declared to the unbelieving Jews of that generation, ‘Your house is left unto you desolate’ (Matthew 23:38).

Trong thời của Đấng Christ, có một cánh cửa đã đóng. Con Đức Chúa Trời đã phán với những người Do Thái không tin của thế hệ ấy: 'Nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang' (Ma-thi-ơ 23:38).

“Looking down the stream of time to the last days, the same infinite power proclaimed through John: ‘These things saith he that is holy, he that is true, he that hath the key of David, he that openeth, and no man shutteth; and shutteth, and no man openeth’ (Revelation 3:7).

Nhìn xuôi theo dòng thời gian đến những ngày cuối cùng, cùng một quyền năng vô hạn đã phán qua Giăng: “Đây là lời phán của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng có chìa khóa của Đa-vít; Ngài mở thì không ai đóng được; và Ngài đóng thì không ai mở được” (Khải Huyền 3:7).

“I was shown in vision, and I still believe, that there was a shut door in 1844. All who saw the light of the first and second angels’ messages and rejected that light, were left in darkness. And those who accepted it and received the Holy Spirit which attended the proclamation of the message from heaven, and who afterward renounced their faith and pronounced their experience a delusion, thereby rejected the Spirit of God, and it no longer pleaded with them.

Trong một khải tượng, tôi đã được cho thấy, và tôi vẫn tin, rằng đã có một cánh cửa đóng vào năm 1844. Tất cả những ai đã thấy ánh sáng của các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai mà từ chối ánh sáng ấy đều bị bỏ mặc trong bóng tối. Còn những người đã tiếp nhận ánh sáng ấy và nhận lãnh Đức Thánh Linh, Đấng đã đồng hành với sự rao truyền sứ điệp từ trời, nhưng về sau chối bỏ đức tin của mình và tuyên bố kinh nghiệm của họ là sự mê lầm, thì qua đó đã khước từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và Ngài không còn nài khuyên họ nữa.

“Those who did not see the light, had not the guilt of its rejection. It was only the class who had despised the light from heaven that the Spirit of God could not reach. And this class included, as I have stated, both those who refused to accept the message when it was presented to them, and also those who, having received it, afterward renounced their faith. These might have a form of godliness, and profess to be followers of Christ; but having no living connection with God, they would be taken captive by the delusions of Satan. These two classes are brought to view in the vision—those who declared the light which they had followed a delusion, and the wicked of the world who, having rejected the light, had been rejected of God. No reference is made to those who had not seen the light, and therefore were not guilty of its rejection.” Selected Messages, book 1, 62, 63.

Những người không nhìn thấy ánh sáng thì không mang tội chối bỏ nó. Chỉ có hạng người đã khinh miệt ánh sáng từ trời là hạng mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời không thể chạm tới. Và hạng người này gồm, như tôi đã nói, cả những kẻ từ chối chấp nhận sứ điệp khi nó được trình bày cho họ, lẫn những kẻ, sau khi đã tiếp nhận, lại chối bỏ đức tin của mình. Những người này có thể mang dáng vẻ đạo đức và xưng mình là môn đồ của Đấng Christ; nhưng vì không có mối liên hệ sống động với Đức Chúa Trời, họ sẽ bị các sự lừa dối của Sa-tan bắt làm tù binh. Hai hạng người này được trình bày trong khải tượng—những kẻ tuyên bố rằng ánh sáng mà họ đã theo là ảo tưởng, và những kẻ ác của thế gian, những người đã khước từ ánh sáng nên bị Đức Chúa Trời từ bỏ. Không hề đề cập đến những người chưa thấy ánh sáng, và vì thế không mắc tội chối bỏ nó. Selected Messages, quyển 1, 62, 63.

“It is those who by faith follow Jesus in the great work of the atonement who receive the benefits of His mediation in their behalf, while those who reject the light which brings to view this work of ministration are not benefited thereby. The Jews who rejected the light given at Christ’s first advent, and refused to believe on Him as the Saviour of the world, could not receive pardon through Him. When Jesus at His ascension entered by His own blood into the heavenly sanctuary to shed upon His disciples the blessings of His mediation, the Jews were left in total darkness to continue their useless sacrifices and offerings. The ministration of types and shadows had ceased. That door by which men had formerly found access to God was no longer open. The Jews had refused to seek Him in the only way whereby He could then be found, through the ministration in the sanctuary in heaven. Therefore they found no communion with God. To them the door was shut. They had no knowledge of Christ as the true sacrifice and the only mediator before God; hence they could not receive the benefits of His mediation.

Chính những ai bởi đức tin bước theo Chúa Giê-xu trong công cuộc chuộc tội vĩ đại mới nhận được những ích lợi từ sự trung bảo của Ngài thay cho họ; còn những kẻ khước từ ánh sáng bày tỏ công việc chức vụ tế lễ này thì không hề được ích lợi gì bởi đó. Người Do Thái đã khước từ ánh sáng được ban trong kỳ giáng lâm thứ nhất của Đấng Christ và từ chối tin Ngài là Cứu Chúa của thế gian, nên họ không thể nhận được sự tha thứ qua Ngài. Khi Chúa Giê-xu, lúc thăng thiên, bởi chính huyết mình bước vào đền thánh trên trời để đổ xuống trên các môn đồ những phước lành của sự trung bảo của Ngài, thì người Do Thái bị để lại trong bóng tối hoàn toàn, tiếp tục các tế lễ và lễ vật vô ích của họ. Nghi lễ hình bóng đã chấm dứt. Cánh cửa mà nhờ đó trước kia loài người có thể đến gần Đức Chúa Trời không còn mở nữa. Người Do Thái đã từ chối tìm kiếm Ngài theo con đường duy nhất mà lúc bấy giờ có thể gặp được Ngài, tức là qua chức vụ tế lễ trong đền thánh trên trời. Vì thế họ không có sự thông công với Đức Chúa Trời. Đối với họ, cánh cửa đã đóng. Họ không biết Đấng Christ là của lễ thật và là Đấng Trung Bảo duy nhất trước mặt Đức Chúa Trời; vì vậy họ không thể nhận được những ích lợi từ sự trung bảo của Ngài.

“The condition of the unbelieving Jews illustrates the condition of the careless and unbelieving among professed Christians, who are willingly ignorant of the work of our merciful High Priest. In the typical service, when the high priest entered the most holy place, all Israel were required to gather about the sanctuary and in the most solemn manner humble their souls before God, that they might receive the pardon of their sins and not be cut off from the congregation. How much more essential in this antitypical Day of Atonement that we understand the work of our High Priest and know what duties are required of us.

Tình trạng của những người Do Thái không tin minh họa cho tình trạng của những kẻ thờ ơ và không tin giữa những người xưng mình là Cơ Đốc nhân, là những người cố ý không biết đến công việc của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đầy lòng thương xót của chúng ta. Trong nghi lễ hình bóng, khi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vào Nơi Chí Thánh, toàn dân Y-sơ-ra-ên được truyền phải tề tựu quanh Đền Thánh và, với cung cách trang nghiêm nhất, khiêm nhường tâm hồn mình trước mặt Đức Chúa Trời, để họ có thể nhận được sự tha thứ tội lỗi và không bị truất khỏi hội chúng. Huống chi trong Ngày Lễ Chuộc Tội ứng nghiệm này, việc chúng ta hiểu công việc của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và biết những bổn phận được đòi hỏi nơi chúng ta lại càng thiết yếu hơn biết bao.

“Men cannot with impunity reject the warning which God in mercy sends them. A message was sent from heaven to the world in Noah’s day, and their salvation depended upon the manner in which they treated that message. Because they rejected the warning, the Spirit of God was withdrawn from the sinful race, and they perished in the waters of the Flood. In the time of Abraham, mercy ceased to plead with the guilty inhabitants of Sodom, and all but Lot with his wife and two daughters were consumed by the fire sent down from heaven. So in the days of Christ. The Son of God declared to the unbelieving Jews of that generation: ‘Your house is left unto you desolate.’ Matthew 23:38. Looking down to the last days, the same Infinite Power declares, concerning those who ‘received not the love of the truth, that they might be saved’: ‘For this cause God shall send them strong delusion, that they should believe a lie: that they all might be damned who believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness.’ 2 Thessalonians 2:10–12. As they reject the teachings of His word, God withdraws His Spirit and leaves them to the deceptions which they love.” The Great Controversy, 430, 431.

Con người không thể khước từ lời cảnh cáo mà Đức Chúa Trời vì thương xót gửi đến cho họ mà không phải gánh chịu hậu quả. Trong thời Nô-ê, một sứ điệp đã được sai từ trời xuống cho thế gian, và sự cứu rỗi của họ tùy thuộc vào cách họ đối xử với sứ điệp ấy. Vì họ khước từ lời cảnh cáo, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã rút khỏi dòng dõi tội lỗi, và họ đã bị diệt vong trong làn nước của Trận Đại Hồng Thủy. Vào thời Áp-ra-ham, lòng thương xót thôi nài xin cho những cư dân có tội của Sô-đôm, và tất cả, ngoại trừ Lót với vợ ông và hai con gái, đều bị thiêu rụi bởi lửa từ trời giáng xuống. Cũng vậy trong những ngày của Đấng Christ. Con Đức Chúa Trời đã phán với người Do Thái không tin của thế hệ ấy: “Nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang.” Ma-thi-ơ 23:38. Nhìn đến những ngày sau rốt, cùng Quyền Năng Vô Hạn ấy phán, về những kẻ “không nhận tình yêu của lẽ thật để được cứu”: “Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ sai đến trên họ một sự lầm lạc mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá; hầu cho hết thảy những kẻ không tin lẽ thật nhưng lại ưa thích điều bất chính đều bị đoán phạt.” 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:10-12. Khi họ khước từ các sự dạy dỗ của Lời Ngài, Đức Chúa Trời rút lại Thánh Linh Ngài và phó họ cho những sự lừa dối mà họ ưa thích. Đại Tranh Chiến, 430, 431.