We are recording the truths which the Lion of the tribe of Judah is now unsealing. We are aligning truths in order to address the message of Joel, which Peter identified as the message of the latter rain in the book of Acts. We are approaching the truths that are now in the process of fulfillment, as the truths that accomplish the final separation of the two classes that are always manifested when a testing truth is unsealed. We also are addressing these very same unsealed truths as not only the words of the third angel who separates, but also as the words that accomplish the sealing of the one hundred and forty-four thousand. The third angel both purges and purifies.
Chúng ta đang ghi lại những lẽ thật mà Sư tử thuộc chi phái Giu-đa hiện đang mở ấn. Chúng ta đang liên kết các lẽ thật để trình bày sứ điệp của Giô-ên, mà Phi-e-rơ đã xác định là sứ điệp về mưa cuối mùa trong sách Công vụ các Sứ đồ. Chúng ta đang tiếp cận những lẽ thật hiện đang trong tiến trình được ứng nghiệm, như những lẽ thật đem đến sự phân rẽ sau cùng giữa hai hạng người vốn luôn được bày tỏ mỗi khi một lẽ thật thử thách được mở ấn. Chúng ta cũng xem chính những lẽ thật đã được mở ấn ấy không chỉ như lời của thiên sứ thứ ba, Đấng phân rẽ, mà còn như những lời thực hiện việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Thiên sứ thứ ba vừa thanh tẩy vừa tinh luyện.
Since July of 2023, the Lion of the tribe of Judah has been progressively unsealing truths associated with the external and internal lines in the history of the remnant people of God. We are now opening the book of Matthew, for the purpose of understanding the role of Peter. Peter is a symbol of Christ’s covenant relationship with His Christian bride—the church that He would build upon the Rock. Peter represents the first and also the last Christian bride. Peter is represented as that very symbol in the middle verse of chapters eleven and twenty-two of Matthew, and those chapters are the middle chapters of Genesis and Revelations’ parallel lines of chapter eleven to twenty-two. Peter is representing the one hundred and forty-four thousand in the latter days, and in the passage, he is at Caesarea Philippi, which is Panium of Daniel 11:13–15.
Kể từ tháng 7 năm 2023, Sư Tử của chi phái Giu-đa đã từng bước mở ấn các lẽ thật liên quan đến các tuyến bên ngoài và bên trong trong lịch sử của dân sót lại của Đức Chúa Trời. Hiện chúng ta đang mở sách Ma-thi-ơ nhằm hiểu vai trò của Phi-e-rơ. Phi-e-rơ là biểu tượng của mối quan hệ giao ước của Đấng Christ với nàng dâu Cơ Đốc—Hội Thánh mà Ngài sẽ xây dựng trên Vầng Đá. Phi-e-rơ đại diện cho nàng dâu Cơ Đốc đầu tiên và cũng là cuối cùng. Phi-e-rơ được trình bày như chính biểu tượng ấy trong câu ở giữa của các chương mười một và hai mươi hai của Ma-thi-ơ, và các chương ấy là những chương ở giữa của các tuyến song song từ chương mười một đến hai mươi hai trong Sáng Thế Ký và Khải Huyền. Phi-e-rơ đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn trong những ngày sau rốt, và trong đoạn đó, ông ở Sê-sa-rê Phi-líp, tức Pa-ni-um của Đa-ni-ên 11:13–15.
Peter is at Panium, and He is also located at the day of Pentecost, in the upper room at the third hour, and then in the temple at the ninth hour. The six hours represent the period of time when the one hundred and forty-four thousand are sealed leading up to the arrival of the Sunday law. The crucifixion of Christ also began at the third hour and He died at the ninth hour, which led to the resurrection, that began the Pentecostal season that ended with Peter at Pentecost at the third and ninth hour. When Providence sent the gospel to the Gentiles, Cornelius sent for Peter at the ninth hour. The third hour also represented the morning offering and the ninth hour the evening offering.
Phi-e-rơ ở tại Panium, và ông cũng có mặt vào ngày Lễ Ngũ Tuần, trong phòng trên lầu vào giờ thứ ba, rồi trong đền thờ vào giờ thứ chín. Sáu giờ tượng trưng cho khoảng thời gian khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn, dẫn đến sự xuất hiện của luật ngày Chủ nhật. Sự đóng đinh của Đấng Christ cũng bắt đầu vào giờ thứ ba và Ngài chết vào giờ thứ chín, điều đó dẫn đến sự phục sinh; sự phục sinh ấy mở đầu mùa Lễ Ngũ Tuần, và mùa ấy kết thúc với Phi-e-rơ tại Lễ Ngũ Tuần vào giờ thứ ba và giờ thứ chín. Khi Sự Quan Phòng sai phúc âm đến cho dân Ngoại, Cornelius sai người mời Phi-e-rơ vào giờ thứ chín. Giờ thứ ba cũng tượng trưng cho của lễ buổi sáng, còn giờ thứ chín cho của lễ buổi chiều.
The six-hour period was represented by the period of the Exeter Camp meeting and the great disappointment of October 22, 1844. In Acts, Peter is represented as coming into unity with the others who make up the one hundred and forty-four thousand at the end of chapter one, when Judas is replaced with Matthias. The number has then been made up. There is a specific progression identified in the story.
Khoảng thời gian sáu giờ được tượng trưng bởi giai đoạn từ cuộc nhóm trại Exeter đến sự Đại Thất Vọng vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Trong sách Công vụ, Phi-e-rơ được mô tả là hiệp nhất với những người khác hợp thành số một trăm bốn mươi bốn ngàn vào cuối chương một, khi Giu-đa được thay thế bởi Ma-thia. Bấy giờ con số đã đủ. Câu chuyện cho thấy một diễn tiến cụ thể.
Peter is first in the upper room, and thereafter in the temple. When he is in the upper room it is the third hour, and in the temple, it is the ninth hour. The presentation at the third hour produced the baptism of three thousand souls.
Ban đầu Peter ở trong phòng trên, rồi sau đó ở trong đền thờ. Khi ông ở trong phòng trên thì là giờ thứ ba, và ở trong đền thờ thì là giờ thứ chín. Bài trình bày vào giờ thứ ba đã dẫn đến phép rửa tội cho ba nghìn linh hồn.
Then they that gladly received his word were baptized: and the same day there were added unto them about three thousand souls. Acts 2:41.
Vậy những kẻ đã vui mừng tiếp nhận lời ông đều chịu phép báp-têm; và cũng trong ngày ấy, có khoảng ba ngàn người được thêm vào số họ. Công vụ 2:41.
From the numbering at the end of chapter one, until the temple at the ninth hour the period represents the sealing of the one hundred and forty-four thousand.
Khoảng thời gian từ sự kiểm đếm ở cuối chương một đến đền thờ vào giờ thứ chín tượng trưng cho việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn.
The one hundred and forty-four thousand will present the message of justification by faith, which is the third angel’s message in verity. Justification is the work of God in laying the glory of man in the dust, as Sister White has so aptly noted.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ rao truyền sứ điệp về sự xưng công bình bởi đức tin, vốn là sứ điệp của thiên sứ thứ ba một cách đích thực. Sự xưng công bình là công việc của Đức Chúa Trời trong việc hạ vinh quang của con người xuống bụi đất, như Bà White đã nhận định rất xác đáng.
“What is justification by faith? It is the work of God in laying the glory of man in the dust, and doing for man that which it is not in his power to do for himself. When men see their own nothingness, they are prepared to be clothed with the righteousness of Christ. When they begin to praise and exalt God all the day long, then by beholding they are becoming changed into the same image. What is regeneration? It is revealing to man what is his own real nature, that in himself he is worthless. These lessons you have never learned. Oh, that you could realize the value of the human soul.” Manuscript Releases, volume 20, 117.
Sự xưng công chính bởi đức tin là gì? Ấy là công việc của Đức Chúa Trời hạ vinh quang của con người xuống bụi đất, và làm cho con người những điều mà tự sức họ không thể làm cho chính mình. Khi con người thấy sự hư không của chính mình, họ được chuẩn bị để mặc lấy sự công bình của Đấng Christ. Khi họ bắt đầu ngợi khen và tôn cao Đức Chúa Trời suốt cả ngày, thì bởi chiêm ngưỡng, họ được biến đổi nên cùng một ảnh tượng. Sự tái sinh là gì? Ấy là bày tỏ cho con người biết bản chất thật của chính mình, rằng nơi chính mình họ là vô giá trị. Những bài học này anh em chưa hề học. Ôi, ước gì anh em có thể nhận ra giá trị của linh hồn con người. Những Bản Thảo Được Phát Hành, tập 20, trang 117.
An example of the message of justification as presented by the one hundred and forty-four thousand is Gideon, who is a covenant man, for his name was changed to Jerubbaal. Gideon’s message consisted of him placing a lit torch inside an earthen vessel, then smashing the vessel, blowing a trumpet and crying out, “the sword of the Lord and Gideon.” The sword of Gideon was also the Lord’s sword, for the sword is God’s Word, which is the combination of Divinity with humanity. That message was represented by the trumpet and his shout, as he broke the vessel. The vessel is humanity, that must be broken, or humbled into the dust, so the glory of God’s light might shine forth.
Một ví dụ về sứ điệp xưng công chính, như được một trăm bốn mươi bốn nghìn người trình bày, là Gideon, một người của giao ước, vì tên ông đã được đổi thành Jerubbaal. Sứ điệp của Gideon bao gồm việc ông đặt một ngọn đuốc đang cháy vào trong một bình đất, rồi đập vỡ cái bình, thổi kèn và kêu lớn: "gươm của Chúa và của Gideon." Thanh gươm của Gideon cũng là gươm của Chúa, vì gươm chính là Lời của Đức Chúa Trời, là sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính. Sứ điệp ấy được thể hiện qua tiếng kèn và tiếng hô của ông khi ông đập vỡ cái bình. Cái bình tượng trưng cho nhân tính con người, phải được bẻ gãy, hoặc hạ mình xuống bụi đất, để vinh quang của ánh sáng Đức Chúa Trời có thể chiếu rạng.
Before proclaiming the message Gideon gathered 300 men through a testing process. When the process ended, Gideon had three hundred men. 300 is a tithe of the three thousand at Pentecost. They represent the army that is raised up in Ezekiel thirty-seven, who enter into the everlasting covenant.
Trước khi công bố sứ điệp, Ghê-đê-ôn tập hợp 300 người qua một quá trình thử thách. Khi quá trình ấy kết thúc, Ghê-đê-ôn có ba trăm người. 300 là một phần mười của ba ngàn người trong Lễ Ngũ Tuần. Họ tượng trưng cho đạo quân được dựng dậy trong Ê-xê-chi-ên đoạn 37, là những người bước vào giao ước đời đời.
So I prophesied as he commanded me, and the breath came into them, and they lived, and stood up upon their feet, an exceeding great army. Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Ezekiel 37:10, 11.
Vậy tôi nói tiên tri như Ngài đã truyền cho tôi; hơi thở vào trong họ, họ sống lại và đứng trên chân mình, trở thành một đạo quân rất lớn. Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, những hài cốt này là cả nhà Israel; kìa, họ nói: “Xương cốt chúng ta đã khô, niềm hy vọng của chúng ta đã mất; chúng ta đã bị dứt bỏ.” Ê-xê-chi-ên 37:10, 11.
The house of Israel is cut off for their parts, and Ezekiel is going to illustrate how the parts of Judah and Ephraim that have been cut off will become one nation. That army is made up of two sticks that have been apart, but that are joined into one stick, when they enter into covenant with God.
Nhà Israel đã bị tách lìa thành nhiều phần, và Ê-xê-chi-ên sẽ minh họa cách những phần của Giu-đa và Ép-ra-im đã bị cắt rời sẽ trở thành một dân tộc duy nhất. Đạo quân ấy được hình thành từ hai cây gậy từng tách rời, nhưng được nối lại thành một cây gậy khi họ lập giao ước với Đức Chúa Trời.
Moreover I will make a covenant of peace with them; it shall be an everlasting covenant with them: and I will place them, and multiply them, and will set my sanctuary in the midst of them for evermore. My tabernacle also shall be with them: yea, I will be their God, and they shall be my people. And the heathen shall know that I the Lord do sanctify Israel, when my sanctuary shall be in the midst of them for evermore. Ezekiel 37:26–28.
Lại nữa, Ta sẽ lập với họ một giao ước bình an; ấy sẽ là một giao ước đời đời với họ. Ta sẽ định cư họ, làm cho họ thêm nhiều, và sẽ đặt đền thánh của Ta ở giữa họ đời đời. Đền tạm của Ta cũng sẽ ở với họ; phải, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta. Các dân ngoại sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, thánh hóa Y-sơ-ra-ên, khi đền thánh của Ta ở giữa họ đời đời. Ê-xê-chi-ên 37:26-28.
The “heathen shall know that the Lord” sanctifies Israel, when He puts His sanctuary into their midst. The joining of God’s sanctuary to God’s people represents the joining of the human temple with the divine temple, and when that occurs, God’s faithful 300 are sealed, and the world can only be warned by seeing a people who are sanctified during the Sunday law crisis.
“Dân ngoại sẽ biết rằng Chúa” thánh hóa Israel, khi Ngài đặt đền thánh của Ngài ở giữa họ. Sự kết hiệp đền thánh của Đức Chúa Trời với dân sự của Ngài biểu thị sự kết hiệp giữa đền thờ con người và đền thờ của Đức Chúa Trời; và khi điều đó xảy ra, 300 người trung tín của Đức Chúa Trời được ấn chứng, và thế giới chỉ có thể được cảnh báo bằng cách nhìn thấy một dân sự được thánh hóa trong cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật.
“The work of the Holy Spirit is to convince the world of sin, of righteousness and of judgment. The world can only be warned by seeing those who believe the truth sanctified through the truth, acting upon high and holy principles, showing in a high, elevated sense, the line of demarcation between those who keep the commandments of God, and those who trample them under their feet. The sanctification of the Spirit signalizes the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day. When the test comes, it will be clearly shown what the mark of the beast is. It is the keeping of Sunday. Those who after having heard the truth, continue to regard this day as holy, bear the signature of the man of sin, who thought to change times and laws.” Bible Training School, December 1, 1903.
"Công việc của Đức Thánh Linh là cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Thế gian chỉ có thể được cảnh cáo khi thấy những người tin lẽ thật được thánh hóa bởi lẽ thật, hành động theo những nguyên tắc cao cả và thánh khiết, bày tỏ một cách cao cả và rõ ràng ranh giới phân định giữa những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ giày đạp chúng dưới chân. Sự thánh hóa của Đức Thánh Linh đánh dấu sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những kẻ giữ một ngày nghỉ giả mạo. Khi sự thử thách đến, dấu của con thú là gì sẽ được bày tỏ rõ ràng. Ấy là việc giữ ngày Chủ nhật. Những ai, sau khi đã nghe lẽ thật, vẫn tiếp tục xem ngày ấy là thánh, mang lấy dấu ấn của con người tội ác, kẻ đã toan đổi thay các thời kỳ và luật pháp." Bible Training School, ngày 1 tháng 12, 1903.
God’s sanctuary is joined to His church when the church transforms from the church militant unto the church triumphant. The covenant referred to by Ezekiel, is set forth in connection with the joining of the two sticks, that form one nation.
Đền thánh của Đức Chúa Trời được kết hiệp với Hội Thánh của Ngài khi Hội Thánh chuyển từ Hội Thánh chiến đấu sang Hội Thánh khải hoàn. Giao ước mà Ê-xê-chi-ên nhắc đến được trình bày trong mối liên hệ với việc hiệp nhất hai cây gậy để hình thành một dân tộc duy nhất.
Say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, I will take the stick of Joseph, which is in the hand of Ephraim, and the tribes of Israel his fellows, and will put them with him, even with the stick of Judah, and make them one stick, and they shall be one in mine hand. And the sticks whereon thou writest shall be in thine hand before their eyes. And say unto them,
Hãy nói với họ: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Này, Ta sẽ lấy cây gậy của Giô-sép, đang ở trong tay Êpraim, cùng các chi phái Israel là bạn đồng của nó, và sẽ ghép chúng với nó, tức là với cây gậy của Giu-đa, làm thành một cây gậy duy nhất; chúng sẽ nên một trong tay Ta. Và các cây gậy mà ngươi viết sẽ ở trong tay ngươi trước mắt họ. Hãy nói với họ rằng,
Thus saith the Lord God; Behold, I will take the children of Israel from among the heathen, whither they be gone, and will gather them on every side, and bring them into their own land: And I will make them one nation in the land upon the mountains of Israel; and one king shall be king to them all: and they shall be no more two nations, neither shall they be divided into two kingdoms any more at all: Neither shall they defile themselves any more with their idols, nor with their detestable things, nor with any of their transgressions: but I will save them out of all their dwellingplaces, wherein they have sinned, and will cleanse them: so shall they be my people, and I will be their God. Ezekiel 37:19–23.
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, Ta sẽ đem con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa các dân ngoại, nơi họ đã đi đến, và sẽ nhóm họ lại từ mọi phía, đem họ về đất riêng của họ. Ta sẽ làm cho họ thành một dân tộc trong đất, trên các núi Y-sơ-ra-ên; một vua sẽ làm vua cho hết thảy họ; họ sẽ không còn là hai dân tộc nữa, cũng không còn bị chia làm hai vương quốc nữa. Họ cũng sẽ không còn tự làm ô uế mình bởi các tượng thần của họ, bởi các vật gớm ghiếc của họ, hay bởi bất cứ sự vi phạm nào của họ nữa; nhưng Ta sẽ giải cứu họ khỏi mọi nơi ở của họ, nơi họ đã phạm tội, và sẽ tẩy sạch họ; như vậy, họ sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ. Ê-xê-chi-ên 37:19-23.
The stick of Ephraim and the stick of Judah are the two 2520 year scatterings against Ephraim and Judah that reached their conclusion on 1798 and October 22, 1844, respectively. They became the single nation of modern spiritual Israel on October 22, 1844, when the work of cleansing His people, or His sanctuary began. That history typifies the history of the one hundred and forty-four thousand who will be purged and purified (cleansed) by the Messenger of the Covenant who suddenly comes to his temple at the Sunday law. When that purging is fulfilled, just in advance of the Sunday law, the church triumphant will have a king over them, and that king is David, who began his reign at thirty years old. It is the same David that in Matthew chapter one, is the fourteenth generation since Abraham. This identifies a third witness of David at the Sunday law. The mighty army that is raised up from the two sticks is led by king David, when the church is purged of tares.
Cây gậy của Êpraim và cây gậy của Giu-đa là hai thời kỳ tản lạc kéo dài 2520 năm của Êpraim và Giu-đa, lần lượt kết thúc vào năm 1798 và ngày 22 tháng 10 năm 1844. Họ trở thành một quốc gia duy nhất của Y-sơ-ra-ên thuộc linh hiện đại vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, khi công việc thanh tẩy dân Ngài, tức đền thánh của Ngài, bắt đầu. Lịch sử ấy là hình bóng cho lịch sử của một trăm bốn mươi bốn ngàn người, những người sẽ được Sứ giả của Giao ước, Đấng đột nhiên đến đền thờ của Ngài khi có luật Chủ nhật, tẩy trừ và thanh luyện (làm sạch). Khi sự thanh tẩy ấy được hoàn tất, ngay trước khi có luật Chủ nhật, hội thánh khải hoàn sẽ có một vị vua cai trị họ, và vị vua ấy là Đa-vít, người bắt đầu trị vì lúc ba mươi tuổi. Đó chính là Đa-vít, mà trong Ma-thi-ơ chương một, được ghi là đời thứ mười bốn kể từ Áp-ra-ham. Điều này xác định một chứng cớ thứ ba về Đa-vít vào thời điểm luật Chủ nhật. Đạo quân hùng mạnh dấy lên từ hai cây gậy ấy sẽ do vua Đa-vít lãnh đạo, khi hội thánh được thanh tẩy khỏi cỏ lùng.
And David my servant shall be king over them; and they all shall have one shepherd: they shall also walk in my judgments, and observe my statutes, and do them. And they shall dwell in the land that I have given unto Jacob my servant, wherein your fathers have dwelt; and they shall dwell therein, even they, and their children, and their children’s children for ever: and my servant David shall be their prince forever. Ezekiel 37:24, 25.
Và Đa-vít, tôi tớ ta, sẽ làm vua trên họ; hết thảy họ sẽ có một người chăn; họ cũng sẽ bước theo các mạng lịnh của ta, giữ các luật lệ của ta và làm theo. Và họ sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho Gia-cốp, tôi tớ ta, là nơi tổ phụ các ngươi đã ở; họ sẽ ở tại đó, chính họ, con cái họ, và con cháu họ đời đời; và Đa-vít, tôi tớ ta, sẽ làm thủ lãnh của họ đời đời. Ê-xê-chi-ên 37:24, 25.
That army is also the priests of first Peter chapter two, that are thirty years old when they begin their service.
Đạo quân ấy cũng chính là những thầy tế lễ theo Phi-e-rơ thứ nhất chương hai, những người ba mươi tuổi khi bắt đầu chức vụ.
Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:5.
Anh em cũng vậy, như những viên đá sống, được xây dựng nên một nhà thuộc linh, một chức tế lễ thánh, để dâng những của lễ thuộc linh, nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ mà đẹp lòng Đức Chúa Trời. 1 Phi-e-rơ 2:5.
Those priests were also typified by the three hundred Millerite preachers who took the three hundred 1843 charts that were published, and employed the charts to take the message to their generation.
Những thầy tế lễ ấy cũng được tiêu biểu bởi ba trăm nhà giảng đạo Millerite, những người đã nhận ba trăm tấm biểu đồ năm 1843 đã được xuất bản và dùng các biểu đồ đó để mang sứ điệp đến với thế hệ của họ.
“After some discussion on the subject, it was voted unanimously to have three hundred similar to this one lithographed, which was soon accomplished. They were called ‘the ‘43 charts.’ This was a very important Conference.” The Autobiography of Joseph Bates, 263.
Sau một số cuộc thảo luận về vấn đề này, người ta đã bỏ phiếu nhất trí cho in thạch bản ba trăm bản tương tự như bản này, và điều đó chẳng bao lâu đã được thực hiện. Chúng được gọi là “các biểu đồ '43.” Đây là một Hội nghị rất quan trọng. Tự truyện của Joseph Bates, 263.
“Now our history shows that there were hundreds teaching from the same chronological charts that William Miller was, all of one stamp. Then it was the oneness of the message all on one theme, the coming of the Lord Jesus at a certain time, 1844.” Joseph Bates, Early SDA Pamphlets, 17.
"Giờ đây lịch sử của chúng ta cho thấy rằng đã có hàng trăm người giảng dạy dựa trên cùng những biểu đồ niên đại mà William Miller đã dùng, tất cả đều cùng một khuôn. Bấy giờ sứ điệp mang tính thống nhất, tất cả tập trung vào một chủ đề: sự tái lâm của Chúa Giê-su vào một thời điểm nhất định, năm 1844." Joseph Bates, Sách mỏng SDA thời kỳ đầu, 17.
The 300 Millerite preachers accomplished their work during the history of the first angel, and inspiration informs us the first angel typifies the third angel. They were according to Joseph Bates, “all of one stamp.” Gideon instructs his army of three hundred to do as he did. The 300 Millerite preachers, who were typified by Gideon’s army of three hundred, are to be aligned at 9/11, where the first message is empowered and the testing begins.
Ba trăm nhà giảng đạo Millerite đã hoàn thành công việc của họ trong thời kỳ của thiên sứ thứ nhất, và sự linh hứng cho chúng ta biết thiên sứ thứ nhất tiêu biểu cho thiên sứ thứ ba. Theo Joseph Bates, họ “đều cùng một khuôn.” Gideon chỉ thị cho đạo quân ba trăm người của mình làm như ông đã làm. Ba trăm nhà giảng đạo Millerite, vốn được tiêu biểu bởi đạo quân ba trăm người của Gideon, sẽ được sắp vào hàng ngũ tại 9/11, nơi sứ điệp thứ nhất được thêm quyền năng và kỳ thử thách bắt đầu.
Then Jerubbaal, who is Gideon, and all the people that were with him, rose up early, and pitched beside the well of Harod: so that the host of the Midianites were on the north side of them, by the hill of Moreh, in the valley. And the Lord said unto Gideon, The people that are with thee are too many for me to give the Midianites into their hands, lest Israel vaunt themselves against me, saying, Mine own hand hath saved me. Now therefore go to, proclaim in the ears of the people, saying, Whosoever is fearful and afraid, let him return and depart early from mount Gilead. And there returned of the people twenty and two thousand; and there remained ten thousand. And the Lord said unto Gideon, The people are yet too many; bring them down unto the water, and I will try them for thee there: and it shall be, that of whom I say unto thee, This shall go with thee, the same shall go with thee; and of whomsoever I say unto thee, This shall not go with thee, the same shall not go.
Bấy giờ Giê-ru-baal, tức là Ghê-đê-ôn, và tất cả dân ở với ông dậy sớm, đóng trại bên suối Ha-rốt; còn đạo quân Ma-đi-an thì ở phía bắc họ, gần đồi Mô-rê, trong thung lũng. Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn: Dân ở với ngươi quá đông để ta phó người Ma-đi-an vào tay họ, e rằng Y-sơ-ra-ên sẽ khoe mình nghịch cùng ta mà nói: Chính tay ta đã cứu ta. Vậy bây giờ, hãy rao truyền vào tai dân chúng rằng: Ai sợ hãi run rẩy, hãy trở về và sớm rời khỏi núi Ga-la-át. Bấy giờ trong dân có hai mươi hai ngàn người trở về, còn lại mười ngàn. Đức Giê-hô-va lại phán cùng Ghê-đê-ôn: Dân vẫn còn quá đông; hãy dẫn họ xuống gần nước, tại đó ta sẽ thử họ cho ngươi; ai mà ta phán với ngươi rằng: Người này sẽ đi với ngươi, thì người ấy sẽ đi; còn ai ta phán rằng: Người này sẽ không đi với ngươi, thì người ấy sẽ không đi.
So he brought down the people unto the water: and the Lord said unto Gideon, Every one that lappeth of the water with his tongue, as a dog lappeth, him shalt thou set by himself; likewise every one that boweth down upon his knees to drink. And the number of them that lapped, putting their hand to their mouth, were three hundred men: but all the rest of the people bowed down upon their knees to drink water. Judges 7:1–6.
Vậy ông đưa dân xuống gần nước; và Đức Chúa phán với Ghê-đê-ôn: Hễ ai liếm nước bằng lưỡi mình như chó liếm, thì ngươi hãy để người ấy riêng ra một bên; cũng vậy, ai quỳ gối xuống để uống, ngươi cũng hãy để riêng ra. Và số người liếm nước, dùng tay vốc đưa lên miệng, là ba trăm người; còn tất cả những người khác trong dân thì đều quỳ gối xuống để uống nước. Các Quan Xét 7:1-6.
Gideon’s name is changed to Jerubbaal, meaning “to contend with Baal.” Gideon means “feller,” and John the Baptist laid the ax at the foot of the tree. John typified William Miller, the messenger of the first angel, which is where Gideon aligns. Gideon is Miller, the alpha Elijah, in the history of the three angels.
Tên của Gideon được đổi thành Jerubbaal, nghĩa là “đối đầu với Baal.” Gideon có nghĩa là “kẻ đốn,” và Giăng Báp-tít đã đặt rìu kề gốc cây. Giăng tiêu biểu cho William Miller, sứ giả của thiên sứ thứ nhất; đó cũng là nơi Gideon tương ứng. Gideon chính là Miller, Ê-li-a alpha, trong lịch sử của ba thiên sứ.
The Midianites are the northern enemy, and they pitched by the hill of Moreh, and Gideon by the well of Harod, meaning fear and terror. 9/11 introduced terrorism and the first message is a call to fear God. Gideon is at 9/11, the well of Harod (terrorism), and the northern enemy in the valley by the hill of Moreh, meaning early rain. At 9/11 the sprinkling of the latter rain, which is the early rain, began to fall from the hill of Moreh. After the first of two tests, the twenty-two thousand were sent home from mount Gilead. Gilead means waymark, and the waymark where the twenty-two thousand were sent home is the first disappointment of April 19, 1844 or July 18, 2020. Twenty-two marks the waymark of the first disappointment, just as 22 identifies the day when the great disappointment arrived on October 22, 1844.
Người Ma-đi-an là kẻ thù phương bắc, họ đóng trại bên đồi Moreh, còn Gideon ở bên giếng Harod, nghĩa là sợ hãi và kinh hoàng. 9/11 đã mở ra thời kỳ khủng bố và sứ điệp thứ nhất là lời kêu gọi kính sợ Đức Chúa Trời. Gideon ở tại 9/11, bên giếng Harod (khủng bố), và kẻ thù phương bắc ở trong thung lũng cạnh đồi Moreh, có nghĩa là mưa đầu mùa. Vào 9/11, sự rưới rắc của mưa cuối mùa, vốn là mưa đầu mùa, bắt đầu đổ xuống từ đồi Moreh. Sau phép thử thứ nhất trong hai phép thử, hai mươi hai nghìn người đã được cho về nhà từ núi Gilead. Gilead có nghĩa là cột mốc, và cột mốc nơi hai mươi hai nghìn người được cho về là sự thất vọng thứ nhất của ngày 19 tháng 4 năm 1844 hoặc ngày 18 tháng 7 năm 2020. Hai mươi hai đánh dấu cột mốc của sự thất vọng thứ nhất, cũng như con số 22 xác định ngày mà sự thất vọng lớn đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The next test was the test of the water, illustrated in Millerite history by the Exeter camp meeting, where there were two tents associated with water, thus representing two classes of worshippers. Exeter means “fortress on the water,” and the other tent was occupied by the foolish virgins from Watertown. Exeter represents the water test of Gideon, but it was not the water so much, as the methodology employed to drink the water. One class was too weary to keep moving as they scooped up the water, and the other class kept moving forward. One class was the weary class, represented by Leah in contrast with Rachel, who was the good traveler.
Phép thử tiếp theo là phép thử về nước, được minh họa trong lịch sử Millerite qua cuộc nhóm trại Exeter, nơi có hai chiếc lều liên quan đến nước, từ đó tượng trưng cho hai hạng người thờ phượng. Exeter có nghĩa là “pháo đài trên nước”, và chiếc lều kia được các trinh nữ ngu dại đến từ Watertown sử dụng. Exeter đại diện cho phép thử nước của Gideon; nhưng điều cốt yếu không phải là bản thân nước, mà là phương pháp được dùng để uống nước. Một nhóm thì quá mệt mỏi để tiếp tục tiến bước khi họ múc nước, còn nhóm kia thì vẫn tiếp tục tiến lên. Một nhóm là nhóm mệt mỏi, được đại diện bởi Leah, trái ngược với Rachel, người là một lữ khách giỏi.
The ministry of Future for America was Gideon at 9/11, when the first of two tests would purge a large class from Gideon’s band. The terrorism of 9/11 identifies the well of Harod’s fear and terror, and the hill of Moreh identifies the beginning of the latter rain. A separation took place on July 18, 2020 when twenty-two-thousand left, thus marking the arrival of the tarrying time with the number twenty-two. Gideon’s three hundred are those who pass the second test, which is the test of the methodology of the latter rain as identified in Isaiah twenty-eight.
Mục vụ Future for America là Gideon vào thời điểm 9/11, khi bài thử thứ nhất trong hai bài thử sẽ thanh lọc một nhóm lớn khỏi nhóm của Gideon. Nạn khủng bố 9/11 chỉ ra giếng Harod của sự sợ hãi và kinh hoàng, và đồi Moreh chỉ ra sự khởi đầu của mưa cuối mùa. Một sự phân rẽ đã diễn ra vào ngày 18 tháng 7 năm 2020 khi hai mươi hai nghìn người rời đi, qua đó đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ trì hoãn với con số hai mươi hai. Ba trăm người của Gideon là những người vượt qua bài thử thứ hai, là bài thử về phương pháp luận của mưa cuối mùa như được chỉ ra trong Isaiah hai mươi tám.
Peter is at Panium as well as Pentecost. Pentecost is the Sunday law, and Daniel eleven verse sixteen is also the Sunday law. Verses thirteen through fifteen of chapter eleven of Daniel are Panium, and those verses represent the external prophetic history that leads to the Sunday law, and Peter in Acts, at the third and ninth hour represent the internal prophetic history that leads to the Sunday law. The external line is identifying the history that leads to the mark of the beast, and the internal identifies the history of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. With Peter being such an important symbol in both the external and internal history that is now in the process of fulfillment, it seemed appropriate to place Peter into the prophetic context which runs below the surface reading of Scripture.
Phi-e-rơ ở Panium cũng như ở Lễ Ngũ Tuần. Lễ Ngũ Tuần là luật ngày Chủ nhật, và Đa-ni-ên đoạn mười một câu mười sáu cũng là luật ngày Chủ nhật. Các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một là Panium, và những câu ấy đại diện cho lịch sử tiên tri bên ngoài dẫn đến luật ngày Chủ nhật, còn Phi-e-rơ trong Công vụ các sứ đồ, ở giờ thứ ba và giờ thứ chín, đại diện cho lịch sử tiên tri bên trong dẫn đến luật ngày Chủ nhật. Tuyến bên ngoài xác định lịch sử dẫn đến dấu con thú, còn tuyến bên trong xác định lịch sử về sự đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Vì Phi-e-rơ là một biểu tượng quan trọng trong cả lịch sử bên ngoài lẫn bên trong đang trong tiến trình ứng nghiệm, nên có vẻ thích hợp khi đặt Phi-e-rơ vào bối cảnh tiên tri ẩn dưới cách đọc bề mặt của Kinh Thánh.
The twelve Messianic prophecies that are marked as fulfilled in the book of Matthew represent the history of the one hundred and forty-four thousand. The “time of the end” marks the beginning of a reformatory movement, and just as the birth of Aaron and Moses marked the “time of the end” in the line of Moses, the alpha of Christ, so too the birth of John, and his cousin Jesus marked the “time of the end” in 1989. Whether it is worthwhile to consider the twelve Messianic prophecies is more intriguing, when placed in context by raising another question. What other biblical book marks as many Messianic fulfillments as found in Matthew?
Mười hai lời tiên tri về Đấng Mê-si được ghi là đã ứng nghiệm trong sách Ma-thi-ơ đại diện cho lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn. “Thời kỳ cuối cùng” đánh dấu sự khởi đầu của một phong trào cải cách, và cũng như sự ra đời của A-rôn và Môi-se đã đánh dấu “thời kỳ cuối cùng” trong dòng của Môi-se, tức “alpha” của Đấng Christ, thì sự ra đời của Giăng và người anh em họ của ông là Giê-su cũng đã đánh dấu “thời kỳ cuối cùng” vào năm 1989. Việc liệu có đáng xem xét mười hai lời tiên tri về Đấng Mê-si hay không càng trở nên hấp dẫn hơn khi đặt vào bối cảnh bằng cách nêu thêm một câu hỏi khác: Có sách Kinh Thánh nào khác ghi nhận nhiều sự ứng nghiệm về Đấng Mê-si như được tìm thấy trong sách Ma-thi-ơ không?
“The work of God in the earth presents, from age to age, a striking similarity in every great reformation or religious movement. The principles of God’s dealing with men are ever the same. The important movements of the present have their parallel in those of the past, and the experience of the church in former ages has lessons of great value for our own time.” The Great Controversy, 343.
Công việc của Đức Chúa Trời trên đất, qua từng thời đại, đều cho thấy một sự tương đồng nổi bật trong mọi cuộc cải cách lớn hoặc phong trào tôn giáo. Những nguyên tắc trong cách Đức Chúa Trời đối đãi với loài người vẫn luôn như nhau. Những phong trào quan trọng của hiện tại có những điểm tương đồng với những phong trào trong quá khứ, và kinh nghiệm của Hội Thánh trong các thời đại trước chứa đựng những bài học vô cùng quý giá cho thời đại của chúng ta. Cuộc Xung Đột Vĩ Đại, 343.
Every reformatory movement has a starting point, which is labelled as “the time of the end,” in the book of Daniel. The time of the end in the reformatory movement of Christ was His birth, which typified both 1798 and 1989,
Mỗi phong trào cải cách đều có một điểm khởi đầu, được gọi là "thời kỳ cuối cùng" trong sách Đa-ni-ên. Thời kỳ cuối cùng trong phong trào cải cách của Đấng Christ là sự giáng sinh của Ngài, mà tiêu biểu cho cả năm 1798 và 1989,
The First Messianic Waymark—1989
Dấu mốc Mêsia đầu tiên-1989
And they said unto him, In Bethlehem of Judaea: for thus it is written by the prophet, And thou Bethlehem, in the land of Juda, art not the least among the princes of Juda: for out of thee shall come a Governor, that shall rule my people Israel. Matthew 2:5, 6.
Họ nói với ông: Ở Bết-lê-hem thuộc Giu-đê; vì nhà tiên tri đã chép như vầy: Hỡi Bết-lê-hem, trong đất Giu-đa, ngươi chẳng phải là nhỏ nhất giữa các vương hầu của Giu-đa; vì từ ngươi sẽ ra một Đấng cai trị, sẽ cai trị dân Ta là Israel. Ma-thi-ơ 2:5-6.
Prediction
Dự đoán
But thou, Bethlehem Ephratah, though thou be little among the thousands of Judah, yet out of thee shall he come forth unto me that is to be ruler in Israel; whose goings forth have been from of old, from everlasting. Micah 5:2.
Nhưng ngươi, Bết-lê-hem Ép-ra-ta, dẫu ngươi nhỏ bé giữa các chi tộc của Giu-đa, song từ ngươi sẽ ra cho Ta một Đấng sẽ cai trị tại Y-sơ-ra-ên; nguồn gốc của Ngài từ thuở xưa, từ đời đời. Mi-chê 5:2.
1989 was the time of the end for the movement of the third angel. It arrived 126 years after the rebellion of 1863, and was represented by Ronald Reagan and George Bush the senior. The time of the end in the history of Moses was the birth of Aaron and Moses, as was the time of the end in the history of Christ the birth of John the Baptist and Christ. When the book of Daniel is unsealed, as it was in 1989, there is an increase of knowledge. That increase of knowledge leads to the second waymark, identifying when a testing message is developed from the knowledge that was unsealed.
Năm 1989 là thời điểm kết thúc của phong trào thiên sứ thứ ba. Nó xảy ra 126 năm sau cuộc nổi loạn năm 1863, và được đại diện bởi Ronald Reagan và George Bush cha. Thời điểm kết thúc trong lịch sử của Môi-se là sự ra đời của A-rôn và Môi-se; cũng vậy, trong lịch sử của Đấng Christ, thời điểm kết thúc là sự ra đời của Giăng Báp-tít và Đấng Christ. Khi sách Đa-ni-ên được mở ấn, như đã xảy ra vào năm 1989, thì hiểu biết gia tăng. Sự gia tăng hiểu biết đó dẫn đến cột mốc thứ hai, xác định khi nào một sứ điệp thử nghiệm được hình thành từ những hiểu biết đã được mở ấn.
Every reformatory movement marks a point when the message is formalized and thereafter becomes a testing message. Christ always explains the test, in advance of holding men and women responsible for the test. Adam and Eve were told in advance of the results that would happen if they disobeyed, and God never changes.
Mỗi phong trào cải cách đều đánh dấu một thời điểm khi sứ điệp được định hình và chính thức hóa, và từ đó trở thành một sứ điệp thử thách. Đấng Christ luôn giải thích bài thử thách trước khi buộc nam và nữ phải chịu trách nhiệm về nó. Adam và Eva đã được báo trước về những hậu quả sẽ xảy ra nếu họ không vâng lời, và Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi.
And the Lord God commanded the man, saying, Of every tree of the garden thou mayest freely eat: But of the tree of the knowledge of good and evil, thou shalt not eat of it: for in the day that thou eatest thereof thou shalt surely die. Genesis 2:16, 17.
Và Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho người rằng: Ngươi có thể tự do ăn trái của mọi cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, ngươi không được ăn; vì trong ngày ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết. Sáng Thế Ký 2:16-17.
William Miller “formalized” the testing message of the first angel in 1831 through 1833. The message of the one hundred and forty-four thousand was formalized in 1996, with the publication of the Time of the End magazine that covers the last six verses of Daniel eleven, that were unsealed in 1989. In that year the publication titled, Prophetic Time Lines was also published, and set forth the methodology that is twenty-two times more powerful than the rules adopted by William Miller. Those rules are now set forth in the publication Prophetic Keys. The rules which all who proclaim the third angel’s message will employ are Miller’s rules.
William Miller đã "chính thức hóa" sứ điệp thử thách của thiên sứ thứ nhất từ năm 1831 đến 1833. Sứ điệp của một trăm bốn mươi bốn nghìn người được chính thức hóa vào năm 1996, cùng với việc xuất bản tạp chí Time of the End, tạp chí này đề cập đến sáu câu cuối của Daniel chương mười một, vốn đã được mở ấn vào năm 1989. Trong năm đó, ấn phẩm nhan đề Prophetic Time Lines cũng được phát hành và trình bày phương pháp luận mạnh mẽ gấp hai mươi hai lần các quy tắc do William Miller áp dụng. Những quy tắc ấy hiện được trình bày trong ấn phẩm Prophetic Keys. Những quy tắc mà tất cả những ai rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba sẽ sử dụng chính là các quy tắc của Miller.
“Those who are engaged in proclaiming the third angel’s message are searching the Scriptures upon the same plan that Father Miller adopted.” Review and Herald, November 25, 1884.
Những người dấn thân rao giảng sứ điệp thiên sứ thứ ba nghiên cứu Kinh Thánh theo cùng phương pháp mà Ông Miller đã áp dụng. Review and Herald, ngày 25 tháng 11 năm 1884.
Miller’s rules are the alpha and Prophetic Keys are the omega. The only way to pass a prophetic testing message, is to employ the methodology of study outlined in God’s Word. The true message cannot be separated from the true methodology that establishes the message. In every reform movement the testing message for that generation is set forth, and it includes the correct methodology as an element of the waymark. Miller’s message was based upon the unsealing of the book of Daniel. His message was Gideon’s message, for it also produced an army of three hundred.
Các quy tắc của Miller là Anpha, và Các Chìa Khóa Tiên Tri là Ômêga. Cách duy nhất để vượt qua một thông điệp thử thách mang tính tiên tri là vận dụng phương pháp nghiên cứu được nêu trong Lời Đức Chúa Trời. Thông điệp chân thật không thể tách rời khỏi phương pháp chân thật xác lập thông điệp ấy. Trong mọi phong trào cải cách, thông điệp thử thách dành cho thế hệ đó được nêu ra, và nó bao gồm phương pháp đúng đắn như một yếu tố của dấu mốc. Thông điệp của Miller dựa trên sự mở ấn sách Đa-ni-ên. Thông điệp của ông là thông điệp của Ghê-đê-ôn, vì nó cũng tạo nên một đạo quân ba trăm người.
And he divided the three hundred men into three companies, and he put a trumpet in every man’s hand, with empty pitchers, and lamps within the pitchers. And he said unto them, Look on me, and do likewise: and, behold, when I come to the outside of the camp, it shall be that, as I do, so shall ye do. When I blow with a trumpet, I and all that are with me, then blow ye the trumpets also on every side of all the camp, and say, The sword of the Lord, and of Gideon. Judges 7:16–18.
Và ông chia ba trăm người ra làm ba toán; ông đặt một cái kèn vào tay mỗi người, cùng với những bình rỗng và những ngọn đuốc ở trong các bình. Ông nói với họ: Hãy nhìn ta và làm theo; này, khi ta đến phía ngoài trại, thì các ngươi sẽ làm y như ta làm. Khi ta thổi kèn, ta và tất cả những người ở với ta, thì các ngươi cũng hãy thổi kèn khắp mọi phía quanh trại, và hô: Gươm của Chúa và của Gideon. Các Quan Xét 7:16-18.
Miller’s message was the “trumpet,” and the “sword.” Yet it was the sword of both Gideon and the Lord. The Word of the Lord was published in 1611, and 220 years later Miller published his message of the first angel. The Declaration of Independence was published in 1776, and 220 years later in 1996, the message of the third angel was published. Millers was the first angel’s internal message of God’s people, as represented by the vision of the Ulai River, announcing the opening of judgment. The third angel’s message of Future for America is the external message of God’s people, as represented by the vision of the Hiddekel River, announcing the close of judgment.
Sứ điệp của Miller vừa là "kèn" vừa là "gươm". Tuy vậy, đó là thanh gươm của cả Gideon lẫn Chúa. Lời của Chúa được xuất bản vào năm 1611, và 220 năm sau Miller công bố sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Tuyên ngôn Độc lập được công bố năm 1776, và 220 năm sau, vào năm 1996, sứ điệp của thiên sứ thứ ba được công bố. Sứ điệp của Miller là sứ điệp nội bộ của thiên sứ thứ nhất dành cho dân của Đức Chúa Trời, như được tượng trưng bởi khải tượng về sông Ulai, công bố sự mở đầu của cuộc phán xét. Sứ điệp của thiên sứ thứ ba của Future for America là sứ điệp bên ngoài của dân của Đức Chúa Trời, như được tượng trưng bởi khải tượng về sông Hiddekel, công bố sự kết thúc của cuộc phán xét.
The prophetic methodology is represented by one of the Messianic prophecies identified by Matthew as being fulfilled by Christ, and in so doing typifies 1831, with the “father” representing his son in 1996. The two witnesses of methodology are an alpha and omega, and with the human messenger’s involvement, together they establish a father and son relationship, which is the relationship of Malachi’s Elijah message. The hearts of the father are turned to the children, and vice versa. Miller’s rules are to be joined with the rules titled as Prophetic Keys. The new light must be built upon the old light. Those who choose not to employ the methodology of 1831 and 1996 are cursed. One class is cursed, and the other is blessed. The choice is yours?
Phương pháp luận tiên tri được thể hiện qua một trong những lời tiên tri về Đấng Mê-si mà Ma-thi-ơ xác định là đã được Đấng Christ ứng nghiệm, và qua đó tiêu biểu cho năm 1831, với “người cha” đại diện cho con trai của mình vào năm 1996. Hai nhân chứng của phương pháp luận là Alpha và Ômêga, và với sự tham gia của sứ giả loài người, cùng nhau họ thiết lập mối quan hệ cha và con, là mối quan hệ của sứ điệp Ê-li trong Ma-la-chi. Lòng cha sẽ hướng về con cái, và ngược lại. Các quy tắc của Miller phải được kết hợp với các quy tắc có tên là “Chìa khóa Tiên tri”. Ánh sáng mới phải được xây dựng trên nền ánh sáng cũ. Những ai chọn không sử dụng phương pháp luận của năm 1831 và 1996 thì bị rủa sả. Một nhóm bị rủa sả, còn nhóm kia được ban phước. Lựa chọn là của bạn?
The Second Messianic Waymark —1996
Dấu mốc thiên sai thứ hai - 1996
That it might be fulfilled which was spoken by the prophet, saying, I will open my mouth in parables; I will utter things which have been kept secret from the foundation of the world. Matthew 13:35.
Để ứng nghiệm lời nhà tiên tri đã nói: “Ta sẽ mở miệng nói bằng các dụ ngôn; Ta sẽ bày tỏ những điều đã được giấu kín từ khi đặt nền thế gian.” Ma-thi-ơ 13:35.
Prediction
Dự đoán
I will open my mouth in a parable: I will utter dark sayings of old. Psalms 78:2.
Tôi sẽ mở miệng nói bằng dụ ngôn; tôi sẽ nói ra những lời bí ẩn của thuở xưa. Thi Thiên 78:2.
The dark sayings; the parables that the Lion of the tribe of Judah “utters” represent line upon line presentations of truths that have been sealed up, or kept secret from the foundation of the world. Once the message is formalized, it is thereafter empowered by a fulfillment of prophecy that marks the beginning of a testing time.
Những lời tối nghĩa; các dụ ngôn mà Sư Tử của chi phái Giu-đa “phán ra” là những sự trình bày theo từng dòng, từng điều về các lẽ thật đã được niêm phong, hoặc được giữ kín từ khi lập nền thế gian. Một khi sứ điệp được chính thức hóa, nó sẽ được xác chứng bởi sự ứng nghiệm của lời tiên tri, điều đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ thử thách.
When the latter rain began to sprinkle on September 11, 2001, the rebellion of 1888 and of Korah was repeated. At the Minneapolis rebellion of 1888 and with Korah’s rebellion, God’s selected messengers were rejected along with the message they presented. Both the baby and the bath water were thrown out together. They were thrown out under the premise that the whole congregation was as holy, as those God had selected. The rebels were unable to see Divinity with the human messengers. All they could see was themselves, humanity void of Divinity, so they thought everyone was the same.
Khi mưa rào cuối mùa bắt đầu lất phất rơi vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, cuộc phản loạn năm 1888 và của Korah đã tái diễn. Trong cuộc phản loạn ở Minneapolis năm 1888 và trong cuộc phản loạn của Korah, các sứ giả được Đức Chúa Trời chọn đã bị khước từ cùng với sứ điệp họ trình bày. Người ta đã đổ cả em bé lẫn nước tắm đi. Người ta đã làm như vậy với tiền đề rằng toàn thể hội chúng đều thánh khiết như những người Đức Chúa Trời đã chọn. Những kẻ nổi loạn không thể nhận ra Thần tính nơi các sứ giả phàm nhân. Điều duy nhất họ thấy là chính mình, nhân tính thiếu vắng Thần tính, nên họ nghĩ ai cũng như nhau.
Now Korah, the son of Izhar, the son of Kohath, the son of Levi, and Dathan and Abiram, the sons of Eliab, and On, the son of Peleth, sons of Reuben, took men: And they rose up before Moses, with certain of the children of Israel, two hundred and fifty princes of the assembly, famous in the congregation, men of renown: And they gathered themselves together against Moses and against Aaron, and said unto them, Ye take too much upon you, seeing all the congregation are holy, every one of them, and the Lord is among them: wherefore then lift ye up yourselves above the congregation of the Lord? Numbers 16:1–3.
Bấy giờ Cô-ra, con của Y-xa, cháu của Kê-hát, chắt của Lê-vi, cùng với Đa-than và A-bi-ram, là các con của Ê-li-áp, và Ôn, con của Pê-lết, con cháu Ru-bên, kéo theo một số người. Họ đứng dậy trước mặt Môi-se, cùng với một số con cái Y-sơ-ra-ên—hai trăm năm mươi thủ lĩnh của hội chúng, những người có tiếng trong cộng đoàn, những người lừng danh. Họ hiệp lại nghịch cùng Môi-se và A-rôn, và nói với họ: “Các ông tự nhận cho mình quá nhiều, vì cả hội chúng đều là thánh, ai nấy đều vậy, và Đức Giê-hô-va ở giữa họ; vậy sao các ông lại tự tôn mình lên trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?” Dân-số Ký 16:1-3.
The rebellion of Korah, 1888 and 9/11 is represented as a refusal to submit to God’s choice of selected leadership, while placing confidence in a false definition of God’s congregation. Jeremiah identifies the same phenomenon when the rebels claimed the “temple of the Lord, the temple of the Lord are these.”
Cuộc nổi loạn của Korah, năm 1888 và 9/11 được mô tả như một sự từ chối phục tùng sự chọn lựa của Đức Chúa Trời về những người lãnh đạo do Ngài chỉ định, đồng thời đặt niềm tin vào một quan niệm sai lầm về hội chúng của Đức Chúa Trời. Jeremiah chỉ ra hiện tượng tương tự khi những kẻ nổi loạn tuyên bố: "Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là đây."
The word that came to Jeremiah from the Lord, saying,
Lời từ Đức Chúa đến với Giê-rê-mi, phán rằng,
Stand in the gate of the Lord’s house, and proclaim there this word, and say, Hear the word of the Lord, all ye of Judah, that enter in at these gates to worship the Lord. Thus saith the Lord of hosts, the God of Israel, Amend your ways and your doings, and I will cause you to dwell in this place. Trust ye not in lying words, saying, The temple of the Lord, The temple of the Lord, The temple of the Lord, are these.
Hãy đứng tại cửa nhà Đức Giê-hô-va, và rao truyền ở đó lời này, mà nói: Hỡi toàn thể Giu-đa, là những người vào qua các cửa này để thờ phượng Đức Giê-hô-va, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy sửa đổi đường lối và việc làm của các ngươi, thì Ta sẽ cho các ngươi được ở trong chốn này. Đừng tin cậy những lời dối trá rằng: “Đền thờ của Đức Giê-hô-va, Đền thờ của Đức Giê-hô-va, Đền thờ của Đức Giê-hô-va là đây.”
For if ye throughly amend your ways and your doings; if ye throughly execute judgment between a man and his neighbour; If ye oppress not the stranger, the fatherless, and the widow, and shed not innocent blood in this place, neither walk after other gods to your hurt: Then will I cause you to dwell in this place, in the land that I gave to your fathers, for ever and ever.
Vì nếu các ngươi thật lòng sửa đổi đường lối và việc làm của mình; nếu các ngươi thật lòng thi hành công lý giữa người và người lân cận mình; nếu các ngươi không áp bức người ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa phụ, không đổ máu vô tội tại nơi này, cũng không theo các thần khác mà chuốc lấy tai họa cho mình; thì ta sẽ cho các ngươi cư ngụ tại nơi này, trong đất ta đã ban cho tổ phụ các ngươi, đời đời.
Behold, ye trust in lying words, that cannot profit. Jeremiah 7:1–8.
Kìa, các ngươi tin cậy những lời dối trá, chẳng đem lại lợi ích gì. Giê-rê-mi 7:1-8.
The lying words of the Jews in Jeremiah’s period, are the lying words of Korah and his cohorts, the rebels of 1888 and of course, the rebels of 9/11. They are the lies that the drunkards of Ephraim hide beneath in Isaiah twenty-eight.
Những lời dối trá của người Do Thái thời Giê-rê-mi cũng chính là những lời dối trá của Cô-ra và đồng bọn, của những kẻ phản loạn năm 1888, và dĩ nhiên, của những kẻ phản loạn trong sự kiện 9/11. Đó là những lời dối trá mà những kẻ say sưa của Ép-ra-im núp dưới, trong Ê-sai đoạn hai mươi tám.
Wherefore hear the word of the Lord, ye scornful men, that rule this people which is in Jerusalem. Because ye have said, We have made a covenant with death, and with hell are we at agreement; when the overflowing scourge shall pass through, it shall not come unto us: for we have made lies our refuge, and under falsehood have we hid ourselves. Isaiah 28:14, 15.
Vậy nên, hỡi những kẻ nhạo báng, là những người cai trị dân này tại Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Chúa Trời. Vì các ngươi đã nói: Chúng ta đã lập giao ước với sự chết, và với âm phủ chúng ta đã hòa ước; khi roi vọt tràn lan đi qua, nó sẽ chẳng đến với chúng ta; vì chúng ta đã lấy sự dối trá làm nơi nương náu, và ẩn mình dưới sự giả dối. Ê-sai 28:14, 15.
It is also the lie that represents a lack of love of the Truth, which brings strong delusion in 2 Thessalonians.
Đó cũng là lời dối trá cho thấy sự thiếu lòng yêu mến Lẽ Thật, điều mang lại sự lầm lạc mạnh mẽ trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca.
And for this cause God shall send them strong delusion, that they should believe a lie: That they all might be damned who believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness. 2 Thessalonians 2:11, 12.
Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ giáng trên họ một sự mê lầm mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá; hầu cho tất cả những ai không tin lẽ thật nhưng lại ưa thích sự bất chính đều bị định tội. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11, 12.
The “lying words” represent the foolish idea that the church is where salvation is found, not in chosen messengers and their chosen messages. The connection between God and man is accomplished and maintained only through His Word. He is the Word, and no man cometh to the Father except by the Word. Christ is represented by His chosen messengers and the message they present. To believe otherwise, is to hate the Truth and believe a lie. Jeremiah condemns the Jews who trust in the temple, by reminding them of Shiloh, where God’s Ark had been since the entrance into the Promised Land.
Những "lời dối trá" tượng trưng cho ý tưởng dại dột rằng nhà thờ là nơi tìm thấy sự cứu rỗi, chứ không phải qua các sứ giả được chọn và những sứ điệp do họ chọn. Mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và con người chỉ được thiết lập và duy trì qua Lời của Ngài. Ngài là Ngôi Lời, và không ai đến được cùng Cha nếu không bởi Ngôi Lời. Đấng Christ được đại diện bởi các sứ giả Ngài chọn và sứ điệp họ trình bày. Tin khác đi là ghét Lẽ Thật và tin điều dối trá. Giê-rê-mi lên án những người Do Thái đặt lòng tin nơi đền thờ, bằng cách nhắc họ về Si-lô, nơi Hòm Bia của Đức Chúa Trời đã ở kể từ khi họ vào Đất Hứa.
Therefore will I do unto this house, which is called by my name, wherein ye trust, and unto the place which I gave to you and to your fathers, as I have done to Shiloh. And I will cast you out of my sight, as I have cast out all your brethren, even the whole seed of Ephraim. Therefore pray not thou for this people, neither lift up cry nor prayer for them, neither make intercession to me: for I will not hear thee. Jeremiah 7:14–16.
Vì vậy, Ta sẽ làm đối với nhà này, vốn được gọi theo danh Ta, nơi các ngươi tin cậy, và đối với chỗ Ta đã ban cho các ngươi và cho tổ phụ các ngươi, như Ta đã làm cho Si-lô. Ta sẽ đuổi các ngươi khỏi trước mặt Ta, như Ta đã đuổi hết thảy anh em các ngươi, tức là toàn thể dòng dõi Ép-ra-im. Vậy nên chớ cầu nguyện cho dân này, đừng cất tiếng kêu van hay lời cầu nguyện cho họ, cũng đừng nài xin Ta thay cho họ; vì Ta sẽ không nghe ngươi. Giê-rê-mi 7:14-16.
Wicked Eli, and his two wicked sons, Hophni and Phineas parallel and align with Korah, Dathan and Abiram for allowing escalating apostasy to develop until probation closed and all three died on the same day, as did Korah, Dathan and Abiram. They all die at the Sunday law!
Eli gian ác và hai con trai gian ác của ông, Hophni và Phineas, tương đồng và tương ứng với Korah, Dathan và Abiram vì đã để cho tình trạng bội đạo leo thang cho đến khi thời kỳ thử thách khép lại, và cả ba đều chết trong cùng một ngày, như Korah, Dathan và Abiram. Họ đều chết vào thời điểm luật ngày Chủ nhật!
At 9/11 Korah’s rebellion, and the rebellion of Eli, the rebellion of the Jews in Jeremiah’s testimony and the rebels of 1888 reject and rebel against the message and messengers of that period. That period concludes at the Sunday law after two tests. The first test is from 9/11 unto July 18, 2020, and the second test is the purging and sealing represented by the message of the Midnight Cry. Out of that purification process Gideon and His three hundred are prepared to blow their trumpets, and they do so when Samuel is raised up at the Sunday law, which is when the Ark is captured by the Philistines. Then the church triumphant is lifted up as an ensign.
Vào 9/11, cuộc phản loạn của Cô-ra, cuộc phản loạn thời Hê-li, cuộc phản loạn của người Do Thái trong lời chứng của Giê-rê-mi, và những kẻ phản loạn năm 1888, đều khước từ và nổi loạn chống lại sứ điệp và các sứ giả của thời kỳ ấy. Thời kỳ ấy kết thúc vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, sau hai kỳ thử nghiệm. Kỳ thử nghiệm thứ nhất là từ 9/11 đến ngày 18 tháng 7 năm 2020, và kỳ thử nghiệm thứ hai là sự thanh lọc và ấn chứng được biểu trưng bởi sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm. Từ tiến trình thanh luyện đó, Ghê-đê-ôn và ba trăm người của ông được chuẩn bị để thổi kèn, và họ làm điều ấy khi Sa-mu-ên được dấy lên vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, cũng là lúc Hòm Giao Ước bị người Phi-li-tin chiếm đoạt. Bấy giờ Hội Thánh khải hoàn được giương lên như một cờ hiệu.
That church has a king, David by name, and a prophet represented by Ezekiel, and Samuel, at the overthrow of Shiloh. The church will also have the priesthood represented by Joseph. The Sunday law testing time is where the fire of the Holy Spirit is poured out without measure, as represented by the seventh seal. That fire destroys the men of renown who rebelled with Korah, Dathan, Abiram, Eli, Hophni, Phineas and the rebels of 1888.
Hội thánh đó có một vị vua, tên là Đa-vít, và một nhà tiên tri, được đại diện bởi Ê-xê-chi-ên và Sa-mu-ên, vào lúc Si-lô bị lật đổ. Hội thánh cũng sẽ có chức tư tế, được đại diện bởi Giô-sép. Thời kỳ thử thách của luật ngày Chủ nhật là lúc lửa của Đức Thánh Linh được đổ xuống không hạn lượng, như được tượng trưng bởi ấn thứ bảy. Ngọn lửa ấy hủy diệt những người lừng danh đã nổi loạn cùng với Cô-ra, Đa-than, A-bi-ram, Ê-li, Hóp-ni, Phi-nê-a và những kẻ nổi loạn năm 1888.
That very fire of the outpouring of the Holy Spirit, is the backdrop of the drama of the church triumphant. The church is represented by king David, the prophet Ezekiel and Joseph the priest. Those three are standing in the fire that destroys the 250 men of renown, as did Nebuchadnezzar’s fire destroy the men who threw the three worthies into the furnace. As the church triumphant, the whole world watches as they are thrown into the fiery furnace, and suddenly, the Son of God appears with the churches’ prophet, priest and king—represented by Shadrach, Meshak and Abednego. Four thirty-year old’s in the fiery furnace representing the truth that Divinity combined with humanity does not sin!
Chính ngọn lửa từ sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh là bối cảnh cho vở kịch của Hội Thánh khải hoàn. Hội Thánh được đại diện bởi vua David, nhà tiên tri Ezekiel và thầy tế lễ Joseph. Ba người ấy đứng trong ngọn lửa đã tiêu diệt 250 người lừng danh, như lửa của Nebuchadnezzar đã tiêu diệt những kẻ ném ba người nghĩa dũng vào lò. Là Hội Thánh khải hoàn, cả thế gian dõi theo khi họ bị ném vào lò lửa hừng, và bỗng nhiên, Con Đức Chúa Trời hiện ra cùng với tiên tri, thầy tế lễ và vua của Hội Thánh—được đại diện bởi Shadrach, Meshak và Abednego. Bốn người ba mươi tuổi trong lò lửa hừng, đại diện cho chân lý rằng thần tính kết hợp với nhân tính thì không phạm tội!
Korah, Dathan and Abiram, who are also Eli, Hophni and Phineas are the counterfeit of the church triumphant that is made up with a prophet, priest and king. Those three are Gideon’s 300, the three thousand souls at Pentecost, the 300 Millerite preachers, the three-hundred 1843 charts, who are thirty years old when the Sunday law arrives and fire comes down out of heaven. With Elijah the fire was to distinguish between the true and false prophets. The fire that comes down in Leviticus on the “eighth” day, when Aaron begins to serve, consumes Aaron’s offering, which is the offering of Malachi three, that is pleasant as in former years. That same fire destroys those who offer strange or common fire, as represented by Hophni and Phineas, the sons of Aaron.
Korah, Dathan và Abiram, cũng như Eli, Hophni và Phineas, là sự giả mạo của Hội Thánh khải hoàn, vốn được cấu thành bởi một nhà tiên tri, một thầy tế lễ và một vị vua. Ba người ấy là 300 của Gideon, ba nghìn linh hồn tại Lễ Ngũ Tuần, 300 giảng sư Millerite, ba trăm biểu đồ năm 1843; họ 30 tuổi khi luật ngày Chủ nhật đến và lửa từ trời giáng xuống. Với Elijah, lửa dùng để phân biệt giữa các tiên tri thật và giả. Ngọn lửa giáng xuống trong Leviticus vào ngày “thứ tám”, khi Aaron bắt đầu phục vụ, thiêu nuốt của lễ của Aaron, tức của lễ ở Malachi đoạn ba, vốn đẹp lòng như thuở trước. Chính ngọn lửa ấy hủy diệt những ai dâng lửa lạ hoặc lửa thường, như được đại diện bởi Hophni và Phineas, các con trai của Aaron.
When God is confirming the true prophet with Elijah, or the true priest with Aaron the fire leads to the death of the false prophets of Baal, who are also Hophni and Phineas. Hophni and Phineas are the sons of Aaron, they are the last generation of a covenant people who are spewed out of the mouth of the Lord at the Sunday law.
Khi Đức Chúa Trời xác nhận nhà tiên tri chân thật qua Elijah, hoặc thầy tế lễ chân thật qua Aaron, thì lửa dẫn đến cái chết của các tiên tri giả của Baal, cũng chính là Hophni và Phineas. Hophni và Phineas là các con trai của Aaron; họ là thế hệ cuối cùng của một dân giao ước bị Chúa mửa ra khỏi miệng Ngài vào thời điểm luật ngày Chủ nhật.
“These are not the words of Sister White, but the words of the Lord, and His messenger has given them to me to give to you. God calls upon you to no longer work at cross purposes with Him. Much instruction was given in regard to men claiming to be Christian when they are revealing the attributes of Satan, counteracting in spirit, word, and action the advancement of truth, and are surely following the path where Satan is leading them. In their hardness of heart they have grasped authority which in no way belongs to them, and which they should not exercise. Saith the great Teacher, ‘I will overturn, overturn, overturn.’ Men say in Battle Creek, ‘The temple of the Lord, the temple of the Lord are we’ but they are using common fire. Their hearts are not softened and subdued by the grace of God.” Manuscript Releases, volume 13, 222.
"Đây không phải là lời của Bà White, mà là lời của Chúa, và sứ giả của Ngài đã trao chúng cho tôi để chuyển lại cho anh em. Đức Chúa Trời kêu gọi anh em không còn làm những việc trái ngược với Ngài nữa. Đã có nhiều lời chỉ dạy được ban ra liên quan đến những người tự xưng là Cơ Đốc nhân, trong khi họ bộc lộ các thuộc tính của Sa-tan, chống đối sự tiến triển của lẽ thật bằng tinh thần, lời nói và hành động, và chắc chắn đang theo con đường mà Sa-tan đang dẫn dắt họ. Trong sự cứng lòng của mình, họ đã nắm lấy quyền bính vốn không hề thuộc về họ, và họ không nên thi hành. Vị Thầy vĩ đại phán: 'Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ.' Người ta ở Battle Creek nói: 'Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta' nhưng họ đang dùng lửa phàm tục. Lòng họ không được ân điển của Đức Chúa Trời làm mềm lại và khuất phục." Bản Thảo Phát Hành, tập 13, trang 222.
The “common fire” is what Aaron’s son used when the priesthood began. The number “81” is a symbol of the priesthood, and in Leviticus eight, verse one, the seven days of purification and consecration of the priest is illustrated. Their clothes are removed and replaced with the garments of the Heavenly High Priest’s, as illustrated in Zechariah’s vision of Joshua and the angel in chapter three. The 300 in Zechariah are represented as “men wondered at,” for they represented in the history when God removes the iniquities of His people, which is the Sunday law, when the church is transformed from militant to triumphant. After seven days of consecration, the began to serve on day eight.
“Lửa thường” là thứ mà con trai của A-rôn đã dùng khi chức tư tế bắt đầu. Con số “81” là biểu tượng của chức tư tế, và trong Lê-vi Ký chương tám, câu một, bảy ngày thanh tẩy và biệt riêng của thầy tế lễ được minh họa. Áo xống của họ được cởi bỏ và thay bằng áo của Thượng Tế trên trời, như được minh họa trong khải tượng của Xa-cha-ri về Giê-hô-sua và thiên sứ ở chương ba. Số 300 trong sách Xa-cha-ri được mô tả như “những người khiến người ta kinh ngạc”, vì họ tượng trưng cho thời điểm trong lịch sử khi Đức Chúa Trời cất bỏ tội lỗi của dân Ngài, tức là luật Chủ nhật, khi Hội Thánh được biến đổi từ chiến đấu sang khải hoàn. Sau bảy ngày biệt riêng, họ bắt đầu phục vụ vào ngày thứ tám.
And ye shall not go out of the door of the tabernacle of the congregation in seven days, until the days of your consecration be at an end: for seven days shall he consecrate you. Leviticus 8:33.
Và các ngươi chớ ra khỏi cửa Đền tạm của hội chúng trong bảy ngày, cho đến khi những ngày thánh hiến của các ngươi chấm dứt; vì trong bảy ngày người sẽ thánh hiến các ngươi. Lê-vi Ký 8:33.
Day eight, is a symbol of the eighth that is of the seven, of Laodicea turning into Philadelphia, of the eight souls on Noah’s ark, of the eighth day of circumcision, and the eighth day of resurrection. That day is the Sunday law, when the papacy’s deadly wound is healed, and therefore resurrected it becomes the eighth, that is of the seven.
Ngày thứ tám là biểu tượng của thứ tám vốn thuộc về bảy, của Laodicea biến thành Philadelphia, của tám linh hồn trên tàu của Noah, của ngày thứ tám của phép cắt bì, và ngày thứ tám của sự phục sinh. Ngày ấy là luật Chủ nhật, khi vết thương chí tử của chế độ giáo hoàng được chữa lành, và vì thế khi được phục sinh nó trở thành thứ tám, vốn thuộc về bảy.
And it came to pass on the eighth day, that Moses called Aaron and his sons, and the elders of Israel. Leviticus 9:1.
Vào ngày thứ tám, Môi-se gọi A-rôn và các con trai của ông, cùng các trưởng lão của Israel. Lê-vi Ký 9:1.
On day eight, the priests began to serve, but Aaron’s sons offered “common fire.” Adventism claim that they are the temple of the Lord, and Sister White identified that claim as common fire. Not only is it a lie, but it is common fire, as contrasted with holy fire. The holy fire is the message of the Midnight Cry, and the common fire is the counterfeit peace and safety message, that will be the last message proclaimed by the dumb dogs that refused to bark, and give a warning message. In chapter nine, Aaron presents the offering, and fire comes down out of heaven and consumes the offering. Then his two wicked sons, offer common fire and God’s fire consumes them.
Đến ngày thứ tám, các thầy tế lễ bắt đầu thi hành chức vụ, nhưng các con trai của A-rôn dâng “lửa phàm”. Phái Cơ Đốc Phục Lâm cho rằng họ là đền thờ của Chúa, và bà White gọi lời tuyên bố ấy là “lửa phàm”. Điều đó không chỉ là dối trá, mà còn là lửa phàm, trái ngược với lửa thánh. Lửa thánh là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, còn lửa phàm là sứ điệp “bình an và an ổn” giả mạo, sẽ là sứ điệp cuối cùng được rao ra bởi những con chó câm đã từ chối sủa và không chịu đưa ra lời cảnh báo. Trong chương chín, A-rôn dâng của lễ, và lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy của lễ ấy. Rồi hai người con gian ác của ông dâng lửa phàm, và lửa của Đức Chúa Trời thiêu hủy họ.
And Aaron lifted up his hand toward the people, and blessed them, and came down from offering of the sin offering, and the burnt offering, and peace offerings. And Moses and Aaron went into the tabernacle of the congregation, and came out, and blessed the people: and the glory of the Lord appeared unto all the people. And there came a fire out from before the Lord, and consumed upon the altar the burnt offering and the fat: which when all the people saw, they shouted, and fell on their faces. And Nadab and Abihu, the sons of Aaron, took either of them his censer, and put fire therein, and put incense thereon, and offered strange fire before the Lord, which he commanded them not. And there went out fire from the Lord, and devoured them, and they died before the Lord. Leviticus 9:22–10:2.
A-rôn giơ tay hướng về dân chúng và chúc phước cho họ; rồi ông bước xuống sau khi dâng của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, và các của lễ bình an. Môi-se và A-rôn vào Lều Hội Kiến, rồi đi ra và chúc phước cho dân; vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cho cả dân chúng. Có lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va đi ra, thiêu cháy của lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ; khi toàn dân thấy vậy, họ reo lên và sấp mặt xuống đất. Na-đáp và A-bi-hu, các con trai của A-rôn, mỗi người lấy lư hương của mình, bỏ lửa vào đó, đặt hương lên trên, và dâng lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, điều mà Ngài không truyền dạy họ. Lửa từ Đức Giê-hô-va đi ra, thiêu rụi họ, và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va. Lê-vi Ký 9:22-10:2.
The men of Battle Creek are the modern Sanhedrin who trust in their church structure above the message of the True Witness to Laodicea. The True Witness to Laodicea is Christ, and He never changes, and he has always used men of His own choosing to present the message to a people who were manifesting the characteristics of Laodicea. There is nothing new under the sun.
Các ông ở Battle Creek là Thượng Hội đồng hiện đại, những người đặt niềm tin vào cơ cấu Hội thánh của mình hơn là vào sứ điệp của Đấng Làm Chứng Chân Thật cho Laodicê. Đấng Làm Chứng Chân Thật cho Laodicê chính là Đấng Christ; Ngài chẳng hề thay đổi, và Ngài luôn dùng những người do chính Ngài chọn để trình bày sứ điệp cho một dân đang bộc lộ những đặc điểm của Laodicê. Không có gì mới dưới mặt trời.
He selected Moses, who had been trained by God alone for forty years, just as Jesus and his cousin John had been trained. He selected Moses, Christ and John as examples of those trained outside of the formal educational system. Nazareth represents a symbol of a person who has been chosen, as were the new upstarts; Jones and Waggoner in the 1888 Minneapolis rebellion. Nazareth represents the calling and consecration of a chosen man, but the chosen man is a citizen of a city that is disrespected.
Ngài đã chọn Môi-se, người đã được một mình Đức Chúa Trời huấn luyện suốt bốn mươi năm, cũng như Giê-su và người anh em họ của Ngài là Giăng đã được huấn luyện. Ngài chọn Môi-se, Đấng Christ và Giăng làm những ví dụ về những người được huấn luyện ngoài hệ thống giáo dục chính quy. Na-xa-rét là biểu tượng cho một người đã được chọn, cũng như những kẻ mới nổi là Jones và Waggoner trong cuộc nổi dậy Minneapolis năm 1888. Na-xa-rét đại diện cho sự kêu gọi và sự biệt riêng của một người được chọn, nhưng người được chọn ấy là công dân của một thành phố bị khinh thường.
And Nathanael said unto him, Can there any good thing come out of Nazareth? Philip saith unto him, Come and see. John 1:46.
Nathanael nói với ông: “Từ Nazareth có thể có điều gì tốt lành không?” Philip nói với ông: “Hãy đến mà xem.” Gioan 1:46.
The stammering tongues of Isaiah 28, represent those who came from Nazareth. After the formalization of Miller’s message in 1831, the message was empowered by the fulfillment of the prophecy of the second woe, typifying the fulfillment of a prophecy of the third woe at 9/11. We will take up the third Messianic prophecy in the next article.
Những lưỡi nói lắp trong Ê-sai 28 tượng trưng cho những người đến từ Na-xa-rét. Sau khi sứ điệp của Miller được chính thức hóa vào năm 1831, sứ điệp ấy được thêm quyền năng nhờ sự ứng nghiệm lời tiên tri về tai họa thứ hai, điều này làm hình bóng cho sự ứng nghiệm của một lời tiên tri về tai họa thứ ba vào ngày 11/9. Chúng ta sẽ bàn đến lời tiên tri về Đấng Mê-si thứ ba trong bài viết tiếp theo.
“Three nights before the Review office burned, I was in an agony that words cannot describe. I could not sleep. I walked the room, praying to God to have mercy upon His people. Then I seemed to be in the Review office with the men who have the management of the institution. I was trying to speak to them and thus to help them. One of authority arose and said, ‘You say, The temple of the Lord, the temple of the Lord are we; therefore, we have authority to do this thing and that thing and the other thing. But the word of God forbids many of the things that you propose to do.’ At His first advent, Christ cleansed the Temple. Prior to His second advent He will again cleanse the temple. He was there cleansing the temple. Why? Because commercial work had been brought in, and God had been forgotten. With hurry here and hurry there and hurry somewhere else, there was no time to think of heaven. The principles of God’s law were presented, and I heard the question asked, ‘How much of the law have you obeyed?’ Then the word was spoken, ‘God will cleanse and purify His temple in His displeasure.’
Ba đêm trước khi văn phòng Review bị cháy, tôi ở trong một nỗi thống khổ mà lời nói không thể diễn tả. Tôi không thể ngủ. Tôi đi đi lại lại trong phòng, cầu xin Đức Chúa Trời thương xót dân Ngài. Rồi tôi dường như ở trong văn phòng Review với những người nắm quyền điều hành cơ quan. Tôi cố gắng nói chuyện với họ để giúp họ. Một người có thẩm quyền đứng lên và nói: "Các ông nói, 'Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta; vì vậy, chúng ta có thẩm quyền làm điều này, điều kia và những điều khác.' Nhưng lời của Đức Chúa Trời cấm nhiều điều mà các ông dự định làm." Khi Ngài đến lần thứ nhất, Đấng Christ đã thanh tẩy đền thờ. Trước khi Ngài đến lần thứ hai, Ngài sẽ lại thanh tẩy đền thờ. Ngài ở đó đang thanh tẩy đền thờ. Tại sao? Vì công việc buôn bán đã được đưa vào, và Đức Chúa Trời đã bị lãng quên. Vội vã chỗ này, vội vã chỗ kia, vội vã chỗ khác, chẳng còn thời gian để nghĩ đến thiên đàng. Các nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời được trình bày, và tôi nghe câu hỏi được nêu ra: "Các ngươi đã vâng giữ luật pháp được bao nhiêu?" Rồi có lời phán: "Trong sự bất bình của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ thanh tẩy và tinh luyện đền thờ của Ngài."
“In the visions of the night I saw a sword of fire hung out over Battle Creek.
Trong những khải tượng ban đêm, tôi thấy một thanh gươm lửa treo lơ lửng phía trên Battle Creek.
“Brethren, God is in earnest with us. I want to tell you that if after the warnings given in these burnings the leaders of our people go right on, just as they have done in the past, exalting themselves, God will take the bodies next. Just as surely as He lives, He will speak to them in language that they cannot fail to understand.
Hỡi anh em, Đức Chúa Trời đang rất nghiêm túc với chúng ta. Tôi muốn nói với anh em rằng nếu sau những lời cảnh báo qua các vụ cháy này, các nhà lãnh đạo của dân chúng ta vẫn cứ tiếp tục như họ đã làm trước đây, tự tôn mình lên, thì Đức Chúa Trời sẽ động đến thân xác họ tiếp theo. Chắc chắn như Ngài hằng sống, Ngài sẽ phán với họ bằng ngôn ngữ mà họ không thể nào không hiểu.
“God is watching us to see if we will humble ourselves before Him as little children. I speak these words now that we may come to Him in humility and contrition and find out what He requires of us.’ Publishing Ministry, 170, 171.
"Đức Chúa Trời đang dõi theo chúng ta để xem liệu chúng ta có hạ mình trước mặt Ngài như những trẻ thơ hay không. Tôi nói những lời này bây giờ để chúng ta có thể đến với Ngài trong sự khiêm nhường và thống hối và tìm biết Ngài đòi hỏi gì nơi chúng ta.' Publishing Ministry, 170, 171.
“The message for this time is not, ‘The temple of the Lord, the temple of the Lord, the temple of the Lord are we.’ Whom does the Lord receive as vessels unto honor?—Those who co-operate with Christ; those who believe the truth, who live the truth, who proclaim the truth in all its bearings.” Review and Herald, October 22, 1903.
Sứ điệp cho thời điểm này không phải là: “Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta.” Chúa tiếp nhận ai làm những khí cụ cho sự tôn quý? — Những người cộng tác với Đấng Christ; những người tin lẽ thật, sống theo lẽ thật, và rao truyền lẽ thật trong mọi phương diện. Review and Herald, ngày 22 tháng 10, 1903.
“These are not the words of Sister White, but the words of the Lord, and His messenger has given them to me to give to you. God calls upon you to no longer work at cross purposes with Him. Much instruction was given in regard to men claiming to be Christian when they are revealing the attributes of Satan, counteracting in spirit, word, and action the advancement of truth, and are surely following the path where Satan is leading them. In their hardness of heart they have grasped authority which in no way belongs to them, and which they should not exercise. Saith the great Teacher, ‘I will overturn, overturn, overturn.’ Men say in Battle Creek, ‘The temple of the Lord, the temple of the Lord are we’ but they are using common fire. Their hearts are not softened and subdued by the grace of God.” Manuscript Releases, volume 13, 222.
"Đây không phải là lời của Bà White, mà là lời của Chúa, và sứ giả của Ngài đã trao chúng cho tôi để chuyển lại cho anh em. Đức Chúa Trời kêu gọi anh em không còn làm những việc trái ngược với Ngài nữa. Đã có nhiều lời chỉ dạy được ban ra liên quan đến những người tự xưng là Cơ Đốc nhân, trong khi họ bộc lộ các thuộc tính của Sa-tan, chống đối sự tiến triển của lẽ thật bằng tinh thần, lời nói và hành động, và chắc chắn đang theo con đường mà Sa-tan đang dẫn dắt họ. Trong sự cứng lòng của mình, họ đã nắm lấy quyền bính vốn không hề thuộc về họ, và họ không nên thi hành. Vị Thầy vĩ đại phán: 'Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ.' Người ta ở Battle Creek nói: 'Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta' nhưng họ đang dùng lửa phàm tục. Lòng họ không được ân điển của Đức Chúa Trời làm mềm lại và khuất phục." Bản Thảo Phát Hành, tập 13, trang 222.