The fifth Messianic prophecy in the book of Matthew is the waymark of disappointment and death. On July 18, 2020, the false prediction of the destruction of Nashville, slew Elijah and Moses.

Lời tiên tri về Đấng Mê-si-a thứ năm trong sách Ma-thi-ơ là dấu mốc của sự thất vọng và cái chết. Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, lời dự đoán sai lầm về việc Nashville bị hủy diệt đã giết chết Ê-li và Môi-se.

The Fifth Messianic Waymark is the Disappointment of July 18, 2020

Dấu mốc thiên sai thứ năm là sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020

Then was fulfilled that which was spoken by Jeremiah the prophet, saying, In Rama was there a voice heard, lamentation, and weeping, and great mourning, Rachel weeping for her children, and would not be comforted, because they are not. Matthew 2:17, 18.

Bấy giờ ứng nghiệm lời đã nói qua tiên tri Giê-rê-mi: “Tại Ra-ma người ta nghe tiếng than vãn, khóc lóc và than khóc lớn; Ra-chên khóc các con mình, không chịu được an ủi, vì chúng không còn nữa.” Ma-thi-ơ 2:17, 18.

Prediction

Dự đoán

Thus saith the Lord; A voice was heard in Ramah, lamentation, and bitter weeping; Rahel weeping for her children refused to be comforted for her children, because they were not. Jeremiah 31:15.

Đức Chúa phán như vầy: Có tiếng đã vang ra tại Ra-ma: tiếng than vãn và khóc lóc thảm thiết; Ra-hel khóc các con mình, không chịu được an ủi về các con mình, vì chúng không còn nữa. Giê-rê-mi 31:15.

Moses and Elijah are slain in the streets of Sodom and Egypt. The last statement of the Old Testament identifies that Elijah would come before the great and dreadful day of the Lord. That dreadful day begins when Michael stands up in Daniel twelve, and announces in Revelation twenty-two that, “he that is just and he who is unjust” will remain in that condition for eternity.

Môi-se và Ê-li bị giết chết trên các đường phố của Sô-đôm và Ai Cập. Lời tuyên bố cuối cùng của Cựu Ước cho biết rằng Ê-li sẽ đến trước ngày lớn và kinh khiếp của Chúa. Ngày kinh khiếp ấy bắt đầu khi Mi-ca-ên đứng lên trong Đa-ni-ên mười hai, và tuyên bố trong Khải Huyền hai mươi hai rằng, "ai công chính và ai bất chính" sẽ vẫn ở trong tình trạng đó đến đời đời.

And at that time shall Michael stand up, the great prince which standeth for the children of thy people: and there shall be a time of trouble, such as never was since there was a nation even to that same time: and at that time thy people shall be delivered, every one that shall be found written in the book. Daniel 12:1.

Vào thời ấy, Mi-ca-ên, vị thủ lãnh lớn, đấng bảo hộ cho con cái dân ngươi, sẽ đứng dậy; và sẽ có một thời kỳ hoạn nạn, như chưa hề có kể từ khi có các dân cho đến chính thời ấy; và vào thời ấy, dân ngươi sẽ được giải cứu, tức mọi người nào được tìm thấy có tên ghi trong sách. Đa-ni-ên 12:1.

He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:11.

Ai bất chính, cứ bất chính nữa; ai ô uế, cứ ô uế nữa; ai công chính, cứ công chính nữa; ai thánh thiện, cứ thánh thiện nữa. Khải Huyền 22:11.

Elijah must appear before probation closes, and he gets slain and resurrected in Revelation eleven, just before probation closes. He is resurrected and presents his message until probation closes, where there is then another resurrection, of righteous and wicked.

Ê-li phải xuất hiện trước khi thời kỳ ân điển khép lại, và ông bị giết rồi được sống lại trong Khải Huyền chương mười một, ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại. Ông được sống lại và trình bày sứ điệp của mình cho đến khi thời kỳ ân điển khép lại; rồi sau đó có một sự sống lại nữa, của người công chính và kẻ ác.

And many of them that sleep in the dust of the earth shall awake, some to everlasting life, and some to shame and everlasting contempt. Daniel 12:2.

Và nhiều kẻ đang ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy; kẻ thì được sống đời đời, kẻ thì chịu ô nhục và bị khinh bỉ đời đời. Đa-ni-ên 12:2.

That special resurrection is followed by the Second Coming of Christ, where the righteous dead are resurrected and then a thousand years where the saints judge the lost. At the end of the thousand years there is another resurrection and the third coming of Christ. The line of prophetic resurrections includes the resurrection of the papal beast, but each of the resurrections are a specific subject of God’s prophetic Word. On July 18, 2020, the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand committed suicide by rebelling against Christ’s command forbidding time applications beyond 1844.

Sự sống lại đặc biệt đó được tiếp nối bởi Sự Tái Lâm của Đấng Christ, khi những người công chính đã chết được sống lại, rồi đến một nghìn năm trong đó các thánh đồ đoán xét những kẻ hư mất. Đến cuối một nghìn năm, sẽ có một cuộc sống lại khác và Đấng Christ đến lần thứ ba. Chuỗi các cuộc sống lại mang tính tiên tri bao gồm cả sự sống lại của con thú giáo hoàng, nhưng mỗi cuộc sống lại đều là một đề tài riêng biệt trong Lời tiên tri của Đức Chúa Trời. Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, phong trào Laodicea của một trăm bốn mươi bốn nghìn đã tự sát khi phản loạn chống lại mệnh lệnh của Đấng Christ cấm đặt các mốc thời gian vượt quá năm 1844.

A voice was then heard in Rama, meaning pride and self-exaltation. Rachel meaning a good traveler is in mourning because Moses and Elijah are not, and more importantly, they cannot be comforted. They have no comfort, and the Holy Spirit is the Comforter, that would be sent when the voice in the wilderness began in July of 2023.

Rồi có tiếng nói vang lên tại Rama, hàm ý sự kiêu ngạo và tự tôn vinh mình. Rachel, nghĩa là một lữ khách giỏi, đang than khóc vì Moses và Elijah thì không, và quan trọng hơn, họ không thể được an ủi. Họ không có sự an ủi, và Đức Thánh Linh là Đấng An Ủi, Đấng sẽ được sai đến khi tiếng nói trong hoang mạc bắt đầu vào tháng 7 năm 2023.

These things happen just before probation closes, and according to Revelation, just before probation closes the Revelation of Jesus Christ is unsealed. That unsealing is what resurrects Moses and Elijah, who are also Rachel, the good traveler, who had been weeping and mourning for her children, could not be comforted. Her mourning turns to joy when those children are resurrected.

Những điều này xảy ra ngay trước khi thời kỳ thử thách kết thúc, và theo sách Khải Huyền, ngay trước khi thời kỳ thử thách kết thúc, sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn. Chính việc mở ấn đó làm cho Môi-se và Ê-li-a sống lại, những người cũng là Ra-chên, người lữ hành tốt lành, người đã khóc lóc than khóc cho con cái mình, không thể được an ủi. Nỗi than khóc của bà trở thành niềm vui khi những đứa con ấy được sống lại.

And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. Revelation 22:10.

Và Ngài phán với tôi: Đừng niêm phong lời tiên tri của quyển sách này, vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 22:10.

Moses and Elijah were dead in the streets of Sodom and Egypt, and just as with Christ, the one hundred and forty-four thousand would be called out of Egypt, when the gathering began in July of 2023.

Môi-se và Ê-li đã chết trên các đường phố của Sô-đôm và Ai Cập, và cũng như với Đấng Christ, một trăm bốn mươi bốn nghìn người sẽ được gọi ra khỏi Ai Cập, khi sự quy tụ bắt đầu vào tháng 7 năm 2023.

The Sixth Messianic Waymark is the calling out of Egypt in July of 2023

Cột mốc Thiên Sai thứ sáu là việc kêu gọi ra khỏi Ai Cập vào tháng 7 năm 2023

And was there until the death of Herod: that it might be fulfilled which was spoken of the Lord by the prophet, saying, Out of Egypt have I called my son. Matthew 2:15.

Và Ngài ở đó cho đến khi vua Hê-rốt băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa đã phán qua đấng tiên tri: “Ta đã gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập.” Ma-thi-ơ 2:15.

Prediction

Dự đoán

When Israel was a child, then I loved him, and called my son out of Egypt. Hosea 11:1.

Khi Israel còn thơ ấu, ta đã yêu thương nó và gọi con ta ra khỏi Ai Cập. Ô-sê 11:1.

Dead in the Egyptian street, a heavenly voice from the wilderness calls Ezekiel’s valley of dead bones to life. That voice began to sound in July of 2023.

Giữa cảnh chết chóc trên đường phố Ai Cập, một tiếng nói thiên thượng từ hoang mạc gọi thung lũng những bộ xương người chết của Ê-xê-chi-ên sống lại. Tiếng nói ấy bắt đầu vang lên vào tháng 7 năm 2023.

And after three days and an half the Spirit of life from God entered into them, and they stood upon their feet; and great fear fell upon them which saw them. And they heard a great voice from heaven saying unto them, Come up hither. And they ascended up to heaven in a cloud; and their enemies beheld them. Revelation 11:11, 12.

Sau ba ngày rưỡi, Thần khí của sự sống từ Thiên Chúa nhập vào họ, và họ đứng dậy; nỗi sợ hãi lớn bao trùm những ai thấy họ. Họ nghe một tiếng lớn từ trời phán với họ: Hãy lên đây. Và họ lên trời trong một đám mây; các kẻ thù của họ nhìn thấy họ. Khải Huyền 11:11-12.

God calls His Son out of Egypt and He also called Moses out of Egypt, for Moses as the alpha and Jesus as the omega represent the experience of the one-hundred and forty-four thousand, who sing the song of Moses and the Lamb. That song includes the call out of Egypt. In Ezekiel there is represented two steps, that were prefigured by the two steps in the creation of Adam. First the body is formed, and then the breath of life is breathed into the body and it then lives. In Revelation eleven the first step is the entrance of the Spirit of God into the slain, and they then stood upon their feet. When they stand, they are God’s army. What conveys the Spirit in chapter eleven is represented by Ezekiel’s first prophecy. The voice in the wilderness is the prophetic message accompanied by the Holy Spirit.

Đức Chúa Trời gọi Con Ngài ra khỏi Ai Cập, và Ngài cũng đã gọi Môi-se ra khỏi Ai Cập, vì Môi-se như Anpha và Chúa Giê-xu như Ômêga đại diện cho kinh nghiệm của một trăm bốn mươi bốn ngàn người, là những người hát bài ca của Môi-se và Chiên Con. Bài ca ấy bao gồm lời kêu gọi ra khỏi Ai Cập. Trong sách Ê-xê-chi-ên có trình bày hai bước, đã được tiên trưng bởi hai bước trong sự dựng nên A-đam. Trước hết, thân thể được nắn nên; rồi hơi thở sự sống được thổi vào thân thể, và nó sống. Trong Khải Huyền mười một, bước thứ nhất là Thần của Đức Chúa Trời đi vào những kẻ bị giết, rồi họ đứng lên trên chân mình. Khi họ đứng lên, họ là đạo binh của Đức Chúa Trời. Điều mang Thần trong chương mười một được tiêu biểu bởi lời tiên tri thứ nhất của Ê-xê-chi-ên. Tiếng kêu trong đồng vắng là sứ điệp tiên tri đi kèm với Đức Thánh Linh.

The book of Matthew contains the twelve chapters that are the omega to the twelve chapters in Genesis that provide two witnesses which represent the covenant with the one hundred and forty-four thousand. Those men and women are sealed for eternity in a relationship of Divinity combined with their humanity. They become the sign for the eleventh-hour workers.

Sách Ma-thi-ơ có mười hai chương tương ứng như phần omega đối với mười hai chương trong Sáng Thế Ký, những chương đưa ra hai chứng nhân đại diện cho giao ước với một trăm bốn mươi bốn nghìn. Những người nam và nữ ấy được đóng ấn cho đời đời trong mối tương giao thần linh kết hợp với nhân tính của họ. Họ trở thành dấu hiệu cho những người làm công giờ thứ mười một.

“The work of the Holy Spirit is to convince the world of sin, of righteousness and of judgment. The world can only be warned by seeing those who believe the truth sanctified through the truth, acting upon high and holy principles, showing in a high, elevated sense, the line of demarcation between those who keep the commandments of God, and those who trample them under their feet. The sanctification of the Spirit signalizes the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day. When the test comes, it will be clearly shown what the mark of the beast is. It is the keeping of Sunday. Those who after having heard the truth, continue to regard this day as holy, bear the signature of the man of sin, who thought to change times and laws.” Bible Training School, December 1, 1903.

"Công việc của Đức Thánh Linh là cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Thế gian chỉ có thể được cảnh cáo khi thấy những người tin lẽ thật được thánh hóa bởi lẽ thật, hành động theo những nguyên tắc cao cả và thánh khiết, bày tỏ một cách cao cả và rõ ràng ranh giới phân định giữa những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ giày đạp chúng dưới chân. Sự thánh hóa của Đức Thánh Linh đánh dấu sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những kẻ giữ một ngày nghỉ giả mạo. Khi sự thử thách đến, dấu của con thú là gì sẽ được bày tỏ rõ ràng. Ấy là việc giữ ngày Chủ nhật. Những ai, sau khi đã nghe lẽ thật, vẫn tiếp tục xem ngày ấy là thánh, mang lấy dấu ấn của con người tội ác, kẻ đã toan đổi thay các thời kỳ và luật pháp." Bible Training School, ngày 1 tháng 12, 1903.

The ensign of the one hundred and forty-four thousand when they are called up to heaven in chapter eleven of Revelation, they are first called out of Egypt, which is where they were slain. A voice from the wilderness calls them out of Egypt, that they would be the sign for the eleventh-hour workers. Their resurrection in 2024 is also represented as a birth, and an awakening depending on which illustration is being identified. In terms of a birth, they are those who fulfill the parable of the ten virgins, and in this sense, their birth is a virgin birth, and they are the sign.

Kỳ hiệu của một trăm bốn mươi bốn nghìn, khi họ được gọi lên trời trong chương mười một của sách Khải Huyền, là việc họ trước hết được gọi ra khỏi Ai Cập, nơi họ đã bị giết. Một tiếng từ đồng vắng gọi họ ra khỏi Ai Cập, để họ trở thành dấu hiệu cho những người thợ giờ thứ mười một. Sự phục sinh của họ vào năm 2024 cũng được mô tả như một sự sinh ra, và như một sự thức tỉnh, tùy theo minh họa đang được nhắc đến. Xét về phương diện sinh nở, họ là những người ứng nghiệm dụ ngôn mười trinh nữ; theo nghĩa này, sự sinh ra của họ là một sự sinh ra đồng trinh, và họ là dấu hiệu.

The Seventh Messianic Waymark is 2024

Dấu mốc Thiên sai thứ bảy là năm 2024

Now all this was done, that it might be fulfilled which was spoken of the Lord by the prophet, saying, Behold, a virgin shall be with child, and shall bring forth a son, and they shall call his name Emmanuel, which being interpreted is, God with us. Matthew 1:22, 23.

Tất cả những điều này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Chúa đã phán qua vị tiên tri rằng: Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sinh một con trai, và người ta sẽ gọi tên con là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ma-thi-ơ 1:22, 23.

Prediction

Dự đoán

Therefore the Lord himself shall give you a sign; Behold, a virgin shall conceive, and bear a son, and shall call his name Immanuel. Isaiah 7:14.

Vì vậy, chính Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh một con trai, và đặt tên con là Em-ma-nu-ên. Ê-sai 7:14.

There were signs in the history of Moses and Christ, as there were in Millerite history. In the last days, Laodicean Adventism will be seeking after a sign, and their only sign, is the sign of Jonah. There is also a sign for those who are resurrected in 2024. Their sign is the “seven times” of Leviticus twenty-six.

Đã có những dấu lạ trong lịch sử của Môsê và Đấng Christ, cũng như trong lịch sử của phong trào Miller. Trong những ngày cuối cùng, Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê sẽ đi tìm một dấu lạ, và dấu lạ duy nhất của họ là dấu lạ của Giô-na. Cũng có một dấu lạ dành cho những người được sống lại vào năm 2024. Dấu lạ của họ là "bảy lần" trong Lê-vi Ký hai mươi sáu.

And this shall be a sign unto thee, Ye shall eat this year such things as grow of themselves, and in the second year that which springeth of the same; and in the third year sow ye, and reap, and plant vineyards, and eat the fruits thereof. And the remnant that is escaped of the house of Judah shall yet again take root downward, and bear fruit upward. For out of Jerusalem shall go forth a remnant, and they that escape out of mount Zion: the zeal of the Lord of hosts shall do this. 2 Kings 19:29–31.

Và điều này sẽ là một dấu cho ngươi: Năm nay các ngươi sẽ ăn những sản vật tự mọc lên, năm thứ hai ăn những gì mọc lại từ đó; còn năm thứ ba hãy gieo, gặt, trồng các vườn nho và ăn trái của chúng. Và phần sót lại thoát khỏi của nhà Giu-đa sẽ lại đâm rễ xuống và kết quả lên trên. Vì từ Giê-ru-sa-lem sẽ ra một phần sót lại, và những kẻ thoát khỏi từ núi Si-ôn; lòng nhiệt thành của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm điều ấy. 2 Các Vua 19:29-31.

And if ye shall say, What shall we eat the seventh year? behold, we shall not sow, nor gather in our increase: Then I will command my blessing upon you in the sixth year, and it shall bring forth fruit for three years. And ye shall sow the eighth year, and eat yet of old fruit until the ninth year; until her fruits come in ye shall eat of the old store. Leviticus 25:20–22.

Và nếu các ngươi nói: Chúng ta sẽ ăn gì trong năm thứ bảy? Kìa, chúng ta sẽ không gieo, cũng không thu hoạch hoa lợi của mình. Bấy giờ Ta sẽ truyền cho phước lành của Ta đến trên các ngươi trong năm thứ sáu, và đất sẽ sinh hoa lợi đủ cho ba năm. Sang năm thứ tám các ngươi sẽ gieo, và vẫn còn ăn hoa lợi cũ cho đến năm thứ chín; cho đến khi hoa lợi của đất thu vào, các ngươi sẽ ăn lương thực dự trữ cũ. Lê-vi Ký 25:20-22.

Those who escape, are also represented as the outcasts of Israel, and they were cast out by their brethren which hated them. Their brethren cast them out, for they hated them because they could not refute the sabbath truth represented by Moses’ “seven times.”

Những người thoát nạn cũng được xem là những kẻ bị ruồng bỏ trong dân Israel, và họ đã bị những người anh em vốn ghét họ đuổi ra. Những người anh em ấy đã đuổi họ, vì họ ghét họ do không thể bác bỏ lẽ thật về ngày Sa-bát được biểu trưng bởi “bảy lần” của Môi-se.

The Lord doth build up Jerusalem: he gathereth together the outcasts of Israel. Psalms 147:2.

Đức Giê-hô-va xây dựng Giê-ru-sa-lem; Ngài nhóm họp những người bị tản lạc của Y-sơ-ra-ên. Thi thiên 147:2.

The Lord began gathering the remnant in July 2023, and the remnant are the “outcasts” of Israel. In July 2023, He set His hand a second time to gather His outcasts. He set His hand in 1849 a second time, in advance of the omega light of Moses seven times in 1856. The alpha light was represented by Miller’s first prophetic discovery—Moses’ seven times.

Chúa bắt đầu quy tụ dân sót lại vào tháng 7 năm 2023, và dân sót lại chính là những "kẻ bị xua đuổi" của Israel. Vào tháng 7 năm 2023, Ngài lại đưa tay lần thứ hai để quy tụ những kẻ bị xua đuổi của Ngài. Ngài đã đưa tay lần thứ hai vào năm 1849, đi trước ánh sáng Ômêga về "bảy lần" của Môi-se vào năm 1856. Ánh sáng Anpha được biểu trưng bởi khám phá tiên tri đầu tiên của Miller—"bảy lần" của Môi-se.

And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious. And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea. And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. Isaiah 11:10–12.

Trong ngày ấy sẽ có một rễ của Gie-sê đứng làm tiêu kỳ cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm kiếm Ngài, và sự yên nghỉ của Ngài sẽ vinh hiển. Trong ngày ấy sẽ xảy ra rằng Chúa sẽ lại giơ tay lần thứ hai để thu hồi phần dân sót của Ngài, những người còn lại, từ A-si-ri, từ Ai Cập, từ Pa-thrốt, từ Cút, từ Ê-lam, từ Si-nê-a, từ Ha-mát, và từ các đảo ngoài biển. Ngài sẽ dựng một tiêu kỳ cho các dân tộc, nhóm họp những kẻ bị xua đuổi của Y-sơ-ra-ên, và thâu lại những kẻ tản lạc của Giu-đa từ bốn phương trên đất. Ê-sai 11:10-12.

When the outcasts are lifted up as the sign, they will then gather the eleventh-hour workers, who can “only be warned by seeing” “the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day.” The sign for the eleventh-hour workers is the outcasts, and the sign OF the outcasts, is the enigma of, eating “this year such things as grow of themselves, and in the second year that which springeth of the same; and in the third year sow ye, and reap, and plant vineyards, and eat the fruits thereof.”

Khi những người bị ruồng bỏ được giương lên làm dấu hiệu, họ sẽ quy tụ những người làm công giờ thứ mười một, là những người "chỉ có thể được cảnh báo bằng cách nhìn thấy" "sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những người giữ một ngày nghỉ giả mạo." Dấu hiệu dành cho những người làm công giờ thứ mười một chính là những người bị ruồng bỏ, và dấu hiệu của những người bị ruồng bỏ là điều bí ẩn về việc ăn "năm nay những thứ tự mọc lên, và năm thứ hai những gì mọc ra từ đó; và năm thứ ba, hãy gieo, gặt, trồng vườn nho, và ăn trái của chúng."

The enigma of the passage is that it represents the “seven times” of Leviticus twenty-five and twenty-six. The Sabbath of the land resting is a component of the covenant that identifies both the blessing or the curse, of either observing or rejecting the seventh-year rest for the promised land. The sign of the one hundred and forty-four thousand is the component of the threefold promise of the covenant that is represented by the seventh-year Sabbath of the land. The foundational truth of the “seven times,” identifies one of three elements of the covenant that promises a new heart and mind, and a new body and also a land to live in.

Điều bí ẩn của đoạn này là nó tượng trưng cho “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi lăm và hai mươi sáu. Kỳ Sa-bát để đất nghỉ ngơi là một thành phần của giao ước, xác định cả phước lành lẫn sự rủa sả, tùy thuộc vào việc tuân giữ hay khước từ kỳ nghỉ năm thứ bảy dành cho Đất Hứa. Dấu của một trăm bốn mươi bốn ngàn là thành phần của lời hứa ba phần trong giao ước, được biểu trưng bởi kỳ Sa-bát năm thứ bảy của đất. Lẽ thật nền tảng về “bảy lần” xác định một trong ba yếu tố của giao ước, vốn hứa ban một tấm lòng và tâm trí mới, một thân thể mới, và cả một vùng đất để cư ngụ.

The seventh-day Sabbath is the sign between God and His people, but that seventh-day Sabbath also represents the covenant responsibility given to ancient Israel. They were to be the protectors, the depositaries of the Ten Commandments. Sister White is clear that modern Israel in 1844 in alignment with ancient Israel was made the depositaries of not only the Ten Commandments, but also of God’s prophetic Word.

Ngày Sa-bát thứ bảy là dấu hiệu giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, nhưng ngày Sa-bát thứ bảy ấy cũng tượng trưng cho trách nhiệm giao ước đã được trao cho Y-sơ-ra-ên thời xưa. Họ phải là những người bảo vệ, những người lưu giữ Mười Điều Răn. Bà White nói rõ rằng Y-sơ-ra-ên hiện đại vào năm 1844, phù hợp với Y-sơ-ra-ên thời xưa, đã được lập làm những người lưu giữ không chỉ Mười Điều Răn mà còn cả Lời tiên tri của Đức Chúa Trời.

“God has called His church in this day, as He called ancient Israel, to stand as a light in the earth. By the mighty cleaver of truth, the messages of the first, second, and third angels, He has separated them from the churches and from the world to bring them into a sacred nearness to Himself. He has made them the depositaries of His law and has committed to them the great truths of prophecy for this time. Like the holy oracles committed to ancient Israel, these are a sacred trust to be communicated to the world. The three angels of Revelation 14 represent the people who accept the light of God’s messages and go forth as His agents to sound the warning throughout the length and breadth of the earth.” Testimonies, volume 5, 455.

Đức Chúa Trời đã kêu gọi Hội Thánh của Ngài trong thời nay, như Ngài đã kêu gọi Y-sơ-ra-ên xưa, để đứng làm ánh sáng trên đất. Bằng chiếc dao phay quyền năng của lẽ thật, tức là các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, Ngài đã tách họ khỏi các giáo hội và khỏi thế gian để đưa họ vào sự gần gũi thánh khiết với chính Ngài. Ngài đã khiến họ trở thành những người giữ luật pháp của Ngài và đã giao phó cho họ những lẽ thật vĩ đại của lời tiên tri cho thời kỳ này. Cũng như những thánh ngôn đã được giao phó cho Y-sơ-ra-ên xưa, những điều ấy là một sự ủy thác thánh để được truyền đạt cho thế gian. Ba thiên sứ trong Khải Huyền 14 đại diện cho những người chấp nhận ánh sáng của các sứ điệp của Đức Chúa Trời và ra đi như các đại diện của Ngài để cất tiếng cảnh báo khắp bờ cõi trái đất. Lời Chứng, tập 5, 455.

The Ten Commandments are represented by the sign of the seventh-day Sabbath, and the laws of prophecy are represented by the seventh-year Sabbath. Laodicean Seventh-day Adventism will be greatly embarrassed when they jump ship and begin worshipping the sun, but the Sabbath commandment they first rejected is Moses’ “seven times.”

Mười Điều Răn được biểu thị bởi dấu hiệu của Sa-bát ngày thứ bảy, và các luật của lời tiên tri được biểu thị bởi Sa-bát của năm thứ bảy. Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy theo kiểu Laodicê sẽ vô cùng bối rối khi họ bỏ hàng ngũ và bắt đầu thờ phượng mặt trời, nhưng điều răn về ngày Sa-bát mà họ đã chối bỏ trước tiên chính là “bảy lần” của Môi-se.

To win the promised land God’s people must understand and uphold not only the seventh-day Sabbath, but also the seven-year Sabbath. Laodicean Adventism cannot refute this biblical truth, though they cover it with lies. This is the root of their hatred that leads them to cast out those who will be the ensign.

Để được vào đất hứa, dân của Đức Chúa Trời phải hiểu và giữ không chỉ ngày Sa-bát thứ bảy, mà còn cả Sa-bát của năm thứ bảy. Chủ nghĩa Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê không thể bác bỏ lẽ thật Kinh Thánh này, dù họ che đậy nó bằng những lời dối trá. Đây là cội rễ của lòng thù ghét khiến họ khai trừ những người sẽ là kỳ hiệu.

“Most of my father’s family were full believers in the advent, and for bearing testimony to this glorious doctrine seven of us were at one time cast out of the Methodist Church. At this time the words of the prophet were exceedingly precious to us: ‘Your brethren that hated you, that cast you out for My name’s sake, said, Let the Lord be glorified: but He shall appear to your joy, and they shall be ashamed.’ Isaiah 66:5.

Phần lớn gia đình của cha tôi đều là những người tin trọn vẹn vào sự tái lâm, và vì làm chứng cho lẽ đạo vinh hiển này, có lần bảy người trong chúng tôi bị khai trừ khỏi Giáo hội Giám Lý. Vào lúc đó, những lời của nhà tiên tri trở nên vô cùng quý báu đối với chúng tôi: 'Những anh em ghét các ngươi, đuổi các ngươi vì cớ danh Ta, đã nói rằng: Nguyện Chúa được vinh hiển; nhưng Ngài sẽ hiện ra khiến các ngươi vui mừng, còn họ sẽ bị hổ thẹn.' Ê-sai 66:5.

“From this time, up to December, 1844, my joys, trials, and disappointments were like those of my dear Advent friends around me. At this time I visited one of our Advent sisters, and in the morning we bowed around the family altar. It was not an exciting occasion, and there were but five of us present, all women. While I was praying, the power of God came upon me as I had never felt it before. I was wrapped in a vision of God’s glory, and seemed to be rising higher and higher from the earth, and was shown something of the travels of the Advent people to the Holy City, as narrated below.” Early Writings, 13.

“Từ lúc ấy cho đến tháng Mười Hai năm 1844, niềm vui, những thử thách và nỗi thất vọng của tôi cũng giống như của những người bạn Phúc Lâm thân yêu quanh tôi. Vào thời điểm này tôi đến thăm một chị em Phúc Lâm của chúng tôi, và buổi sáng chúng tôi quỳ quanh bàn thờ gia đình. Đó không phải là một dịp sôi nổi, và chỉ có năm người chúng tôi hiện diện, tất cả đều là phụ nữ. Khi tôi cầu nguyện, quyền năng của Đức Chúa Trời giáng trên tôi theo cách mà trước đây tôi chưa từng cảm nhận. Tôi được cuốn vào một khải tượng về vinh hiển của Đức Chúa Trời, và dường như được cất lên mỗi lúc một cao khỏi đất, và được cho thấy phần nào cuộc hành trình của dân Phúc Lâm đến Thành Thánh, như được thuật lại bên dưới.” Những Bài Viết Đầu Tiên, 13.

Ellen White’s first vision, was given when five women, (representing five wise virgins) were gathered together after being cast out by their brethren that hated them. They hated them for the doctrine of the Second Coming, thus typifying the outcasts of the latter days.

Thị kiến đầu tiên của Ellen White được ban cho khi năm người phụ nữ (tượng trưng cho năm trinh nữ khôn ngoan) tụ họp lại sau khi bị những người anh em vốn ghét họ đuổi ra. Họ bị ghét vì giáo lý về Sự Tái Lâm, qua đó tiêu biểu cho những người bị loại trừ trong thời kỳ sau rốt.

“I saw the nominal church and nominal Adventists, like Judas, would betray us to the Catholics to obtain their influence to come against the truth. The saints then will be an obscure people, little known to the Catholics; but the churches and nominal Adventists who know of our faith and customs (for they hated us on account of the Sabbath, for they could not refute it) will betray the saints and report them to the Catholics as those who disregard the institutions of the people; that is, that they keep the Sabbath and disregard Sunday.

Tôi thấy giáo hội danh nghĩa và những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa, giống như Giu-đa, sẽ phản bội chúng tôi, nộp chúng tôi cho người Công giáo để lợi dụng ảnh hưởng của họ mà chống lại lẽ thật. Bấy giờ các thánh sẽ là một dân sự vô danh, ít được người Công giáo biết đến; nhưng các giáo hội và những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa, là những người biết về đức tin và tập tục của chúng ta (vì họ ghét chúng ta vì ngày Sa-bát, bởi họ không thể bác bỏ nó), sẽ phản bội các thánh và tố cáo họ với người Công giáo như những kẻ coi thường các thiết chế của dân chúng; tức là họ giữ ngày Sa-bát và không giữ ngày Chủ nhật.

“Then the Catholics bid the Protestants to go forward, and issue a decree that all who will not observe the first day of the week, instead of the seventh day, shall be slain. And the Catholics, whose numbers are large, will stand by the Protestants. The Catholics will give their power to the image of the beast. And the Protestants will work as their mother worked before them to destroy the saints. But before their decree bring or bear fruit, the saints will be delivered by the Voice of God.” Spalding and Magan, 1, 2.

Rồi những người Công giáo bảo những người Tin Lành tiến lên và ban hành một sắc lệnh rằng tất cả ai không giữ ngày thứ nhất trong tuần thay vì ngày thứ bảy sẽ bị giết. Và những người Công giáo, vốn đông đảo, sẽ đứng về phía những người Tin Lành. Những người Công giáo sẽ trao quyền lực của họ cho ảnh tượng của con thú. Và những người Tin Lành sẽ hành động như mẹ họ đã từng làm trước họ để tiêu diệt các thánh đồ. Nhưng trước khi sắc lệnh của họ có hiệu quả, các thánh đồ sẽ được giải cứu bởi Tiếng Phán của Đức Chúa Trời. Spalding và Magan, 1, 2.

The “nominal” (meaning in name only), “Adventists, like Judas, would betray us to the Catholics.” They did so because “they hated” the outcasts “on account of the Sabbath.” Nominal Adventists profess to observe the seventh-day Sabbath, so this cannot be the Sabbath that is referenced. They hate the outcasts, for they know that they cannot refute the foundational truth of Moses’ seven times, that was the alpha understanding of Elijah in the person of William Miller.

Những người Phục Lâm “chỉ trên danh nghĩa” (nghĩa là chỉ mang tên), giống như Giu-đa, sẽ phản bội chúng tôi nộp cho người Công giáo. Họ đã làm như vậy vì “họ ghét” những kẻ bị ruồng bỏ “vì cớ ngày Sa-bát.” Những người Phục Lâm chỉ trên danh nghĩa tuyên bố giữ ngày Sa-bát ngày thứ bảy, nên “ngày Sa-bát” được nhắc đến ở đây không thể là điều đó. Họ ghét những kẻ bị ruồng bỏ, vì họ biết rằng họ không thể bác bỏ lẽ thật nền tảng về “bảy lần” của Môi-se, vốn là sự hiểu biết “alpha” của Ê-li nơi con người William Miller.

“God is not giving us a new message. We are to proclaim the message that in 1843 and 1844 brought us out of the other churches.” Review and Herald, January 19, 1905.

"Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta một sứ điệp mới. Chúng ta phải rao giảng sứ điệp đã đưa chúng ta ra khỏi các giáo hội khác vào những năm 1843 và 1844." Review and Herald, ngày 19 tháng 1 năm 1905.

“All the messages given from 1840–1844 are to be made forcible now, for there are many people who have lost their bearings. The messages are to go to all the churches.” Manuscript Releases, volume 21, 437.

“Tất cả các sứ điệp đã được ban từ năm 1840–1844 phải được trình bày một cách mạnh mẽ ngay bây giờ, vì có nhiều người đã mất phương hướng. Những sứ điệp ấy phải được gửi đến tất cả các hội thánh.” Manuscript Releases, tập 21, 437.

“The truths that we received in 1841, ‘42, ‘43, and ‘44 are now to be studied and proclaimed.” Manuscript Releases, volume 15, 371.

"Những lẽ thật mà chúng ta đã nhận được vào năm 1841, '42, '43 và '44 hiện nay cần được nghiên cứu và rao giảng." Manuscript Releases, tập 15, 371.

“The warning has come: Nothing is to be allowed to come in that will disturb the foundation of the faith upon which we have been building ever since the message came in 1842, 1843, and 1844. I was in this message, and ever since I have been standing before the world, true to the light that God has given us. We do not propose to take our feet off the platform on which they were placed as day by day we sought the Lord with earnest prayer, seeking for light. Do you think that I could give up the light that God has given me? It is to be as the Rock of Ages. It has been guiding me ever since it was given.” Review and Herald, April 14, 1903.

“Lời cảnh báo đã đến: Không được cho phép bất cứ điều gì chen vào làm lung lay nền tảng của đức tin mà trên đó chúng ta đã xây dựng kể từ khi sứ điệp đến vào các năm 1842, 1843 và 1844. Tôi đã ở trong sứ điệp này, và kể từ đó đến nay tôi đã đứng trước thế gian, trung thành với ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Chúng tôi không chủ trương rời khỏi nền tảng mà chúng tôi đã đứng, nền tảng được hình thành khi ngày qua ngày chúng tôi tìm kiếm Chúa bằng những lời cầu nguyện tha thiết, khẩn cầu ánh sáng. Bạn có nghĩ rằng tôi có thể từ bỏ ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi không? Ánh sáng ấy phải vững như Vầng Đá Muôn Đời. Từ khi được ban, nó đã dẫn dắt tôi.” Review and Herald, ngày 14 tháng 4, năm 1903.

Judas is not a symbol of the Sanhedrin made up of Sadducees and Pharisees, Judas was one of the twelve disciples. He was one of the covenant bride, which Christ was about to marry at Pentecost. The betrayal against the outcasts comes from Judas, the Laodicean Seventh-day Adventist church. They are represented with many symbols, such as the Levites who are rejected by the Messenger of the Covenant in Malachi three. The Levites are separated at that purging, and their number is 25, whether faithful or unfaithful. The Levites are purged in advance of being lifted up as an offering, as in former years.

Giu-đa không phải là biểu tượng của Thượng Hội đồng gồm các Sa-đu-sê và Pha-ri-si; Giu-đa là một trong mười hai sứ đồ. Ông thuộc về cô dâu giao ước, mà Đấng Christ sắp cưới vào Lễ Ngũ Tuần. Sự phản bội chống lại những kẻ bị ruồng bỏ xuất phát từ Giu-đa, tức Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê. Họ được biểu trưng bằng nhiều hình ảnh, như những người Lê-vi bị Sứ Giả của Giao Ước từ chối trong Ma-la-chi chương ba. Những người Lê-vi được tách biệt trong cuộc thanh lọc ấy, và con số của họ là 25, dù trung tín hay bất trung. Những người Lê-vi được thanh luyện trước khi được dâng lên như một của lễ, như thuở xưa.

And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:3, 4.

Ngài sẽ ngồi như một người tinh luyện và thanh tẩy bạc; Ngài sẽ thanh tẩy các con trai của Lê-vi, và tinh luyện họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Chúa một lễ vật trong sự công chính. Bấy giờ lễ vật của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Chúa, như trong những ngày xưa, và như trong những năm trước. Ma-la-chi 3:3, 4.

The Levites are the offering, for they perfectly reflect the character of Christ, who is the great offering. When those twenty-five Levites are lifted up as an offering, the twenty-five counterfeit Levites are bowing to the sun in Ezekiel 8.

Những người Lê-vi là của lễ, vì họ phản chiếu trọn vẹn bản tính của Đấng Christ, Đấng là của lễ vĩ đại. Khi hai mươi lăm người Lê-vi ấy được dâng lên như một của lễ, thì hai mươi lăm người Lê-vi giả mạo lại thờ lạy mặt trời trong Ê-xê-chi-ên đoạn 8.

Judas does not only represent a wicked Levite, but he is also a wicked priest that has been prepared for thirty years, as represented by Judas’ thirty pieces of silver.

Giu-đa không chỉ tượng trưng cho một người Lê-vi gian ác, mà ông còn là một thầy tế lễ gian ác đã được chuẩn bị suốt ba mươi năm, điều này được tượng trưng bởi ba mươi miếng bạc của Giu-đa.

Then Judas, which had betrayed him, when he saw that he was condemned, repented himself, and brought again the thirty pieces of silver to the chief priests and elders, Saying, I have sinned in that I have betrayed the innocent blood. And they said, What is that to us? see thou to that. And he cast down the pieces of silver in the temple, and departed, and went and hanged himself. Matthew 27:3–5.

Bấy giờ Giu-đa, kẻ đã phản nộp Ngài, khi thấy Ngài bị kết án thì ăn năn, đem trả lại ba mươi đồng bạc cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, nói: Tôi đã phạm tội vì đã nộp huyết vô tội. Họ nói: Điều đó can gì đến chúng ta? Ngươi tự lo lấy. Anh ta liền ném những đồng bạc ấy trong đền thờ, rồi đi ra và tự treo cổ. Ma-thi-ơ 27:3-5.

The thirty pieces of silver that Judas cast out, represents the Messenger of the Covenant casting out (purging) the dross (counterfeit silver) in Malachi three. That wicked priesthood was represented by the rebellion of Korah, Dathan and Abiram and the rebels of 1888. The wicked priesthood is swallowed up when the United States, the earth-beast opens up its mouth. Then fire destroys their followers, during the full outpouring of the latter rain, that begins at the Sunday law.

Ba mươi đồng bạc mà Giu-đa ném ra tượng trưng cho Sứ giả của Giao ước loại bỏ (thanh tẩy) cặn bã (bạc giả) trong Ma-la-chi đoạn ba. Chức tư tế gian ác ấy được biểu trưng bởi cuộc nổi loạn của Korah, Dathan và Abiram và những kẻ phản loạn năm 1888. Chức tư tế gian ác bị nuốt chửng khi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, con thú từ đất, há miệng. Bấy giờ lửa tiêu diệt những người theo họ, trong sự tuôn đổ trọn vẹn của mưa cuối mùa, bắt đầu từ luật ngày Chủ nhật.

The virgin birth as a sign in Christ’s day, represents the sign of the wise virgins in the latter days. In that period the Sanhedrin, the Laodicean Seventh-day Adventist church will seek for a sign, but will be unable to see the only sign given to Laodicea. The sign for the great multitude, the eleventh-hour workers is seeing men and women keeping the seventh-day Sabbath during the Sunday law testing period. The sign of the remnant in their controversy with the former covenant people is the seventh-year Sabbath, representing the foundations of Adventism as identified as the central pillar of both of Habakkuk’s sacred tables. The sign given to Laodicean Adventism is the sign of Jonah, which is addressed in the dialogue between Christ and Peter.

Sự giáng sinh đồng trinh, như một dấu chỉ trong thời của Đấng Christ, tượng trưng cho dấu chỉ của các trinh nữ khôn ngoan trong những ngày sau rốt. Trong giai đoạn ấy, Thượng Hội đồng Do Thái (Sanhedrin), tức Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy ở tình trạng Lao-đi-xê, sẽ tìm kiếm một dấu lạ, nhưng sẽ không thể thấy dấu lạ duy nhất được ban cho Lao-đi-xê. Dấu chỉ dành cho đại đoàn người, những người thợ giờ thứ mười một, là thấy nam và nữ giữ ngày Sa-bát ngày thứ bảy trong thời kỳ thử thách của luật ngày Chủ nhật. Dấu chỉ của dân sót trong cuộc tranh luận với dân giao ước trước đây là năm Sa-bát (năm thứ bảy), tượng trưng cho các nền tảng của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, được xác định là trụ cột trung tâm của cả hai bảng thánh của Ha-ba-cúc. Dấu chỉ được ban cho Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê là dấu chỉ của Giô-na, điều được đề cập trong cuộc đối thoại giữa Đấng Christ và Phi-e-rơ.

When Jesus came into the coasts of Caesarea Philippi, he asked his disciples, saying, Whom do men say that I the Son of man am? And they said, Some say that thou art John the Baptist: some, Elias; and others, Jeremias, or one of the prophets. He saith unto them, But whom say ye that I am?

Khi Chúa Giê-su đến vùng phụ cận Xê-xa-rê Phi-líp, Ngài hỏi các môn đồ rằng: Người ta nói rằng Ta, Con Người, là ai? Họ thưa: Có người nói Thầy là Giăng Báp-tít; có người nói là Ê-li; kẻ khác nói là Giê-rê-mi, hoặc một trong các đấng tiên tri. Ngài phán với họ: Còn các con thì nói Ta là ai?

And Simon Peter answered and said, Thou art the Christ, the Son of the living God. And Jesus answered and said unto him, Blessed art thou, Simon Barjona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven. And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven.

Si-môn Phi-e-rơ đáp rằng: “Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” Đức Chúa Giê-su đáp cùng người: “Phước cho con, Si-môn, con của Giô-na, vì điều ấy không phải do xác thịt và huyết bày tỏ cho con, nhưng là Cha Ta ở trên trời. Ta lại nói với con: Con là Phi-e-rơ, và trên vầng đá này Ta sẽ xây dựng Hội Thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi nó. Ta sẽ trao cho con các chìa khóa của Nước Trời; điều gì con buộc ở dưới đất sẽ được buộc ở trên trời; điều gì con tháo cởi ở dưới đất sẽ được tháo cởi ở trên trời.”

Then charged he his disciples that they should tell no man that he was Jesus the Christ. Matthew 16:13–20.

Bấy giờ, Người nghiêm dặn các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Giê-su, Đấng Kitô. Mát-thêu 16:13-20.

The sign for the Sanhedrin, and therefore Adventism is the sign of Jonah. Simon Barjona is introduced into the passage as a symbol of a covenant man, for his name is about to be changed. Abram’s name was changed at the covenant. Saul’s named was changed to Paul. Jacob’s name was changed to Israel. Those three witnesses establish that when a biblical character’s name is changed, they represent a covenant man, and therefore typify the last covenant people, who are the one hundred and forty-four thousand. Those three witnesses also establish that a covenant man’s name represents the prophetic symbolism associated with the person whose name is changed. Saul means “selected,” for he was selected to carry the gospel to the Gentiles. His name was changed to Paul, meaning small, for he in his own eyes was the smallest of the apostles, for he had persecuted God’s church. Jacob the supplanter, was changed in both name and experience to an overcomer, as Israel means. Peter’s name was Simon, meaning one who hears; and Barjona, meaning the son of Jonah.

Dấu lạ dành cho Thượng Hội Đồng Do Thái, và do đó cũng dành cho phái Phục Lâm, là dấu lạ của Giô-na. Si-môn Ba-ri-ô-na được đưa vào đoạn Kinh Thánh như một biểu tượng của một người thuộc giao ước, vì tên ông sắp được đổi. Áp-ram được đổi tên khi lập giao ước. Tên của Sau-lơ được đổi thành Phao-lô. Tên của Gia-cốp được đổi thành Israel. Ba chứng cớ ấy khẳng định rằng khi tên của một nhân vật Kinh Thánh được đổi, người đó đại diện cho một người thuộc giao ước, và vì thế là hình bóng của dân giao ước sau rốt, tức một trăm bốn mươi bốn ngàn. Ba chứng cớ ấy cũng khẳng định rằng tên của một người thuộc giao ước biểu thị biểu tượng tiên tri gắn với người được đổi tên. Sau-lơ nghĩa là “được chọn”, vì ông được chọn để mang Tin Lành đến cho dân ngoại. Tên ông được đổi thành Phao-lô, nghĩa là “nhỏ”, vì trong mắt chính mình, ông là nhỏ nhất trong các sứ đồ, bởi ông đã bắt bớ Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Gia-cốp, kẻ chiếm đoạt, đã được biến đổi cả về tên lẫn kinh nghiệm thành một người chiến thắng, như “Israel” có nghĩa. Tên của Phi-e-rơ là Si-môn, nghĩa là “người nghe”; và Ba-ri-ô-na, nghĩa là “con của Giô-na.”

Peter is representing the last generation of Jonah, for he was Jonah’s son. Jonah means “dove,” and Simon is he who heard the message of the dove, and Simon Barjona had heard the message of the anointing of Jesus, when He was baptized and became Jesus Christ, and the Holy Spirit descended in the form of a dove. The message of Jonah was the message of the dove which represented the anointing of Jesus with power at His baptism. The message of Jonah was represented as Jonah being three days in the belly of a whale. Those three days are the three days of Passover to the feast of first fruits, which are typified by Christ’s baptism and by Jonah’s time in the belly of the whale.

Peter đại diện cho thế hệ cuối cùng của Jonah, vì ông là con của Jonah. Jonah có nghĩa là “chim bồ câu,” và Simon là người đã nghe sứ điệp của chim bồ câu, và Simon Barjona đã nghe sứ điệp về sự xức dầu của Jesus, khi Ngài chịu báp-têm và trở thành Jesus Christ, và Đức Thánh Linh giáng xuống dưới hình chim bồ câu. Sứ điệp của Jonah là sứ điệp của chim bồ câu, đại diện cho việc Jesus được xức dầu bằng quyền năng khi Ngài chịu phép báp-têm. Sứ điệp của Jonah được biểu trưng bằng việc Jonah ở ba ngày trong bụng cá voi. Ba ngày ấy là ba ngày từ Lễ Vượt Qua đến Lễ Đầu Mùa, được tiêu biểu bởi phép báp-têm của Đấng Christ và bởi thời gian Jonah ở trong bụng cá voi.

The sign of Jonah is the sign of the anointing of Christ at His baptism, which typifies the descent of the angel of Revelation eighteen on 9/11. 9/11 began a three-step testing process as represented by Jonah’s three days. Those three steps are also illustrated in Millerite history. August 11, 1840 marked the test of the first angel, April 19, 1844 the test of the second angel and October 22, 1844 the third test. Those three steps represent 9/11, July 18, 2020 and the Sunday law.

Dấu lạ của Giô-na là dấu lạ về việc Đấng Christ được xức dầu khi chịu phép báp-têm, điều này tiêu biểu cho sự giáng xuống của thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười tám vào ngày 9/11. 9/11 khởi đầu một tiến trình thử thách gồm ba bước như được biểu trưng bởi ba ngày của Giô-na. Ba bước đó cũng được minh họa trong lịch sử của phong trào Millerite. Ngày 11 tháng 8 năm 1840 đánh dấu kỳ thử nghiệm của thiên sứ thứ nhất, ngày 19 tháng 4 năm 1844 kỳ thử nghiệm của thiên sứ thứ hai, và ngày 22 tháng 10 năm 1844 kỳ thử nghiệm thứ ba. Ba bước đó tượng trưng cho 9/11, ngày 18 tháng 7 năm 2020 và luật ngày Chủ nhật.

At the Sunday law, Jonah is spat out of the mouth of a fish, right where Christ is spitting Laodicea out of His mouth, which is right where Balaam’s ass opens his mouth and speaks, which is right where John the Baptist’s father Zechariah speaks, which is also where the United States speaks as a dragon. Jonah then gives the final warning to the world as the symbol of those who were resurrected with Moses and Elijah in 2024. Those souls died in the streets of Sodom and Egypt, and are thereafter resurrected as Ezekiel’s mighty army. At their resurrection they become the sign of Jonah, for he represents those who have died and are resurrected to give the final message to Nineveh. Jonah in the belly of the whale, Daniel in the lion’s den, John in the pot of boiling oil represent the one hundred and forty-four thousand who have experienced a symbolic death and resurrection. The anointing at 9/11 unto the resurrection of Ezekiel’s mighty army represents the baptism of Christ unto His resurrection.

Vào thời điểm luật ngày Chủ nhật, Giô-na bị mửa ra khỏi miệng một con cá, ngay tại nơi Đấng Christ đang mửa La-ô-đi-xê ra khỏi miệng Ngài, cũng chính là nơi con lừa của Ba-la-am mở miệng và nói, cũng chính là nơi Xa-cha-ri, cha của Giăng Báp-tít, cất tiếng nói, và cũng là nơi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nói như một con rồng. Sau đó, Giô-na đưa ra lời cảnh cáo cuối cùng cho thế giới như một biểu tượng của những người đã được sống lại cùng với Môi-se và Ê-li vào năm 2024. Những linh hồn ấy đã chết trên các đường phố Sô-đôm và Ai Cập, rồi sau đó được sống lại như đạo quân hùng mạnh của Ê-xê-chi-ên. Khi họ sống lại, họ trở nên dấu lạ của Giô-na, vì ông đại diện cho những người đã chết và được sống lại để trao sứ điệp cuối cùng cho Ni-ni-ve. Giô-na trong bụng cá voi, Đa-ni-ên trong hang sư tử, Giăng trong vạc dầu sôi, đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người đã trải qua sự chết và sự sống lại mang tính biểu tượng. Sự xức dầu vào ngày 9/11 dẫn tới sự sống lại của đạo quân hùng mạnh của Ê-xê-chi-ên tượng trưng cho phép báp-têm của Đấng Christ hướng tới sự sống lại của Ngài.

The Pharisees also with the Sadducees came, and tempting desired him that he would shew them a sign from heaven. He answered and said unto them, When it is evening, ye say, It will be fair weather: for the sky is red. And in the morning, It will be foul weather to day: for the sky is red and lowring. O ye hypocrites, ye can discern the face of the sky; but can ye not discern the signs of the times? A wicked and adulterous generation seeketh after a sign; and there shall no sign be given unto it, but the sign of the prophet Jonas. And he left them, and departed. Matthew 16:1–4.

Những người Pha-ri-si cùng với những người Sa-đu-sê cũng đến, và để thử Ngài, họ xin Ngài cho họ thấy một dấu lạ từ trời. Ngài đáp và nói với họ: Khi chiều đến, các ngươi nói: Trời sẽ đẹp, vì trời đỏ. Còn buổi sáng, các ngươi nói: Hôm nay trời sẽ xấu, vì trời đỏ sẫm và âm u. Hỡi những kẻ giả hình, các ngươi biết phân biệt màu sắc của trời, nhưng lại không phân biệt được các dấu hiệu của thì giờ sao? Dòng dõi gian ác và ngoại tình tìm kiếm một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng được ban cho nó một dấu lạ nào, ngoại trừ dấu lạ của nhà tiên tri Giô-na. Rồi Ngài bỏ họ mà đi. Ma-thi-ơ 16:1-4.

The crowning miracle was the resurrection of Lazarus.

Phép lạ đỉnh cao là sự sống lại của Ladarô.

“In delaying to come to Lazarus, Christ had a purpose of mercy toward those who had not received Him. He tarried, that by raising Lazarus from the dead He might give to His stubborn, unbelieving people another evidence that He was indeed ‘the resurrection, and the life.’ He was loath to give up all hope of the people, the poor, wandering sheep of the house of Israel. His heart was breaking because of their impenitence. In His mercy He purposed to give them one more evidence that He was the Restorer, the One who alone could bring life and immortality to light. This was to be an evidence that the priests could not misinterpret. This was the reason of His delay in going to Bethany. This crowning miracle, the raising of Lazarus, was to set the seal of God on His work and on His claim to divinity.” The Desire of Ages, 528, 529.

"Trong việc chậm đến với La-xa-rơ, Đấng Christ có một mục đích của lòng thương xót đối với những người chưa tiếp nhận Ngài. Ngài nấn ná, để bằng việc khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết, Ngài có thể ban cho dân sự cứng lòng, không tin của Ngài một bằng chứng nữa rằng Ngài thật là 'sự sống lại và sự sống.' Ngài không nỡ từ bỏ hết mọi hy vọng về dân ấy, những con chiên nghèo khổ, lạc lối của nhà Y-sơ-ra-ên. Lòng Ngài tan vỡ vì sự không ăn năn của họ. Trong lòng thương xót, Ngài định ban cho họ thêm một bằng chứng nữa rằng Ngài là Đấng Phục Hồi, Đấng duy nhất có thể đem sự sống và sự bất tử ra ánh sáng. Đây sẽ là một bằng chứng mà các thầy tế lễ không thể xuyên tạc. Đó là lý do Ngài chậm đi đến Bê-tha-ni. Phép lạ đỉnh cao này, việc khiến La-xa-rơ sống lại, nhằm đóng ấn của Đức Chúa Trời trên công việc của Ngài và trên lời khẳng định về thần tính của Ngài." Khát vọng của các thời đại, 528, 529.

Christ tarried before He resurrected Lazarus, and Lazarus was not only the “crowning miracle,” he was also the “seal” upon God’s work. In the passage the sign of Jonah is the only sign for the adulterous and wicked generation. It is important to see that the timing of the sealing process is very specific. In the passage we are addressing where Peter’s name is changed, it informs us that from that point onward Jesus began to reveal that He was to be put to death, yet in the last verse Matthew records, “Then charged he his disciples that they should tell no man that he was Jesus the Christ.” Then in the very next verse he records, “From that time forth began Jesus to shew unto his disciples, how that he must go unto Jerusalem, and suffer many things of the elders and chief priests and scribes, and be killed, and be raised again the third day.”

Đấng Christ đã trì hoãn trước khi khiến La-xa-rơ sống lại, và La-xa-rơ không chỉ là “phép lạ đỉnh cao”, ông còn là “ấn chứng” cho công việc của Đức Chúa Trời. Trong đoạn ấy, dấu lạ của Giô-na là dấu lạ duy nhất cho thế hệ tà dâm và gian ác. Điều quan trọng là phải thấy rằng thời điểm của tiến trình ấn chứng rất cụ thể. Đoạn chúng ta đang xét, trong đó tên của Phi-e-rơ được đổi, cho biết rằng từ lúc đó trở đi Chúa Giê-su bắt đầu bày tỏ rằng Ngài sẽ bị giết; thế nhưng ở câu cuối Ma-thi-ơ chép: “Bấy giờ Ngài truyền cho các môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài là Chúa Giê-su, Đấng Christ.” Rồi ngay câu kế tiếp, ông ghi: “Từ lúc ấy, Chúa Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đồ biết rằng Ngài phải đi đến Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều điều bởi các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các kinh sư, bị giết, và đến ngày thứ ba sẽ sống lại.”

The passage begins with Jesus asking who men think He is, and then a follow-up question where He asked the disciples who they thought He was.

Đoạn văn mở đầu với việc Chúa Giêsu hỏi người ta nghĩ Ngài là ai, rồi tiếp theo là một câu hỏi nữa khi Ngài hỏi các môn đệ xem họ nghĩ Ngài là ai.

When Jesus came into the coasts of Caesarea Philippi, he asked his disciples, saying, Whom do men say that I the Son of man am? And they said, Some say that thou art John the Baptist: some, Elias; and others, Jeremias, or one of the prophets. He saith unto them, But whom say ye that I am? Matthew 16:13–15.

Khi Đức Chúa Giê-su đến vùng phụ cận Sê-sa-rê Phi-líp, Ngài hỏi các môn đồ rằng: “Người ta nói Ta, Con Người, là ai?” Họ thưa: “Kẻ thì nói Thầy là Giăng Báp-tít; kẻ thì Ê-li; kẻ khác lại Giê-rê-mi, hoặc một trong các đấng tiên tri.” Ngài phán với họ: “Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?” Ma-thi-ơ 16:13-15.

When Peter answers he identifies that Jesus was the Christ and the son of the living God. The word Christ is the Greek word for the Hebrew word Messiah. Jesus raises the question about who He is, and leads the disciples to the fact that He is the Messiah, but immediately informs them that they should tell no man. From that time, He began to teach that He would fulfill the twenty-three waymarks in the last three chapters of Matthew, but it was of necessity the truths associated with the Christ should be opened up in a step-by-step fashion.

Khi Phi-e-rơ trả lời, ông xác nhận rằng Chúa Giê-su là Đấng Christ và là Con của Đức Chúa Trời hằng sống. Từ “Christ” là từ tiếng Hy Lạp tương ứng với từ “Messiah” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Chúa Giê-su nêu ra câu hỏi Ngài là ai, và dẫn dắt các môn đồ đến sự thật rằng Ngài là Đấng Mê-si, nhưng lập tức bảo họ đừng nói với ai cả. Từ lúc đó, Ngài bắt đầu dạy rằng Ngài sẽ làm trọn hai mươi ba dấu mốc trong ba chương cuối của sách Ma-thi-ơ, nhưng điều cần thiết là những lẽ thật liên quan đến Đấng Christ phải được bày tỏ từng bước.

We will continue these Messianic waymarks in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục những dấu mốc về Đấng Mêsia này trong bài viết tiếp theo.

Alpha light of the third angel

Ánh sáng Alpha của thiên thần thứ ba

“In the autumn of 1846 we began to observe the Bible Sabbath, and to teach and defend it. My attention was first called to the Sabbath while I was on a visit to New Bedford, Massachusetts, earlier in the same year. I there became acquainted with Elder Joseph Bates, who had early embraced the advent faith, and was an active laborer in the cause. Elder B. was keeping the Sabbath, and urged its importance. I did not feel its importance, and thought that Elder B. erred in dwelling upon the fourth commandment more than upon the other nine. But the Lord gave me a view of the heavenly sanctuary. The temple of God was opened in heaven, and I was shown the ark of God covered with the mercy seat. Two angels stood, one at each end of the ark, with their wings spread over the mercy seat, and their faces turned toward it. My accompanying angel informed me that these represented all the heavenly host looking with reverential awe toward the holy law which had been written by the finger of God. Jesus raised the cover of the ark, and I beheld the tables of stone on which the Ten Commandments were written. I was amazed as I saw the fourth commandment in the very center of the ten precepts, with a soft halo of light encircling it. Said the angel: ‘It is the only one of the ten which defines the living God who created the heavens and the earth and all things that are therein. When the foundations of the earth were laid, then was laid the foundation of the Sabbath also.’” Testimonies, volume 1, 75.

"Vào mùa thu năm 1846, chúng tôi bắt đầu giữ ngày Sa-bát theo Kinh Thánh, đồng thời dạy dỗ và bênh vực điều ấy. Sự chú ý của tôi lần đầu được hướng đến ngày Sa-bát khi tôi đi thăm New Bedford, Massachusetts, hồi đầu cùng năm đó. Ở đó, tôi quen biết Trưởng lão Joseph Bates, người đã sớm chấp nhận đức tin về sự tái lâm và tích cực làm việc cho sự nghiệp ấy. Trưởng lão B. đang giữ ngày Sa-bát và nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Tôi không cảm thấy tầm quan trọng ấy, và nghĩ rằng Trưởng lão B. đã sai khi nhấn mạnh điều răn thứ tư hơn chín điều còn lại. Nhưng Chúa đã cho tôi thấy một khải tượng về đền thánh trên trời. Đền thờ của Đức Chúa Trời được mở ra trên trời, và tôi được cho thấy hòm giao ước của Đức Chúa Trời, được phủ bởi nắp thi ân. Có hai thiên sứ đứng, mỗi vị ở một đầu hòm, cánh giang ra che trên nắp thi ân, và mặt họ hướng về đó. Thiên sứ đi cùng tôi cho biết rằng họ tượng trưng cho toàn thể đạo binh thiên thượng đang kính cẩn nhìn về luật pháp thánh đã được ngón tay của Đức Chúa Trời chép ra. Chúa Giê-xu nhấc nắp hòm lên, và tôi thấy các bảng đá trên đó Mười Điều Răn đã được chép. Tôi kinh ngạc khi thấy điều răn thứ tư ở ngay chính giữa Mười Điều Răn, với một vầng ánh sáng dịu nhẹ bao quanh nó. Thiên sứ nói: 'Đó là điều duy nhất trong Mười Điều Răn nêu rõ Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã dựng nên trời, đất và muôn vật ở trong đó. Khi nền móng của trái đất được đặt, nền tảng của ngày Sa-bát cũng được đặt.'" Testimonies, tập 1, 75.

Omega light of the third angel

Ánh sáng Omega của thiên thần thứ ba

“Those who commune with God walk in the light of the Sun of Righteousness. They do not dishonor their Redeemer by corrupting their way before God. Heavenly light shines upon them. As they near the close of this earth’s history, their knowledge of Christ, and of the prophecies relating to him, greatly increases. They are of infinite worth in God’s sight; for they are in unity with his Son. To them the word of God is of surpassing beauty and loveliness. They see its importance. Truth is unfolded to them. The doctrine of the incarnation is invested with a soft radiance. They see that the Scripture is the key that unlocks all mysteries and solves all difficulties. Those who have been unwilling to receive the light and walk in the light will be unable to understand the mystery of godliness, but those who have not hesitated to take up the cross and follow Jesus, will see light in God’s light.” The Southern Watchman, April 4, 1905.

“Những ai thông công với Đức Chúa Trời bước đi trong ánh sáng của Mặt Trời Công Chính. Họ không làm ô danh Đấng Cứu Chuộc mình bằng cách làm bại hoại đường lối mình trước mặt Đức Chúa Trời. Ánh sáng thiên thượng chiếu rọi trên họ. Khi họ đến gần lúc kết thúc lịch sử của trái đất này, sự hiểu biết của họ về Đấng Christ và về những lời tiên tri liên quan đến Ngài gia tăng rất nhiều. Trong mắt Đức Chúa Trời, họ vô giá; vì họ hiệp một với Con Ngài. Đối với họ, Lời Đức Chúa Trời thật đẹp đẽ tuyệt vời và đáng yêu. Họ thấy được tầm quan trọng của Lời ấy. Lẽ thật được mở bày cho họ. Tín lý về sự nhập thể được nhuốm một ánh sáng dịu êm. Họ thấy rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra mọi điều mầu nhiệm và giải quyết mọi nan đề. Những ai đã không muốn tiếp nhận ánh sáng và bước đi trong ánh sáng sẽ không thể hiểu được sự mầu nhiệm của sự tin kính, nhưng những người không ngần ngại vác thập tự giá và theo Chúa Giê-xu sẽ thấy ánh sáng trong ánh sáng của Đức Chúa Trời.” The Southern Watchman, ngày 4 tháng 4, 1905.