In William Miller’s dream, the “bustle” at the beginning, when the people began to trouble the jewels was preceded by Miller assembling the jewels and calling “come and see.” Christ as the dirt brush man, uses the broom to sweep out the rubbish, assemble the jewels in a much larger casket, and He then called Miller to “come and see.” When Christ begins His broom-work, the room is empty, for Miller recorded that a “door opened, and a man entered the room, when the people all left it; and he, having a dirt brush in his hand, opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room.”
Trong giấc mộng của William Miller, sự “náo động” lúc ban đầu—khi người ta bắt đầu xáo trộn các châu báu—đã được đi trước bởi việc Miller thu góp các châu báu và gọi rằng: “Hãy đến mà xem.” Đấng Christ, với tư cách là người cầm chổi quét bụi, dùng chổi quét sạch rác rưởi, thu góp các châu báu vào một rương lớn hơn rất nhiều, rồi Ngài gọi Miller: “Hãy đến mà xem.” Khi Đấng Christ khởi sự công việc quét dọn của Ngài, căn phòng trống không, vì Miller đã ghi lại rằng: “một cánh cửa mở ra, và một người bước vào phòng, thì mọi người đều rời khỏi đó; và người ấy, tay cầm một chổi quét bụi, mở các cửa sổ và bắt đầu quét bụi bẩn cùng rác rưởi ra khỏi phòng.”
The dirt brush man enters the room when all the people had left it. In 2023, the dirt brush man entered the empty room, for the movement of the one hundred and forty-four thousand had been shattered and scattered. The truths represented by Habakkuk’s Tables of 2012 was buried in rubbish, and the room was empty. The dirt brush man is He who came after John the Baptist, who John said had a fan, and that He would use that fan to thoroughly purge His floor.
Người cầm chổi quét rác bước vào căn phòng khi mọi người đã rời khỏi đó. Năm 2023, người cầm chổi quét rác đã bước vào căn phòng trống không, vì phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn đã bị đánh tan và tản mác. Các lẽ thật được biểu trưng bởi Các Bảng của Ha-ba-cúc năm 2012 đã bị chôn vùi trong rác rưởi, và căn phòng thì trống không. Người cầm chổi quét rác ấy chính là Đấng đã đến sau Giăng Báp-tít; về Ngài, Giăng nói rằng tay Ngài cầm nia sàng, và Ngài sẽ dùng nia ấy để tẩy sạch sân lúa của Ngài cách triệt để.
I indeed baptize you with water unto repentance: but he that cometh after me is mightier than I, whose shoes I am not worthy to bear: he shall baptize you with the Holy Ghost, and with fire: Whose fan is in his hand, and he will thoroughly purge his floor, and gather his wheat into the garner; but he will burn up the chaff with unquenchable fire. Then cometh Jesus from Galilee to Jordan unto John, to be baptized of him. Matthew 3:11–13.
Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước để sám hối; nhưng Đấng đến sau tôi thì quyền năng hơn tôi; tôi không đáng xách dép cho Người; chính Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và trong lửa. Cái nia rê ở trong tay Người; Người sẽ rê sạch sân lúa của mình, thu lúa vào kho lẫm, còn trấu thì Người sẽ thiêu bằng lửa không thể dập tắt. Bấy giờ Đức Giêsu từ Galilê đến sông Giođan, đến với Gioan để chịu phép rửa do ông. Matthêu 3:11-13.
Galilee is a symbol of a turning point, and the point on the Jordan where Jesus came to be baptized is named Bethabara, and it means “the ferry crossing,” and it marks the place where ancient Israel crossed over to the Promised Land. When Jesus was baptized, He then became Jesus Christ. Galilee, Jordan, Bethabara and Jesus becoming the Christ are all emphasizing a change of dispensation, which is also what a door represents, especially for Philadelphians who are given the key of the open and shut door.
Ga-li-lê là biểu tượng của một bước ngoặt, và địa điểm trên sông Giô-đanh nơi Giê-su đến chịu báp-tem được gọi là Bê-tha-ba-ra, nghĩa là “chỗ vượt sông bằng phà”, và nó đánh dấu nơi Y-sơ-ra-ên xưa đã vượt qua để vào Đất Hứa. Khi Giê-su chịu báp-tem, bấy giờ Ngài trở thành Giê-su Christ. Ga-li-lê, sông Giô-đanh, Bê-tha-ba-ra và việc Giê-su trở thành Đấng Christ đều nhấn mạnh một sự thay đổi về nhiệm cục, điều mà một cánh cửa cũng tượng trưng, đặc biệt là đối với những người Phi-la-đê-phi được ban cho chìa khóa để mở và đóng cửa.
And to the angel of the church in Philadelphia write; These things saith he that is holy, he that is true, he that hath the key of David, he that openeth, and no man shutteth; and shutteth, and no man openeth; I know thy works: behold, I have set before thee an open door, and no man can shut it: for thou hast a little strength, and hast kept my word, and hast not denied my name. Revelation 3:7, 8.
Và hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh tại Phi-la-đen-phi: Đây là lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng cầm chìa khóa của Đa-vít: Ngài mở thì không ai đóng được; Ngài đóng thì không ai mở được. Ta biết công việc của ngươi: kìa, Ta đã đặt trước mặt ngươi một cánh cửa mở mà không ai có thể đóng lại, vì ngươi có ít sức lực, và đã giữ lời Ta, và không chối bỏ danh Ta. Khải Huyền 3:7, 8.
When Christ “opened” the “door” and “entered the room,” the room was “His room,” for He thoroughly purges “His floor.” If it is His floor, it is His room.
Khi Đức Kitô "mở" "cửa" và "vào phòng", thì căn phòng ấy là "phòng của Ngài", vì Ngài quét sạch "sàn của Ngài" một cách triệt để. Nếu đó là sàn của Ngài, thì đó là phòng của Ngài.
“At Capernaum Jesus dwelt in the intervals of His journeys to and fro, and it came to be known as ‘His own city.’ It was on the shores of the Sea of Galilee, and near the borders of the beautiful plain of Gennesaret, if not actually upon it.” The Desire of Ages, 252.
Tại Ca-bê-na-um, Chúa Giê-su cư ngụ ở đó trong những khoảng nghỉ giữa các chuyến đi tới lui của Ngài, và nơi ấy dần được gọi là ‘thành của Ngài’. Thành này nằm trên bờ Biển Ga-li-lê và gần ranh giới của đồng bằng đẹp đẽ Ghê-nê-xa-rét, nếu không phải là ngay trên đó. The Desire of Ages, 252.
He enters His room to gather His wheat and to gather and burn the tares. The change of dispensation represented by Galilee, Jordan, Bethabara, the baptism, the transition from John to Jesus aligns with the transition of the church militant of Laodicea unto the church triumphant of Philadelphia. He entered His room in July of 2023. Miller had closed his eyes in the bustle of July 18, 2020, and when he opened his eyes, the room was empty of people; truth was buried beneath error, and then the dirt brush man opened the windows and began to sweep the rubbish out.
Ngài bước vào phòng của Ngài để thu góp lúa mì của Ngài và để thu gom rồi thiêu đốt cỏ lùng. Sự thay đổi về thời kỳ quản trị được biểu trưng bởi Ga-li-lê, Giô-đanh, Bê-tha-ba-ra, phép báp-têm, sự chuyển tiếp từ Giăng sang Giê-xu tương ứng với sự chuyển tiếp của Hội thánh chiến đấu của Lao-đi-xê sang Hội thánh khải hoàn của Phi-la-đen-phi. Ngài đã vào phòng của Ngài vào tháng Bảy năm 2023. Miller đã nhắm mắt giữa cảnh náo nhiệt của ngày 18 tháng 7 năm 2020, và khi ông mở mắt, căn phòng vắng bóng người; lẽ thật bị chôn vùi dưới sai lầm, rồi người cầm cây chổi quét rác mở các cửa sổ và bắt đầu quét rác rưởi ra ngoài.
“‘Whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner.’ Matthew 3:12. This was one of the times of purging. By the words of truth, the chaff was being separated from the wheat. Because they were too vain and self-righteous to receive reproof, too world-loving to accept a life of humility, many turned away from Jesus. Many are still doing the same thing. Souls are tested today as were those disciples in the synagogue at Capernaum. When truth is brought home to the heart, they see that their lives are not in accordance with the will of God. They see the need of an entire change in themselves; but they are not willing to take up the self-denying work. Therefore they are angry when their sins are discovered. They go away offended, even as the disciples left Jesus, murmuring, ‘This is an hard saying; who can hear it?’” The Desire of Ages, 392.
"'Cái nia ở trong tay Ngài, Ngài sẽ dọn sạch sân lúa Ngài, và thu lúa mình vào lẫm.' Ma-thi-ơ 3:12. Đây là một trong những thời kỳ sàng sảy. Qua lời của lẽ thật, trấu đang được tách khỏi lúa. Vì họ quá phù phiếm và tự cho mình là công chính để nhận lời quở trách, quá yêu thế gian để chấp nhận một đời sống khiêm nhường, nhiều người đã quay lưng khỏi Chúa Giê-su. Nhiều người vẫn đang làm như thế. Các linh hồn hôm nay cũng được thử thách như các môn đồ trong hội đường tại Capernaum. Khi lẽ thật chạm đến tấm lòng, họ thấy đời sống mình không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ thấy cần có một sự thay đổi toàn diện nơi chính mình; nhưng họ không sẵn lòng chấp nhận đời sống tự bỏ mình. Bởi vậy họ giận dữ khi tội lỗi mình bị phơi bày. Họ phật ý bỏ đi, cũng như các môn đồ đã lìa bỏ Chúa Giê-su, lẩm bẩm: 'Lời này thật khó; ai nghe được?'" Khát vọng của các thời đại, 392.
On the last day of 2023, which touches the first day of 2024, the Lion of the tribe of Judah began to progressively unseal the revelation of Himself. In accordance with the three-step testing process of Daniel twelve’s unsealing, there would then be three tests, represented as “purified, made white and tried.”
Vào ngày cuối cùng của năm 2023, tiếp giáp với ngày đầu tiên của năm 2024, Sư Tử của chi phái Giu-đa bắt đầu từng bước mở ấn sự mặc khải về chính Ngài. Chiếu theo tiến trình thử luyện ba bước của việc mở ấn trong Đa-ni-ên đoạn mười hai, bấy giờ sẽ có ba kỳ thử luyện, được biểu trưng là "được thanh sạch, làm nên trắng, và được thử luyện."
And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:9, 10.
Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác, chẳng ai trong bọn ác hiểu biết; còn người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:9, 10.
The first angel represents purification, as the convicted sinner places his sins upon the sacrifice in the courtyard, where he is justified by the blood.
Thiên sứ thứ nhất tượng trưng cho sự thanh tẩy, khi tội nhân bị cáo trách đặt tội lỗi mình lên sinh tế trong sân, nơi người ấy được xưng công chính bởi huyết.
The blood is then taken into the holy place where the sanctification process of holiness is represented as being made white through the washing of the blood from the courtyard. Righteousness is there manifested in those who overcome with the blood and the word of their testimony.
Bấy giờ huyết được đem vào Nơi Thánh, nơi tiến trình thánh hóa của sự thánh khiết được biểu trưng như việc được làm trắng bởi sự rửa sạch bằng huyết từ Ngoại Viện. Ở đó, sự công chính được tỏ hiện nơi những người thắng hơn nhờ huyết và lời chứng của họ.
They are then tried, and in the latter days they are found to be ten times better than all the other wise men of Babylon. The third test is where they are glorified in the Most Holy Place and distinguished from the other class of professed wise men. That third test is the Sunday law, and the first test is the first angel’s call to return to the foundations, for in the next step the temple is erected. That next step is the second angel’s separation message, which is followed by the litmus test of the third angel.
Rồi họ được thử luyện, và trong những ngày sau rốt, họ được thấy là trổi hơn gấp mười lần mọi nhà thông thái khác của Ba-by-lôn. Kỳ thử thách thứ ba là nơi họ được làm vinh hiển trong Nơi Chí Thánh và được phân biệt với hạng người còn lại vốn tự xưng là khôn ngoan. Kỳ thử thách thứ ba ấy chính là đạo luật Chủ Nhật, còn kỳ thử thách thứ nhất là lời kêu gọi của thiên sứ thứ nhất trở về với các nền tảng, vì trong bước kế tiếp, đền thờ được dựng lập. Bước kế tiếp ấy là sứ điệp phân rẽ của thiên sứ thứ hai, tiếp theo là phép thử giấy quỳ của thiên sứ thứ ba.
In 2023, the first angel arrived as He had done on August 11, 1840, when he came down with a message of Islam of the second woe. He came down as He had done at 9/11, with a message of Islam of the third woe, and the call to return to the old paths. The foundations of Millerite history were set up once the message of the second woe was fulfilled on August 11, 1840. The angel of Revelation chapter ten then descended, thus typifying the descent of the angel of Revelation chapter eighteen and the arrival of the third woe.
Năm 2023, thiên sứ thứ nhất đã đến, như Ngài đã làm vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, khi Ngài giáng xuống với một sứ điệp về Hồi giáo thuộc khốn nạn thứ hai. Ngài giáng xuống như Ngài đã làm vào ngày 11/9, với một sứ điệp về Hồi giáo thuộc khốn nạn thứ ba, và lời kêu gọi trở về các nẻo cổ xưa. Các nền tảng của lịch sử phong trào Miller đã được thiết lập kể từ khi sứ điệp của khốn nạn thứ hai được ứng nghiệm vào ngày 11 tháng 8 năm 1840. Thiên sứ của Khải Huyền chương mười sau đó đã giáng xuống, qua đó làm hình bóng cho sự giáng xuống của thiên sứ ở Khải Huyền chương mười tám và sự đến của khốn nạn thứ ba.
Josiah Litch is the historical figured associated with the foundations being established on August 11, 1840. The name “Josiah” means “the foundation of God,” and king Josiah in sacred history represents Josiah’s reformation, which included the discovery of the curse of Moses, buried among the rubbish in the sanctuary, just as Miller’s jewels were buried in the room.
Josiah Litch là nhân vật lịch sử gắn liền với việc thiết lập các nền tảng vào ngày 11 tháng 8 năm 1840. Tên “Josiah” có nghĩa là “nền tảng của Đức Chúa Trời”, và vua Josiah trong lịch sử thánh tiêu biểu cho cuộc cải chánh của Josiah, trong đó bao gồm việc phát hiện lời nguyền của Môi-se, bị chôn vùi giữa đống rác rưởi trong đền thánh, cũng như những viên châu báu của Miller bị chôn vùi trong căn phòng.
King Josiah died at Megiddo, which is Armageddon of Revelation chapter sixteen. The reformation of Josiah was a fulfillment of the prophecy set forth by the disobedient prophet, when Jeroboam set up the two altars in Bethel and Dan. That disobedient prophet died between the ass and the lion. King Josiah had been predicted, by name, and his reformation was part of the prediction, which included that the future king Josiah would beat down the very altar where the disobedient prophet confronted the wicked king Jeroboam.
Vua Giô-si-a chết tại Mê-ghít-đô, tức là Ha-ma-ghê-đôn trong Khải Huyền chương mười sáu. Cuộc cải chánh của Giô-si-a là sự ứng nghiệm lời tiên tri do vị tiên tri bất tuân công bố, khi Giê-rô-bô-am lập nên hai bàn thờ tại Bê-tên và Đan. Vị tiên tri bất tuân ấy đã chết giữa con lừa và con sư tử. Vua Giô-si-a đã được tiên báo, nêu đích danh, và cuộc cải chánh của ông là một phần của lời tiên báo ấy, bao gồm việc vị vua tương lai Giô-si-a sẽ đập đổ chính bàn thờ nơi vị tiên tri bất tuân đã đối mặt với vua gian ác Giê-rô-bô-am.
Josiah means the foundation of God, and king Josiah fulfilled the prediction given about 340 years before his reign. He led out in a revival and reformation that ultimately arrived at the altar where the prophet from Judah confronted king Jeroboam. Once there, Josiah smashed the altar down, as the prophecy said he would do. Those two altars of Jeroboam were purposeful counterfeits of the temple in Jerusalem, even to the depth that Jeroboam instituted counterfeit feast days. In doing so, he was simply doing what Aaron did with the golden calf. Aaron’s rebellion was at the foundation of ancient Israel’s sacred history. It occurred when Moses was receiving the Law, which is the foundation of God’s government.
Giô-si-a có nghĩa là nền tảng của Đức Chúa Trời, và vua Giô-si-a đã ứng nghiệm lời tiên tri được phán trước khoảng 340 năm trước khi ông trị vì. Ông đã dẫn dắt một cuộc phục hưng và cải cách rốt cuộc đi đến bàn thờ nơi nhà tiên tri từ Giu-đa đã đối đầu với vua Giê-rô-bô-am. Khi đến đó, Giô-si-a đập đổ bàn thờ, đúng như lời tiên tri đã nói ông sẽ làm. Hai bàn thờ ấy của Giê-rô-bô-am là những bản giả mạo có chủ ý của đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, đến mức Giê-rô-bô-am còn thiết lập các kỳ lễ giả mạo. Làm như vậy, ông chỉ làm điều mà A-rôn đã làm với con bê bằng vàng. Sự phản nghịch của A-rôn nằm ở nền tảng của lịch sử thánh của Y-sơ-ra-ên cổ đại. Điều đó xảy ra khi Môi-se đang tiếp nhận Luật Pháp, vốn là nền tảng của sự cai trị của Đức Chúa Trời.
Aaron’s rebellion was a foundational rebellion, and it was repeated when Jeroboam founded the ten northern tribes as Israel. Moses rebuked Aaron, and Moses is the alpha, or foundation in relation to Christ the omega. Aaron and Moses represent two classes in the foundational rebellion and a third class are the heroes who stood with Moses—the Levites. King Jeroboam and the prophet from Judah are the two classes in the foundation rebellion of the northern kingdom, and once again the Levites are the heroes.
Cuộc nổi loạn của A-rôn là một cuộc nổi loạn mang tính nền tảng, và nó được lặp lại khi Giê-rô-bô-am lập mười chi phái phía bắc thành vương quốc Y-sơ-ra-ên. Môi-se quở trách A-rôn, và Môi-se là An-pha, tức nền tảng, trong mối tương quan với Đấng Christ là Ô-mê-ga. A-rôn và Môi-se đại diện cho hai hạng trong cuộc nổi loạn mang tính nền tảng, và một hạng thứ ba là các anh hùng đã đứng về phía Môi-se—những người Lê-vi. Vua Giê-rô-bô-am và vị tiên tri từ Giu-đa là hai hạng trong cuộc nổi loạn mang tính nền tảng của vương quốc phía bắc, và một lần nữa, những người Lê-vi là các anh hùng.
At Jeroboam’s foundational rebellion the prophet from Judah rebukes him and prophesies of a king that would be named “the foundation of God”—Josiah. The fulfillment of the predicted reformation included that when Josiah began his revival and reformation, the curse of Moses was discovered, and the reading of the sacred words of Moses empowered a revival and reformation that had already begun. Josiah, clearly a prophetic symbol, represents a revival and reformation that is empowered when a prophecy from the writings of Moses is discovered.
Ngay trong cuộc phản nghịch mang tính nền tảng của Giê-rô-bô-am, vị tiên tri từ Giu-đa quở trách ông và báo trước về một vị vua sẽ được đặt tên là “Nền tảng của Đức Chúa Trời” — Giô-si-a. Sự ứng nghiệm của cuộc cải chánh đã được dự ngôn bao hàm điều này: khi Giô-si-a khởi xướng công cuộc phục hưng và cải chánh, lời nguyền của Môi-se được phát hiện; và việc đọc những lời thánh của Môi-se đã đẩy mạnh cuộc phục hưng và cải chánh vốn đã bắt đầu. Giô-si-a, hiển nhiên là một biểu tượng tiên tri, tượng trưng cho một cuộc phục hưng và cải chánh được đẩy mạnh khi một lời tiên tri trong các trước tác của Môi-se được phát hiện.
The foundational rebellion in the story of king Jeroboam is represented by the king of Israel, and also by the prophet from Judah who was sent with a divine pronouncement against Jeroboam’s foundational rebellion and instructions for the prophet identifying which path to avoid when returning to Judah. The prophet from Judah rejects Jeroboam’s request to stay, but thereafter accepts the invitation of the lying prophet of Bethel, and seals his fate. The disobedient prophet would die between the ass and the lion, and then be buried in the tomb of the lying prophet.
Sự phản loạn mang tính nền tảng trong câu chuyện về vua Giê-rô-bô-am được tiêu biểu bởi vua Y-sơ-ra-ên, và cũng bởi vị tiên tri từ Giu-đa, người đã được sai đi, mang theo một lời phán từ Đức Chúa Trời chống lại sự phản loạn mang tính nền tảng của Giê-rô-bô-am, cùng những chỉ dẫn chỉ rõ cho vị tiên tri con đường nào phải tránh khi trở về Giu-đa. Vị tiên tri từ Giu-đa khước từ lời thỉnh cầu của Giê-rô-bô-am xin ở lại, nhưng sau đó lại chấp nhận lời mời của vị tiên tri dối trá ở Bê-tên, và như thế đã tự ấn định số phận mình. Vị tiên tri bất tuân sẽ chết giữa con lừa và con sư tử, rồi được chôn trong mộ của vị tiên tri dối trá.
On August 11, 1840, a prophecy of the second woe was fulfilled, and the foundations of Adventism was laid. Josiah Litch presented the prophecy in 1838, and then ten days before August 11, 1840 he fined tuned his calculations and predicted August 11, 1840, as the day the Ottoman supremacy would cease, in fulfillment of the prophecy of Islam of the second woe.
Vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, một lời tiên tri về tai họa thứ hai đã được ứng nghiệm, và nền móng của Phong trào Phục Lâm đã được đặt. Josiah Litch đã trình bày lời tiên tri ấy vào năm 1838, rồi mười ngày trước ngày 11 tháng 8 năm 1840, ông tinh chỉnh các phép tính của mình và dự đoán ngày 11 tháng 8 năm 1840 là ngày quyền bá chủ của Đế quốc Ottoman sẽ chấm dứt, như sự ứng nghiệm lời tiên tri về Hồi giáo thuộc tai họa thứ hai.
King Josiah symbolizes the final revival and reformation, for every prophet speaks more directly of the latter days, than any prior days. King Josiah symbolizes the final revival and reformation, and that reformation has been set forth in the Bible by a prediction. The book of Joel identifies the final revival and reformation that takes place among those who will be the one hundred and forty-four thousand. Josiah’s revival was two steps, it began, then a prophecy was unsealed that added momentum to the work. The two steps are the early and latter rain, as set forth in the book of Joel, and fulfilled in the books of Acts, and then fulfilled again in the Millerite history.
Vua Giô-si-a tượng trưng cho cuộc phục hưng và cải chánh cuối cùng, vì các tiên tri đều nói về những ngày sau rốt một cách trực tiếp hơn so với bất kỳ thời kỳ nào trước đó. Vua Giô-si-a tượng trưng cho cuộc phục hưng và cải chánh cuối cùng, và cuộc cải chánh ấy đã được Kinh Thánh trình bày qua một lời dự ngôn. Sách Giô-ên xác định cuộc phục hưng và cải chánh cuối cùng diễn ra giữa những người sẽ thuộc về nhóm một trăm bốn mươi bốn ngàn. Cuộc phục hưng của Giô-si-a gồm hai bước: nó khởi sự, rồi một lời tiên tri được mở ấn đã thêm đà cho công cuộc ấy. Hai bước ấy là mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, như được trình bày trong sách Giô-ên, và được ứng nghiệm trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ, rồi lại được ứng nghiệm lần nữa trong lịch sử phong trào Millerite.
At the foundational rebellions of Aaron, king Jeroboam and the prophet from Judah to king Josiah, and then on to Josiah Litch, identifies a line of testimony concerning the foundational test. The foundational test is the first test, that is followed by the temple test when the capstone is placed. After that the third test, the litmus test arrives.
Chuỗi các cuộc phản nghịch mang tính nền tảng của A-rôn, vua Giê-rô-bô-am và vị tiên tri từ Giu-đa, kéo dài đến vua Giô-si-a, rồi tiếp đến Josiah Litch, xác định một dòng lời chứng liên quan đến phép thử nền tảng. Phép thử nền tảng là phép thử thứ nhất, tiếp theo là phép thử về đền thờ khi viên đá chóp đỉnh được đặt. Sau đó đến phép thử thứ ba, tức phép thử quỳ tím.
From the golden calf, unto Jeroboam’s altars at Bethel and Dan, to king Josiah, unto Josiah Litch represents a series of prophetic footsteps that lead to the foundational test of 9/11. When the great buildings of New York came down at 9/11, a prophecy of the third woe identified the test calling for a return to the old foundational paths, for the parallel of August 11, 1840 and 9/11 could be seen by any Laodicean Seventh-day Adventist who chose to see. Al Qaeda’s involvement in 9/11 is often brought into question in these days of conspiracy theories that generally are true, but Al Qaeda means “the foundation,” and they began as an organization one year before the time of the end in 1989, in fact on August 11, 1988.
Từ con bê bằng vàng, qua các bàn thờ của Giê-rô-bô-am tại Bê-tên và Đan, đến vua Giô-si-a, rồi đến Josiah Litch, tất cả tạo thành một chuỗi bước chân tiên tri dẫn đến bài thử nền tảng của 9/11. Khi các tòa nhà lớn của New York sụp đổ vào 9/11, một lời tiên tri về khốn nạn thứ ba đã xác định bài thử ấy, kêu gọi trở lại những nẻo xưa mang tính nền tảng; vì sự song song giữa ngày 11 tháng 8 năm 1840 và 9/11 có thể được nhìn thấy bởi bất kỳ người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê nào chọn nhìn thấy. Sự dính líu của Al Qaeda trong 9/11 thường bị đặt thành nghi vấn trong những ngày tháng tràn ngập các thuyết âm mưu vốn phần lớn là đúng; nhưng Al Qaeda có nghĩa là "nền tảng", và họ khởi sự như một tổ chức một năm trước thời kỳ cuối cùng vào năm 1989, cụ thể là vào ngày 11 tháng 8 năm 1988.
If these details about the prophetic symbolism of the foundations is not noticed, much is lost. At 9/11 the foundations were laid in the first step. The second step the temple is finished as the capstone is placed. The third step is the closed door of the Sunday law. From 9/11 unto the Sunday law the message is primarily directed to Laodicean Seventh-day Adventists, for judgment begins at the house of God, and it ends for the house of God at the Sunday law. There and then Laodicean Seventh-day Adventism is passed by; as were the Protestants in Millerite history, and the Jews in the history of Christ, and as were those who died over forty years in the history of Moses.
Nếu những chi tiết này về tính biểu trưng tiên tri của các nền móng không được lưu ý, thì rất nhiều điều bị đánh mất. Vào 9/11, các nền móng được đặt ở bước thứ nhất. Bước thứ hai, đền thờ được hoàn tất khi viên đá chóp đỉnh được đặt vào. Bước thứ ba là cánh cửa đóng của luật Chúa nhật. Từ 9/11 cho đến luật Chúa nhật, sứ điệp chủ yếu được hướng đến những người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê, vì sự phán xét khởi đầu tại nhà của Đức Chúa Trời, và kết thúc đối với nhà của Đức Chúa Trời tại luật Chúa nhật. Tại đó và vào lúc ấy, Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy ở tình trạng La-ô-đi-xê bị bỏ qua; như những người Kháng Cách trong lịch sử của phong trào Mi-lơ-rít, và người Do Thái trong lịch sử của Đấng Christ, và như những người đã chết suốt hơn bốn mươi năm trong lịch sử của Môi-se.
The third woe of 9/11 was typified by the second woe of August 11, 1840, and at that level both waymarks are represented by the ass, the first symbol of Islam in Bible prophecy. The Sunday law is the mark of the beast, and that beast is often represented as a lion, thus counterfeiting the Lion of the tribe of Judah. The Sunday law is the lion and the disobedient prophet from Judah died between the ass and the lion, and was buried in the same grave as the lying prophet of Bethel. He died in the prophetic period from 9/11 unto the Sunday law, which is the prophetic period from the ass unto the lion. That testing period is the grave of the lying prophet of Bethel, who had the disobedient prophet from Judah buried in his very own grave.
Họa thứ ba của 9/11 được làm hình bóng bởi họa thứ hai của ngày 11 tháng 8 năm 1840, và trên bình diện ấy cả hai mốc đều được biểu trưng bằng con lừa, biểu tượng đầu tiên của Hồi giáo trong lời tiên tri Kinh Thánh. Luật ngày Chủ nhật là dấu của con thú, và con thú ấy thường được biểu trưng như một sư tử, qua đó giả mạo Sư Tử của chi phái Giu-đa. Luật ngày Chủ nhật là sư tử, và vị tiên tri bất tuân từ Giu-đa đã chết giữa con lừa và sư tử, và được chôn trong cùng một mộ với tiên tri nói dối ở Bê-tên. Ông đã chết trong giai đoạn tiên tri từ 9/11 đến luật ngày Chủ nhật, tức là giai đoạn tiên tri từ con lừa đến sư tử. Kỳ thử thách ấy là ngôi mộ của tiên tri nói dối ở Bê-tên, người đã cho chôn vị tiên tri bất tuân từ Giu-đa trong chính ngôi mộ của mình.
Jeroboam’s kingdom, which is represented as a counterfeit of the kingdom of Judah, where Jerusalem and the temple are located, represented the Protestants of Millerite history, that were no longer God’s people. They lost their covenant designation between August 11, 1840 and the closed door of October 22, 1844. That history aligns with 9/11 unto the Sunday law, and for this reason, the disobedient prophet of Judah is buried in the same tomb as were the apostate Protestants, who were represented by the lying prophet of Bethel.
Vương quốc của Giê-rôbôam, được trình bày như một phiên bản giả mạo của vương quốc Giu-đa, nơi Giê-ru-sa-lem và Đền thờ tọa lạc, tượng trưng cho giới Tin Lành trong lịch sử Millerite, những người đã không còn là dân của Đức Chúa Trời. Họ đã đánh mất danh phận giao ước của mình trong khoảng từ ngày 11 tháng 8 năm 1840 đến “cửa đóng” ngày 22 tháng 10 năm 1844. Lịch sử ấy tương ứng với giai đoạn từ 9/11 cho đến luật ngày Chủ Nhật, và vì lẽ đó, nhà tiên tri bất tuân của Giu-đa được chôn trong cùng một mộ với những người Tin Lành bội đạo, là những người được đại diện bởi nhà tiên tri dối trá ở Bê-tên.
Overall king Josiah was a good king, but he did die at Megiddo, an obvious and direct application to Armageddon. He went astray by refusing the warning message of Necho. Necho, the king of Egypt, and therefore the king of the south was on his way to do battle with Babylon, the king of the north. Josiah represents the Judeans that die at Armageddon, because they rejected the warning message of the battle of the king of the south and the king of the north in Daniel 11:40–45. That message became the foundation at 9/11.
Nhìn chung, vua Giô-si-a là một vị vua tốt, nhưng ông đã chết tại Mê-ghít-đô, một sự ứng dụng rõ ràng và trực tiếp đối với A-ma-ghê-đôn. Ông đã đi sai lạc khi khước từ sứ điệp cảnh báo của Nê-cô. Nê-cô, vua Ai Cập, tức là vua phương nam, đang trên đường đi giao chiến với Ba-by-lôn, vua phương bắc. Giô-si-a đại diện cho những người Giu-đa chết tại A-ma-ghê-đôn, vì họ đã khước từ sứ điệp cảnh báo về trận chiến giữa vua phương nam và vua phương bắc trong Đa-ni-ên 11:40-45. Sứ điệp ấy đã trở thành nền tảng vào sự kiện 11/9.
The first test is the first angel’s call to return to the foundations.
Bài thử thách thứ nhất là lời kêu gọi của thiên sứ thứ nhất trở về với các nền tảng.
The second test is the second angel’s call to separate and finish the temple.
Thử thách thứ hai là lời kêu gọi của thiên sứ thứ hai nhằm tách biệt và hoàn tất đền thờ.
The third test is the third angel’s litmus test of the seal or the mark.
Phép thử thứ ba là phép thử giấy quỳ của thiên sứ thứ ba đối với ấn hoặc dấu.
The first test is a test upon the foundations, and in 2024 roughly half of those involved with the Sabbath zoom meetings left over the only doctrinal argument that is represented upon the 1843 chart. That argument was over the symbol that establishes the vision of God’s people in the latter days. The Millerite controversy had the Protestants claiming Antiochus Epiphanes, or Islam was the power who exalts himself, and falls, to establish the vision in verse fourteen of Daniel eleven.
Bài thử thứ nhất là phép thử đối với các nền tảng, và vào năm 2024, khoảng một nửa những người tham gia các buổi nhóm Zoom ngày Sa-bát đã rời bỏ vì vấn đề giáo lý duy nhất được thể hiện trên biểu đồ năm 1843. Vấn đề ấy xoay quanh biểu tượng làm cho khải tượng của dân Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt được ứng nghiệm. Cuộc tranh luận của phong trào Miller đã chứng kiến phái Kháng Cách khẳng định rằng Antiochus Epiphanes, hoặc Hồi giáo, là thế lực tự tôn mình lên rồi sụp đổ, để làm cho khải tượng ở câu mười bốn của Đa-ni-ên đoạn mười một được ứng nghiệm.
And in those times there shall many stand up against the king of the south: also the robbers of thy people shall exalt themselves to establish the vision; but they shall fall. Daniel 11:14.
Trong thời ấy sẽ có nhiều người đứng lên chống lại vua phương nam; cả những kẻ cướp trong dân ngươi cũng sẽ tự tôn mình lên để làm cho khải tượng được ứng nghiệm; nhưng rồi chúng sẽ thất bại. Đa-ni-ên 11:14.
Was Islam or Antiochus Epiphanes the robbers of thy people, or was it Rome, as Miller identified. Miller had understood that the desolating powers of paganism and papalism were both the power that exalted themselves, who fell and who were the robbers of God’s people. The argument is represented on the chart that was “directed by the hand of God, and should not be altered,” and is the only representation on either of Habakkuk’s tables which identifies an event that had no direct reference in the prophetic Word. The reference on the chart was to highlight that foundational argument as a symbol of the separating power of God’s prophetic Word.
Phải chăng những kẻ cướp bóc dân ngươi là Hồi giáo hay Antiochus Epiphanes, hay chính là Rô-ma, như Miller đã xác định? Miller đã hiểu rằng các quyền lực gây hoang vu của ngoại giáo và giáo hoàng chế đều là những quyền lực tự tôn mình, đã sa ngã, và là những kẻ cướp bóc dân của Đức Chúa Trời. Lập luận ấy được trình bày trên biểu đồ vốn “được bàn tay của Đức Chúa Trời hướng dẫn, và không nên bị sửa đổi,” và là sự trình bày duy nhất, trong cả hai bảng của Ha-ba-cúc, xác định một biến cố không có tham chiếu trực tiếp trong Lời tiên tri. Dẫn chiếu trên biểu đồ ấy nhằm nêu bật lập luận nền tảng đó như một biểu tượng về quyền năng phân rẽ của Lời tiên tri của Đức Chúa Trời.
In 2024, roughly half of the zoom group left over the false understanding that it is the United States that establishes the vision, and not Rome, as the Millerites so aptly defended.
Năm 2024, khoảng một nửa nhóm Zoom đã rời nhóm vì quan niệm sai lầm rằng chính Hoa Kỳ lập nên khải tượng, chứ không phải Rôma—trong khi những người theo Miller đã biện hộ một cách rất thích đáng rằng chính Rôma mới lập nên khải tượng.
The purging that began in 2023, began when Christ entered the room with His fan, and the fan is His words of truth. When He entered His room, it was empty of people, so He raised up a voice in the wilderness to prepare the way of the Lord. The voice was to prepare the way for the Messenger of the Covenant to suddenly come unto His temple; His temple of the one hundred and forty-four thousand.
Cuộc sàng sảy khởi sự vào năm 2023 khi Đấng Christ bước vào gian phòng với cái quạt của Ngài, và cái quạt ấy là lời chân lý của Ngài. Khi Ngài bước vào gian phòng của Ngài, gian phòng ấy vắng bóng người, nên Ngài đã dấy lên một tiếng kêu trong đồng vắng để dọn đường cho Chúa. Tiếng ấy nhằm dọn đường cho Sứ giả của Giao ước bất thình lình đến đền thờ của Ngài; đền thờ của một trăm bốn mươi bốn nghìn.
Then in 2024, the first test, the test of the foundations, the test of who establishes the vision—that vision that seals the remnant. The internal vision that seals the remnant is the vision of Christ in chapter ten, and the external vision is the vision that is established by the antichrist, and the antichrist is Rome. An internal vision of Christ and an external vision of antichrist. The sealing is a settling into truth, both spiritually and intellectually; and the internal vision of chapter ten is the spiritual, and chapter eleven’s external vision is the intellectual. The understanding and corresponding experience of both visions is the required criteria for anyone who would be sealed, as Daniel represented in the first verse of Daniel chapter ten.
Rồi vào năm 2024, xuất hiện phép thử thứ nhất: phép thử về các nền tảng, phép thử về việc ai là người thiết lập khải tượng — khải tượng ấy đóng ấn cho phần dân sót lại. Khải tượng nội tại đóng ấn phần dân sót lại là khải tượng về Đấng Christ trong chương mười, còn khải tượng bên ngoài là khải tượng do Phản Kitô thiết lập, và Phản Kitô chính là La Mã. Một khải tượng nội tại về Đấng Christ và một khải tượng bên ngoài về Phản Kitô. Sự đóng ấn là sự vững lập trong lẽ thật, cả thuộc linh lẫn trí tuệ; và khải tượng nội tại của chương mười thuộc về phương diện thuộc linh, còn khải tượng bên ngoài của chương mười một thuộc về phương diện trí tuệ. Sự hiểu biết và kinh nghiệm tương ứng về cả hai khải tượng là tiêu chuẩn bắt buộc cho bất kỳ ai sẽ được đóng ấn, như Đa-ni-ên đã tiêu biểu trong câu thứ nhất của chương mười sách Đa-ni-ên.
In the third year of Cyrus king of Persia a thing was revealed unto Daniel, whose name was called Belteshazzar; and the thing was true, but the time appointed was long: and he understood the thing, and had understanding of the vision. Daniel 10:1.
Năm thứ ba đời Cyrus, vua Ba Tư, một điều đã được tỏ ra cho Daniel, người được gọi là Belteshazzar; điều ấy là chân thật, nhưng thời kỳ đã định thì còn lâu; và ông hiểu điều ấy và có sự hiểu biết về khải tượng. Daniel 10:1.
The alpha test of the foundations was over verse fourteen of Daniel eleven, and it was a parallel to the same foundational test of the Millerites, and that test was the only controversy from Millerite history that is represented upon the table Habakkuk’s watchman was commanded to write and make plain. The foundational test of 2024, was the first angel’s descent, as represented by August 11, 1840, 1888 and 9/11.
Cuộc thử nghiệm Alpha về các nền tảng xoay quanh Đa-ni-ên đoạn mười một, câu mười bốn, và nó song hành với cùng bài thử nền tảng của những người theo Miller; và bài thử ấy là cuộc tranh luận duy nhất trong lịch sử phong trào Miller được thể hiện trên tấm bảng mà người canh gác của Ha-ba-cúc đã được truyền lệnh phải viết ra và làm cho rõ ràng. Bài thử nền tảng năm 2024 là sự giáng xuống của thiên sứ thứ nhất, như được biểu thị bởi ngày 11 tháng 8 năm 1840, năm 1888 và 9/11.
That angel had also descended as Michael, for Michael is the one who resurrected Moses, who with Elijah was resurrected on the last day of 2023. That resurrection is represented by Ezekiel as being accomplished by a prophecy of the four winds, which Sister White calls the angry restrained horse, which is Islam of August 11, 1840 and 9/11. The alpha test was the foundational testing external vision. The omega test would be an internal capstone vision.
Thiên sứ ấy cũng đã giáng xuống với tư cách là Mi-ca-ên, vì Mi-ca-ên là Đấng đã làm cho Môi-se sống lại, người đã cùng với Ê-li được phục sinh vào ngày cuối cùng của năm 2023. Sự phục sinh ấy được Ê-xê-chi-ên biểu thị như được thực hiện bởi một lời tiên tri về bốn phương gió, mà Bà White gọi là con ngựa phẫn nộ bị kiềm chế, tức Hồi giáo của ngày 11 tháng 8 năm 1840 và ngày 11 tháng 9. Cuộc thử nghiệm alpha là một thị kiến bên ngoài mang tính nền tảng. Cuộc thử nghiệm omega sẽ là một thị kiến bên trong mang tính chóp đỉnh.
Why would there be an alpha and omega to be followed by a third test? This is the very issue I am identifying. The alpha external testing vision of 2024, is the first of three tests. That foundational test must be passed to be involved in the capstone omega test. Those two tests are of a different prophetic nature than the third test. The third test is a litmus test which demonstrates if the candidate has truly passed the previous two steps.
Vì sao lại có một Alpha và một Omega, rồi lại tiếp theo bởi một bài thử thứ ba? Đây chính là vấn đề tôi đang chỉ rõ. Khải tượng thử nghiệm ngoại tại Alpha của năm 2024 là bài thử thứ nhất trong ba bài thử. Bài thử nền tảng ấy phải được vượt qua để có thể dự phần vào bài thử Omega mang tính viên đá chóp đỉnh. Hai bài thử ấy có bản chất tiên tri khác với bài thử thứ ba. Bài thử thứ ba là một phép thử quỳ tím nhằm cho thấy liệu ứng viên đã thực sự vượt qua hai bước trước hay chưa.
The first test is the foundation, and the second test is the temple completed. The foundation of the temple was laid during the history of the first decree to come out of Babylon. In the history of the second decree the temple was completed. The third decree was different, for in that decree, Judah’s national sovereignty was restored giving them the authority to prosecute civil and religious crimes. Judgment is restored at the third decree. In 2024, the foundational alpha test separated those in the dirt brush man’s virtually empty room.
Phép thử thứ nhất là nền móng, và phép thử thứ hai là đền thờ được hoàn tất. Nền móng của đền thờ đã được đặt trong lịch sử của sắc lệnh thứ nhất về việc ra khỏi Ba-by-lôn. Trong lịch sử của sắc lệnh thứ hai, đền thờ đã được hoàn tất. Sắc lệnh thứ ba thì khác, vì trong sắc lệnh ấy, chủ quyền quốc gia của Giu-đa đã được khôi phục, trao cho họ thẩm quyền truy tố các tội phạm dân sự và tôn giáo. Sự phán xét đã được khôi phục tại sắc lệnh thứ ba. Vào năm 2024, phép thử alpha mang tính nền tảng đã tách biệt những người ở trong căn phòng hầu như trống rỗng của người quét bụi.
The omega test is where the temple is finished, as represented by the capstone being placed. The completion of the temple is the church triumphant that is established when the tares are removed. The completion of the temple in Miller’s dream was when the jewels were cast back into the larger casket “without any visible pains of the man who cast them in.” After Miller identifies the dirt brush man casting the jewels into the larger casket, he ends his testimony with the words, “I shouted with very joy, and that shout awoke me.”
Bài khảo nghiệm Ô-mê-ga là điểm tại đó đền thờ được hoàn tất, được biểu trưng bởi việc đặt viên đá chóp đỉnh. Sự hoàn tất của đền thờ chính là Hội Thánh đắc thắng được thiết lập khi cỏ lùng bị loại bỏ. Sự hoàn tất của đền thờ trong giấc mơ của Miller là khi các châu báu được ném trở lại vào chiếc tráp lớn hơn “mà không hề thấy có một chút khó nhọc nào nơi người ném chúng vào.” Sau khi Miller xác định người cầm chổi quét bụi là người đã ném các châu báu vào chiếc tráp lớn hơn, ông kết thúc lời chứng của mình bằng lời: “Tôi kêu lên vì quá vui mừng, và chính tiếng kêu ấy đã đánh thức tôi.”
Take note that Miller’s loud cry that awakens, was empowered by “joy.” Joy is the symbol of those in Joel who have the “new wine,” and “shame” is upon those other drinkers of wine who have been cut off from the new wine. The Midnight Cry that awakens Miller, follows after the dirt brush man casts the jewels into the larger casket. The larger casket is full of the jewels that have been separated from the rubbish and cast into the casket, which is both the temple of the one hundred and forty-four thousand, and the message of the Midnight Cry. The temple is finished in the second decree, or the second angel, or the second and omega test. In Miller’s dream, the omega test is represented when the windows of heaven are opened.
Hãy lưu ý rằng tiếng kêu lớn của Miller, tiếng kêu đánh thức, đã được ban quyền năng bởi “niềm vui”. Niềm vui là biểu tượng của những người trong sách Giô-ên có “rượu mới”, và “sự hổ thẹn” ở trên những kẻ uống rượu khác đã bị đoạn tuyệt với rượu mới. Tiếng Kêu Nửa Đêm đánh thức Miller xảy ra sau khi người cầm chổi quét bụi đặt các châu báu vào chiếc tráp lớn hơn. Chiếc tráp lớn hơn đầy dẫy những châu báu đã được tách khỏi rác rưởi và đặt vào đó, vốn vừa là đền thờ của một trăm bốn mươi bốn nghìn, vừa là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm. Đền thờ được hoàn tất trong sắc lệnh thứ hai, hoặc thiên sứ thứ hai, hoặc cuộc thử nghiệm thứ hai và Ômêga. Trong giấc mơ của Miller, cuộc thử nghiệm Ômêga được biểu thị khi các cửa sổ của trời được mở ra.
And I heard as it were the voice of a great multitude, and as the voice of many waters, and as the voice of mighty thunderings, saying, Alleluia: for the Lord God omnipotent reigneth. Let us be glad and rejoice, and give honour to him: for the marriage of the Lamb is come, and his wife hath made herself ready. And to her was granted that she should be arrayed in fine linen, clean and white: for the fine linen is the righteousness of saints. And he saith unto me, Write, Blessed are they which are called unto the marriage supper of the Lamb. And he saith unto me, These are the true sayings of God. Revelation 19:6–9.
Và tôi nghe như thể tiếng của một đoàn dân đông lớn, như tiếng của nhiều dòng nước, và như tiếng sấm vang dữ dội, rằng: Ha-lê-lu-gia! vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng đã trị vì. Chúng ta hãy hân hoan vui mừng và tôn vinh Ngài, vì lễ cưới của Chiên Con đã đến, và vợ Ngài đã tự sửa soạn. Và nàng đã được ban cho để mặc vải gai mịn, tinh sạch và trắng; vì vải gai mịn ấy là sự công chính của các thánh đồ. Và người phán cùng tôi: Hãy chép: Phước thay cho những ai được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con. Và người lại phán cùng tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. Khải Huyền 19:6-9.
On October 22, 1844, “four comings of Christ” were fulfilled, and each of those four comings are more perfectly fulfilled at the soon-coming Sunday law. He came as the Messenger of the Covenant, in fulfillment of the purging and purification of the Levites in Malachi three. He came to receive a kingdom in fulfillment of Daniel 7:13. He came to cleanse the sanctuary in fulfillment of Daniel 8:14 and He also came to the marriage. The marriage takes place when the bride has made herself ready.
Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, “bốn lần Đấng Christ đến” đã được ứng nghiệm, và mỗi trong bốn lần đến ấy sẽ được ứng nghiệm cách trọn vẹn hơn khi đạo luật ngày Chủ Nhật sắp đến được ban hành. Ngài đã đến như Sứ giả của Giao ước, ứng nghiệm việc luyện lọc và thanh tẩy các con cái Lê-vi trong Ma-la-chi chương ba. Ngài đã đến để nhận lãnh một vương quốc, ứng nghiệm Đa-ni-ên 7:13. Ngài đã đến để thanh tẩy đền thánh, ứng nghiệm Đa-ni-ên 8:14, và Ngài cũng đã đến dự lễ cưới. Lễ cưới diễn ra khi cô dâu đã dọn mình sẵn sàng.
“‘When the fruit is brought forth, immediately he putteth in the sickle, because the harvest is come.’ Christ is waiting with longing desire for the manifestation of Himself in His church. When the character of Christ shall be perfectly reproduced in His people, then He will come to claim them as His own.” Christ’s Object Lessons, 69.
"Khi trái đã chín, lập tức người ấy tra lưỡi hái, vì mùa gặt đã đến." Đấng Christ đang chờ đợi với lòng mong mỏi sâu xa sự bày tỏ của chính Ngài trong Hội Thánh Ngài. Khi tính cách của Đấng Christ được tái hiện cách trọn vẹn nơi dân sự Ngài, bấy giờ Ngài sẽ đến để nhận họ làm của riêng Ngài." Christ's Object Lessons, 69.
The “world can only be warned,” according to inspiration, by “seeing men and women” with the seal of God during the Sunday law crisis.
Theo sự soi dẫn, "thế gian chỉ có thể được cảnh báo" bằng việc "nhìn thấy những người nam và nữ" mang ấn của Đức Chúa Trời trong cuộc khủng hoảng về đạo luật Chủ nhật.
“The work of the Holy Spirit is to convince the world of sin, of righteousness and of judgment. The world can only be warned by seeing those who believe the truth sanctified through the truth, acting upon high and holy principles, showing in a high, elevated sense, the line of demarcation between those who keep the commandments of God, and those who trample them under their feet. The sanctification of the Spirit signalizes the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day. When the test comes, it will be clearly shown what the mark of the beast is. It is the keeping of Sunday. Those who after having heard the truth, continue to regard this day as holy, bear the signature of the man of sin, who thought to change times and laws.” Bible Training School, December 1, 1903.
"Công việc của Đức Thánh Linh là cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Thế gian chỉ có thể được cảnh cáo khi thấy những người tin lẽ thật được thánh hóa bởi lẽ thật, hành động theo những nguyên tắc cao cả và thánh khiết, bày tỏ một cách cao cả và rõ ràng ranh giới phân định giữa những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ giày đạp chúng dưới chân. Sự thánh hóa của Đức Thánh Linh đánh dấu sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những kẻ giữ một ngày nghỉ giả mạo. Khi sự thử thách đến, dấu của con thú là gì sẽ được bày tỏ rõ ràng. Ấy là việc giữ ngày Chủ nhật. Những ai, sau khi đã nghe lẽ thật, vẫn tiếp tục xem ngày ấy là thánh, mang lấy dấu ấn của con người tội ác, kẻ đã toan đổi thay các thời kỳ và luật pháp." Bible Training School, ngày 1 tháng 12, 1903.
When the bride makes herself ready the harvest is come. The harvest begins with the gathering together of the first fruit wheat offering that is lifted up as a wave offering ensign. First the first fruits, which are the one hundred and forty-four thousand in the book of Revelation, are gathered, and then the other flock, who are the great multitude. The ensign is his mighty army, and his mighty army is arrayed in fine white linen. At the marriage, the temple of the one hundred and forty-four is finished in advance of the judgment of the Sunday law, and that temple is not only Miller’s larger casket, but it is the church triumphant that possesses all the gifts, including the spirit of prophecy.
Khi Tân Nương tự sửa soạn, thì mùa gặt đã đến. Mùa gặt khởi đầu bằng việc nhóm lại của lễ lúa mì đầu mùa, được dâng lên như một lễ vẫy làm kỳ hiệu. Trước hết, những trái đầu mùa, tức là một trăm bốn mươi bốn ngàn trong sách Khải Huyền, được nhóm lại, rồi đến bầy khác, là đoàn dân rất đông. Kỳ hiệu ấy là đạo quân hùng mạnh của Ngài, và đạo quân hùng mạnh ấy được mặc vải gai mịn trắng. Tại lễ cưới, đền thờ của một trăm bốn mươi bốn được hoàn tất trước cuộc phán xét của luật Ngày Chủ nhật, và đền thờ ấy không chỉ là chiếc hòm lớn hơn của Miller, mà còn là Hội Thánh khải thắng sở hữu mọi ân tứ, kể cả Thần khí của lời tiên tri.
And I fell at his feet to worship him. And he said unto me, See thou do it not: I am thy fellowservant, and of thy brethren that have the testimony of Jesus: worship God: for the testimony of Jesus is the spirit of prophecy. Revelation 19:10.
Tôi liền sấp mình dưới chân người để thờ lạy người. Nhưng người nói với tôi: Đừng làm thế! Ta là bạn đồng tôi tớ với ngươi và với các anh em của ngươi, những người có lời chứng của Giê-xu. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời, vì lời chứng của Giê-xu là tinh thần của lời tiên tri. Khải Huyền 19:10.
The one hundred and forty-four thousand are those who have the testimony of Jesus, and the testimony of Jesus is set forth “line upon line” in both the Bible and Spirit of Prophecy. When the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand transforms into the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand, they will all employ the line upon line methodology to present their testimony. That testimony is a combination of the Divine blood and the human witness.
Một trăm bốn mươi bốn ngàn là những người có lời chứng của Đức Chúa Giê-xu, và lời chứng của Đức Chúa Giê-xu được trình bày “dòng này dòng khác” trong cả Kinh Thánh lẫn Thần Linh của Lời Tiên Tri. Khi phong trào Lao-đi-xê của một trăm bốn mươi bốn ngàn biến đổi thành phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn ngàn, tất cả họ sẽ vận dụng phương pháp luận “dòng này dòng khác” để trình bày lời chứng của mình. Lời chứng ấy là sự kết hợp giữa huyết thiêng liêng và lời chứng của con người.
And they overcame him by the blood of the Lamb, and by the word of their testimony; and they loved not their lives unto the death. Revelation 12:11.
Và họ đã thắng nó nhờ huyết Chiên Con và nhờ lời chứng của họ; họ chẳng tiếc mạng sống mình cho đến chết. Khải Huyền 12:11.
The testimony of humanity combined with the blood of Divinity is the testimony of Moses and the Lamb. Moses was humanity, the alpha to the blood of the omega Lamb’s divinity. All the gifts are restored as soon as the bride makes herself ready, and as a mighty army clothed in white linen, she takes her position as the ensign of the Lord’s advancing army. That battle march begins when the bride is made ready and clothed in white, which is when the windows of heaven are opened, as they were in Miller’s dream.
Lời chứng của nhân tính, khi kết hợp với huyết của thần tính, chính là lời chứng của Môi-se và Chiên Con. Môi-se là nhân tính, là alpha, đối lại với huyết của thần tính nơi Chiên Con, Đấng là omega. Mọi ân tứ đều được phục hồi ngay khi tân nương tự chuẩn bị sẵn sàng; và, như một đạo binh hùng mạnh mặc vải gai trắng, nàng đứng vào vị trí làm tiêu kỳ của đạo binh Chúa đang tiến quân. Cuộc tiến quân ấy bắt đầu khi tân nương đã được chuẩn bị và mặc áo trắng; ấy cũng là khi các cửa sổ trên trời được mở ra, như đã được mở trong giấc mộng của Miller.
And I saw heaven opened, and behold a white horse; and he that sat upon him was called Faithful and True, and in righteousness he doth judge and make war. His eyes were as a flame of fire, and on his head were many crowns; and he had a name written, that no man knew, but he himself. And he was clothed with a vesture dipped in blood: and his name is called The Word of God. And the armies which were in heaven followed him upon white horses, clothed in fine linen, white and clean. And out of his mouth goeth a sharp sword, that with it he should smite the nations: and he shall rule them with a rod of iron: and he treadeth the winepress of the fierceness and wrath of Almighty God. And he hath on his vesture and on his thigh a name written, KING OF KINGS, AND LORD OF LORDS. Revelation 19:11–16.
Và tôi thấy trời mở ra, kìa một con ngựa trắng; người cưỡi nó được gọi là Thành Tín và Chân Thật, và trong sự công chính, Ngài xét đoán và giao chiến. Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, và trên đầu Ngài có nhiều mão miện; Ngài có một danh được ghi, mà chẳng ai biết, chỉ một mình Ngài. Ngài mặc áo choàng đã nhúng trong huyết; và danh Ngài được xưng là Lời của Đức Chúa Trời. Các đạo binh ở trên trời theo Ngài, cưỡi ngựa trắng, mặc vải gai mịn, trắng và tinh sạch. Từ miệng Ngài xuất ra một thanh gươm sắc bén, để bởi nó Ngài đánh các dân; Ngài sẽ cai trị họ bằng cây gậy sắt; và Ngài giẫm đạp bàn ép rượu của sự thạnh nộ và cơn nóng giận của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA. Khải Huyền 19:11-16.
When the dirt brush man enters the empty room and opens the windows He gathers up the jewels and cast them into the larger omega casket. James White would identify those jewels as God’s people, but William Miller would tell you symbols have more than one meaning, and the jewels represent not only the scattered foundational truths, but also the scattered jewels that are on the crown that is lifted up representing Christ’s kingdom of glory.
Khi người cầm bàn chải quét bụi bước vào căn phòng trống và mở các cửa sổ, người ấy thu nhặt các viên ngọc và đặt chúng vào cái tráp Omega lớn hơn. James White sẽ xác định những viên ngọc ấy là dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng William Miller sẽ nói rằng các biểu tượng có nhiều hơn một ý nghĩa, và các viên ngọc ấy không chỉ tượng trưng cho những lẽ thật nền tảng bị tản lạc, mà còn cho những viên ngọc rải rác trên mão triều thiên được giương lên, tượng trưng cho Nước vinh hiển của Đấng Christ.
And the Lord their God shall save them in that day as the flock of his people: for they shall be as the stones of a crown, lifted up as an ensign upon his land. Zechariah 9:16.
Và Chúa, Đức Chúa Trời của họ, sẽ cứu họ trong ngày ấy như bầy chiên của dân Ngài; vì họ sẽ như những viên đá của mão triều thiên, được giương cao như cờ hiệu trên đất của Ngài. Xa-cha-ri 9:16.
The omega and second test after the foundational alpha test of Rome establishing the vision, is the capstone omega test. It is the finishing of the temple test, that precedes the third litmus test of judgment. The test purges the two classes of worshippers from each other, separating the wise and foolish based upon the oil, which is the message, or as Sister White identified in her commentary of the synagogue at Capernaum—the “words of truth.”
Bài khảo nghiệm ômêga, đồng thời là bài khảo nghiệm thứ hai sau bài khảo nghiệm anpha mang tính nền tảng của Rôma trong việc xác lập khải tượng, là bài khảo nghiệm ômêga mang tính chóp đỉnh. Đó là bài khảo nghiệm hoàn tất đền thờ, đi trước bài thử quỳ tím thứ ba của sự phán xét. Bài khảo nghiệm ấy thanh lọc hai hạng người thờ phượng, tách rời họ khỏi nhau, phân rẽ kẻ khôn và kẻ dại dựa trên dầu, tức là sứ điệp, hay như Bà White xác định trong chú giải của bà về hội đường tại Capernaum - "những lời của lẽ thật".
Capernaum is where in John 6:66, Jesus lost the greatest number of disciples at one time, and those disciples never returned. As the largest test of discipleship in the time of Christ, Capernaum is a symbol of the omega test of discipleship in the time of Christ, which in turn would typify the omega test of discipleship in the three-step testing process that began in 2023. In Capernaum, the test was represented by the Bread of Heaven, and it identified the failure of the Jews in the context of their inability to understand prophecy, due to their unwillingness to accept that when Jesus’ spoke of natural things, it was to be understood in a spiritual application.
Theo Giăng 6:66, chính tại Cáp-na-um Đức Chúa Giê-su đã mất trong cùng một lúc số môn đồ nhiều nhất, và các môn đồ ấy đã không bao giờ trở lại. Như là phép thử lớn nhất về môn đồ trong thời của Đấng Christ, Cáp-na-um là một biểu tượng của phép thử Ômêga về môn đồ trong thời của Đấng Christ, và phép thử ấy đến lượt nó sẽ tiêu biểu cho phép thử Ômêga về môn đồ trong tiến trình thử nghiệm ba bước khởi sự từ năm 2023. Tại Cáp-na-um, phép thử được biểu trưng bởi Bánh từ Trời, và nó bộc lộ sự thất bại của người Do Thái trong bối cảnh họ không thể hiểu lời tiên tri, bởi vì họ không sẵn lòng chấp nhận rằng khi Đức Chúa Giê-su nói về những điều thuộc tự nhiên, thì điều đó phải được hiểu theo sự áp dụng thuộc linh.
We will continue these things in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục những nội dung này trong bài viết tiếp theo.
“Christ’s discourse in the synagogue concerning the bread of life was the turning point in the history of Judas. He heard the words, ‘Except ye eat the flesh of the Son of man, and drink His blood, ye have no life in you.’ John 6:53. He saw that Christ was offering spiritual rather than worldly good. He regarded himself as farsighted, and thought he could see that Jesus would have no honor, and that He could bestow no high position upon His followers. He determined not to unite himself so closely to Christ but that he could draw away. He would watch. And he did watch.
Bài diễn từ của Đấng Christ trong hội đường về bánh của sự sống đã là bước ngoặt trong lịch sử của Giu-đa. Ông đã nghe những lời: 'Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người, và không uống huyết Ngài, thì các ngươi chẳng có sự sống trong mình.' Giăng 6:53. Ông thấy rằng Đấng Christ đang trao ban các phúc lành thuộc linh hơn là các lợi ích thế gian. Ông tự cho mình là người nhìn xa trông rộng, và nghĩ rằng mình có thể thấy rằng Đức Chúa Giê-su sẽ chẳng có vinh dự nào, và rằng Ngài cũng không thể ban cho những người theo Ngài địa vị cao trọng nào. Ông quyết định không gắn bó với Đấng Christ quá mật thiết đến nỗi không thể rút lui. Ông sẽ theo dõi. Và ông đã theo dõi.
“From that time he expressed doubts that confused the disciples. …” The Desire of Ages, 719.
“Từ thời điểm ấy, ông bày tỏ những hoài nghi làm rối trí các môn đệ. ...” The Desire of Ages, 719.
First Test
Thử Thách Thứ Nhất
“The look that Jesus cast upon the selfish Judas convinced him that the Master had penetrated his hypocrisy, and read his base, contemptible character. This was a more direct reproof than Judas had before received. He was provoked by it, and thus a door was opened through which Satan entered to control his thoughts. Instead of repenting, he planned revenge. Stung by the knowledge of his sin, and provoked to madness because his guilt was known, he rose from the table, and went to the palace of the high priest, where he found the council assembled. He was imbued with the spirit of Satan, and acted like one bereft of reason. The reward promised for the betrayal of his Master was thirty pieces of silver; and for a far less sum than the box of ointment cost he sold the Savior.
Ánh mắt mà Đức Chúa Giê-su dành cho Giu-đa ích kỷ khiến y xác tín rằng Thầy đã thấu suốt sự giả hình của y và đọc thấu bản chất đê tiện, đáng khinh của y. Đây là một lời quở trách trực tiếp hơn những gì Giu-đa từng nhận trước đó. Y bị điều ấy chọc giận, và như thế một cánh cửa đã mở ra để Sa-tan bước vào, điều khiển tư tưởng của y. Thay vì ăn năn, y mưu toan báo thù. Bị lương tâm cắn rứt bởi ý thức về tội mình, và bị kích động đến điên cuồng vì tội lỗi của y đã bị biết đến, y đứng dậy khỏi bàn và đi đến dinh thượng tế, nơi y thấy công nghị đang nhóm họp. Y bị thấm nhiễm thần khí của Sa-tan, và hành động như kẻ đã mất lý trí. Phần thưởng đã hứa cho việc phản bội Thầy mình là ba mươi đồng bạc; và với một số tiền còn thấp hơn rất nhiều so với giá của bình dầu thơm, y đã bán Đấng Cứu Thế.
“In spirit and practice many resemble Judas. As long as there is silence in regard to the plague-spot in their character, no open enmity is seen; but when they are reproved, bitterness fills their hearts.” Youth Instructor, July 12, 1900.
Về tinh thần và thực hành, nhiều người giống như Giu-đa. Chừng nào còn giữ im lặng về điểm ôn dịch trong tính cách họ, thì không thấy có sự thù nghịch công khai; nhưng khi họ bị quở trách, sự cay đắng tràn ngập lòng họ. Youth Instructor, 12 tháng 7, 1900.
The Second Test
Thử thách thứ hai
“Before the Passover Judas had met a second time with the priests and scribes, and had closed the contract to deliver Jesus into their hands. . . . Judas was now offended at Christ’s act in washing the feet of His disciples. If Jesus could so humble Himself, he thought, He could not be Israel’s king. All hope of worldly honor in a temporal kingdom was destroyed. Judas was satisfied that there was nothing to be gained by following Christ. After seeing Him degrade Himself, as he thought, he was confirmed in his purpose to disown Him, and confess himself deceived. He was possessed by a demon, and he resolved to complete the work he had agreed to do in betraying his Lord.” The Desire of Ages, 645.
Trước Lễ Vượt Qua, Giu-đa đã gặp lần thứ hai với các thầy tế lễ và các thầy thông giáo, và đã hoàn tất giao kèo để giao nộp Đức Chúa Giê-su vào tay họ. … Bấy giờ Giu-đa vấp phạm trước hành động của Đấng Christ khi rửa chân cho các môn đồ Ngài. Ông nghĩ rằng, nếu Đức Chúa Giê-su có thể tự hạ mình đến thế, thì Ngài không thể là Vua của Y-sơ-ra-ên. Mọi hy vọng về vinh dự thế gian trong một vương quốc trần thế đều tiêu tan. Giu-đa xác quyết rằng chẳng có gì để đạt được khi theo Đấng Christ. Sau khi thấy, theo ông nghĩ, Ngài tự hạ nhục mình, ông càng vững quyết tâm chối bỏ Ngài và tự nhận mình đã bị lừa dối. Ông bị quỷ ám, và ông quyết định hoàn tất công việc mà ông đã thỏa thuận phải làm là phản nộp Chúa mình. The Desire of Ages, 645.
The Final Decision
Quyết định tối hậu
“In surprise and confusion at the exposure of his purpose, Judas rose hastily to leave the room. ‘Then said Jesus unto him, That thou doest, do quickly. . . . He then having received the sop went immediately out: and it was night.’ Night it was to the traitor as he turned away from Christ into the outer darkness.
Trong sự kinh ngạc và bối rối trước việc ý đồ của mình bị phơi bày, Giu-đa vội vàng đứng dậy để rời khỏi phòng. 'Bấy giờ Đức Giêsu phán với y: Điều ngươi làm, hãy làm mau đi. ... Sau khi nhận miếng bánh đã chấm, y lập tức đi ra; và bấy giờ là đêm.' Quả là đêm tối đối với kẻ phản bội, khi y quay lưng lại với Đức Kitô mà bước vào bóng tối bên ngoài.
“Until this step was taken, Judas had not passed beyond the possibility of repentance. But when he left the presence of his Lord and his fellow disciples, the final decision had been made. He had passed the boundary line.
Cho đến khi bước này được thực hiện, Giu-đa vẫn chưa vượt ra ngoài khả năng ăn năn. Nhưng khi ông rời khỏi sự hiện diện của Chúa mình và các môn đồ khác, quyết định cuối cùng đã được xác quyết. Ông đã vượt qua ranh giới.
“Wonderful had been the long-suffering of Jesus in His dealing with this tempted soul. Nothing that could be done to save Judas had been left undone. After he had twice covenanted to betray his Lord, Jesus still gave him opportunity for repentance. By reading the secret purpose of the traitor’s heart, Christ gave to Judas the final, convincing evidence of His divinity. This was to the false disciple the last call to repentance. No appeal that the divine-human heart of Christ could make had been spared. The waves of mercy, beaten back by stubborn pride, returned in a stronger tide of subduing love. But although surprised and alarmed at the discovery of his guilt, Judas became only the more determined. From the sacramental supper he went out to complete the work of betrayal.
Thật kỳ diệu là lòng nhẫn nại của Đức Giêsu trong cách Người đối xử với linh hồn bị cám dỗ này. Không một điều gì có thể làm để cứu Giuđa mà đã bị bỏ qua. Sau khi hai lần đã lập thỏa thuận để phản nộp Chúa mình, Đức Giêsu vẫn ban cho ông cơ hội sám hối. Khi đọc thấu ý định kín ẩn trong lòng kẻ phản bội, Đức Kitô đã ban cho Giuđa bằng chứng sau cùng, có sức thuyết phục, về thần tính của Người. Đối với người môn đệ giả dối ấy, đây là lời kêu gọi sám hối sau cùng. Không một lời khẩn cầu nào phát xuất từ trái tim thần-nhân của Đức Kitô đã được Người nén giữ. Những làn sóng thương xót, bị lòng kiêu căng ngoan cố đẩy lùi, lại trở về trong một ngọn triều mạnh mẽ hơn của tình yêu chinh phục. Nhưng tuy bàng hoàng và lo sợ khi tội lỗi mình bị phát hiện, Giuđa lại càng quyết tâm hơn. Từ bữa tiệc thánh, ông đi ra để hoàn tất việc phản bội.
“In pronouncing the woe upon Judas, Christ also had a purpose of mercy toward His disciples. He thus gave them the crowning evidence of His Messiahship. ‘I tell you before it come,’ He said, ‘that, when it is come to pass, ye may believe that I AM.’ Had Jesus remained silent, in apparent ignorance of what was to come upon Him, the disciples might have thought that their Master had not divine foresight, and had been surprised and betrayed into the hands of the murderous mob. A year before, Jesus had told the disciples that He had chosen twelve, and that one was a devil. Now His words to Judas, showing that his treachery was fully known to his Master, would strengthen the faith of Christ’s true followers during His humiliation. And when Judas should have come to his dreadful end, they would remember the woe that Jesus had pronounced upon the betrayer.” The Desire of Ages, 653–655.
"Khi tuyên phán lời khốn cho Giu-đa, Đấng Christ cũng nhắm đến một mục đích của lòng thương xót đối với các môn đồ của Ngài. Như vậy, Ngài đã ban cho họ bằng chứng tối hậu về tư cách Đấng Mê-si của Ngài. 'Ta nói cho các ngươi trước khi điều ấy xảy đến,' Ngài phán, 'để, khi điều ấy xảy đến, các ngươi có thể tin rằng TA LÀ.' Nếu Đức Chúa Giê-su vẫn im lặng, dường như không hay biết điều sẽ đến trên Ngài, thì các môn đồ có thể nghĩ rằng Thầy mình không có sự biết trước đến từ Đức Chúa Trời, và đã bị bất ngờ rồi bị phản bội nộp vào tay đám đông sát nhân. Một năm trước đó, Đức Chúa Giê-su đã nói với các môn đồ rằng Ngài đã chọn mười hai người, và rằng có một người là ma quỷ. Nay, những lời Ngài nói với Giu-đa, cho thấy sự phản bội của y đã được Thầy biết rõ hoàn toàn, sẽ củng cố đức tin của những người theo Đấng Christ cách chân thật trong kỳ Ngài chịu hạ mình. Và khi Giu-đa đi đến kết cục kinh khiếp của mình, họ sẽ nhớ lời khốn mà Đức Chúa Giê-su đã tuyên phán trên kẻ phản bội." The Desire of Ages, 653-655.