In 1844, the doctrine of the seventh-day Sabbath was unsealed and then emphasized to Sister White when she looked into the ark of the covenant. She also recorded that in the last days the doctrine of the incarnation possessed the same heavenly emphasis. The seventh-day Sabbath, represents the special light from the ark when the antitypical Day of Atonement began, and the seventh-year Sabbath represents the special light from the ark when the antitypical Day of Atonement reaches its conclusion.

Năm 1844, tín lý về ngày Sa-bát thứ bảy đã được mở ấn, rồi được nhấn mạnh cho Bà White khi bà nhìn vào Hòm Bia Giao Ước. Bà cũng ghi lại rằng trong thời kỳ sau rốt, tín lý về sự Nhập Thể có cùng một sự nhấn mạnh từ trời. Ngày Sa-bát thứ bảy tượng trưng cho ánh sáng đặc biệt từ Hòm Bia khi Ngày Lễ Chuộc Tội phản hình bắt đầu, còn năm Sa-bát tượng trưng cho ánh sáng đặc biệt từ Hòm Bia khi Ngày Lễ Chuộc Tội phản hình được hoàn tất.

The doctrine of the incarnation is typified in the last holy convocation of Leviticus twenty-three; it is the omega to the seventh-day Sabbath, which is the first holy convocation at the beginning of Leviticus twenty-three. That first Sabbath represents God’s creative power and the last Sabbath represents His recreative power. That first Sabbath is represented by the number “23” and the last by the number “252.”

Học thuyết về sự nhập thể được tiêu biểu trong kỳ nhóm họp thánh sau cùng của Lê-vi Ký chương hai mươi ba; nó là Ômêga đối với ngày Sa-bát thứ bảy, vốn là kỳ nhóm họp thánh thứ nhất ở phần đầu của Lê-vi Ký chương hai mươi ba. Ngày Sa-bát thứ nhất ấy biểu thị quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, còn ngày Sa-bát sau cùng biểu thị quyền năng tái tạo của Ngài. Ngày Sa-bát thứ nhất ấy được biểu trưng bởi con số "23", và ngày sau cùng bởi con số "252".

Those two symbols are the bookends of Leviticus twenty-three and they are also the bookends for the Millerite history. 1798 was the fulfillment of the 2,520 years against the northern kingdom of Israel and the 2,300 years was fulfilled October 22, 1844. When Sister White was led into the sanctuary and gazed upon the Ten Commandments, she was typifying God’s latter-day people who follow Christ into the Most Holy Place when He is finishing His work of at-one-ment. The temple test is the test of following the Lamb whithersoever He goeth.

Hai biểu tượng ấy là hai điểm đầu-cuối của Lê-vi Ký đoạn hai mươi ba, và cũng là hai điểm đầu-cuối của lịch sử Millerite. Năm 1798 là sự ứng nghiệm của kỳ hạn 2.520 năm chống lại vương quốc miền Bắc của Y-sơ-ra-ên, và kỳ hạn 2.300 năm đã được ứng nghiệm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khi Bà White được dẫn vào đền thánh và chiêm ngưỡng Mười Điều Răn, bà làm hình bóng cho dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng, những người theo Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh khi Ngài đang hoàn tất công tác chuộc tội của Ngài. Sự thử thách về đền thờ là sự thử thách của việc theo Chiên Con bất cứ Ngài đi đến đâu.

These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. Revelation 14:4.

Ấy là những người không bị ô uế bởi phụ nữ; vì họ là những người đồng trinh. Ấy là những người theo Chiên Con; hễ Ngài đi đâu thì họ theo đó. Họ đã được chuộc từ giữa loài người, là trái đầu mùa dâng cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Khải Huyền 14:4.

Sister White, as a prophet was illustrating the faithful at the beginning who entered the Most Holy Place by faith, and in so doing she was providing an example of the faithful at the end who enter by faith into the Most Holy Place and then gaze into the ark. What they see illuminated there is the doctrine of the incarnation, the finishing of the at-one-ment. They see the two covering cherubs representing the two Sabbaths of creation and re-creation. They see the 252 on one side of the ark and the 23 on the other and recognize that in agreement with creation and re-creation; 23 represents the marriage of Divinity with humanity, and they see 252 as the symbol of a human’s transformation into a human that is combined with Divinity.

Bà White, với tư cách là một nữ tiên tri, đã minh họa về những người trung tín buổi ban đầu, là những người bởi đức tin đã vào Nơi Chí Thánh; và khi làm như vậy, bà đưa ra một mẫu gương cho những người trung tín ở thời kỳ cuối cùng, là những người cũng bởi đức tin bước vào Nơi Chí Thánh rồi chiêm ngưỡng Hòm Bia Giao Ước. Điều được soi sáng cho họ thấy tại đó là tín lý về sự nhập thể, tức sự hoàn tất của công cuộc nên-một. Họ thấy hai chê-ru-bim che phủ tượng trưng cho hai ngày Sa-bát của sự sáng tạo và tái sáng tạo. Họ thấy số 252 ở một phía của Hòm Bia và số 23 ở phía kia, và nhận biết rằng, phù hợp với sự sáng tạo và tái sáng tạo, 23 tượng trưng cho sự hôn phối giữa Thần Tính và nhân tính, còn 252 là biểu tượng của sự biến đổi của con người thành một con người được kết hiệp với Thần Tính.

The mercy seat was not to be removed, so for Sister White to look inside was a special revelation, and prophetically the illustration is more for the latter days, than the days in which she lived. By beholding we are changed. The temple test is Christ leading His virgin people into His temple, step by step. Prophetic truths represent the steps along the path that is lightened by the message of the Midnight Cry.

Nắp thi ân vốn không được phép nhấc ra, nên việc Bà White được nhìn vào bên trong là một sự mặc khải đặc biệt; và, về phương diện tiên tri, minh họa ấy dành cho những ngày sau rốt nhiều hơn là cho thời đại bà đang sống. Bởi chiêm ngưỡng, chúng ta được biến hóa. Phép thử về đền thờ là việc Đấng Christ dẫn dắt dân đồng trinh của Ngài vào trong đền thờ của Ngài, từng bước một. Các lẽ thật tiên tri tượng trưng cho những bước dọc theo con đường được soi sáng bởi sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm.

The Millerite temple of forty-six years is a step.

Đền thờ bốn mươi sáu năm của phong trào Millerite là một bước.

The human temple of “23,” (male and female, He created them) is a step.

Đền thờ con người của '23', (nam và nữ, Ngài đã dựng nên họ) là một bước.

Christ raising His temple in three days is a step.

Việc Đức Kitô dựng lại đền thờ của Người trong ba ngày là một bước.

The storehouse is the temple of Malachi.

Kho lẫm là đền thờ trong Ma-la-chi.

Nehemiah cleansed the storehouse from the profanation of Tobiah.

Nêhêmi đã thanh tẩy phòng kho khỏi sự mạo phạm của Tôbia.

That temple was where the high priest Hilkiah discovered the writings of Moses during the revival of king Josiah.

Đền thờ ấy là nơi thượng tế Hilkiah đã tìm thấy những trước tác của Moses trong cuộc phục hưng đời vua Josiah.

The temple Nehemiah cleansed from profanation is the same temple Christ twice cleansed from it’s “sacrilegious profanation” as Sister White states.

Đền thờ mà Nê-hê-mi đã thanh tẩy khỏi sự ô uế chính là đền thờ mà Đấng Christ đã hai lần thanh tẩy khỏi “sự ô uế phạm thánh”, như Bà White khẳng định.

The casket of Miller’s dream was a step.

Chiếc tráp trong giấc mơ của Miller là một bước.

Once Christ has led His faithful in the Most Holy Place, He leads them, as represented by Sister White to the ark, raises the mercy seat and allows them to look inside. When they look inside they see both the doctrine of the incarnation and the seventh-day Sabbath is invested with a soft halo. Line upon line those who recognize the doctrines that are “invested with a soft radiance” align with Sister White entering the Most Holy Place by faith and looking into the ark.

Khi Đấng Christ đã dẫn những người trung tín của Ngài vào Nơi Chí Thánh, Ngài dẫn họ—như được Bà White đại diện—đến Hòm Giao Ước, nâng nắp thi ân lên và cho họ nhìn vào bên trong. Khi họ nhìn vào bên trong, họ thấy cả giáo lý về sự nhập thể lẫn Sa-bát ngày thứ bảy đều được khoác một vầng sáng dịu nhẹ. Dòng trên dòng, những ai nhận biết các giáo lý được “khoác một vầng sáng dịu nhẹ” thì hiệp cùng Bà White, bởi đức tin, bước vào Nơi Chí Thánh và nhìn vào trong Hòm Giao Ước.

The ancient prophets spoke more specifically for the latter days than the days in which they lived. When those ancient prophets themselves become part of the testimony, they represent God’s people in the latter days, and God’s people in the latter days are the one hundred and forty-four thousand. Sister White is perhaps the most important ancient prophet, for all her illustrations represent the alpha history of the omega history of the one hundred and forty-four thousand. All the prophets illustrate the remnant, but Sister White also represents a beginning history that is fulfilled in the ending history—to the very letter.

Các tiên tri thời cổ nói một cách cụ thể về những ngày sau rốt còn hơn về thời đại mà họ đang sống. Khi chính các tiên tri xưa ấy trở thành một phần của lời chứng, họ đại diện cho dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, và dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt là một trăm bốn mươi bốn nghìn. Bà White có lẽ là vị tiên tri xưa quan trọng nhất, vì mọi minh họa của bà đều trình bày lịch sử alpha của lịch sử omega của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Tất cả các tiên tri đều phác họa dân sót lại, nhưng Bà White cũng đại diện cho một lịch sử khởi đầu được ứng nghiệm trong lịch sử kết cuộc, đến từng chữ.

In the alpha foundational history, Sister White in vision, is taken into the Most Holy Place of the heavenly sanctuary. Once there, the mercy seat upon the ark of the covenant, a seat that was not to be removed, was raised so that Sister White could gaze inside where she saw the Ten Commandments.

Trong lịch sử nền tảng Alpha, Bà White, trong một khải tượng, được đưa vào Nơi Chí Thánh của đền thánh trên trời. Tại đó, nắp thi ân trên Hòm Giao Ước, một nắp vốn không được phép dời đi, được nhấc lên để Bà White có thể nhìn vào bên trong, nơi bà thấy Mười Điều Răn.

“In the holiest I saw an ark; on the top and sides of it was purest gold. On each end of the ark was a lovely cherub, with its wings spread out over it. Their faces were turned toward each other, and they looked downward. Between the angels was a golden censer. Above the ark, where the angels stood, was an exceeding bright glory, that appeared like a throne where God dwelt. Jesus stood by the ark, and as the saints’ prayers came up to Him, the incense in the censer would smoke, and He would offer up their prayers with the smoke of the incense to His Father. In the ark was the golden pot of manna, Aaron’s rod that budded, and the tables of stone which folded together like a book. Jesus opened them, and I saw the Ten Commandments written on them with the finger of God. On one table were four, and on the other six. The four on the first table shone brighter than the other six. But the fourth, the Sabbath commandment, shone above them all; for the Sabbath was set apart to be kept in honor of God’s holy name. The holy Sabbath looked glorious—a halo of glory was all around it. I saw that the Sabbath commandment was not nailed to the cross. If it was, the other nine commandments were; and we are at liberty to break them all, as well as to break the fourth. I saw that God had not changed the Sabbath, for He never changes. But the pope had changed it from the seventh to the first day of the week; for he was to change times and laws.” Early Writings, 32.

"Trong nơi chí thánh tôi thấy một hòm bia; trên nắp và các mặt bên của nó là vàng ròng tinh khiết. Ở mỗi đầu hòm bia có một chê-ru-bin đẹp đẽ, với đôi cánh xòe ra che phủ bên trên. Mặt chúng quay vào nhau và nhìn xuống. Giữa các thiên sứ có một lư hương bằng vàng. Phía trên hòm bia, nơi các thiên sứ đứng, có một vinh quang cực kỳ sáng chói, trông như một ngai nơi Đức Chúa Trời ngự. Đức Chúa Jêsus đứng bên hòm bia, và khi lời cầu nguyện của các thánh đồ dâng lên Ngài, hương trong lư bốc khói, và Ngài dâng những lời cầu nguyện của họ cùng với làn khói hương lên Cha Ngài. Trong hòm bia có bình vàng đựng ma-na, cây gậy của A-rôn đã trổ bông, và các bảng đá gập lại như một quyển sách. Đức Chúa Jêsus mở chúng ra, và tôi thấy Mười Điều Răn được viết trên đó bằng ngón tay của Đức Chúa Trời. Trên một bảng có bốn điều, và trên bảng kia có sáu điều. Bốn điều trên bảng thứ nhất sáng hơn sáu điều kia. Nhưng điều thứ tư, điều răn về ngày Sa-bát, sáng chói hơn hết thảy; vì ngày Sa-bát được biệt riêng ra để được giữ nhằm tôn kính danh thánh của Đức Chúa Trời. Ngày Sa-bát thánh trông vinh hiển - một vầng hào quang vinh hiển bao quanh nó. Tôi thấy rằng điều răn về ngày Sa-bát không bị đóng đinh vào thập tự giá. Nếu như thế, thì chín điều răn còn lại cũng vậy; và như vậy chúng ta được phép phạm tất cả, cũng như phạm điều thứ tư. Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời không thay đổi ngày Sa-bát, vì Ngài chẳng hề thay đổi. Nhưng giáo hoàng đã đổi nó từ ngày thứ bảy sang ngày thứ nhất trong tuần; vì ông ta sẽ đổi thay thời kỳ và luật pháp." Những Bài Viết Sớm, 32.

The doctrine of the seventh-day Sabbath was the alpha doctrine of the foundational history of the Millerite movement that began as the Philadelphian Millerite movement, then transformed unto the Laodicean Millerite movement in 1856, and then unto the Laodicean Seventh-day Adventist Church in 1863. Sister White also identifies the omega doctrine in the history of the latter days, when the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand transforms into the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. The alpha and omega lights are represented by the doctrine of the seventh-day Sabbath and the doctrine of the incarnation.

Giáo lý về ngày Sa-bát thứ bảy là giáo lý Anpha của giai đoạn lịch sử nền tảng của phong trào Miller, phong trào này khởi đầu như phong trào Miller mang đặc trưng Phi-la-đen-phi, rồi chuyển hóa thành phong trào Miller mang đặc trưng La-ô-đi-xê vào năm 1856, và tiếp đó thành Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật mang đặc trưng La-ô-đi-xê vào năm 1863. Bà White cũng xác định giáo lý Ômêga trong lịch sử những ngày sau rốt, khi phong trào La-ô-đi-xê của một trăm bốn mươi bốn nghìn chuyển hóa thành phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Ánh sáng Anpha và Ômêga được biểu thị bởi giáo lý về ngày Sa-bát thứ bảy và giáo lý về sự nhập thể.

“Those who commune with God walk in the light of the Sun of Righteousness. They do not dishonor their Redeemer by corrupting their way before God. Heavenly light shines upon them. As they near the close of this earth’s history, their knowledge of Christ, and of the prophecies relating to him, greatly increases. They are of infinite worth in God’s sight; for they are in unity with his Son. To them the word of God is of surpassing beauty and loveliness. They see its importance. Truth is unfolded to them. The doctrine of the incarnation is invested with a soft radiance. They see that the Scripture is the key that unlocks all mysteries and solves all difficulties. Those who have been unwilling to receive the light and walk in the light will be unable to understand the mystery of godliness, but those who have not hesitated to take up the cross and follow Jesus, will see light in God’s light.” The Southern Watchman, April 4, 1905.

“Những ai thông công với Đức Chúa Trời bước đi trong ánh sáng của Mặt Trời Công Chính. Họ không làm ô danh Đấng Cứu Chuộc mình bằng cách làm bại hoại đường lối mình trước mặt Đức Chúa Trời. Ánh sáng thiên thượng chiếu rọi trên họ. Khi họ đến gần lúc kết thúc lịch sử của trái đất này, sự hiểu biết của họ về Đấng Christ và về những lời tiên tri liên quan đến Ngài gia tăng rất nhiều. Trong mắt Đức Chúa Trời, họ vô giá; vì họ hiệp một với Con Ngài. Đối với họ, Lời Đức Chúa Trời thật đẹp đẽ tuyệt vời và đáng yêu. Họ thấy được tầm quan trọng của Lời ấy. Lẽ thật được mở bày cho họ. Tín lý về sự nhập thể được nhuốm một ánh sáng dịu êm. Họ thấy rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra mọi điều mầu nhiệm và giải quyết mọi nan đề. Những ai đã không muốn tiếp nhận ánh sáng và bước đi trong ánh sáng sẽ không thể hiểu được sự mầu nhiệm của sự tin kính, nhưng những người không ngần ngại vác thập tự giá và theo Chúa Giê-xu sẽ thấy ánh sáng trong ánh sáng của Đức Chúa Trời.” The Southern Watchman, ngày 4 tháng 4, 1905.

The “doctrine of the incarnation” is also called the “mystery of godliness.”

“Giáo lý về Nhập Thể” cũng được gọi là “mầu nhiệm của sự tin kính.”

And without controversy great is the mystery of godliness: God was manifest in the flesh, justified in the Spirit, seen of angels, preached unto the Gentiles, believed on in the world, received up into glory. 1 Timothy 3:16.

Và không chối cãi gì nữa, mầu nhiệm của sự tin kính thật là lớn: Đức Chúa Trời đã hiện ra trong xác thịt, được xưng công bình trong Thánh Linh, được các thiên sứ thấy, được rao giảng cho các dân ngoại, được tin trong thế gian, được cất lên trong vinh hiển. 1 Ti-mô-thê 3:16.

The “mystery” is hidden until the final generation, when the faithful see that the doctrine of the incarnation is the omega of the seventh-day Sabbath.

“Mầu nhiệm” ấy được giấu kín cho đến thế hệ sau rốt, khi các tín hữu trung tín nhận ra rằng tín điều Nhập Thể là Ômêga của ngày Sa-bát thứ bảy.

Even the mystery which hath been hid from ages and from generations, but now is made manifest to his saints: To whom God would make known what is the riches of the glory of this mystery among the Gentiles; which is Christ in you, the hope of glory. Colossians 1:26, 27.

Chính là mầu nhiệm đã được giấu kín từ các thời đại và từ các thế hệ, nhưng nay đã được bày tỏ cho các thánh đồ của Ngài: Đối với họ, Đức Chúa Trời đã muốn cho biết sự giàu có của vinh hiển của mầu nhiệm này ở giữa các dân ngoại là gì; ấy là Đấng Christ ở trong anh em, sự trông cậy về vinh hiển. Cô-lô-se 1:26, 27.

It is fitting that it is Colossians 1:26 that speaks of a “mystery” that “hath been hid,” but that mystery is “made manifest” in the latter days. Prophetic light is made manifest when prophecy is unsealed, as represented in Daniel twelve where at the end of 1,260 days, at the time of the end a prophecy is unsealed. The prophecy that has been hid for generations is unsealed, and the prophecy is the truth which when unsealed is the “glory” that is made known unto the Gentiles at the Sunday law. That mystery is Christ in you the hope of glory, which is accomplished in the days of the sounding of the seventh trumpet.

Thật thích đáng rằng chính Cô-lô-se 1:26 nói về một “sự mầu nhiệm” đã “được giấu kín”, nhưng sự mầu nhiệm ấy “được bày tỏ” trong những ngày sau rốt. Ánh sáng tiên tri được bày tỏ khi lời tiên tri được mở ấn, như được minh họa trong Đa-ni-ên chương mười hai, nơi mà vào cuối 1.260 ngày, tức là vào thời kỳ cuối cùng, một lời tiên tri được mở ấn. Lời tiên tri đã bị giấu kín qua nhiều thế hệ được mở ấn, và lời tiên tri ấy là lẽ thật, mà khi được mở ấn, là “vinh hiển” được bày tỏ cho các dân Ngoại vào thời điểm đạo luật Chủ nhật. Sự mầu nhiệm ấy là Đấng Christ ở trong anh em, niềm hy vọng của vinh hiển, điều này được thành tựu trong những ngày tiếng kèn thứ bảy vang lên.

But in the days of the voice of the seventh angel, when he shall begin to sound, the mystery of God should be finished, as he hath declared to his servants the prophets. Revelation 10:7.

Nhưng trong những ngày tiếng của thiên sứ thứ bảy vang lên, khi người bắt đầu thổi kèn, thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất, như Ngài đã rao truyền cho các đầy tớ Ngài là các tiên tri. Khải Huyền 10:7.

It is only fitting that the voice of the seventh angel began to sound on the tenth day of the seventh month as represented in Revelation 10:7. The seventh angel is also represented as the third woe, and the first two woes were Islam, thus providing two witnesses that the third woe is Islam. The mystery of God is finished when the trumpet of Islam is blowing.

Thật là phải lẽ rằng tiếng của thiên sứ thứ bảy bắt đầu vang lên vào ngày thứ mười của tháng thứ bảy, như được trình bày trong Khải Huyền 10:7. Thiên sứ thứ bảy cũng được biểu trưng là tai hoạ thứ ba, và hai tai hoạ đầu tiên là Hồi giáo, như vậy có hai chứng nhân rằng tai hoạ thứ ba là Hồi giáo. Mầu nhiệm của Đức Chúa Trời được hoàn tất khi tiếng kèn của Hồi giáo vang lên.

In the history of the seventh trumpet the doctrine of the incarnation, which is the mystery of Christ in you, or the combination of Divinity with humanity, as represented by Christ when He took upon Himself human flesh; the candidates to be among the one hundred and forty-four thousand will be tested as to whether they have the necessary oil and faith to enter into the Most Holy Place. If they hesitate darkness falls upon them, if they follow the Lamb withersoever He goeth, they will be led to look into the ark. In the ark they will find the doctrines of the seventh-day Sabbath and the doctrine of the incarnation.

Trong lịch sử của tiếng kèn thứ bảy, giáo lý về sự nhập thể, tức mầu nhiệm “Đấng Christ ở trong anh em”, hay sự kết hợp giữa Thần tính và nhân tính, như được biểu hiện nơi Đấng Christ khi Ngài mang lấy xác thịt loài người; những ứng viên để ở trong số một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ được thử luyện xem họ có dầu và đức tin cần thiết để bước vào Nơi Chí Thánh hay không. Nếu họ do dự, bóng tối sẽ giáng trên họ; nếu họ theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi, họ sẽ được dẫn dắt để nhìn vào Hòm Bia. Trong Hòm Bia, họ sẽ tìm thấy các giáo lý về Sa-bát ngày thứ bảy và giáo lý về sự nhập thể.

As significant as these two doctrines are, what I am focusing on is not the alpha and omega lights, but that the prophetess illustrated God’s people entering into the heavenly sanctuary and looking into the ark of the covenant. There must be a point in the history of the one hundred and forty-four thousand, during the latter days, where the one hundred and forty-four thousand are taken into the Most Holy Place to gaze upon the opened ark.

Dù hai giáo lý này quan trọng đến đâu, điều tôi tập trung không phải là những ánh sáng Anpha và Ômêga, nhưng là ở chỗ nữ ngôn sứ đã minh họa việc dân của Thiên Chúa bước vào đền thánh trên trời và nhìn vào Hòm Bia Giao Ước. Phải có một thời điểm trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, vào những ngày sau rốt, khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đưa vào Nơi Chí Thánh để chiêm ngưỡng Hòm Bia Giao Ước đã được mở ra.

If you possess the faith to believe the prophets illustrate God’s people in the latter days, along with the faith that Sister White was as much inspired, in every way, as every other prophet in the Bible—then the application I just set forth must be accepted as true. The one hundred and forty-four thousand must follow Christ, by faith into the Most Holy Place, as Sister White says the faithful did on October 22, 1844. There were then two classes manifested, those who refused to enter in by faith, and those who entered in.

Nếu quý vị có đức tin để tin rằng các đấng tiên tri minh họa về dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, cùng với đức tin rằng Bà White được linh cảm, về mọi phương diện, cũng như mọi nhà tiên tri khác trong Kinh Thánh, thì sự áp dụng mà tôi vừa nêu phải được chấp nhận là chân thật. Một trăm bốn mươi bốn ngàn phải bởi đức tin mà theo Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh, như Bà White nói rằng những người trung tín đã làm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Bấy giờ có hai hạng người được tỏ ra: những kẻ từ chối bước vào bằng đức tin, và những người đã bước vào.

“I was pointed back to the proclamation of the first advent of Christ. John was sent in the spirit and power of Elijah to prepare the way of Jesus. Those who rejected the testimony of John were not benefited by the teachings of Jesus. Their opposition to the message that foretold His coming placed them where they could not readily receive the strongest evidence that He was the Messiah. Satan led on those who rejected the message of John to go still farther, to reject and crucify Christ. In doing this they placed themselves where they could not receive the blessing on the day of Pentecost, which would have taught them the way into the heavenly sanctuary. The rendering of the veil of the temple showed that the Jewish sacrifices and ordinances would no longer be received. The great Sacrifice had been offered and had been accepted, and the Holy Spirit which descended on the day of Pentecost carried the minds of the disciples from the earthly sanctuary to the heavenly, where Jesus had entered by His own blood, to shed upon His disciples the benefits of His atonement. But the Jews were left in total darkness. They lost all the light which they might have had upon the plan of salvation, and still trusted in their useless sacrifices and offerings. The heavenly sanctuary had taken the place of the earthly, yet they had no knowledge of the change. Therefore they could not be benefited by the mediation of Christ in the holy place.

Tôi được chỉ cho nhìn lại lời rao báo về sự giáng lâm lần thứ nhất của Đấng Christ. Giăng được sai đến trong tâm thần và quyền năng của Ê-li để dọn đường cho Chúa Giê-su. Những ai khước từ lời chứng của Giăng đã không nhận được ích lợi từ sự dạy dỗ của Chúa Giê-su. Sự chống đối của họ đối với sứ điệp báo trước sự đến của Ngài đã đặt họ vào chỗ không thể dễ dàng tiếp nhận những bằng chứng mạnh mẽ nhất rằng Ngài là Đấng Mê-si-a. Sa-tan đã dẫn dắt những kẻ khước từ sứ điệp của Giăng đi xa hơn nữa, để khước từ và đóng đinh Đấng Christ. Khi làm điều đó, họ tự đặt mình vào tình trạng không thể nhận lãnh phước lành trong ngày Lễ Ngũ Tuần, điều lẽ ra đã dạy họ con đường vào đền thánh trên trời. Sự xé đôi bức màn của đền thờ cho thấy rằng các sinh tế và nghi lễ của người Do Thái sẽ không còn được chấp nhận nữa. Sinh tế vĩ đại đã được dâng và đã được chấp nhận, và Đức Thánh Linh giáng xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần đã đem tâm trí các môn đồ từ đền thánh dưới đất đến đền thánh trên trời, nơi Chúa Giê-su đã bước vào bởi chính huyết Ngài, để tuôn đổ trên các môn đồ những ân phước của sự chuộc tội Ngài. Nhưng người Do Thái bị bỏ lại trong bóng tối hoàn toàn. Họ đánh mất tất cả ánh sáng mà lẽ ra họ có thể có về kế hoạch cứu rỗi, và vẫn tin cậy nơi các sinh tế và của lễ vô ích của họ. Đền thánh trên trời đã thay thế đền thánh dưới đất, thế mà họ không hề biết về sự thay đổi ấy. Vì vậy, họ không thể được hưởng ích lợi từ sự trung bảo của Đấng Christ trong nơi thánh.

“Many look with horror at the course of the Jews in rejecting and crucifying Christ; and as they read the history of His shameful abuse, they think they love Him, and would not have denied Him as did Peter, or crucified Him as did the Jews. But God who reads the hearts of all, has brought to the test that love for Jesus which they professed to feel. All heaven watched with the deepest interest the reception of the first angel’s message. But many who professed to love Jesus, and who shed tears as they read the story of the cross, derided the good news of His coming. Instead of receiving the message with gladness, they declared it to be a delusion. They hated those who loved His appearing and shut them out of the churches. Those who rejected the first message could not be benefited by the second; neither were they benefited by the midnight cry, which was to prepare them to enter with Jesus by faith into the most holy place of the heavenly sanctuary. And by rejecting the two former messages, they have so darkened their understanding that they can see no light in the third angel’s message, which shows the way into the most holy place. I saw that as the Jews crucified Jesus, so the nominal churches had crucified these messages, and therefore they have no knowledge of the way into the most holy, and they cannot be benefited by the intercession of Jesus there. Like the Jews, who offered their useless sacrifices, they offer up their useless prayers to the apartment which Jesus has left; and Satan, pleased with the deception, assumes a religious character, and leads the minds of these professed Christians to himself, working with his power, his signs and lying wonders, to fasten them in his snare.” Early Writings, 259–261.

Nhiều người kinh hãi khi nhìn vào cách người Do Thái khước từ và đóng đinh Đấng Christ; và khi đọc lịch sử về những sự lăng nhục đáng hổ thẹn mà Ngài phải chịu, họ nghĩ rằng mình yêu mến Ngài, và rằng họ đã chẳng chối Ngài như Phi-e-rơ, cũng chẳng đóng đinh Ngài như người Do Thái. Nhưng Đức Chúa Trời, Đấng đọc thấu lòng mọi người, đã đem tình yêu dành cho Chúa Giê-su mà họ xưng nhận ra thử thách. Cả thiên đàng với mối quan tâm sâu xa nhất đã theo dõi việc tiếp nhận sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Nhưng nhiều người xưng nhận yêu mến Chúa Giê-su, và rơi lệ khi đọc câu chuyện về thập tự giá, lại chế giễu tin mừng về sự tái lâm của Ngài. Thay vì vui mừng tiếp nhận sứ điệp ấy, họ tuyên bố đó là một sự mê lầm. Họ ghét những người yêu mến sự tái lâm của Ngài và đuổi họ ra khỏi các hội thánh. Những kẻ khước từ sứ điệp thứ nhất thì không thể nhận được ích lợi từ sứ điệp thứ hai; họ cũng không được ích lợi từ tiếng kêu nửa đêm, vốn nhằm chuẩn bị họ bằng đức tin để cùng với Chúa Giê-su bước vào nơi chí thánh của đền thánh trên trời. Và bằng cách khước từ hai sứ điệp trước, họ đã làm tối tăm sự hiểu biết của mình đến nỗi không thấy chút ánh sáng nào trong sứ điệp của thiên sứ thứ ba, sứ điệp chỉ ra con đường vào nơi chí thánh. Tôi thấy rằng cũng như người Do Thái đã đóng đinh Chúa Giê-su, các hội thánh danh nghĩa đã đóng đinh những sứ điệp này; bởi đó họ không biết con đường vào nơi chí thánh, và họ không thể nhận được ích lợi từ sự cầu thay của Chúa Giê-su tại đó. Cũng như người Do Thái dâng những của lễ vô ích, họ dâng những lời cầu nguyện vô ích hướng về ngăn mà Chúa Giê-su đã rời bỏ; và Sa-tan, hài lòng với sự lừa dối ấy, khoác lấy bộ dạng tôn giáo và lôi kéo tâm trí của những Cơ Đốc nhân xưng nhận này về phía hắn, hoạt động bằng quyền năng của hắn, các dấu lạ và phép lạ dối trá của hắn, để ghìm chặt họ trong cạm bẫy của hắn. Early Writings, 259-261.

Sister White identifies the progressive testing process of John the Baptist and Christ’s history that ended with the Jews being in total darkness in order to illustrate the same history in the time of the Millerites, which is the alpha history of Sister White; the ancient prophetess of the latter days. The life-or-death test in the beginning was over entering into the Most Holy Place or refusing to do so. To refuse to do so produced the same darkness upon the rebels of Millerite history that had come upon the rebellious Jews in the history of Christ.

Bà White xác định tiến trình thử nghiệm tiệm tiến trong lịch sử của Giăng Báp-tít và của Đấng Christ, một tiến trình kết thúc với việc người Do Thái rơi vào sự tối tăm hoàn toàn, nhằm minh họa cùng một lịch sử ấy trong thời của những người theo Miller, tức lịch sử alpha của Bà White, nữ tiên tri xưa của thời kỳ sau rốt. Bài thử thách sống hay chết lúc ban đầu là việc có bước vào Nơi Chí Thánh hay từ chối không bước vào. Việc từ chối như thế đã gây nên cùng một sự tối tăm trên những kẻ phản nghịch trong lịch sử của phong trào Miller như đã giáng trên những người Do Thái phản nghịch trong lịch sử của Đấng Christ.

Jesus always illustrates the end of a thing, with the beginning of a thing; so, when Sister White was taken into the Most Holy Place and gazed upon the open ark, in connection with the test of October 22, 1844, it identifies that the one hundred and forty-four thousand will be tested upon following the Lamb into the Most Holy Place or going into perfect eternal darkness. This fact is premised upon a faith that understands the ancient prophets are illustrating God’s latter-day people when they themselves become part of the recorded testimony. Sister White illustrates both classes.

Đức Chúa Giê-su luôn dùng phần khởi đầu của một điều để minh họa phần kết thúc của điều ấy; vì vậy, khi Bà White được đưa vào Nơi Chí Thánh và chiêm ngắm hòm bia giao ước đang mở, trong mối liên hệ với cuộc thử thách ngày 22 tháng 10 năm 1844, điều ấy xác định rằng một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ bị thử thách ở điểm: hoặc theo Chiên Con vào Nơi Chí Thánh, hoặc đi vào bóng tối vĩnh cửu tuyệt đối. Sự kiện này đặt nền trên một đức tin nhận thức rằng các tiên tri xưa, khi chính họ trở thành một phần của lời chứng đã được ghi chép, thì đang minh họa cho dân sự thời sau rốt của Đức Chúa Trời. Bà White minh họa cả hai hạng người.

“While in this state of despondency I had a dream that made a deep impression upon my mind. I dreamed of seeing a temple, to which many persons were flocking. Only those who took refuge in that temple would be saved when time should close. All who remained outside would be forever lost. The multitudes without who were going about their various ways, derided and ridiculed those who were entering the temple, and told them that this plan of safety was a cunning deception, that in fact there was no danger whatever to avoid. They even laid hold of some to prevent them from hastening within the walls.

Trong lúc đang tuyệt vọng như vậy, tôi mơ một giấc mơ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí tôi. Tôi mơ thấy một ngôi đền, nơi nhiều người đang đổ xô đến. Chỉ những ai tìm nơi ẩn náu trong ngôi đền ấy mới được cứu khi thời gian chấm dứt. Tất cả những ai ở lại bên ngoài sẽ vĩnh viễn hư mất. Đám đông ở bên ngoài, mỗi người theo lối của mình, chế giễu và nhạo báng những người đang bước vào đền, và nói với họ rằng kế hoạch an toàn này là một mưu mẹo lừa dối xảo quyệt, rằng thực ra chẳng có bất kỳ mối nguy hiểm nào cần tránh cả. Họ thậm chí còn túm lấy một vài người để ngăn họ vội vã vào bên trong những bức tường.

“Fearing to be ridiculed, I thought best to wait until the multitude dispersed, or until I could enter unobserved by them. But the numbers increased instead of diminishing, and fearful of being too late, I hastily left my home and pressed through the crowd. In my anxiety to reach the temple I did not notice or care for the throng that surrounded me. On entering the building, I saw that the vast temple was supported by one immense pillar, and to this was tied a lamb all mangled and bleeding. We who were present seemed to know that this lamb had been torn and bruised on our account. All who entered the temple must come before it and confess their sins.

Sợ bị chê cười, tôi nghĩ tốt nhất là đợi đến khi đám đông tản đi, hoặc cho đến khi tôi có thể vào mà không bị họ để ý. Nhưng số người lại tăng lên thay vì vơi bớt, và sợ rằng sẽ quá muộn, tôi vội vã rời nhà và chen qua đám đông. Vì nóng lòng muốn tới đền, tôi không để ý cũng chẳng bận tâm đến đám người vây quanh. Khi bước vào trong, tôi thấy ngôi đền rộng lớn được chống đỡ bởi một cây cột khổng lồ duy nhất, và vào cột ấy người ta trói một con chiên bị xé nát, đang đổ máu. Chúng tôi, những người có mặt, dường như đều biết rằng con chiên ấy đã bị xé nát và bầm dập vì chúng tôi. Tất cả những ai vào đền đều phải đến trước con chiên ấy và xưng thú tội lỗi của mình.

“Just before the lamb were elevated seats, upon which sat a company looking very happy. The light of heaven seemed to shine upon their faces, and they praised God and sang songs of glad thanksgiving that seemed like the music of the angels. These were they who had come before the lamb, confessed their sins, received pardon, and were now waiting in glad expectation of some joyful event.

Ngay phía trước con chiên có những chỗ ngồi được nâng cao, trên đó có một đoàn người ngồi trông rất hạnh phúc. Ánh sáng thiên đàng dường như chiếu rọi trên khuôn mặt họ, và họ ngợi khen Đức Chúa Trời và hát những bài ca tạ ơn hân hoan, nghe như âm nhạc của các thiên sứ. Đó là những người đã đến trước con chiên, xưng thú tội lỗi mình, nhận được sự tha thứ, và giờ đang chờ đợi trong niềm hân hoan một sự kiện vui mừng nào đó.

“Even after I had entered the building, a fear came over me, and a sense of shame that I must humble myself before these people. But I seemed compelled to move forward, and was slowly making my way around the pillar in order to face the lamb, when a trumpet sounded, the temple shook, shouts of triumph arose from the assembled saints, an awful brightness illuminated the building, then all was intense darkness. The happy people had all disappeared with the brightness, and I was left alone in the silent horror of night. I awoke in agony of mind and could hardly convince myself that I had been dreaming. It seemed to me that my doom was fixed, that the Spirit of the Lord had left me, never to return.

Ngay cả sau khi tôi đã bước vào tòa nhà, một nỗi sợ hãi bao trùm tôi, cùng với một cảm thức hổ thẹn rằng tôi phải hạ mình trước những người này. Nhưng tôi dường như bị thôi thúc phải tiến lên, và đang chậm rãi đi vòng quanh cột trụ để đối diện với con chiên, thì một tiếng kèn vang lên, đền thờ rung chuyển, tiếng reo mừng khải hoàn dấy lên từ các thánh đã tụ họp, một ánh sáng rực rỡ khủng khiếp chiếu rọi khắp tòa nhà, rồi mọi sự chìm vào bóng tối dày đặc. Những người vui mừng ấy đều đã biến mất cùng với ánh sáng rực rỡ, và tôi bị bỏ lại một mình trong nỗi kinh hoàng im lặng của đêm. Tôi tỉnh dậy trong nỗi thống khổ của tâm trí và hầu như không thể tự thuyết phục mình rằng tôi đã mơ. Dường như với tôi, án phạt của tôi đã được ấn định, rằng Thần Khí của Chúa đã lìa bỏ tôi, không bao giờ trở lại.

Soon after this I had another dream. I seemed to be sitting in abject despair with my face in my hands, reflecting like this: If Jesus were upon earth, I would go to Him, throw myself at His feet, and tell Him all my sufferings. He would not turn away from me, He would have mercy upon me, and I would love and serve Him always. Just then the door opened, and a person of beautiful form and countenance entered. He looked upon me pitifully and said: ‘Do you wish to see Jesus? He is here, and you can see Him if you desire it. Take everything you possess and follow me.’

Ít lâu sau đó, tôi lại có một giấc mộng khác. Tôi dường như đang ngồi trong nỗi tuyệt vọng cùng cực, hai tay ôm mặt, ngẫm nghĩ như sau: Nếu Chúa Giêsu còn ở trần gian, tôi sẽ đến với Ngài, phủ phục dưới chân Ngài, và tỏ bày với Ngài mọi nỗi khổ đau của tôi. Ngài sẽ không khước từ tôi, Ngài sẽ đoái thương tôi, và tôi sẽ yêu mến và phụng sự Ngài luôn mãi. Đúng lúc ấy, cửa mở ra, và một người có dáng dấp và dung mạo tuyệt mỹ bước vào. Người nhìn tôi với ánh mắt xót thương và nói: 'Ngươi có ước muốn được thấy Chúa Giêsu chăng? Ngài đang ở đây, và ngươi có thể thấy Ngài nếu ngươi ước muốn. Hãy đem theo tất cả những gì ngươi có và theo ta.'

“I heard this with unspeakable joy, and gladly gathered up all my little possessions, every treasured trinket, and followed my guide. He led me to a steep and apparently frail stairway. As I commenced to ascend the steps, he cautioned me to keep my eyes fixed upward, lest I should grow dizzy and fall. Many others who were climbing the steep ascent fell before gaining the top.

Tôi nghe điều ấy với niềm vui khôn tả, liền hân hoan thu góp hết mọi vật sở hữu nhỏ bé của mình, từng món kỷ vật quý giá, và đi theo người hướng dẫn của tôi. Ông dẫn tôi đến một cầu thang dốc, trông có vẻ mong manh. Khi tôi bắt đầu bước lên các bậc thang, ông căn dặn tôi hãy luôn hướng mắt lên trên, kẻo tôi choáng váng mà ngã. Nhiều người khác đang trèo lên con dốc đứng ấy đã ngã trước khi lên đến đỉnh.

“Finally we reached the last step, and stood before a door. Here my guide directed me to leave all the things that I had brought with me. I cheerfully laid them down; he then opened the door and bade me enter. In a moment I stood before Jesus. There was no mistaking that beautiful countenance. That expression of benevolence and majesty could belong to no other. As His gaze rested upon me, I knew at once that He was acquainted with every circumstance of my life and all my inner thoughts and feelings.

Cuối cùng, chúng tôi đến bậc thang cuối cùng và đứng trước một cánh cửa. Tại đây, người hướng dẫn của tôi bảo tôi để lại hết thảy những gì tôi đã mang theo. Tôi hân hoan đặt chúng xuống; rồi ông mở cửa và mời tôi bước vào. Chỉ trong chốc lát, tôi đã đứng trước mặt Chúa Giê-su. Không thể lầm lẫn dung nhan tuyệt mỹ ấy. Vẻ từ ái và uy nghiêm ấy không thể thuộc về ai khác. Khi ánh mắt Ngài dừng lại trên tôi, tôi liền biết rằng Ngài thấu biết mọi cảnh ngộ trong đời tôi cùng hết thảy những ý tưởng và tâm tư sâu kín của tôi.

“I tried to shield myself from His gaze, feeling unable to endure His searching eyes, but He drew near with a smile, and, laying His hand upon my head, said: ‘Fear not.’ The sound of His sweet voice thrilled my heart with a happiness it had never before experienced. I was too joyful to utter a word, but, overcome with emotion, sank prostrate at His feet. While I was lying helpless there, scenes of beauty and glory passed before me, and I seemed to have reached the safety and peace of heaven. At length my strength returned, and I arose. The loving eyes of Jesus were still upon me, and His smile filled my soul with gladness. His presence filled me with a holy reverence and an inexpressible love.

Tôi cố che mình khỏi ánh nhìn của Ngài, cảm thấy không thể chịu đựng nổi đôi mắt thấu suốt của Ngài; nhưng Ngài mỉm cười đến gần, đặt tay Ngài trên đầu tôi và phán: “Đừng sợ.” Tiếng nói êm dịu của Ngài khiến lòng tôi rúng động bởi một niềm hạnh phúc mà trước đây chưa từng kinh nghiệm. Tôi vui mừng đến nỗi không thốt nên lời, nhưng, tràn ngập xúc động, tôi phủ phục dưới chân Ngài. Khi tôi đang nằm bất lực ở đó, những cảnh tượng đẹp đẽ và vinh hiển lướt qua trước mắt tôi, và tôi dường như đã bước vào sự an toàn và bình an của thiên đàng. Sau cùng, sức lực tôi trở lại, và tôi đứng dậy. Đôi mắt yêu thương của Đức Chúa Giê-xu vẫn nhìn tôi, và nụ cười của Ngài làm linh hồn tôi tràn đầy hoan lạc. Sự hiện diện của Ngài khiến tôi tràn ngập lòng kính sợ thánh khiết và một tình yêu không thể diễn tả.

“My guide now opened the door, and we both passed out. He bade me take up again all the things I had left without. This done, he handed me a green cord coiled up closely. This he directed me to place next my heart, and when I wished to see Jesus, take it from my bosom and stretch it to the utmost. He cautioned me not to let it remain coiled for any length of time, lest it should become knotted and difficult to straighten. I placed the cord near my heart and joyfully descended the narrow stairs, praising the Lord and telling all whom I met where they could find Jesus. This dream gave me hope. The green cord represented faith to my mind, and the beauty and simplicity of trusting in God began to dawn upon my soul.” Testimonies, volume 1, 27–29.

Người hướng dẫn của tôi lúc này mở cửa, và chúng tôi cùng bước ra ngoài. Ông bảo tôi lấy lại tất cả những vật tôi đã để ở bên ngoài. Việc đó xong, ông trao cho tôi một sợi dây màu xanh lục được cuộn chặt. Ông chỉ bảo tôi đặt sợi dây ấy sát trái tim mình, và khi tôi mong muốn được thấy Đức Chúa Giê-su, thì lấy nó từ lòng áo ra và kéo căng hết mức. Ông dặn tôi đừng để nó ở trong tình trạng cuộn lại lâu, kẻo nó bị thắt nút và khó duỗi thẳng. Tôi đặt sợi dây gần trái tim và hân hoan bước xuống những bậc thang hẹp, ngợi khen Đức Chúa Trời và nói cho mọi người tôi gặp biết nơi họ có thể tìm thấy Đức Chúa Giê-su. Giấc mơ này ban cho tôi hy vọng. Trong tâm trí tôi, sợi dây xanh lục ấy tượng trưng cho đức tin, và vẻ đẹp cùng sự đơn sơ của việc tin cậy nơi Đức Chúa Trời bắt đầu ló rạng trong linh hồn tôi. Lời Chứng, tập 1, 27–29.

From the end of the Exeter camp meeting on August 17 unto October 22 in 1844 was sixty-six days. Those sixty-six days represent the period of the proclamation of the Midnight Cry, and in the context of the parable of the ten virgins those that then proclaimed the message represent those who had oil, and those who did not then proclaim the message had no oil.

Từ khi kết thúc đại hội trại Exeter vào ngày 17 tháng Tám cho đến ngày 22 tháng Mười năm 1844 là sáu mươi sáu ngày. Sáu mươi sáu ngày ấy tượng trưng cho thời kỳ công bố Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm; và trong bối cảnh dụ ngôn mười trinh nữ, những người bấy giờ đã công bố sứ điệp ấy tượng trưng cho những kẻ có dầu, còn những kẻ bấy giờ không công bố sứ điệp thì không có dầu.

In the parable, the marriage took place at the beginning of the tarrying time. The legal marriage took place and then everyone went home and waited until the groom’s father decided if it was acceptable to consummate the marriage. Infidelity between the first marriage and the second ceremony at midnight was considered adultery. The tarrying time was based upon the father of the groom waiting to see what happened to the bride over a period of time. Was she pregnant?

Trong dụ ngôn, hôn lễ diễn ra vào lúc khởi đầu thời kỳ chờ đợi. Hôn phối hợp pháp đã được cử hành, rồi mọi người trở về nhà và chờ đợi cho đến khi thân phụ của chú rể quyết định liệu có chấp thuận cho hôn phối được hoàn hợp hay không. Sự bất trung trong khoảng giữa hôn lễ thứ nhất và nghi thức thứ hai lúc nửa đêm bị coi là ngoại tình. Thời kỳ chờ đợi dựa trên việc thân phụ của chú rể đợi xem điều gì đã xảy ra với cô dâu trong một khoảng thời gian. Cô dâu có mang thai không?

When the father decided all was well, the midnight procession began, and it began at night to avoid the oppressive heat in the daytime of Palestine. For this reason, the bride’s attendants, the virgins of the parable, were required to have their own lantern and supply of oil waiting for the midnight cry announcing that the procession to the marriage was under way, for it was to take place at night. At Exeter the midnight cry arrived and you either had enough oil ready for the procession or you didn’t.

Khi người cha quyết định rằng mọi sự đã ổn thỏa, đoàn rước lúc nửa đêm khởi hành; và nó diễn ra vào ban đêm để tránh cái nóng bức ngột ngạt ban ngày của Pa-lét-tin. Vì lẽ đó, các trinh nữ trong dụ ngôn, tức những người hầu cận của cô dâu, được yêu cầu phải có đèn riêng và phần dầu dự trữ của mình, chờ tiếng kêu lúc nửa đêm loan báo rằng đoàn rước tiến về tiệc cưới đã khởi hành, vì lễ cưới được cử hành vào ban đêm. Tại Exeter, tiếng kêu lúc nửa đêm đã vang lên, và hoặc là quý vị đã có đủ dầu sẵn sàng cho đoàn rước, hoặc là không.

When they left Exeter with the message they were illustrating a people who were sealed. Some had enough oil to make into the marriage on October 22, 1844, and some didn’t. Those sixty-six-days represent a period of time when God’s people are sealed unto the closed door of the Sunday law. If they had the proper amount of oil they entered by faith into the Most Holy Place. Sister White illustrated God’s people entering into the Most Holy Place in the latter days, and in her alpha history it was a life-or-death test that was involved with entering into the Most Holy Place by faith. In the latter days the one hundred and forty-four thousand will be tested as to whether they will enter into the Most Holy Place by faith. It is once again a life-or-death test.

Khi họ rời Exeter mang theo sứ điệp ấy, họ đang minh họa một dân sự đã được đóng ấn. Một số có đủ dầu để vào dự tiệc cưới ngày 22 tháng 10 năm 1844, còn một số thì không. Sáu mươi sáu ngày ấy tượng trưng cho một giai đoạn khi dân sự của Đức Chúa Trời được đóng ấn cho đến khi cánh cửa của luật ngày Chủ nhật đóng lại. Nếu họ có lượng dầu cần thiết, họ đã bước vào Nơi Chí Thánh bằng đức tin. Bà White đã minh họa việc dân sự của Đức Chúa Trời bước vào Nơi Chí Thánh trong những ngày sau rốt, và trong lịch sử alpha của bà, đó là một thử thách sống chết gắn liền với việc bước vào Nơi Chí Thánh bằng đức tin. Trong những ngày sau rốt, một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ bị thử nghiệm xem họ có bước vào Nơi Chí Thánh bằng đức tin hay không. Đó lại là một thử thách sống chết.

We will continue these things in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục những nội dung này trong bài viết tiếp theo.

“In the cleansing of the temple, Jesus was announcing His mission as the Messiah, and entering upon His work. That temple, erected for the abode of the divine Presence, was designed to be an object lesson for Israel and for the world. From eternal ages it was God’s purpose that every created being, from the bright and holy seraph to man, should be a temple for the indwelling of the Creator. Because of sin, humanity ceased to be a temple for God. Darkened and defiled by evil, the heart of man no longer revealed the glory of the Divine One. But by the incarnation of the Son of God, the purpose of Heaven is fulfilled. God dwells in humanity, and through saving grace the heart of man becomes again His temple. God designed that the temple at Jerusalem should be a continual witness to the high destiny open to every soul. But the Jews had not understood the significance of the building they regarded with so much pride. They did not yield themselves as holy temples for the Divine Spirit. The courts of the temple at Jerusalem, filled with the tumult of unholy traffic, represented all too truly the temple of the heart, defiled by the presence of sensual passion and unholy thoughts.

Trong việc thanh tẩy đền thờ, Đức Giêsu đã công bố sứ mệnh của Người như là Đấng Mêsia, và khởi sự công cuộc của Người. Đền thờ ấy, được dựng nên làm nơi ngự của Sự Hiện Diện của Thiên Chúa, được định liệu như một bài học minh họa cho Israel và cho thế giới. Từ đời đời, Thiên Chúa đã chủ định rằng mọi thụ tạo, từ các Sêraphim rạng ngời thánh thiện cho đến loài người, phải là đền thờ cho Đấng Tạo Hóa ngự. Vì tội lỗi, nhân loại đã thôi không còn là đền thờ cho Thiên Chúa nữa. Bị điều ác làm tối tăm và ô uế, tâm hồn con người không còn tỏ bày vinh quang của Đấng Thiêng Liêng. Nhưng nhờ việc Con Thiên Chúa nhập thể, mục đích của Trời được nên trọn. Thiên Chúa cư ngụ trong nhân loại, và nhờ ân sủng cứu độ, tâm hồn con người lại trở nên đền thờ của Ngài. Thiên Chúa đã định liệu để đền thờ tại Giêrusalem trở nên chứng tá liên lỉ về vận mệnh cao cả được mở ra cho mọi linh hồn. Nhưng người Do Thái đã không hiểu ý nghĩa của ngôi đền mà họ hãnh diện đến thế. Họ đã không hiến dâng chính mình như những đền thờ thánh cho Thần Khí Thiên Chúa. Các sân đền thờ tại Giêrusalem, đầy ắp sự náo động của việc buôn bán phàm tục, đã phản chiếu một cách quá đỗi chân thực đền thờ của tâm hồn, vốn bị ô nhiễm bởi sự hiện diện của dục vọng xác thịt và những tư tưởng bất khiết.

“In cleansing the temple from the world’s buyers and sellers, Jesus announced His mission to cleanse the heart from the defilement of sin,—from the earthly desires, the selfish lusts, the evil habits, that corrupt the soul. Malachi 3:1–3 quoted.” The Desire of Ages, 161.

Khi thanh tẩy đền thờ khỏi những kẻ mua bán của thế gian, Đức Chúa Giê-xu tuyên bố sứ mạng của Ngài là thanh tẩy tấm lòng khỏi sự ô uế của tội lỗi—khỏi những ham muốn trần tục, những dục vọng ích kỷ, những thói quen xấu xa làm bại hoại linh hồn. Ma-la-chi 3:1-3 được trích dẫn. Khát vọng của các thời đại, 161.

“The prophet says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils’ (Revelation 18:1, 2). This is the same message that was given by the second angel. Babylon is fallen, ‘because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). What is that wine?—Her false doctrines. She has given to the world a false sabbath instead of the Sabbath of the fourth commandment, and has repeated the falsehood that Satan first told Eve in Eden—the natural immortality of the soul. Many kindred errors she has spread far and wide, ‘teaching for doctrines the commandments of men’ (Matthew 15:9).

Nhà tiên tri nói, 'Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. Người kêu lớn tiếng một cách mạnh mẽ, rằng: Babylon lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ' (Revelation 18:1, 2). Đây là cùng một sứ điệp đã được thiên sứ thứ hai rao ra. Babylon đã sụp đổ, 'vì nàng đã làm cho mọi dân uống rượu thịnh nộ của sự tà dâm của nàng' (Revelation 14:8). Rượu ấy là gì?—Những giáo lý giả dối của nàng. Nàng đã đem đến cho thế gian một ngày Sa-bát giả thay cho ngày Sa-bát của điều răn thứ tư, và đã lặp lại điều dối trá mà Sa-tan trước hết nói với Ê-va trong Ê-đen—sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nhiều sai lầm cùng loại khác nàng đã truyền bá khắp nơi, 'lấy điều răn của loài người làm giáo lý mà dạy' (Matthew 15:9).

“When Jesus began His public ministry, He cleansed the Temple from its sacrilegious profanation. Among the last acts of His ministry was the second cleansing of the Temple. So in the last work for the warning of the world, two distinct calls are made to the churches. The second angel’s message is, ‘Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). And in the loud cry of the third angel’s message a voice is heard from heaven saying, ‘Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities’ (Revelation 18:4, 5).” Selected Messages, book 2, 118.

"Khi Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ công khai của Ngài, Ngài đã thanh tẩy Đền Thờ khỏi sự ô uế phạm thánh. Một trong những việc làm sau cùng của chức vụ Ngài là lần thanh tẩy Đền Thờ thứ hai. Vậy, trong công tác sau cùng để cảnh báo thế gian, có hai lời kêu gọi riêng biệt được gửi đến các hội thánh. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là: 'Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ, thành lớn kia, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó' (Khải Huyền 14:8). Và trong tiếng kêu lớn của sứ điệp thiên sứ thứ ba, có một tiếng từ trời phán rằng: 'Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi đừng dự phần vào tội lỗi của nó, và đừng nhận lấy các tai vạ của nó. Vì tội lỗi của nó đã lên đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ lại những gian ác của nó' (Khải Huyền 18:4, 5)." Selected Messages, quyển 2, trang 118.