For quite some time, in fact from immediately after 9/11, we have consistently taught that the judgment of the living began at 9/11. We understood this fact from a multitude of biblical witnesses, which upheld it from completely different directions. Since July 2023, we have understood even more details of the judgment of the living, which began at 9/11, compared to the details discovered shortly after 9/11. Why did the judgment of the living begin at 9/11? What is the biblical judgment of the living?

Trong một thời gian khá dài, thực ra là từ ngay sau 11/9, chúng tôi đã nhất quán dạy rằng cuộc phán xét kẻ sống bắt đầu từ sự kiện 11/9. Chúng tôi hiểu sự thật này nhờ vô số lời chứng trong Kinh Thánh, những lời chứng từ những góc độ hoàn toàn khác nhau đều khẳng định điều đó. Kể từ tháng 7 năm 2023, chúng tôi đã hiểu thêm nhiều chi tiết về cuộc phán xét kẻ sống, vốn đã bắt đầu từ 11/9, so với những gì được khám phá ngay sau 11/9. Tại sao cuộc phán xét kẻ sống lại bắt đầu từ 11/9? Phán xét kẻ sống theo Kinh Thánh là gì?

In the first chapter in the book of Revelation, the main characteristic identified of Christ is that He is Alpha and Omega, the Beginning and Ending, the First and the Last. He provides an example of that very attribute of His character when He commanded John to write the things that were, and in so doing John would also be writing things to come. Jesus always illustrates the end with the beginning. It is who He is.

Trong chương đầu tiên của sách Khải Huyền, đặc tính chính được xác định nơi Đấng Christ là Ngài là Alpha và Ômega, là Khởi đầu và Kết thúc, là Trước hết và Sau cùng. Ngài nêu một ví dụ về chính thuộc tính ấy trong bản tính của Ngài khi Ngài truyền cho Giăng viết những điều đã có, và khi làm như vậy Giăng cũng sẽ viết những điều sẽ đến. Chúa Giê-xu luôn bày tỏ phần kết qua phần khởi đầu. Đó chính là Ngài.

The Bible identifies Jesus as the Word. The first book in the Bible, Genesis, means ‘beginning.’ The last book of the Bible is the book of Revelation and the truths first presented in the book of Genesis are addressed in the book of Revelation. Genesis is the Alpha and Revelation is the Omega, and together they are the Word, and the Word is Jesus, who is the Alpha and Omega. God’s signature, or His name is written within every passage of biblical prophecy. That signature confirms that the light in the passage is truth.

Kinh Thánh gọi Chúa Giê-su là Ngôi Lời. Sách đầu tiên trong Kinh Thánh, Sáng Thế Ký, có nghĩa là 'khởi đầu'. Sách cuối cùng của Kinh Thánh là Khải Huyền, và những lẽ thật lần đầu được trình bày trong sách Sáng Thế Ký được đề cập trong sách Khải Huyền. Sáng Thế Ký là Alpha và Khải Huyền là Omega; cùng nhau, chúng là Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Chúa Giê-su, Đấng là Alpha và Omega. Chữ ký của Đức Chúa Trời, tức danh Ngài, được ghi trong mọi đoạn lời tiên tri trong Kinh Thánh. Chữ ký ấy xác nhận rằng ánh sáng trong đoạn Kinh Thánh ấy là lẽ thật.

If an interpretation of a passage of prophecy does not bear the signature of God, which is His name, which is His character; therefore, the interpretation is incorrect. There are other tests which should be brought to bear when interpreting God’s prophetic Word, but whichever test a person might apply, the test should be defined within God’s Word. If there are no manmade tests, there are less manmade interpretations. So, why? And what? Is the biblical judgment of the living that began on 9/11?

Nếu một cách giải thích về một đoạn tiên tri không mang dấu ấn của Đức Chúa Trời, tức là danh Ngài, tức là bản tính Ngài, thì cách giải thích ấy là sai. Có những phép thử khác nên được áp dụng khi giải nghĩa Lời tiên tri của Đức Chúa Trời, nhưng dù một người áp dụng phép thử nào, phép thử ấy phải được định nghĩa trong chính Lời của Đức Chúa Trời. Nếu không có những phép thử do con người đặt ra, sẽ ít có những cách giải thích do con người dựng nên hơn. Vậy thì tại sao? Và đó là gì? Có phải cuộc phán xét theo Kinh Thánh đối với những người đang sống đã bắt đầu vào ngày 11/9 không?

When Christ introduces Himself in the book of Revelation, He identifies Himself as the beginning and ending, and uses the prophet John to illustrate what that attribute of His character represents. He identifies the message of the entire book as a revelation of Himself. He commands John to write what was then existing in John’s world, and in so doing John would be recording what shall be at the end of the world. John was one of the twelve leaders at the beginning of the Christian church, and John therefore is illustrating the ending of the Christian church, represented by the one hundred and forty-four thousand and the great multitude in Revelation chapter seven.

Khi Đấng Christ tự giới thiệu về mình trong sách Khải Huyền, Ngài xưng mình là Đầu và Cuối, và dùng nhà tiên tri Giăng để minh họa thuộc tính ấy trong bản tính của Ngài biểu thị điều gì. Ngài xác định thông điệp của toàn bộ sách là một sự mặc khải về chính Ngài. Ngài truyền cho Giăng viết những gì khi ấy đang hiện hữu trong thế giới của Giăng, và bằng cách đó Giăng sẽ ghi lại những gì sẽ xảy ra vào tận thế. Giăng là một trong mười hai người lãnh đạo vào buổi đầu của Hội Thánh Cơ Đốc, vì vậy Giăng minh họa sự kết thúc của Hội Thánh Cơ Đốc, được đại diện bởi một trăm bốn mươi bốn nghìn và một đoàn dân rất đông trong Khải Huyền chương bảy.

The biblical logic is this: Jesus is the Word, by which all things were created, the Word that has always existed with His Father and He is also the Bible, for He is the Word of God. The first attribute of Christ’s character that is introduced in the last message of God’s Word is that He illustrates the end of a thing, with the beginning of that very same thing. If this truth about God’s character is not applied to a person’s study of the Bible, they cannot truly know what the judgment of the living is, and why it began at 9/11, and more importantly, why it is almost over.

Lập luận theo Kinh Thánh là thế này: Chúa Giê-xu là Ngôi Lời, nhờ Ngài mà muôn vật được dựng nên, Ngôi Lời vốn đã hiện hữu đời đời cùng Cha Ngài; và Ngài cũng chính là Kinh Thánh, vì Ngài là Lời của Đức Chúa Trời. Đặc tính đầu tiên trong phẩm cách của Đấng Christ được giới thiệu trong sứ điệp sau cùng của Lời Đức Chúa Trời là Ngài cho thấy phần kết của một điều qua chính phần khởi đầu của điều ấy. Nếu lẽ thật này về bản tính của Đức Chúa Trời không được áp dụng vào việc học Kinh Thánh của một người, thì người ấy sẽ không thể thật sự biết sự phán xét những người còn sống là gì, tại sao nó bắt đầu vào 9/11, và quan trọng hơn, tại sao nó gần như kết thúc.

As an example of the principle of Alpha and Omega, ancient Israel typifies modern Israel, which is a prophetic truth that can also be identified as literal Israel typifies spiritual Israel. No matter how it might be expressed both ancient literal Israel and modern spiritual Israel have a beginning history and an ending history. Three of the four histories are in the past, and we are now in the fourth and final history.

Như một ví dụ về nguyên tắc Alpha và Omega, Israel cổ đại là hình bóng cho Israel hiện đại; đó là một chân lý tiên tri, cũng có thể được diễn đạt là Israel theo nghĩa đen là hình bóng cho Israel thuộc linh. Dù diễn đạt thế nào, cả Israel theo nghĩa đen thời cổ và Israel thuộc linh thời hiện đại đều có lịch sử khởi đầu và lịch sử kết thúc. Ba trong bốn giai đoạn lịch sử đã thuộc về quá khứ, và hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn thứ tư, cũng là giai đoạn cuối cùng.

The three past histories represent three witnesses of the last generation of earth’s history. Those three past histories identify the generation that is represented as the one hundred and forty-four thousand in the book of Revelation. There are other prophetic lines of history that also address the one hundred and forty-four thousand, but the number of the one hundred and forty-four thousand contains the prophetic symbolism that the one hundred and forty-four thousand are those who are prophetically represented by multiplying the twelve tribes of ancient literal Israel, with the twelve disciples of modern spiritual Israel.

Ba dòng lịch sử trong quá khứ đại diện cho ba nhân chứng của thế hệ cuối cùng trong lịch sử trái đất. Ba dòng lịch sử đó xác định thế hệ được mô tả là một trăm bốn mươi bốn nghìn trong sách Khải Huyền. Có những dòng lịch sử tiên tri khác cũng đề cập đến một trăm bốn mươi bốn nghìn, nhưng con số một trăm bốn mươi bốn nghìn chứa đựng biểu tượng tiên tri rằng một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người được biểu trưng về mặt tiên tri bằng cách nhân mười hai chi phái của Israel cổ đại theo nghĩa đen với mười hai môn đồ của Israel thuộc linh hiện đại.

As another example of Alpha and Omega, the three angels of Revelation chapter fourteen represent a beginning and ending history. The Millerite movement represents the beginning history of the three angels, and the movement of the one hundred and forty-four thousand represents the history at the ending of the message of the third angel. The alpha movement announced the opening of the investigative judgment on October 22, 1844. The omega movement announced the opening of the judgment of the living, identifying its commencement as 9/11.

Như một ví dụ khác về Anpha và Ômêga, ba thiên sứ trong Sách Khải Huyền chương mười bốn đại diện cho một tiến trình lịch sử có phần khởi đầu và phần kết thúc. Phong trào Millerite đại diện cho phần lịch sử mở đầu của ba thiên sứ, và phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn đại diện cho phần lịch sử ở hồi kết của sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Phong trào anpha đã công bố việc khai mở cuộc phán xét điều tra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Phong trào ômêga đã công bố việc khai mở cuộc phán xét người sống, xác định thời điểm khởi sự là 9/11.

A third example of Alpha and Omega, that is easily upheld by inspiration is that in the beginning is the alpha movement of the Millerites, the parable of the ten virgins was fulfilled to the very letter. Sister White identifies the history of the Millerites in the book, The Great Controversy in the context of that parable being fulfilled at that time. She teaches that the omega movement of the one hundred and forty-four thousand will also fulfill the parable of the ten virgins to the very letter. Three brief witnesses of Christ identifying the end with the beginning.

Một ví dụ thứ ba về Alpha và Omega, điều mà linh hứng dễ dàng xác nhận, là: ngay từ ban đầu, trong phong trào alpha của những người theo Miller, dụ ngôn mười trinh nữ đã được ứng nghiệm đúng từng chữ. Bà White trình bày lịch sử của những người theo Miller trong cuốn sách The Great Controversy trong bối cảnh dụ ngôn ấy được ứng nghiệm vào thời điểm đó. Bà dạy rằng phong trào omega của một trăm bốn mươi bốn ngàn cũng sẽ ứng nghiệm dụ ngôn mười trinh nữ đúng từng chữ. Ba lời chứng ngắn gọn của Đấng Christ đồng nhất phần cuối với phần đầu.

At the beginning of ancient Israel, the Lord entered into covenant with the Hebrews as represented by the blood upon the doorposts, which is of course the very first mention of the Midnight Cry in God’s Word. Baptism is a symbol of a covenant relationship with Christ, and Paul teaches us that the Hebrews that left Egypt were all baptized ‘in the “cloud” and in the Red “Sea”.’ Once they were beyond the sea they were given manna, which among other things is a symbol of the seventh-day Sabbath in the context of it being a test.

Ngay từ buổi đầu của dân Israel thời xưa, Đức Chúa Trời đã lập giao ước với người Hê-bơ-rơ, điều này được biểu thị bởi huyết bôi trên các cột cửa; và điều đó, dĩ nhiên, là lần nhắc đến đầu tiên về tiếng kêu nửa đêm trong Lời Đức Chúa Trời. Phép báp-tem là một biểu tượng của mối quan hệ giao ước với Đấng Christ, và Phao-lô dạy rằng những người Hê-bơ-rơ rời khỏi Ai Cập đều chịu phép báp-tem trong đám mây và trong Biển Đỏ. Khi họ đã vượt qua biển, họ được ban cho ma-na, vốn, ngoài những ý nghĩa khác, còn tượng trưng cho ngày Sa-bát thứ bảy trong bối cảnh đó là một sự thử thách.

The “manna” represents their first test and when they failed their tenth and final test when they rejected the message of Joshua and Caleb, the Lord then rejected them as His covenant people and entered into covenant with Joshua and Caleb. When they eventually entered into the Promised Land, the rite of circumcision was not accomplished upon those men born during the forty years, for the rite was ended at the rebellion of Kadesh, and reinstituted at Kadesh just before the entrance. This is a signature of Alpha and Omega.

“manna” tượng trưng cho thử thách đầu tiên của họ; và khi họ thất bại trong thử thách thứ mười, cũng là thử thách cuối cùng, khi họ khước từ sứ điệp của Joshua và Caleb, thì Chúa đã từ bỏ họ như dân giao ước của Ngài và lập giao ước với Joshua và Caleb. Khi cuối cùng họ vào Đất Hứa, nghi thức cắt bì đã không được thực hiện đối với những người đàn ông sinh ra trong bốn mươi năm ấy, vì nghi thức ấy đã chấm dứt tại cuộc nổi loạn ở Kadesh và được tái lập tại Kadesh ngay trước khi bước vào. Đây là dấu ấn của Alpha và Omega.

The forty years wandering in the wilderness began with the rebellion against the message of Joshua and Caleb, and it ended with the rebellion of Moses striking the Rock, and thus misrepresenting God’s character and work. The beginning of ancient Israel illustrates the end of ancient Israel.

Bốn mươi năm lang thang trong hoang mạc bắt đầu với sự phản loạn chống lại sứ điệp của Giô-suê và Ca-lép, và kết thúc với sự phản loạn của Môi-se khi đánh vào Tảng Đá, qua đó xuyên tạc bản tính và công việc của Đức Chúa Trời. Khởi đầu của Y-sơ-ra-ên xưa minh họa cho sự kết thúc của Y-sơ-ra-ên xưa.

At the end of ancient Israel, Jesus as the “Messenger of the Covenant” in Malachi chapter three, came to confirm the “covenant” with many for one week, in fulfillment of Daniel chapter nine. As the Messenger of the Covenant, Christ entered into covenant with the Christian church in the very history where He passed by the former covenant people. In the beginning of ancient Israel as God’s covenant people the Lord passed by a former covenant people and entered into covenant with a new chosen people. He did the very same thing at the end of ancient Israel.

Vào cuối thời Israel cổ đại, Chúa Giê-su, với tư cách là “Sứ giả của Giao ước” trong Ma-la-chi chương ba, đã đến để xác nhận “giao ước” với nhiều người trong một tuần lễ, ứng nghiệm Đa-ni-ên chương chín. Là Sứ giả của Giao ước, Đấng Christ đã lập giao ước với Hội Thánh Cơ Đốc ngay trong dòng lịch sử nơi Ngài đã bỏ qua dân giao ước trước đó. Vào buổi khởi đầu của Israel cổ đại với tư cách là dân giao ước của Đức Chúa Trời, Chúa đã bỏ qua một dân giao ước trước đó và lập giao ước với một dân được chọn mới. Ngài đã làm y như vậy vào cuối thời Israel cổ đại.

A symbol of a covenant is the marriage, and from the birth of Christ unto the destruction of Jerusalem in 70AD, prophecy sets forth a progressive divorce of God from ancient literal Israel. So, when was the divorce actually in force, at His birth, His death, the stoning of Stephen or the destruction of Jerusalem?

Một biểu tượng của giao ước là hôn nhân, và từ khi Đấng Christ giáng sinh cho đến sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên, các lời tiên tri cho thấy Đức Chúa Trời dần dần ly hôn với Y-sơ-ra-ên thời xưa theo nghĩa đen. Vậy cuộc ly hôn thực sự có hiệu lực khi nào: lúc Ngài giáng sinh, lúc Ngài chịu chết, khi Ê-tiên bị ném đá, hay khi Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt?

“Meanwhile worshipers from every nation sought the temple which had been dedicated to the worship of God. Glittering with gold and precious stones, it was a vision of beauty and grandeur. But Jehovah was no longer to be found in that palace of loveliness. Israel as a nation had divorced herself from God. When Christ, near the close of His earthly ministry, looked for the last time upon the interior of the temple, He said, ‘Behold, your house is left unto you desolate.’ Matthew 23:38. Hitherto He had called the temple His Father’s house; but as the Son of God passed out from those walls, God’s presence was withdrawn forever from the temple built to His glory.” Acts of the Apostles, 145.

Trong khi ấy, những người thờ phượng từ mọi dân tộc tìm đến đền thờ đã được cung hiến cho việc thờ phượng Đức Chúa Trời. Lấp lánh với vàng và đá quý, đền thờ ấy hiện ra như một cảnh tượng của vẻ đẹp và sự tráng lệ. Nhưng Đức Giê-hô-va không còn ở trong cung điện diễm lệ ấy nữa. Y-sơ-ra-ên, xét như một dân tộc, đã đoạn tuyệt với Đức Chúa Trời. Khi Đấng Christ, gần cuối chức vụ trần thế của Ngài, nhìn lần cuối cùng vào bên trong đền thờ, Ngài phán: "Kìa, nhà các ngươi bị để hoang vu." Ma-thi-ơ 23:38. Bấy lâu nay Ngài đã gọi đền thờ là nhà của Cha Ngài; nhưng khi Con Đức Chúa Trời bước ra khỏi những bức tường ấy, sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã vĩnh viễn rút khỏi đền thờ được xây dựng để tôn vinh Ngài. Công Vụ các Sứ đồ, 145.

The day after the Triumphal Entry Christ proclaimed that the Jew’s house was desolate, and the divorce was finalized. So, the divorce was finalized when the sun went down on the day of the Triumphal Entry.

Vào ngày hôm sau cuộc khải hoàn vào thành, Đấng Christ tuyên bố rằng nhà của người Do Thái đã trở nên hoang vu, và việc ly hôn đã được hoàn tất. Vì vậy, việc ly hôn đã được hoàn tất khi mặt trời lặn vào ngày của cuộc khải hoàn vào thành.

“Jerusalem had been the child of His care, and as a tender father mourns over a wayward son, so Jesus wept over the beloved city. How can I give thee up? How can I see thee devoted to destruction? Must I let thee go to fill up the cup of thine iniquity? One soul is of such value that, in comparison with it, worlds sink into insignificance; but here was a whole nation to be lost. When the fast westering sun should pass from sight in the heavens, Jerusalem’s day of grace would be ended. While the procession was halting on the brow of Olivet, it was not yet too late for Jerusalem to repent. The angel of mercy was then folding her wings to step down from the golden throne to give place to justice and swift-coming judgment. But Christ’s great heart of love still pleaded for Jerusalem, that had scorned His mercies, despised His warnings, and was about to imbrue her hands in His blood. If Jerusalem would but repent, it was not yet too late. While the last rays of the setting sun were lingering on temple, tower, and pinnacle, would not some good angel lead her to the Saviour’s love, and avert her doom? Beautiful and unholy city, that had stoned the prophets, that had rejected the Son of God, that was locking herself by her impenitence in fetters of bondage,—her day of mercy was almost spent!

Giê-ru-sa-lem từng là đứa con được Ngài chăm nom, và như người cha hiền than khóc đứa con lầm lạc, Giê-su cũng đã khóc thương thành yêu dấu ấy. Làm sao Ta nỡ bỏ ngươi? Làm sao Ta đành thấy ngươi phó mình cho sự hủy diệt? Lẽ nào Ta để ngươi đi để làm đầy chén gian ác của ngươi? Một linh hồn quý giá đến nỗi, so với nó, các thế giới đều trở nên nhỏ nhoi; nhưng ở đây cả một dân tộc sẽ bị mất. Khi mặt trời đang vội vàng lặn về phía tây khuất khỏi bầu trời, thì ngày ân điển của Giê-ru-sa-lem sẽ chấm dứt. Khi đoàn rước dừng lại trên đỉnh Olivet, thì đối với Giê-ru-sa-lem vẫn chưa quá muộn để ăn năn. Khi ấy, thiên sứ của lòng thương xót đang xếp cánh để bước xuống khỏi ngai vàng, nhường chỗ cho công lý và cuộc phán xét sắp đến. Nhưng tấm lòng yêu thương vĩ đại của Đấng Christ vẫn nài xin cho Giê-ru-sa-lem, thành đã khinh thường những ơn thương xót của Ngài, khinh bỉ những lời cảnh cáo của Ngài, và sắp nhuộm tay mình bằng huyết của Ngài. Nếu Giê-ru-sa-lem chỉ chịu ăn năn, thì vẫn chưa quá muộn. Khi những tia nắng cuối cùng của mặt trời lặn còn vương trên đền thờ, tháp và chóp nhọn, há sẽ không có một thiên sứ nhân lành nào dẫn dắt nàng đến với tình yêu của Đấng Cứu Thế, và ngăn trở án phạt của nàng sao? Hỡi thành phố đẹp đẽ mà ô uế, đã ném đá các nhà tiên tri, đã khước từ Con Đức Chúa Trời, đang tự khóa mình bởi sự không ăn năn trong xiềng xích nô lệ,— ngày thương xót của nàng hầu như đã cạn!

“Yet again the Spirit of God speaks to Jerusalem. Before the day is done, another testimony is borne to Christ. The voice of witness is lifted up, responding to the call from a prophetic past. If Jerusalem will hear the call, if she will receive the Saviour who is entering her gates, she may yet be saved.

Một lần nữa Thần Khí của Thiên Chúa lại nói với Giêrusalem. Trước khi ngày tàn, lại có một chứng từ nữa về Đức Kitô. Lời chứng được cất lên, đáp lại lời kêu gọi từ quá khứ ngôn sứ. Nếu Giêrusalem chịu nghe lời kêu gọi, nếu thành chịu đón nhận Đấng Cứu Độ đang tiến vào các cửa thành của mình, thì thành vẫn còn có thể được cứu.

“Reports have reached the rulers in Jerusalem that Jesus is approaching the city with a great concourse of people. But they have no welcome for the Son of God. In fear they go out to meet Him, hoping to disperse the throng. As the procession is about to descend the Mount of Olives, it is intercepted by the rulers. They inquire the cause of the tumultuous rejoicing. As they question, ‘Who is this?’ the disciples, filled with the spirit of inspiration, answer this question. In eloquent strains they repeat the prophecies concerning Christ:

Tin tức đã đến tai các nhà cầm quyền ở Giê-ru-sa-lem rằng Đức Giê-su đang tiến vào thành cùng với một đoàn người đông đảo. Nhưng họ không có sự đón tiếp dành cho Con Đức Chúa Trời. Vì sợ hãi, họ ra đón Ngài, mong giải tán đám đông. Khi đoàn rước sắp xuống Núi Ô-liu, thì bị các nhà cầm quyền chặn lại. Họ hỏi nguyên do của sự vui mừng náo động ấy. Khi họ hỏi: "Người này là ai?", các môn đồ, đầy dẫy thần hứng, trả lời câu hỏi ấy. Họ hùng hồn nhắc lại những lời tiên tri liên quan đến Đấng Christ:

“Adam will tell you, It is the seed of the woman that shall bruise the serpent’s head.

Adam sẽ nói với bạn, chính dòng dõi của người phụ nữ sẽ đánh dập đầu con rắn.

“Ask Abraham, he will tell you, It is ‘Melchizedek King of Salem,’ King of Peace. Genesis 14:18.

Hãy hỏi Abraham, ông ấy sẽ nói cho bạn biết: Đó là 'Melchizedek, Vua của Salem', Vua của Bình An. Sáng thế ký 14:18.

“Jacob will tell you, He is Shiloh of the tribe of Judah.

Jacob sẽ nói với bạn rằng người ấy là Shiloh, thuộc bộ tộc Judah.

“Isaiah will tell you, ‘Immanuel,’ ‘Wonderful, Counselor, The mighty God, The everlasting Father, The Prince of Peace.’ Isaiah 7:14; 9:6.

Ê-sai sẽ nói với bạn, 'Immanuel,' 'Đấng Kỳ Diệu, Đấng Cố Vấn, Đức Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời, Hoàng Tử Bình An.' Ê-sai 7:14; 9:6.

“Jeremiah will tell you, The Branch of David, ‘the Lord our Righteousness.’ Jeremiah 23:6.

Giê-rê-mi sẽ nói với bạn: Nhánh của Đa-vít, 'Chúa là sự công chính của chúng ta.' Giê-rê-mi 23:6.

“Daniel will tell you, He is the Messiah.

Daniel sẽ nói với bạn rằng anh ấy là Đấng Mêsia.

“Hosea will tell you, He is ‘the Lord God of hosts; the Lord is His memorial.’ Hosea 12:5.

Ô-sê sẽ nói cho bạn biết: Ngài là 'Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; Đức Giê-hô-va là danh kỷ niệm của Ngài.' Ô-sê 12:5.

“John the Baptist will tell you, He is ‘the Lamb of God, which taketh away the sin of the world.’ John 1:29.

Gioan Tẩy Giả sẽ nói với bạn, Ngài là 'Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội lỗi của thế gian.' Gioan 1:29.

“The great Jehovah has proclaimed from His throne, ‘This is My beloved Son.’ Matthew 3:17.

Đức Giê-hô-va vĩ đại đã phán từ ngai của Ngài: "Đây là Con yêu dấu của Ta." Ma-thi-ơ 3:17.

“We, His disciples, declare, This is Jesus, the Messiah, the Prince of life, the Redeemer of the world.

Chúng tôi, các môn đệ của Ngài, tuyên bố: Đây là Giê-xu, Đấng Mê-si-a, Đấng Khởi nguồn của sự sống, Đấng Cứu Chuộc của thế gian.

“And the prince of the powers of darkness acknowledges Him, saying, ‘I know Thee who Thou art, the Holy One of God.’ Mark 1:24.” The Desire of Ages, 577–579.

Và chúa của các thế lực tối tăm thừa nhận Ngài, nói rằng: "Ta biết Ngài là ai: Đấng Thánh của Đức Chúa Trời." Mác 1:24. Khát vọng của các thời đại, 577-579.

The history of Christ’s Triumphal Entry typified the history of the Midnight Cry in the Millerite time period. The passage from Sister White identifies that when the entrance began the people came under the inspiration of the Holy Spirit, and then Christ stopped and wept over Jerusalem. Thereafter He continued the entry, and is then confronted by Jewish leadership. I would like to isolate certain attributes of this story in order to identify waymarks that are repeated in the history of the Millerites. But first I want to make a point about the beginning and ending. What we just cited from Sister White represents the end of a chapter, and the opening of the next chapter says the following.

Lịch sử Sự Vào Thành Khải Hoàn của Đấng Christ đã làm hình bóng cho lịch sử của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm trong thời kỳ Millerite. Đoạn văn của bà White cho biết rằng khi cuộc vào thành bắt đầu, dân chúng chịu sự cảm động của Đức Thánh Linh, rồi Đấng Christ dừng lại và khóc thương Giê-ru-sa-lem. Sau đó Ngài tiếp tục tiến vào, và rồi đối diện với giới lãnh đạo Do Thái. Tôi muốn tách ra một số đặc điểm của câu chuyện này để xác định những dấu mốc được lặp lại trong lịch sử của phong trào Millerite. Nhưng trước hết tôi muốn nêu một điểm về phần mở đầu và phần kết thúc. Điều chúng ta vừa trích dẫn từ bà White là phần kết của một chương, và phần mở đầu của chương kế tiếp nói như sau.

“The triumphal ride of Christ into Jerusalem was the dim foreshadowing of His coming in the clouds of heaven with power and glory, amid the triumph of angels and the rejoicing of the saints. Then will be fulfilled the words of Christ to the priests and Pharisees: ‘Ye shall not see Me henceforth, till ye shall say, Blessed is He that cometh in the name of the Lord.’ Matthew 23:39. In prophetic vision Zechariah was shown that day of final triumph; and he beheld also the doom of those who at the first advent had rejected Christ: ‘They shall look upon Me whom they have pierced, and they shall mourn for Him, as one mourneth for his only son, and shall be in bitterness for Him, as one that is in bitterness for his first-born.’ Zechariah 12:10. This scene Christ foresaw when He beheld the city and wept over it. In the temporal ruin of Jerusalem He saw the final destruction of that people who were guilty of the blood of the Son of God.

Cuộc tiến vào Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn của Đấng Christ là hình bóng mờ nhạt báo trước việc Ngài sẽ đến trên mây trời với quyền năng và vinh hiển, giữa sự khải hoàn của các thiên sứ và niềm hân hoan của các thánh đồ. Bấy giờ sẽ ứng nghiệm những lời của Đấng Christ phán với các thầy tế lễ và người Pha-ri-si: 'Các ngươi sẽ không thấy Ta từ nay về sau, cho đến khi các ngươi nói: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến.' Ma-thi-ơ 23:39. Trong khải tượng tiên tri, Xa-cha-ri đã được cho thấy ngày vinh thắng cuối cùng đó; và ông cũng thấy bản án dành cho những kẻ đã từ chối Đấng Christ trong kỳ giáng lâm thứ nhất: 'Chúng sẽ nhìn lên Ta, là Đấng chúng đã đâm, và sẽ than khóc về Ngài như người ta than khóc đứa con một, và sẽ cay đắng vì Ngài như người ta cay đắng vì con đầu lòng.' Xa-cha-ri 12:10. Đấng Christ đã thấy trước cảnh này khi Ngài nhìn thành và khóc thương nó. Trong sự sụp đổ tạm thời của Giê-ru-sa-lem, Ngài thấy sự hủy diệt sau cùng của dân ấy, là những kẻ có tội về huyết của Con Đức Chúa Trời.

“The disciples saw the hatred of the Jews to Christ, but they did not yet see to what it would lead. They did not yet understand the true condition of Israel, nor comprehend the retribution that was to fall upon Jerusalem. This Christ opened to them by a significant object lesson.

Các môn đồ thấy sự thù ghét của người Do Thái đối với Chúa Kitô, nhưng họ vẫn chưa thấy nó sẽ dẫn đến đâu. Họ vẫn chưa hiểu rõ tình trạng thật sự của Israel, cũng chưa nhận ra sự trừng phạt sẽ giáng xuống Jerusalem. Điều này Chúa Kitô đã bày tỏ cho họ qua một bài học minh họa đầy ý nghĩa.

“The last appeal to Jerusalem had been in vain. The priests and rulers had heard the prophetic voice of the past echoed by the multitude, in answer to the question, ‘Who is this?’ but they did not accept it as the voice of Inspiration. In anger and amazement they tried to silence the people. There were Roman officers in the throng, and to them His enemies denounced Jesus as the leader of a rebellion. They represented that He was about to take possession of the temple, and reign as king in Jerusalem.” The Desire of Ages, 580.

Lời kêu gọi cuối cùng gửi đến Giê-ru-sa-lem đã vô ích. Các thầy tế lễ và các nhà lãnh đạo đã nghe tiếng nói tiên tri của quá khứ vang dội qua đám đông, đáp lại câu hỏi, 'Người này là ai?' nhưng họ không chấp nhận đó là tiếng nói của sự linh hứng. Trong cơn giận dữ và kinh ngạc, họ tìm cách khiến dân chúng im lặng. Giữa đám đông có các sĩ quan La Mã, và trước mặt họ, những kẻ thù của Ngài tố cáo Giê-su là kẻ cầm đầu một cuộc nổi loạn. Họ trình bày rằng Ngài sắp chiếm lấy đền thờ và trị vì như vua tại Giê-ru-sa-lem. Khát vọng của các thời đại, 580.

The point I did not want to miss is that Christ’s Triumphal Entry into Jerusalem typifies not only the Midnight Cry of Millerite history, but also the end of the world. It is associated with the return of Christ at the beginning of Revelation chapter twenty’s millennium and also His return with New Jerusalem at the end of the millennium. It is also associated with the death of the wicked at His second coming, and their final judgment at the end of the millennium. The opening of the last paragraph states, “The last appeal to Jerusalem had been in vain. The priests and rulers had heard the prophetic voice of the past echoed by the multitude, in answer to the question, ‘Who is this?’ but they did not accept it as the voice of Inspiration.”

Điểm mà tôi không muốn bỏ qua là Sự Tiến Vào Giê-ru-sa-lem cách Khải Hoàn của Đấng Christ không chỉ tiêu biểu cho Tiếng Kêu Nửa Đêm trong lịch sử của phong trào Millerite, mà còn cho sự tận thế. Nó gắn liền với sự tái lâm của Đấng Christ vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ được chép trong Khải Huyền chương hai mươi, và cũng với việc Ngài trở lại cùng Giê-ru-sa-lem Mới vào cuối thiên niên kỷ. Nó cũng liên hệ đến sự chết của kẻ ác khi Ngài tái lâm, và sự phán xét cuối cùng của họ vào cuối thiên niên kỷ. Phần mở đầu của đoạn cuối cùng viết rằng, "Lời kêu gọi cuối cùng gửi đến Giê-ru-sa-lem đã trở nên vô ích. Các thầy tế lễ và các nhà lãnh đạo đã nghe tiếng nói tiên tri của quá khứ được đám đông vọng lại để đáp cho câu hỏi, 'Người này là ai?' nhưng họ đã không chấp nhận đó là tiếng nói được linh cảm."

The last appeal was in vain, and the appeal was represented as “the prophetic voice of the past.” The multitude in Christ’s day rejected their last appeal, for they rejected Jeremiah’s counsel to return to the old paths. They also refused the methodology of line upon line, for the disciples had answered the question of “Who is this,” by bringing several witnesses together, line upon line, from here a little and there a little.

Lời kêu gọi cuối cùng đã trở nên vô ích, và lời kêu gọi ấy được xem như “tiếng nói tiên tri của quá khứ.” Đám đông vào thời Chúa Kitô đã khước từ lời kêu gọi cuối cùng dành cho họ, vì họ đã bác bỏ lời khuyên của Giê-rê-mi kêu gọi trở về các đường lối xưa. Họ cũng từ chối phương pháp “dòng trên dòng,” vì các môn đồ đã trả lời câu hỏi “Người này là ai” bằng cách tập hợp nhiều lời chứng lại với nhau, dòng trên dòng, chỗ này một chút, chỗ kia một chút.

When Christ begins the entry into Jerusalem, He stops along the way. It begins with the fulfillment of prophecy as the disciples secure the ass for Christ to ride upon. He had never ridden an animal, and the animal had never been ridden. The logic identifies a miracle, for what animal allows a rider the first time, and who knows how to manage riding an ass that has never done it before. This is similar to when the Philistines placed an offering on the cart, along with the Ark, and hitched up two cows who both were nursing calves, and who had never pulled a cart before, and they immediately deserted the calves and began the trip to return the Ark to the Hebrews. The Ark is on its way to Jerusalem, and when David finally brings it into Jerusalem, he typified Christ’s triumphal entry.

Khi Đấng Christ bắt đầu tiến vào Giê-ru-sa-lem, Ngài dừng lại dọc đường. Mọi sự mở đầu bằng sự ứng nghiệm lời tiên tri khi các môn đồ thu xếp một con lừa để Ngài cưỡi. Ngài chưa từng cưỡi một con vật nào, và con vật ấy cũng chưa từng bị ai cưỡi. Xét theo lẽ thường, đây là một phép lạ: con vật nào lại chịu cho người cưỡi ngay lần đầu, và ai có thể điều khiển việc cưỡi một con lừa chưa hề được cưỡi trước đó. Điều này giống như khi người Phi-li-tin đặt lễ vật lên một chiếc xe cùng với Hòm Bia, rồi thắng vào đó hai con bò cái đều đang cho bê con bú và trước đó chưa hề kéo xe; thế mà chúng lập tức bỏ bê con và lên đường đưa Hòm Bia trở về cho người Hê-bơ-rơ. Hòm Bia đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem, và khi Đa-vít cuối cùng đưa Hòm Bia vào Giê-ru-sa-lem, ông đã báo trước cuộc khải hoàn tiến vào thành của Đấng Christ.

Once Christ is on the ass, the people began lining the street with their coats, cutting down palm branches and the shouts cry out, “Hosanna to the Son of David: Blessed is He that cometh in the name of the Lord! Hosanna in the highest.” (Matthew 21:9) The leaders resist and call for Jesus to silence the crowd. They move on and Jesus stops to weep for lost mankind, represented by Jerusalem. Then the procession proceeds and the leaders once again intercede, demanding to know who Jesus is. Then the disciples respond with the line upon line testimony of the prophets.

Khi Đấng Christ cỡi lừa, dân chúng bắt đầu trải áo mình dọc theo đường, chặt cành chà là, và những tiếng hô vang lên: “Hô-sa-na Con vua Đa-vít! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở nơi rất cao.” (Ma-thi-ơ 21:9) Các lãnh đạo chống đối và yêu cầu Chúa Giê-su khiến đám đông im lặng. Họ tiếp tục đi, và Chúa Giê-su dừng lại khóc thương cho nhân loại lạc mất, được tượng trưng bởi Giê-ru-sa-lem. Rồi đoàn rước lại tiếp tục, và các lãnh đạo một lần nữa can thiệp, đòi biết Chúa Giê-su là ai. Bấy giờ các môn đồ đáp lại bằng lời chứng, câu nọ nối câu kia, của các tiên tri.

The history we are now considering was preceded by the resurrection of Lazarus, which marks the first disappointment in the prophetic line illustrated in the parable of the ten virgins, and by Uzzah touching the Ark, in the line of David’s triumphal entry into Jerusalem. The first disappointment is associated with a tarrying time, and Christ has tarried when he first heard Lazarus was sick, just as David tarried by leaving the Ark where Uzzah died until he later retrieved it. Lazarus died, and was thereafter resurrected. Lazarus is the one who thereafter leads the ass that Jesus rides upon into Jerusalem.

Trước câu chuyện mà chúng ta đang xét là sự sống lại của La-xa-rơ — điều đánh dấu sự thất vọng đầu tiên trong mạch tiên tri được minh họa trong dụ ngôn về mười trinh nữ — và sự kiện U-xa chạm vào Hòm Giao Ước, thuộc mạch về cuộc khải hoàn của Đa-vít vào Giê-ru-sa-lem. Sự thất vọng đầu tiên gắn liền với một thời kỳ trì hoãn, và Chúa Giê-su đã trì hoãn khi vừa nghe tin La-xa-rơ bị bệnh, cũng như Đa-vít đã trì hoãn bằng cách để Hòm Giao Ước lại tại nơi U-xa chết, mãi sau này ông mới rước nó về. La-xa-rơ đã chết, rồi sau đó được làm cho sống lại. Chính La-xa-rơ là người sau đó dắt con lừa mà Chúa Giê-su cưỡi tiến vào Giê-ru-sa-lem.

In Millerite history the second angel arrived on April 19, 1844, at the first disappointment, which marked the beginning of the tarrying time. Thereafter Samuel Snow began to progressively develop the message of the Midnight Cry. The progressive development of that message is represented by Christ’s entry into Jerusalem. The progression of Snow’s work is also represented in the travels of the Ark, from the Philistines, to the cart, to Uzzah and ultimately into Jerusalem.

Trong lịch sử phong trào Miller, thiên sứ thứ hai đã đến vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, vào dịp thất vọng lần thứ nhất, điều này đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ trì hoãn. Sau đó Samuel Snow bắt đầu từng bước phát triển sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Sự phát triển từng bước của sứ điệp ấy được tượng trưng bởi việc Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem. Sự tiến triển trong công việc của Snow cũng được tượng trưng qua hành trình của Hòm Giao Ước, từ người Phi-li-tin, đến cỗ xe, đến U-xa và cuối cùng vào Giê-ru-sa-lem.

The entry has a beginning proclamation of the people when the leaders told Christ to silence the crowd, followed by Christ weeping, then the proclamation of the disciples when the obstinate leaders asked who Christ was. The manifestation of inspiration in the people that produced the first response of the obstinate leaders is repeated by the disciples when they produced “line upon line” a multitude of prophetic witnesses from the past. When the sun set that day, ancient Israel was divorced from God.

Cuộc tiến vào bắt đầu bằng lời tuyên bố của dân chúng khi các lãnh đạo bảo Đấng Christ làm cho đám đông im lặng, tiếp theo là Đấng Christ khóc, rồi đến lời tuyên bố của các môn đồ khi những lãnh đạo ngoan cố hỏi Đấng Christ là ai. Sự bày tỏ cảm hứng nơi dân chúng, điều đã dẫn đến phản ứng đầu tiên của các lãnh đạo ngoan cố, được các môn đồ lặp lại khi họ "line upon line" đưa ra vô số lời chứng tiên tri từ quá khứ. Khi mặt trời lặn hôm ấy, Israel xưa đã bị Đức Chúa Trời ly hôn.

In that history we are informed that the disciples did not “comprehend the retribution that was to fall upon Jerusalem.” The “retribution” that was to “fall upon Jerusalem” was illustrated for the disciples by “a significant object lesson.” The significant object lesson was the cursing of the fig tree. The destruction of Jerusalem, which the disciples did not yet understand was illustrated by the cursing of the fig tree, and also the parable which Christ had previously taught concerning the fig tree.

Trong tường thuật ấy, chúng ta được biết rằng các môn đệ đã không "hiểu được sự trừng phạt sẽ giáng xuống trên Giêrusalem". "Sự trừng phạt" sẽ "giáng xuống trên Giêrusalem" đã được trình bày cho các môn đệ qua "một bài học minh họa đầy ý nghĩa". Bài học minh họa đầy ý nghĩa ấy là việc nguyền rủa cây vả. Sự hủy diệt Giêrusalem — điều mà các môn đệ khi ấy vẫn chưa hiểu — đã được minh họa bằng việc nguyền rủa cây vả, và cả bằng dụ ngôn mà Chúa Kitô đã dạy trước đó về cây vả.

The warning is for all time. Christ’s act in cursing the tree which His own power had created stands as a warning to all churches and to all Christians. No one can live the law of God without ministering to others. But there are many who do not live out Christ’s merciful, unselfish life. Some who think themselves excellent Christians do not understand what constitutes service for God. They plan and study to please themselves. They act only in reference to self. Time is of value to them only as they can gather for themselves. In all the affairs of life this is their object. Not for others but for themselves do they minister. God created them to live in a world where unselfish service must be performed. He designed them to help their fellow men in every possible way. But self is so large that they cannot see anything else. They are not in touch with humanity. Those who thus live for self are like the fig tree, which made every pretension but was fruitless. They observe the forms of worship, but without repentance or faith. In profession they honor the law of God, but obedience is lacking. They say, but do not. In the sentence pronounced on the fig tree Christ demonstrates how hateful in His eyes is this vain pretense. He declares that the open sinner is less guilty than is he who professes to serve God, but who bears no fruit to His glory.

Lời cảnh cáo dành cho muôn đời. Hành động của Đấng Christ nguyền rủa cây mà quyền năng của chính Ngài đã dựng nên là một lời cảnh cáo cho mọi hội thánh và cho tất cả các Cơ Đốc nhân. Không ai có thể sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời mà không phục vụ người khác. Nhưng có nhiều người không sống đời sống nhân từ, vị tha của Đấng Christ. Một số người tự cho mình là Cơ Đốc nhân xuất sắc lại không hiểu thế nào là phục vụ Đức Chúa Trời. Họ lên kế hoạch và suy tính để làm vừa lòng chính mình. Họ hành động chỉ vì bản thân. Thời gian chỉ có giá trị đối với họ khi họ có thể thu vén cho mình. Trong mọi công việc của đời sống, đó là mục tiêu của họ. Họ không phục vụ người khác, mà chỉ phục vụ chính mình. Đức Chúa Trời đã dựng nên họ để sống trong một thế giới nơi sự phục vụ vị tha phải được thực hiện. Ngài đã định họ để giúp đỡ đồng loại bằng mọi cách có thể. Nhưng cái tôi của họ lớn đến nỗi họ không còn thấy gì khác. Họ không gắn bó với đồng loại. Những người sống cho mình như thế giống như cây vả, phô trương đủ điều nhưng không có trái. Họ giữ các hình thức thờ phượng, nhưng không có sự ăn năn hay đức tin. Trong lời xưng nhận, họ tôn kính luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng thiếu vâng phục. Họ nói mà không làm. Qua bản án tuyên trên cây vả, Đấng Christ cho thấy trong mắt Ngài thói giả hình hão huyền ấy đáng ghét biết bao. Ngài tuyên bố rằng kẻ tội lỗi công khai còn ít đáng tội hơn người xưng mình phục vụ Đức Chúa Trời nhưng không sinh bông trái nào cho vinh hiển Ngài.

“The parable of the fig tree, spoken before Christ’s visit to Jerusalem, had a direct connection with the lesson He taught in cursing the fruitless tree.” The Desire of Ages, 584.

"Dụ ngôn về cây vả, được kể trước khi Đấng Christ đến Giê-ru-sa-lem, có mối liên hệ trực tiếp với bài học Ngài dạy khi nguyền rủa cây không có trái." The Desire of Ages, 584.

After the last confrontation with the leaders, Jesus retired to pray through the night, then in the morning as He passed the fig tree He cursed it.

Sau lần đối đầu cuối cùng với các nhà lãnh đạo, Chúa Giê-su lui về cầu nguyện suốt đêm; sáng hôm sau, khi đi ngang qua cây vả, Ngài nguyền rủa nó.

“It was not the season for ripe figs, except in certain localities; and on the highlands about Jerusalem it might truly be said, ‘The time of figs was not yet.’ But in the orchard to which Jesus came, one tree appeared to be in advance of all the others. It was already covered with leaves. It is the nature of the fig tree that before the leaves open, the growing fruit appears. Therefore this tree in full leaf gave promise of well-developed fruit. But its appearance was deceptive. Upon searching its branches, from the lowest bough to the topmost twig, Jesus found ‘nothing but leaves.’ It was a mass of pretentious foliage, nothing more.

Khi ấy chưa phải mùa quả vả chín, trừ ở một vài nơi; và ở vùng cao quanh Giê-ru-sa-lem, quả thật có thể nói: 'Chưa đến mùa vả.' Nhưng trong vườn cây nơi Đức Giê-su đến, có một cây dường như đi trước tất cả những cây khác. Nó đã phủ đầy lá. Bản tính của cây vả là trước khi lá xòe ra, quả đang lớn đã xuất hiện. Vì vậy, cây này đầy lá thì hứa hẹn có những trái đã phát triển. Nhưng vẻ bề ngoài của nó lại đánh lừa. Khi tìm kiếm các cành của nó, từ cành thấp nhất đến nhánh cao nhất, Đức Giê-su thấy 'chẳng có gì ngoài lá.' Nó chỉ là một đám lá phô trương, không gì hơn.

“Christ uttered against it a withering curse. ‘No man eat fruit of thee hereafter forever,’ He said. The next morning, as the Saviour and His disciples were again on their way to the city, the blasted branches and drooping leaves attracted their attention. ‘Master,’ said Peter, ‘behold, the fig tree which Thou cursedst is withered away.’

"Đấng Christ đã phán lời rủa sả khiến nó khô héo. 'Chẳng ai ăn trái của mày nữa, từ nay cho đến đời đời,' Ngài phán. Sáng hôm sau, khi Đấng Cứu Thế cùng các môn đồ lại đi trên đường vào thành, những cành khô cháy và lá rũ xuống thu hút sự chú ý của họ. 'Thưa Thầy,' Phi-e-rơ nói, 'kìa, cây vả mà Thầy đã rủa đã khô héo rồi.'"

“Christ’s act in cursing the fig tree had astonished the disciples. It seemed to them unlike His ways and works. Often they had heard Him declare that He came not to condemn the world, but that the world through Him might be saved. They remembered His words, ‘The Son of man is not come to destroy men’s lives, but to save them.’ Luke 9:56. His wonderful works had been done to restore, never to destroy. The disciples had known Him only as the Restorer, the Healer. This act stood alone. What was its purpose? they questioned.

Hành động rủa cây vả của Đấng Christ đã khiến các môn đồ kinh ngạc. Họ thấy điều đó dường như không giống với đường lối và công việc của Ngài. Họ đã nhiều lần nghe Ngài tuyên bố rằng Ngài đến không phải để kết án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu. Họ nhớ lời Ngài: "Con Người không đến để hủy diệt mạng sống của người ta, nhưng để cứu." Lu-ca 9:56. Những việc làm kỳ diệu của Ngài đều nhằm phục hồi, chứ không bao giờ nhằm hủy diệt. Các môn đồ chỉ biết Ngài như Đấng Phục Hồi, Đấng Chữa Lành. Hành động này đứng riêng, khác hẳn. Mục đích của nó là gì? Họ tự hỏi.

“God ‘delighteth in mercy.’ ‘As I live, saith the Lord God, I have no pleasure in the death of the wicked.’ Micah 7:18; Ezekiel 33:11. To Him the work of destruction and the denunciation of judgment is a ‘strange work.’ Isaiah 28:21. But it is in mercy and love that He lifts the veil from the future, and reveals to men the results of a course of sin.

Đức Chúa Trời 'ưa thích sự nhân từ.' 'Ta lấy sự sống của Ta mà thề, Chúa là Đức Chúa Trời phán: Ta chẳng vui thích trong sự chết của kẻ ác.' Mi-chê 7:18; Ê-xê-chi-ên 33:11. Đối với Ngài, công việc hủy diệt và việc tuyên án phán xét là một 'công việc khác thường.' Ê-sai 28:21. Nhưng chính vì lòng thương xót và tình yêu mà Ngài vén bức màn che phủ tương lai, và tỏ cho con người thấy hậu quả của một con đường tội lỗi.

“The cursing of the fig tree was an acted parable. That barren tree, flaunting its pretentious foliage in the very face of Christ, was a symbol of the Jewish nation. The Saviour desired to make plain to His disciples the cause and the certainty of Israel’s doom. For this purpose He invested the tree with moral qualities, and made it the expositor of divine truth. The Jews stood forth distinct from all other nations, professing allegiance to God. They had been specially favored by Him, and they laid claim to righteousness above every other people. But they were corrupted by the love of the world and the greed of gain. They boasted of their knowledge, but they were ignorant of the requirements of God, and were full of hypocrisy. Like the barren tree, they spread their pretentious branches aloft, luxuriant in appearance, and beautiful to the eye, but they yielded ‘nothing but leaves.’ The Jewish religion, with its magnificent temple, its sacred altars, its mitered priests and impressive ceremonies, was indeed fair in outward appearance, but humility, love, and benevolence were lacking.” The Desire of Ages, 581, 582.

"Việc nguyền rủa cây vả là một dụ ngôn bằng hành động. Cây vô quả ấy, phô trương tán lá giả tạo ngay trước mặt Đấng Christ, là biểu tượng của dân tộc Do Thái. Đấng Cứu Thế muốn làm cho các môn đồ Ngài thấy rõ nguyên nhân và sự chắc chắn về án diệt vong của Israel. Vì mục đích ấy, Ngài gán cho cây những phẩm chất đạo đức và khiến nó trở thành phương tiện bày tỏ lẽ thật thiêng liêng. Người Do Thái nổi bật, khác biệt với mọi dân tộc khác, tuyên xưng lòng trung thành với Đức Chúa Trời. Họ đã được Ngài ưu ái cách đặc biệt, và họ tự nhận mình công chính hơn mọi dân khác. Nhưng họ đã bị bại hoại bởi lòng yêu thế gian và tham lợi. Họ khoe khoang về sự hiểu biết của mình, nhưng lại chẳng biết những đòi hỏi của Đức Chúa Trời, và đầy dẫy sự giả hình. Như cây vô quả kia, họ vươn những cành nhánh phô trương lên cao, bề ngoài thì sum suê và đẹp mắt, nhưng chỉ 'chẳng có gì ngoài lá.' Tôn giáo Do Thái, với đền thờ tráng lệ, những bàn thờ thánh, các thầy tế đội mũ tế và những nghi lễ trang nghiêm, quả thật đẹp đẽ bề ngoài, nhưng lại thiếu khiêm nhường, tình yêu thương và lòng nhân ái." The Desire of Ages, 581, 582.

We began by raising two questions which we are in the process of answering. Those questions were, “Why did the judgment of the living begin at 9/11? What is the biblical judgment of the living?”

Chúng tôi bắt đầu bằng việc nêu ra hai câu hỏi mà chúng tôi đang trong quá trình trả lời. Những câu hỏi đó là: “Vì sao sự phán xét đối với người sống bắt đầu vào 9/11? Phán xét đối với người sống theo Kinh Thánh là gì?”

The few lines of prophecy we just put in place are biblical witnesses of the judgment of the living. Those lines of prophecy address much more than simply the “A, B, C’s” of the judgment, but we are first answering the questions of 9/11 and the judgment of the living.

Một vài dòng tiên tri mà chúng ta vừa thiết lập là những bằng chứng Kinh Thánh về sự phán xét người sống. Những dòng tiên tri ấy đề cập đến nhiều điều vượt xa chỉ những “A, B, C” của sự phán xét, nhưng trước hết chúng ta đang giải đáp các câu hỏi về 9/11 và về sự phán xét người sống.

“‘I beheld,’ says the prophet Daniel, ‘till thrones were placed, and One that was Ancient of Days did sit: His raiment was white as snow, and the hair of His head like pure wool; His throne was fiery flames, and the wheels thereof burning fire. A fiery stream issued and came forth from before Him: thousand thousands ministered unto Him, and ten thousand times ten thousand stood before Him: the judgment was set, and the books were opened.’ Daniel 7:9, 10, R.V.

"'Ta nhìn xem,' tiên tri Đa-ni-ên nói, 'cho đến khi các ngôi được dựng lên, và có Một Đấng Thượng Cổ ngồi xuống: áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên tinh sạch; ngôi của Ngài là ngọn lửa hừng, và các bánh xe của nó là lửa cháy. Một dòng sông lửa tuôn ra và chảy từ trước mặt Ngài; ngàn ngàn hầu hạ Ngài, và mười ngàn lần mười ngàn đứng trước mặt Ngài; tòa xét xử được bày ra, và các sách được mở ra.' Đa-ni-ên 7:9, 10, R.V."

“Thus was presented to the prophet’s vision the great and solemn day when the characters and the lives of men should pass in review before the Judge of all the earth, and to every man should be rendered ‘according to his works.’ The Ancient of Days is God the Father. Says the psalmist: ‘Before the mountains were brought forth, or ever Thou hadst formed the earth and the world, even from everlasting to everlasting, Thou art God.’ Psalm 90:2. It is He, the source of all being, and the fountain of all law, that is to preside in the judgment. And holy angels as ministers and witnesses, in number ‘ten thousand times ten thousand, and thousands of thousands,’ attend this great tribunal.

Như thế, trong khải tượng của vị tiên tri đã hiện ra ngày trọng đại và trang nghiêm khi tính cách và đời sống của loài người sẽ được đem ra xét duyệt trước Đấng Thẩm Phán của cả trái đất, và mỗi người sẽ được báo trả “tùy theo việc làm mình.” Đấng Thượng Cổ là Đức Chúa Trời Cha. Thi thiên gia nói: “Trước khi núi non sinh ra, trước khi Ngài dựng nên đất và thế gian, từ đời đời cho đến đời đời, Ngài là Đức Chúa Trời.” Thi Thiên 90:2. Chính Ngài, cội nguồn của mọi hữu thể và suối nguồn của mọi luật pháp, sẽ chủ tọa cuộc phán xét. Và các thiên sứ thánh, làm kẻ hầu việc và làm chứng, với số lượng “mười nghìn lần mười nghìn, và nghìn lần nghìn,” hầu cận trước đại tòa này.

“‘And, behold, one like the Son of man came with the clouds of heaven, and came to the Ancient of Days, and they brought Him near before Him. And there was given Him dominion, and glory, and a kingdom, that all people, nations, and languages, should serve Him: His dominion is an everlasting dominion, which shall not pass away.’ Daniel 7:13, 14. The coming of Christ here described is not His second coming to the earth. He comes to the Ancient of Days in heaven to receive dominion and glory and a kingdom, which will be given Him at the close of His work as a mediator. It is this coming, and not His second advent to the earth, that was foretold in prophecy to take place at the termination of the 2300 days in 1844. Attended by heavenly angels, our great High Priest enters the holy of holies and there appears in the presence of God to engage in the last acts of His ministration in behalf of man—to perform the work of investigative judgment and to make an atonement for all who are shown to be entitled to its benefits.

"Và kìa, có một Đấng giống như Con người đến trên những đám mây ở trên trời, và đến cùng Đấng Thượng Cổ; người ta đem Đấng ấy đến gần trước mặt Ngài. Và Đấng ấy được ban cho quyền cai trị, vinh hiển và một vương quốc, để hết thảy các dân, các nước và các thứ tiếng đều phục sự Ngài; quyền cai trị của Ngài là quyền cai trị đời đời, chẳng hề qua đi." Đa-ni-ên 7:13, 14. Sự đến của Đấng Christ được mô tả ở đây không phải là sự tái lâm của Ngài xuống đất. Ngài đến cùng Đấng Thượng Cổ trên trời để nhận quyền cai trị, vinh hiển và một vương quốc, là những điều sẽ được ban cho Ngài khi kết thúc công việc làm Đấng Trung Bảo của Ngài. Chính sự đến này, chứ không phải sự tái lâm của Ngài xuống đất, đã được lời tiên tri báo trước là sẽ xảy ra vào lúc kết thúc 2300 ngày vào năm 1844. Có các thiên sứ trên trời tháp tùng, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại của chúng ta bước vào Nơi Chí Thánh và hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời để thực hiện những hành động cuối cùng trong chức vụ của Ngài vì loài người—thi hành công việc phán xét điều tra và làm sự chuộc tội cho hết thảy những ai được tỏ ra là xứng đáng hưởng các ơn ích của sự ấy.

“In the typical service only those who had come before God with confession and repentance, and whose sins, through the blood of the sin offering, were transferred to the sanctuary, had a part in the service of the Day of Atonement. So in the great day of final atonement and investigative judgment the only cases considered are those of the professed people of God. The judgment of the wicked is a distinct and separate work, and takes place at a later period. ‘Judgment must begin at the house of God: and if it first begin at us, what shall the end be of them that obey not the gospel?’ 1 Peter 4:17.

Trong nghi lễ tượng trưng, chỉ những ai đã đến trước mặt Đức Chúa Trời với sự xưng tội và ăn năn, và tội lỗi của họ, nhờ huyết của của lễ chuộc tội, đã được chuyển vào đền thánh, mới có phần trong nghi lễ của Ngày Lễ Chuộc Tội. Cũng vậy, trong ngày trọng đại của sự chuộc tội sau cùng và sự phán xét tra xét, những trường hợp duy nhất được xét đến là của những người xưng mình là dân của Đức Chúa Trời. Sự phán xét kẻ ác là một công việc riêng biệt, diễn ra vào một thời kỳ muộn hơn. 'Sự phán xét phải khởi đầu tại nhà Đức Chúa Trời; và nếu nó khởi đầu trước hết nơi chúng ta, thì kết cuộc của những kẻ không vâng theo Tin Lành sẽ ra sao?' 1 Phi-e-rơ 4:17.

“The books of record in heaven, in which the names and the deeds of men are registered, are to determine the decisions of the judgment. Says the prophet Daniel: ‘The judgment was set, and the books were opened.’ The revelator, describing the same scene, adds: ‘Another book was opened, which is the book of life: and the dead were judged out of those things which were written in the books, according to their works.’ Revelation 20:12.

Những sách ghi chép ở trên trời, trong đó tên tuổi và việc làm của loài người được ghi lại, được dùng để định đoạt các phán quyết của cuộc phán xét. Tiên tri Đa-ni-ên nói: “Sự phán xét đã được thiết lập, và các sách đã được mở ra.” Người khải thị, khi mô tả cùng một cảnh, thêm rằng: “Một quyển sách khác được mở ra, ấy là Sách Sự Sống; và những kẻ chết bị phán xét theo những điều đã được chép trong các sách, tùy theo công việc của họ.” Khải Huyền 20:12.

“The book of life contains the names of all who have ever entered the service of God. Jesus bade His disciples: ‘Rejoice, because your names are written in heaven.’ Luke 10:20. Paul speaks of his faithful fellow workers, ‘whose names are in the book of life.’ Philippians 4:3. Daniel, looking down to ‘a time of trouble, such as never was,’ declares that God’s people shall be delivered, ‘everyone that shall be found written in the book.’ And the revelator says that those only shall enter the city of God whose names ‘are written in the Lamb’s book of life.’ Daniel 12:1; Revelation 21:27.

Sách sự sống ghi tên tất cả những ai đã từng bước vào sự phục vụ Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su dạy các môn đồ Ngài: “Hãy vui mừng, vì tên anh em đã được ghi trên trời.” Lu-ca 10:20. Phao-lô nói về các bạn đồng lao trung tín của mình, “những người có tên ở trong sách sự sống.” Phi-líp 4:3. Đa-ni-ên, khi nhìn về “một thời kỳ hoạn nạn chưa từng có,” tuyên bố rằng dân của Đức Chúa Trời sẽ được giải cứu, “ai được tìm thấy có tên ghi trong sách.” Và người nhận khải thị nói rằng chỉ những người có tên “được ghi trong sách sự sống của Chiên Con” mới được vào thành của Đức Chúa Trời. Đa-ni-ên 12:1; Khải Huyền 21:27.

“‘A book of remembrance’ is written before God, in which are recorded the good deeds of ‘them that feared the Lord, and that thought upon His name.’ Malachi 3:16. Their words of faith, their acts of love, are registered in heaven. Nehemiah refers to this when he says: ‘Remember me, O my God, … and wipe not out my good deeds that I have done for the house of my God.’ Nehemiah 13:14. In the book of God’s remembrance every deed of righteousness is immortalized. There every temptation resisted, every evil overcome, every word of tender pity expressed, is faithfully chronicled. And every act of sacrifice, every suffering and sorrow endured for Christ’s sake, is recorded. Says the psalmist: ‘Thou tellest my wanderings: put Thou my tears into Thy bottle: are they not in Thy book?’ Psalm 56:8.

"'Một cuốn sổ kỷ niệm' được chép trước mặt Đức Chúa Trời, trong đó ghi lại các việc lành của 'những người kính sợ Chúa và suy gẫm về danh Ngài.' Ma-la-chi 3:16. Những lời bày tỏ đức tin của họ, những hành động yêu thương của họ, đều được ghi chép trên trời. Nê-hê-mi nhắc đến điều này khi ông nói: 'Lạy Đức Chúa Trời của tôi, ... xin đừng xóa các việc lành mà tôi đã làm cho nhà của Đức Chúa Trời tôi.' Nê-hê-mi 13:14. Trong sổ kỷ niệm của Đức Chúa Trời, mọi việc công chính đều được lưu danh đời đời. Ở đó, mọi cám dỗ được chống cự, mọi điều ác được vượt qua, mọi lời bày tỏ lòng thương xót dịu dàng, đều được ghi chép cách trung thực. Và mọi hành động hy sinh, mọi đau khổ và buồn sầu chịu đựng vì cớ Đấng Christ, đều được ghi lại. Thi thiên gia nói: 'Chúa đếm những bước lang thang của con; xin để những giọt lệ con trong bình của Chúa; há chẳng phải chúng đã được ghi trong sách của Chúa sao?' Thi Thiên 56:8."

“There is a record also of the sins of men. ‘For God shall bring every work into judgment, with every secret thing, whether it be good, or whether it be evil.’ ‘Every idle word that men shall speak, they shall give account thereof in the day of judgment.’ Says the Saviour: ‘By thy words thou shalt be justified, and by thy words thou shalt be condemned.’ Ecclesiastes 12:14; Matthew 12:36, 37. The secret purposes and motives appear in the unerring register; for God ‘will bring to light the hidden things of darkness, and will make manifest the counsels of the hearts.’ 1 Corinthians 4:5. ‘Behold, it is written before Me, … your iniquities, and the iniquities of your fathers together, saith the Lord.’ Isaiah 65:6, 7.

Cũng có sổ sách ghi lại tội lỗi của con người. “Vì Đức Chúa Trời sẽ đem mọi việc vào cuộc phán xét, kể cả mọi điều kín giấu, hoặc là điều lành, hoặc là điều dữ.” “Mọi lời nói vô ích mà người ta nói ra, họ sẽ phải khai trình về điều ấy trong ngày phán xét.” Đấng Cứu Thế phán: “Bởi lời nói của ngươi, ngươi sẽ được xưng công chính; và bởi lời nói của ngươi, ngươi sẽ bị kết án.” Ecclesiastes 12:14; Matthew 12:36, 37. Những ý định và động cơ thầm kín đều hiện rõ trong sổ ghi chép không hề sai lầm; vì Đức Chúa Trời “sẽ đem ra ánh sáng những điều ẩn giấu trong bóng tối, và sẽ bày tỏ các ý định của lòng.” 1 Corinthians 4:5. “Kìa, điều ấy đã được chép trước mặt Ta, ... những gian ác của các ngươi, cùng với gian ác của tổ phụ các ngươi, Chúa phán.” Isaiah 65:6, 7.

Every man’s work passes in review before God and is registered for faithfulness or unfaithfulness. Opposite each name in the books of heaven is entered with terrible exactness every wrong word, every selfish act, every unfulfilled duty, and every secret sin, with every artful dissembling. Heaven-sent warnings or reproofs neglected, wasted moments, unimproved opportunities, the influence exerted for good or for evil, with its far-reaching results, all are chronicled by the recording angel.

Mọi việc làm của mỗi người đều được đưa ra xem xét trước mặt Đức Chúa Trời và được ghi nhận là trung tín hay bất trung. Trong sổ sách trên trời, bên cạnh mỗi tên đều ghi, với sự chính xác đáng sợ, mọi lời nói sai trái, mọi hành động ích kỷ, mọi bổn phận chưa được hoàn thành, và mọi tội lỗi thầm kín, cùng mọi sự che đậy xảo quyệt. Những lời cảnh báo hay khiển trách từ trời bị bỏ qua, những khoảnh khắc bị lãng phí, những cơ hội không được tận dụng, ảnh hưởng đã góp phần vào điều thiện hay điều ác cùng những hệ quả sâu rộng của nó, tất cả đều được thiên sứ ghi chép lại.

“The law of God is the standard by which the characters and the lives of men will be tested in the judgment. Says the wise man: ‘Fear God, and keep His commandments: for this is the whole duty of man. For God shall bring every work into judgment.’ Ecclesiastes 12:13, 14. The apostle James admonishes his brethren: ‘So speak ye, and so do, as they that shall be judged by the law of liberty.’ James 2:12.

Luật pháp của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn theo đó tính cách và đời sống của con người sẽ được xét đoán trong cuộc phán xét. Người khôn ngoan nói: "Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn của Ngài, vì đó là trọn bổn phận của loài người. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem mọi việc làm ra xét đoán." Truyền Đạo 12:13, 14. Sứ đồ Gia-cơ khuyên nhủ anh em: "Hãy nói và làm như những người sẽ bị xét đoán theo luật pháp tự do." Gia-cơ 2:12.

“Those who in the judgment are ‘accounted worthy’ will have a part in the resurrection of the just. Jesus said: ‘They which shall be accounted worthy to obtain that world, and the resurrection from the dead, … are equal unto the angels; and are the children of God, being the children of the resurrection.’ Luke 20:35, 36. And again He declares that ‘they that have done good’ shall come forth ‘unto the resurrection of life.’ John 5:29. The righteous dead will not be raised until after the judgment at which they are accounted worthy of ‘the resurrection of life.’ Hence they will not be present in person at the tribunal when their records are examined and their cases decided.

Những ai trong cuộc phán xét được 'kể là xứng đáng' sẽ có phần trong sự sống lại của những người công chính. Đức Chúa Giê-su phán: 'Những kẻ sẽ được kể là xứng đáng để hưởng đời sau và sự sống lại từ cõi chết, ... thì ngang bằng các thiên sứ; và là con cái của Đức Chúa Trời, vì là con cái của sự sống lại.' Lu-ca 20:35, 36. Và Ngài lại tuyên bố rằng 'những kẻ đã làm điều lành' sẽ 'sống lại để được sống.' Giăng 5:29. Những người công chính đã qua đời sẽ không được sống lại cho đến sau cuộc phán xét, trong đó họ được kể là xứng đáng dự phần vào 'sự sống lại để được sống.' Vì thế, họ sẽ không hiện diện trực tiếp tại tòa án khi hồ sơ của họ được xem xét và các vụ việc của họ được định đoạt.

“Jesus will appear as their advocate, to plead in their behalf before God. ‘If any man sin, we have an advocate with the Father, Jesus Christ the righteous.’ 1 John 2:1. ‘For Christ is not entered into the holy places made with hands, which are the figures of the true; but into heaven itself, now to appear in the presence of God for us.’ ‘Wherefore He is able also to save them to the uttermost that come unto God by Him, seeing He ever liveth to make intercession for them.’ Hebrews 9:24; 7:25.

Đức Chúa Giê-su sẽ xuất hiện như Đấng biện hộ của họ, để cầu thay cho họ trước mặt Đức Chúa Trời. “Nếu có ai phạm tội, chúng ta có một Đấng Biện Hộ nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Christ, Đấng Công Chính.” 1 Giăng 2:1. “Vì Đấng Christ không vào những nơi thánh do tay người ta làm nên, vốn chỉ là hình bóng của điều chân thật; nhưng vào chính thiên đàng, hiện nay hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời vì chúng ta.” “Bởi vậy, Ngài cũng có thể cứu cách trọn vẹn những ai nhờ Ngài mà đến cùng Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho họ.” Hê-bơ-rơ 9:24; 7:25.

As the books of record are opened in the judgment, the lives of all who have believed on Jesus come in review before God. Beginning with those who first lived upon the earth, our Advocate presents the cases of each successive generation, and closes with the living. Every name is mentioned, every case closely investigated. Names are accepted, names rejected. When any have sins remaining upon the books of record, unrepented of and unforgiven, their names will be blotted out of the book of life, and the record of their good deeds will be erased from the book of God’s remembrance. The Lord declared to Moses: ‘Whosoever hath sinned against Me, him will I blot out of My book.’ Exodus 32:33. And says the prophet Ezekiel: ‘When the righteous turneth away from his righteousness, and committeth iniquity, … all his righteousness that he hath done shall not be mentioned.’ Ezekiel 18:24.” The Great Controversy, 479–483.

Khi các sách ghi chép được mở ra trong cuộc phán xét, đời sống của tất cả những ai đã tin nơi Chúa Giê-su được đem ra xét trước mặt Đức Chúa Trời. Bắt đầu với những người đầu tiên sống trên đất, Đấng Bầu Chữa của chúng ta trình bày các trường hợp của từng thế hệ nối tiếp, và kết thúc với những người đang sống. Mỗi tên đều được nêu ra, mỗi trường hợp đều được điều tra kỹ lưỡng. Có tên được chấp nhận, có tên bị loại bỏ. Khi ai còn có tội lỗi lưu lại trong các sách ghi chép, chưa ăn năn và chưa được tha thứ, thì tên họ sẽ bị xóa khỏi Sách Sự Sống, và ghi chép về các việc lành của họ sẽ bị xóa khỏi Sách Kỷ Niệm của Đức Chúa Trời. Chúa phán với Môi-se: “Phàm ai đã phạm tội cùng Ta, Ta sẽ xóa tên người ấy khỏi sách của Ta.” Xuất Ê-díp-tô Ký 32:33. Và nhà tiên tri Ê-xê-chi-ên nói: “Khi người công chính quay khỏi sự công chính mình và phạm tội ác, ... thì mọi sự công chính người đã làm sẽ không còn được nhắc đến.” Ê-xê-chi-ên 18:24. Đại Tranh Chiến, 479-483.

We will continue this study and answer the questions raised in the next article of this series.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này và trả lời các câu hỏi được nêu ra trong bài viết tiếp theo của loạt bài này.