It is essential in understanding the message that is being unsealed in the book of Revelation, to recognize the roots, development and significance of the Protestant Reformation. Three primary lines within the history of that Reformation address the Bible, and the correct methodology to be used in studying the Bible and also that the chosen messengers through that history are waymarks of that history. As always is the case Satan attempted to hide the King James Bible with several counterfeits, and he sought to hide the correct methodology for understanding the Bible with several counterfeits and he also sought to hide the correct messengers (waymarks) that were raised up along the way in that history.
Để hiểu sứ điệp đang được mở ấn trong sách Khải Huyền, điều cốt yếu là phải nhận biết nguồn gốc, tiến trình phát triển và ý nghĩa của cuộc Cải chánh Tin Lành. Trong lịch sử của cuộc Cải chánh ấy có ba tuyến chính liên quan đến: Kinh Thánh; phương pháp đúng đắn để nghiên cứu Kinh Thánh; và việc các sứ giả được chọn xuyên suốt lịch sử ấy chính là những cột mốc của lịch sử đó. Như thường lệ, Sa-tan đã tìm cách che giấu Bản Kinh Thánh King James bằng nhiều bản giả mạo; nó cũng tìm cách che giấu phương pháp đúng đắn để hiểu Kinh Thánh bằng nhiều phương pháp giả mạo; và còn tìm cách che giấu các sứ giả chân chính (những cột mốc) đã được dấy lên dọc theo chặng đường trong lịch sử ấy.
“But Satan was not idle. He now attempted what he has attempted in every other reformatory movement—to deceive and destroy the people by palming off upon them a counterfeit in place of the true work. As there were false Christ’s in the first century of the Christian church, so there arose false prophets in the sixteenth century.” The Great Controversy, 186.
"Nhưng Sa-tan không hề nhàn rỗi. Giờ đây hắn tìm cách làm điều mà hắn đã tìm cách làm trong mọi phong trào cải cách khác—lừa dối và hủy diệt dân chúng bằng cách đánh tráo cho họ một thứ giả mạo thay cho công cuộc chân thật. Cũng như đã có những kẻ mạo xưng Đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất của Hội Thánh Cơ Đốc, thì cũng đã xuất hiện những tiên tri giả vào thế kỷ thứ mười sáu." Cuộc Đại Tranh Chiến, 186.
In the Millerite history from 1840 through 1844 the mantle of Protestantism, (which is one of two horns on the earth-beast that is the United States), Millerite Adventism became the Protestant horn. At the same time, the churches who had previously professed to be Protestant became apostate Protestantism, or as the Millerites identified them, “the daughters of Rome.” When the Protestants rejected the first angel’s message in 1843, they fell and the Millerites carried on with the mantle of Protestantism. The Millerite history was the climax of God’s work in bringing His “church in the wilderness” up to the full understanding of the Word of God.
Trong lịch sử Millerite từ năm 1840 đến 1844, ngọn cờ Kháng Cách (là một trong hai sừng của con thú từ đất, tức là Hoa Kỳ) đã do Chủ nghĩa Cơ Đốc Phục Lâm Millerite đảm nhận; họ trở thành sừng Kháng Cách. Đồng thời, các hội thánh trước đó xưng là Kháng Cách trở nên Kháng Cách bội đạo, hay như những người Millerite gọi họ, "các con gái của La Mã." Khi những người Kháng Cách khước từ sứ điệp của thiên sứ thứ nhất vào năm 1843, họ sa ngã, và những người Millerite tiếp tục mang ngọn cờ Kháng Cách. Lịch sử Millerite là đỉnh điểm công việc của Đức Chúa Trời trong việc đưa "Hội thánh trong đồng vắng" của Ngài đến sự hiểu biết trọn vẹn về Lời Đức Chúa Trời.
The opening of the investigative judgment brought the test of the law of God and especially the Sabbath. To proclaim the third angel’s message required a church that upheld the law of God, which had been buried under papal traditions and customs during the Dark Ages. Christ brought the Protestants to the history of 1840 to 1844 and presented the test of Elijah, of whom William Miller was typified, and when the Protestants rejected Miller’s message they returned to Rome. The test of the first angel’s message as delivered by Miller was typified by Elijah at Mount Carmel.
Việc mở ra sự phán xét điều tra đã đem đến sự thử thách của luật pháp Đức Chúa Trời, đặc biệt là ngày Sa-bát. Để rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba, cần có một Hội thánh giữ vững luật pháp của Đức Chúa Trời, vốn đã bị chôn vùi dưới các truyền thống và tập tục giáo hoàng trong Thời Kỳ Tăm Tối. Đấng Christ đã dẫn dắt những người Kháng Cách đến giai đoạn lịch sử 1840–1844 và đưa ra bài thử của Ê-li, mà William Miller là người tiêu biểu; và khi những người Kháng Cách khước từ sứ điệp của Miller, họ quay trở lại Rô-ma. Bài thử của sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, như Miller đã rao truyền, đã được Ê-li trên núi Cạt-mên tiêu biểu.
And Elijah came unto all the people, and said, How long halt ye between two opinions? if the Lord be God, follow him: but if Baal, then follow him. And the people answered him not a word. 1 Kings 18:21.
Ê-li đến gần toàn dân và nói: Các ngươi còn lưỡng lự giữa hai ý kiến đến bao giờ? Nếu Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; còn nếu Baal, thì hãy theo nó. Nhưng dân chúng không đáp lại ông một lời. 1 Các Vua 18:21.
In 1840, when confronted with the message of Elijah, represented by Miller and the first angel, the Protestants chose Baal!
Năm 1840, khi đối diện với sứ điệp của Ê-li do Miller và thiên sứ thứ nhất đại diện, những người Tin Lành đã chọn Ba-anh!
The Protestant Reformation was an unsealing of the truths of the Bible that began with the “morning star,” which was promised to be given during the history represented by the church of Thyatira. The direct attack against the Bible began centuries earlier and is clearly presented in The Great Controversy, especially with the history of the Waldensians. In 1930, Benjamin Wilkerson published the book, Our Authorized Bible Vindicated. The book documents the warfare against the sacred original texts that were ultimately used to translate the King James Bible and the various satanic counterfeit texts that were and still are promoted by Catholics, apostate Protestantism and Laodicean Adventists. The warfare began well before the history of the Waldensians, but they are the waymark and symbol of those who gave their lives to testify to the importance of the correct manuscripts that were ultimately translated into the 1611 King James Bible.
Cuộc Cải chánh Tin Lành là sự mở niêm phong các lẽ thật của Kinh Thánh, khởi đầu với "sao mai", điều đã được hứa sẽ ban trong giai đoạn lịch sử được đại diện bởi hội thánh Thyatira. Cuộc tấn công trực diện nhắm vào Kinh Thánh đã bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước và được trình bày rõ ràng trong The Great Controversy, đặc biệt qua lịch sử của nhóm Waldensians. Năm 1930, Benjamin Wilkerson xuất bản cuốn sách Our Authorized Bible Vindicated. Cuốn sách ghi lại cuộc chiến chống lại các bản văn nguyên thủy thiêng liêng vốn rốt cuộc đã được dùng để dịch Kinh Thánh King James, và các bản văn giả mạo mang tính Sa-tan khác nhau đã và vẫn đang được cổ xúy bởi người Công giáo, chủ nghĩa Tin Lành bội đạo và những người Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea. Cuộc chiến ấy bắt đầu từ lâu trước lịch sử của người Waldensians, nhưng họ là cột mốc và biểu tượng cho những người đã hiến dâng mạng sống để làm chứng cho tầm quan trọng của các bản thảo chính xác vốn rốt cuộc đã được dịch thành Kinh Thánh King James năm 1611.
The production of the King James Bible in 1611 went through a very specific translation process. The process of translating and publishing the Bible was accomplished through seven steps of production. It also took seven years to accomplish, and seven biblical years is twenty-five hundred and twenty days. That is of course the same number of prophetic days in which Jesus confirmed the covenant with many in fulfillment of Daniel nine. In the center of that sacred week Christ was crucified, and of course Christ crucified is the center of the Bible. Those seven steps to produce the pure Word of God were as follows.
Việc biên soạn bản Kinh Thánh King James năm 1611 đã trải qua một quy trình dịch thuật rất cụ thể. Quy trình dịch và xuất bản Kinh Thánh được hoàn tất qua bảy bước thực hiện. Cũng mất bảy năm để hoàn tất, và bảy năm theo Kinh Thánh là hai nghìn năm trăm hai mươi ngày. Điều đó dĩ nhiên cũng chính là số ngày tiên tri mà trong đó Đấng Christ đã xác nhận giao ước với nhiều người, ứng nghiệm Đa-ni-ên đoạn chín. Ở chính giữa tuần lễ thánh đó, Đấng Christ đã bị đóng đinh, và dĩ nhiên Đấng Christ chịu đóng đinh là trung tâm của Kinh Thánh. Bảy bước để tạo nên Lời Đức Chúa Trời tinh sạch ấy như sau.
-
FIRST: Initial Translation by Individuals: Around 50 translators were divided into six committees, each responsible for different sections of the Bible. These individuals worked on translating from the original languages (Hebrew, Aramaic, and Greek) into English.
ĐẦU TIÊN: Bản dịch ban đầu do các cá nhân thực hiện: Khoảng 50 dịch giả được chia thành sáu ủy ban, mỗi ủy ban phụ trách các phần khác nhau của Kinh Thánh. Những người này dịch từ các ngôn ngữ nguyên bản (tiếng Do Thái, tiếng A-ram và tiếng Hy Lạp) sang tiếng Anh.
-
SECOND: Committee Review: After each committee completed their translation of a section, the work was reviewed by the committee members themselves. This allowed for collective input and correction of errors.
THỨ HAI: Xem xét của ủy ban: Sau khi mỗi ủy ban hoàn tất bản dịch của một phần, công việc đã được chính các thành viên của ủy ban xem xét lại. Điều này cho phép có sự góp ý tập thể và sửa lỗi.
-
THIRD: General Committee Review: The individual committee translations were then submitted to a larger group of scholars, referred to as the General Committee. This committee consisted of representatives from each of the six translation committees. They reviewed the entire work, comparing and harmonizing the different committee translations.
THỨ BA: Rà soát của Ủy ban Chung: Các bản dịch của từng ủy ban sau đó được đệ trình lên một nhóm học giả lớn hơn, gọi là Ủy ban Chung. Ủy ban này bao gồm các đại diện từ mỗi trong sáu ủy ban dịch thuật. Họ xem xét toàn bộ công trình, đối chiếu và hài hòa các bản dịch khác nhau của các ủy ban.
-
FOURTH: Additional Review and Revision: The General Committee’s revised version was sent back to the individual committees for further review and refinement. This iterative process helped ensure that the translation was consistent and accurate.
Thứ tư: Rà soát và sửa đổi bổ sung: Bản do Ủy ban chung sửa đổi được gửi lại cho từng ủy ban để tiếp tục xem xét và hoàn thiện. Quy trình lặp lại này giúp bảo đảm bản dịch nhất quán và chính xác.
-
FIFTH: Final Review and Approval: Once the individual committees completed their revisions, the final draft was submitted to the General Committee for a final review and approval.
THỨ NĂM: Xem xét và phê duyệt cuối cùng: Sau khi từng ủy ban hoàn tất các sửa đổi của mình, bản dự thảo cuối cùng đã được trình lên Ủy ban Chung để xem xét và phê duyệt lần cuối.
-
SIXTH: Royal Approval and Publication: The approved translation was then presented to King James I for his approval.
THỨ SÁU: Phê chuẩn của hoàng gia và xuất bản: Bản dịch đã được phê duyệt, sau đó được trình lên Vua James I để ngài chuẩn y.
-
SEVENTH: Once he granted his royal approval, the translation was published in 1611 as the King James Version (Authorized Version) of the Bible.
THỨ BẢY: Sau khi ông ban sự phê chuẩn hoàng gia, bản dịch đã được xuất bản vào năm 1611 với tên gọi King James Version (Authorized Version) của Kinh Thánh.
The words of the Lord are pure words: as silver tried in a furnace of earth, purified seven times. Thou shalt keep them, O Lord, thou shalt preserve them from this generation forever. Psalms 12:6, 7.
Lời của Chúa là lời trong sạch: như bạc được thử trong lò đất, tinh luyện bảy lần. Lạy Chúa, Ngài sẽ giữ gìn chúng; Ngài sẽ bảo tồn chúng khỏi thế hệ này đời đời. Thi Thiên 12:6–7.
In the warfare of Satan against God’s word, and against the waymarks represented by the various messengers of that unfolding history and of the correct methodology to be used in rightly dividing His Word the King James Bible of 1611, is a waymark that is specifically identified in Psalm twelve. None of the various counterfeit Bibles that have been produced through corrupted Catholic manuscripts meets the criteria of Psalm twelve. The purification process that took seven steps and the period of twenty-five hundred and twenty days identify that the King James Bible is God’s “pure words.” God promises to keep the King James Bible as His pure Word forever, and He therefore promises to uphold the methodology of “historicism” that was employed by the Protestant reformers, including William Miller.
Trong cuộc chiến của Sa-tan chống lại Lời Đức Chúa Trời, và chống lại những cột mốc được biểu trưng bởi các sứ giả khác nhau của tiến trình lịch sử đang dần mở ra ấy, cũng như bởi phương pháp đúng đắn cần dùng để giải nghĩa đúng Lời Ngài, thì Kinh Thánh King James năm 1611 là một cột mốc được xác định một cách cụ thể trong Thi Thiên 12. Không có bản Kinh Thánh giả mạo nào, được tạo ra từ các bản thảo Công giáo bị hư hoại, đáp ứng các tiêu chuẩn của Thi Thiên 12. Quá trình tinh luyện gồm bảy bước và giai đoạn hai nghìn năm trăm hai mươi ngày cho thấy rằng Kinh Thánh King James là "những lời thanh sạch" của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời hứa giữ gìn Kinh Thánh King James như Lời thanh sạch của Ngài đời đời, và vì thế Ngài cũng hứa duy trì phương pháp "lịch sử luận" đã được các nhà Cải Chánh Tin Lành áp dụng, bao gồm cả William Miller.
In the fourteenth century John Wycliffe, who is identified as “the morning star of the Reformation” in the book The Great Controversy was used by God to translate the Bible into a language that even a common man would understand. He is the messenger that marks the waymark of the beginning of the Protestant Reformation.
Vào thế kỷ XIV, John Wycliffe, người được gọi là “ngôi sao mai của cuộc Cải chánh” trong sách The Great Controversy, đã được Đức Chúa Trời dùng để dịch Kinh Thánh sang một ngôn ngữ mà ngay cả người bình dân cũng hiểu được. Ông là sứ giả đánh dấu cột mốc khởi đầu của cuộc Cải chánh Tin Lành.
“The great movement that Wycliffe inaugurated, which was to liberate the conscience and the intellect, and set free the nations so long bound to the triumphal car of Rome, had its spring in the Bible. Here was the source of that stream of blessing, which, like the water of life, has flowed down the ages since the fourteenth century. Wycliffe accepted the Holy Scriptures with implicit faith as the inspired revelation of God’s will, a sufficient rule of faith and practice. He had been educated to regard the Church of Rome as the divine, infallible authority, and to accept with unquestioning reverence the established teachings and customs of a thousand years; but he turned away from all these to listen to God’s holy word. This was the authority which he urged the people to acknowledge. Instead of the church speaking through the pope, he declared the only true authority to be the voice of God speaking through His word. And he taught not only that the Bible is a perfect revelation of God’s will, but that the Holy Spirit is its only interpreter, and that every man is, by the study of its teachings, to learn his duty for himself. Thus he turned the minds of men from the pope and the Church of Rome to the word of God.
Phong trào vĩ đại mà Wycliffe khởi xướng, nhằm giải phóng lương tâm và trí tuệ, và giải phóng các dân tộc đã từ lâu bị buộc chặt vào cỗ xe khải hoàn của Rôma, bắt nguồn từ Kinh Thánh. Đây chính là nguồn của dòng phước lành ấy, như nước sự sống, đã chảy qua các thời đại kể từ thế kỷ mười bốn. Wycliffe tiếp nhận Kinh Thánh với đức tin tuyệt đối như sự mặc khải được Đức Thánh Linh soi dẫn về ý muốn của Đức Chúa Trời, một chuẩn mực đầy đủ cho đức tin và thực hành. Ông đã được giáo dục để xem Giáo hội Rôma là thẩm quyền thiêng liêng, vô ngộ, và để kính cẩn chấp nhận không chút thắc mắc các giáo lý và tập tục đã được xác lập suốt cả nghìn năm; nhưng ông quay khỏi tất cả những điều ấy để lắng nghe lời thánh của Đức Chúa Trời. Đây là thẩm quyền mà ông kêu gọi dân chúng thừa nhận. Thay vì Giáo hội phán qua giáo hoàng, ông tuyên bố rằng thẩm quyền chân thật duy nhất là tiếng của Đức Chúa Trời phán qua Lời Ngài. Và ông dạy rằng không chỉ Kinh Thánh là sự mặc khải trọn vẹn về ý muốn của Đức Chúa Trời, mà Đức Thánh Linh là Đấng giải nghĩa duy nhất của Kinh Thánh, và rằng mỗi người, qua việc nghiên cứu những lời dạy của Kinh Thánh, phải tự mình học biết bổn phận của mình. Như vậy, ông đã hướng tâm trí con người khỏi giáo hoàng và Giáo hội Rôma để hướng về Lời Đức Chúa Trời.
“Wycliffe was one of the greatest of the Reformers. In breadth of intellect, in clearness of thought, in firmness to maintain the truth, and in boldness to defend it, he was equaled by few who came after him. Purity of life, unwearying diligence in study and in labor, incorruptible integrity, and Christlike love and faithfulness in his ministry, characterized the first of the Reformers. And this notwithstanding the intellectual darkness and moral corruption of the age from which he emerged.
Wycliffe là một trong những nhà Cải chánh vĩ đại nhất. Về bề rộng trí tuệ, sự sáng sủa trong tư tưởng, sự kiên định trong việc giữ vững lẽ thật, và lòng can đảm để bảo vệ lẽ thật ấy, rất ít người đến sau ông có thể sánh kịp. Sự trong sạch trong đời sống, sự chuyên cần không mệt mỏi trong học tập và lao động, đức liêm chính không thể bị mua chuộc, và tình yêu thương cùng sự trung tín theo gương Đấng Christ trong chức vụ của ông là những đặc điểm nổi bật nơi người đi đầu của phong trào Cải chánh. Và điều ấy là bất chấp bóng tối trí tuệ và sự bại hoại đạo đức của thời đại mà ông bước ra.
“The character of Wycliffe is a testimony to the educating, transforming power of the Holy Scriptures. It was the Bible that made him what he was. The effort to grasp the great truths of revelation imparts freshness and vigor to all the faculties. It expands the mind, sharpens the perceptions, and ripens the judgment. The study of the Bible will ennoble every thought, feeling, and aspiration as no other study can. It gives stability of purpose, patience, courage, and fortitude; it refines the character and sanctifies the soul. An earnest, reverent study of the Scriptures, bringing the mind of the student in direct contact with the infinite mind, would give to the world men of stronger and more active intellect, as well as of nobler principle, than has ever resulted from the ablest training that human philosophy affords. ‘The entrance of Thy words,’ says the psalmist, ‘giveth light; it giveth understanding.’ Psalm 119:130.” The Great Controversy, 93, 94.
Nhân cách của Wycliffe là một bằng chứng về quyền năng giáo dục và biến đổi của Kinh Thánh. Chính Kinh Thánh đã làm nên con người ông. Nỗ lực nắm bắt các chân lý vĩ đại của sự mặc khải đem lại sự tươi mới và sinh lực cho mọi năng lực. Nó mở rộng tâm trí, mài sắc nhận thức, và làm cho sự phán đoán trở nên chín chắn. Việc nghiên cứu Kinh Thánh sẽ cao quý hóa mọi ý nghĩ, cảm xúc và khát vọng theo cách mà không một môn học nào khác có thể. Nó đem lại sự kiên định trong mục đích, lòng kiên nhẫn, can đảm và bền chí; nó trau dồi nhân cách và thánh hóa linh hồn. Một sự nghiên cứu Kinh Thánh nghiêm túc, cung kính, đưa tâm trí người học tiếp xúc trực tiếp với trí tuệ vô hạn, sẽ ban cho thế giới những con người có trí tuệ mạnh mẽ và năng động hơn, cũng như có những nguyên tắc cao thượng hơn, vượt trội hơn bất cứ điều gì từng là kết quả của sự đào luyện xuất sắc nhất mà triết học loài người cung cấp. “Sự bày tỏ lời Ngài,” tác giả Thi Thiên nói, “ban ánh sáng; ban sự thông hiểu.” Thi Thiên 119:130. The Great Controversy, 93, 94.
Following the testimony concerning John Wycliffe in The Great Controversy, Sister White provides a list of faithful reformers (waymarks), that ultimately reaches the reformer John Knox. She identifies a significant question posed to John Knox from Mary the Queen of Scotland.
Tiếp theo lời chứng về John Wycliffe trong tác phẩm The Great Controversy, Bà White đưa ra một danh sách các nhà cải chánh trung tín (các cột mốc) mà cuối cùng dẫn đến nhà cải chánh John Knox. Bà chỉ ra một câu hỏi quan trọng mà Mary, Nữ hoàng Scotland, đã đặt ra cho John Knox.
“John Knox had turned away from the traditions and mysticisms of the church, to feed upon the truths of God’s Word, and the teaching of Wishart had confirmed his determination to forsake the communion of Rome, and join himself to the persecuted reformers. . . .
John Knox đã quay lưng lại với các truyền thống và chủ nghĩa thần bí của giáo hội để nuôi dưỡng mình bằng các lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, và sự dạy dỗ của Wishart đã củng cố quyết tâm của ông từ bỏ sự hiệp thông với Rôma và gia nhập hàng ngũ những nhà cải cách bị bách hại. . . .
“When brought face to face with the queen of Scotland, in whose presence the zeal of many a leader of the Protestants had abated, John Knox bore unswerving witness for the truth. He was not to be won by caresses; he quailed not before threats. The queen charged him with heresy. He had taught the people to receive a religion prohibited by the State, she declared, and had thus transgressed God’s command enjoining subjects to obey their princes. Knox answered firmly:—‘As right religion received neither its origin nor its authority from princes, but from the eternal God alone, so are not subjects bound to frame their religion according to the tastes of their princes. For oft it is that princes, of all others, are the most ignorant of God’s true religion. If all the seed of Abraham had been of the religion of Pharaoh, whose subjects they long were, I pray you, madam, what religion would there have been in the world? And if all in the days of the apostles had been of the religion of the Roman emperors, I pray you, madam, what religion would there have been now upon the earth? … And so, madam, you may perceive that subjects are not bound to the religion of their princes, although they are commanded to give them reverence.’
"Khi bị đưa ra đối diện với Nữ hoàng Scotland, trước mặt bà, lòng nhiệt thành của không ít lãnh tụ Tin Lành đã suy giảm, John Knox vẫn kiên định làm chứng cho lẽ thật. Ông không để những lời ve vuốt mua chuộc; cũng không nao núng trước những lời đe dọa. Nữ hoàng buộc tội ông là dị giáo. Bà tuyên bố rằng ông đã dạy dân tiếp nhận một tôn giáo bị Nhà nước cấm, và như thế đã vi phạm mệnh lệnh của Đức Chúa Trời truyền cho thần dân phải vâng phục các quân vương của họ. Knox đáp dứt khoát: 'Vì đạo chân chính không nhận cả nguồn gốc lẫn thẩm quyền từ các quân vương, mà chỉ từ một mình Đức Chúa Trời hằng hữu, nên thần dân không buộc phải định hình tôn giáo của mình theo thị hiếu của các quân vương. Bởi lẽ thường khi chính các quân vương, hơn hết thảy mọi người, lại là những kẻ dốt nát nhất về tôn giáo chân thật của Đức Chúa Trời. Nếu toàn thể dòng dõi Abraham đã theo tôn giáo của Pharaoh, người mà họ đã làm thần dân của ông ta suốt một thời gian dài, tôi xin hỏi, thưa bà, trên thế gian này còn có tôn giáo nào chăng? Và nếu mọi người trong thời các sứ đồ đều theo tôn giáo của các hoàng đế La Mã, tôi xin hỏi, thưa bà, bây giờ trên mặt đất này còn có tôn giáo nào chăng? ... Vậy nên, thưa bà, bà có thể thấy rằng thần dân không bị buộc phải theo tôn giáo của các quân vương của mình, dẫu họ được truyền phải tỏ lòng kính trọng các vị ấy.'"
“Said Mary, ‘You interpret the Scripture in one way, and they [the Romish teachers] interpret it in another; whom shall I believe, and who shall be judge?’
Mary nói: "Ông giải thích Kinh Thánh theo một cách, còn họ [các thầy dạy của Giáo hội La Mã] lại giải thích theo cách khác; tôi phải tin ai, và ai sẽ phân xử?"
“‘You shall believe God, who plainly speaketh in his Word,’ answered the reformer; ‘and farther than the Word teaches you, ye shall believe neither the one nor the other. The Word of God is plain in itself, and if in any one place there be obscurity, the Holy Ghost, who never is contrary to himself, explains the same more clearly in other places, so that there can remain no doubt but unto such as are obstinately ignorant.’ Such were the truths that the fearless reformer, at the peril of his life, spoke in the ear of royalty. With the same undaunted courage he kept to his purpose, praying and fighting the battles of the Lord, until Scotland was free from popery.” The Great Controversy, 250, 251.
"'Các ngươi phải tin Đức Chúa Trời, Đấng phán cách rõ ràng trong Lời của Ngài,' nhà cải chánh đáp; 'và ngoài những gì Lời dạy dỗ các ngươi, thì đừng tin bên nào cả. Lời của Đức Chúa Trời tự nó là rõ ràng, và nếu ở chỗ nào có sự tối nghĩa, thì Đức Thánh Linh, Đấng chẳng bao giờ trái nghịch với chính Ngài, giải thích điều ấy rõ ràng hơn ở những chỗ khác, đến nỗi không thể còn sự nghi ngờ nào, ngoại trừ nơi những kẻ ngoan cố dốt nát.' Đó là những lẽ thật mà nhà cải chánh không biết sợ, dù nguy đến tính mạng, đã nói thẳng vào tai bậc vương giả. Với cùng lòng can đảm không nao núng ấy, ông giữ vững mục đích của mình, vừa cầu nguyện vừa chiến đấu cho những trận chiến của Chúa, cho đến khi Scotland được giải phóng khỏi chủ nghĩa Giáo hoàng." Đại Tranh Chiến, 250, 251.
The interaction between the reformer and the queen highlights the third thread in the reformation history that identifies Satan’s effort to counterfeit the Bible, the reformers and the methodology of biblical study. John’s answer to the Queen was that the correct methodology is “historicism” which is premised upon a line of prophetic history being explained by the Holy Spirit with another line of prophetic history.
Cuộc trao đổi giữa nhà cải cách và Nữ hoàng làm nổi bật mạch thứ ba trong lịch sử Cải chánh, mạch này nhận diện nỗ lực của Sa-tan nhằm giả mạo Kinh Thánh, các nhà cải cách và phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh. John trả lời Nữ hoàng rằng phương pháp đúng đắn là "historicism", dựa trên tiền đề rằng một dòng lịch sử tiên tri được Đức Thánh Linh giải thích bằng một dòng lịch sử tiên tri khác.
The light had been opened in the darkness. Wycliffe and the early reformers all the way through the Millerite history employed a method of biblical study labelled “historicism.” The history of the biblical method of Bible study is often overlooked, but is essential to recognize if one truly will see the significance of the rules of prophetic interpretation adopted by Miller and thereafter by Future for America.
Ánh sáng đã được mở ra giữa bóng tối. Wycliffe và các nhà cải chánh buổi đầu, suốt cho đến thời kỳ phong trào Miller, đã sử dụng một phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh gọi là "chủ nghĩa lịch sử." Lịch sử của phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh này thường bị bỏ qua, nhưng việc nhận thức về nó là điều thiết yếu nếu muốn thật sự thấy được tầm quan trọng của các quy tắc giải nghĩa lời tiên tri do Miller chấp nhận và về sau được Future for America tiếp nhận.
There are only two churches Sister White identifies as God’s denominated people. That being ancient Israel and the Seventh-day Adventist church.
Chỉ có hai Hội Thánh mà Bà White xác định là dân được Đức Chúa Trời định danh. Đó là Y-sơ-ra-ên cổ đại và Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy.
“The reasons why we are denominated people of God are to be repeated and repeated. Deuteronomy 4:1–13” Manuscript Releases, volume 8, 426.
"Những lý do vì sao chúng ta được gọi là dân của Đức Chúa Trời cần phải được nhắc đi nhắc lại. Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:1-13" Bản Thảo Phát Hành, quyển 8, 426.
The church of the apostles,’ the church in the wilderness during the papal darkness were never called God’s denominated people, for the term (meaning to be named) represents a church that is given the responsibility of being the depositaries of God’s law, and with Adventism they were also to be the depositaries of God’s prophetic truths.
Hội thánh của các sứ đồ, hội thánh trong đồng vắng trong thời kỳ tăm tối của giáo hoàng, chưa bao giờ được gọi là dân được định danh của Đức Chúa Trời, vì thuật ngữ đó (nghĩa là được đặt tên) chỉ một hội thánh được giao trách nhiệm làm những người gìn giữ luật pháp của Đức Chúa Trời; và với phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, họ cũng được giao phó việc gìn giữ các lẽ thật tiên tri của Đức Chúa Trời.
“God has called His church in this day, as He called ancient Israel, to stand as a light in the earth. By the mighty cleaver of truth, the messages of the first, second, and third angels, He has separated them from the churches and from the world to bring them into a sacred nearness to Himself. He has made them the depositaries of His law and has committed to them the great truths of prophecy for this time. Like the holy oracles committed to ancient Israel, these are a sacred trust to be communicated to the world. The three angels of Revelation 14 represent the people who accept the light of God’s messages and go forth as His agents to sound the warning throughout the length and breadth of the earth.” Testimonies, volume 5, 455.
Đức Chúa Trời đã kêu gọi Hội Thánh của Ngài trong thời nay, như Ngài đã kêu gọi Y-sơ-ra-ên xưa, để đứng làm ánh sáng trên đất. Bằng chiếc dao phay quyền năng của lẽ thật, tức là các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, Ngài đã tách họ khỏi các giáo hội và khỏi thế gian để đưa họ vào sự gần gũi thánh khiết với chính Ngài. Ngài đã khiến họ trở thành những người giữ luật pháp của Ngài và đã giao phó cho họ những lẽ thật vĩ đại của lời tiên tri cho thời kỳ này. Cũng như những thánh ngôn đã được giao phó cho Y-sơ-ra-ên xưa, những điều ấy là một sự ủy thác thánh để được truyền đạt cho thế gian. Ba thiên sứ trong Khải Huyền 14 đại diện cho những người chấp nhận ánh sáng của các sứ điệp của Đức Chúa Trời và ra đi như các đại diện của Ngài để cất tiếng cảnh báo khắp bờ cõi trái đất. Lời Chứng, tập 5, 455.
William Miller represented the chosen messenger to open God’s prophetic truths, and when those truths led a people to the open door of the Most Holy Place in 1844, God then opened up the law of God. Wycliffe is a waymark in opening up the Bible and producing the beginnings of the Protestant Reformation, but he is also a waymark of God’s work to establish “the great truths of prophecy.” John Wycliffe was the morning star identified in the history of the twelve-hundred and sixty year rule of the papacy. His work began in the fourteenth century, then in the seventeenth century another waymark of that prophetic line was the production of the King James Bible in 1611. On that line we ultimately reach the waymark of Miller’s rules of prophetic interpretation. Miller is a waymark in that line of truth, and so are his rules. His rules give witness to a waymark at the end of Adventism represented by the publication of Prophetic Keys.
William Miller là sứ giả được chọn để mở ra các lẽ thật tiên tri của Đức Chúa Trời, và khi những lẽ thật ấy dẫn một dân sự đến cánh cửa mở vào Nơi Chí Thánh vào năm 1844, thì Đức Chúa Trời đã mở ra luật pháp của Ngài. Wycliffe là một cột mốc trong việc mở ra Kinh Thánh và khởi đầu cuộc Cải chánh Tin Lành, nhưng ông cũng là một cột mốc về công việc của Đức Chúa Trời nhằm thiết lập “những lẽ thật lớn của lời tiên tri.” John Wycliffe là Sao Mai được xác định trong lịch sử thời kỳ 1.260 năm cai trị của giáo hoàng. Công việc của ông bắt đầu vào thế kỷ mười bốn, rồi đến thế kỷ mười bảy, một cột mốc khác của dòng tiên tri đó là sự ra đời của bản Kinh Thánh King James năm 1611. Trên dòng đó, cuối cùng chúng ta đạt tới cột mốc là các quy tắc giải nghĩa lời tiên tri của Miller. Miller là một cột mốc trong dòng lẽ thật đó, và các quy tắc của ông cũng vậy. Các quy tắc của ông làm chứng cho một cột mốc vào giai đoạn cuối của phong trào Phục Lâm, được đại diện bởi việc xuất bản Prophetic Keys.
If we do not understand that Miller’s rules were a waymark in a line of prophetic history representing the work to preserve the original and correct texts of the Bible and also the work of the opening up the true understanding of the Bible, which required that the reformers were led to understand and employ the sacred methodology of study called “historicism,” we lack the information necessary to recognize prophetic truths associated with the work of presenting and preserving the light of the third angel at the end of Adventism. For this reason, it is important to take a small survey of that line of history.
Nếu chúng ta không hiểu rằng những quy tắc của Miller là một cột mốc trong dòng lịch sử tiên tri, đại diện cho công cuộc bảo tồn các bản văn Kinh Thánh nguyên bản và chính xác, đồng thời cho công cuộc khai mở sự hiểu biết chân thật về Kinh Thánh, điều này đòi hỏi các nhà cải chánh được dẫn dắt để hiểu và áp dụng phương pháp nghiên cứu thiêng liêng gọi là "chủ nghĩa lịch sử", thì chúng ta sẽ thiếu những thông tin cần thiết để nhận ra các lẽ thật tiên tri liên quan đến công tác trình bày và gìn giữ ánh sáng của thiên sứ thứ ba vào thời kỳ cuối cùng của phong trào Phục Lâm. Vì vậy, điều quan trọng là cần điểm qua ngắn gọn dòng lịch sử ấy.
The only genuine definition of the word “Protestant” is to protest Rome. If a church ceases to protest Rome, it is no longer Protestant and it then becomes a daughter of Rome, as did the Protestants who rejected the first angel’s message. The premier understanding that became the “motto” of the Protestants that came out of the Catholic church was “the Bible and the Bible alone.” Yet history attests to the fact that the Bible needed to be rightly divided.
Định nghĩa chân chính duy nhất của từ “Kháng Cách” là phản đối Rôma. Nếu một hội thánh thôi không phản đối Rôma nữa, thì nó không còn là Kháng Cách và rồi trở thành con gái của Rôma, như những người Kháng Cách đã khước từ sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Quan niệm chủ đạo trở thành “châm ngôn” của những người Kháng Cách bước ra khỏi Giáo hội Công giáo là “Kinh Thánh và chỉ Kinh Thánh.” Tuy nhiên, lịch sử chứng thực rằng Kinh Thánh cần được giải nghĩa cho đúng.
Study to show thyself approved unto God, a workman that needeth not to be ashamed, rightly dividing the word of truth. But shun profane and vain babblings: for they will increase unto more ungodliness. 2 Timothy 2:15, 16.
Hãy chuyên tâm để cho thấy mình được chấp thuận trước mặt Đức Chúa Trời, như người làm công không phải hổ thẹn, trình bày đúng đắn lời của lẽ thật. Nhưng hãy tránh những lời nói phàm tục và vô ích, vì chúng sẽ càng làm gia tăng sự vô đạo. 2 Ti-mô-thê 2:15–16.
The method of biblical study that the Protestants were led to use in their efforts to rightly divide the word of truth is “historicism.” That method was a specific and serious target for Satan to attack, and attack he did.
Phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh mà những người Tin Lành được dẫn dắt để sử dụng trong nỗ lực phân giải đúng lời của lẽ thật là “lối giải nghĩa lịch sử.” Phương pháp ấy đã trở thành một mục tiêu cụ thể và nghiêm trọng cho Sa-tan tấn công, và quả thật hắn đã tấn công.
“We should know for ourselves what constitutes Christianity, what is truth, what is the faith that we have received, what are the Bible rules—the rules given us from the highest authority.” The 1888 Materials, 403.
"Chúng ta cần tự mình biết điều gì tạo nên Cơ Đốc giáo, đâu là lẽ thật, đức tin mà chúng ta đã tiếp nhận là gì, các luật lệ của Kinh Thánh là gì—những luật lệ được ban cho chúng ta từ thẩm quyền tối cao." The 1888 Materials, 403.
The undermining of the biblical methodology used by the Reformers all the way to and including William Miller is specifically identified as beginning in the fifteenth century with a Jesuit scholar named Francisco Ribera (1537–1591), who is credited with popularizing the futurist interpretation. He wrote a commentary on the book of Revelation that proposed a futuristic interpretation of the prophecies, distancing them from the historical context. Ribera invented this methodology for the purpose of resisting the truth which the methodology of historicism always produced. That truth was that the pope of Rome is the antichrist of Bible prophecy.
Sự làm suy yếu phương pháp luận Kinh Thánh mà các nhà Cải chánh sử dụng, kéo dài cho đến và bao gồm cả William Miller, được xác định cụ thể là bắt đầu từ thế kỷ mười lăm với một học giả Dòng Tên tên là Francisco Ribera (1537–1591), người được ghi nhận là đã phổ biến lối giải thích theo trường phái tương lai luận. Ông đã viết một bản chú giải về sách Khải Huyền, đề xuất cách giải thích theo hướng tương lai cho các lời tiên tri, tách chúng khỏi bối cảnh lịch sử. Ribera đã sáng chế ra phương pháp luận này nhằm chống lại lẽ thật mà phương pháp luận lịch sử luôn dẫn đến. Lẽ thật ấy là giáo hoàng La Mã chính là kẻ Phản Kitô trong lời tiên tri Kinh Thánh.
In the seventeenth and eighteenth centuries it can be documented that Protestantism knew that Ribera’s false methodology was satanic and unsound. The Protestants in that history wrote books and tracts opposing the “profane and vain babblings” of the Jesuit scholar. But in 1909, the Trojan horse, the Scofield Reference Bible was published, and the references inserted into the footnotes of the Bible were based upon the teachings of Ribera and another Jesuit named Manuel Lacunza (1731–1801). Lacunza wrote under the pen name Juan Josafat Ben-Ezra, and published a book titled The Coming of the Messiah in Glory and Majesty. As Ribera before him, the book was a direct attack upon the fulfillment of the prophecies in the book of Revelation.
Trong các thế kỷ XVII và XVIII, có tài liệu ghi nhận rằng phong trào Tin Lành biết phương pháp sai lầm của Ribera là mang tính Sa-tan và vô căn cứ. Những người Tin Lành trong lịch sử ấy đã viết sách và các tập luận phản đối những “lời nói phàm tục và phù phiếm” của vị học giả Dòng Tên. Nhưng đến năm 1909, “con ngựa thành Troy” là Kinh Thánh Tham Chiếu Scofield đã được xuất bản, và các tham khảo được chèn vào phần chú thích chân trang của Kinh Thánh dựa trên các giáo huấn của Ribera và một tu sĩ Dòng Tên khác tên Manuel Lacunza (1731–1801). Lacunza viết dưới bút danh Juan Josafat Ben-Ezra và xuất bản một cuốn sách nhan đề “Sự đến của Đấng Mê-si trong vinh quang và uy nghi”. Cũng như Ribera trước ông, cuốn sách ấy là một cuộc tấn công trực tiếp vào sự ứng nghiệm của các lời tiên tri trong sách Khải Huyền.
Satan knew the message he needed to cloud with confusion was the final warning message that comes from the book of Revelation. Incorporating the profane and vain babblings of the two Jesuit priests into the references within the Scofield Reference Bible allowed Satan to lead apostate Protestants into accepting the Jesuit methodologies, thus blinding them to the truth. Satan accomplished by introducing several Catholic prophetic models which removed the possibility to clearly identify who the antichrist of Bible prophecy is. It was not a difficult deception for Satan, for the Protestants had already returned to the Roman church with their rejection of Miller’s message in 1843.
Sa-tan biết rằng sứ điệp hắn cần làm rối mù là sứ điệp cảnh báo cuối cùng đến từ sách Khải Huyền. Việc đưa những lời lẽ phàm tục và huyên thuyên vô ích của hai linh mục Dòng Tên vào các chú giải trong Kinh Thánh Tham Khảo Scofield đã cho phép Sa-tan dẫn dắt những người Tin Lành bội đạo chấp nhận các phương pháp của Dòng Tên, qua đó làm họ mù lòa trước lẽ thật. Sa-tan đã đạt được điều đó bằng cách đưa vào một số mô hình tiên tri Công giáo, vốn loại bỏ khả năng xác định rõ ràng kẻ Phản Kitô theo lời tiên tri Kinh Thánh là ai. Đó không phải là một sự lừa dối khó khăn đối với Sa-tan, vì những người Tin Lành đã quay trở lại Giáo hội La Mã khi họ bác bỏ sứ điệp của Miller vào năm 1843.
There have been several books and articles published through the years that document Satan’s attack upon the Bible, that began in the first few centuries after Christ was crucified. That attack reached a point where counterfeit manuscripts were introduced to produce counterfeit Bibles. Satan also attacked the reformers that were raised up to uphold God’s word while they lived and even after those Reformers died.
Qua nhiều năm, đã có một số sách và bài viết được xuất bản ghi lại sự tấn công của Sa-tan nhắm vào Kinh Thánh, bắt đầu từ vài thế kỷ đầu sau khi Đấng Christ chịu đóng đinh. Cuộc tấn công đó đã đạt đến mức các bản thảo giả mạo được đưa ra để tạo ra những bản Kinh Thánh giả mạo. Sa-tan cũng tấn công các nhà cải chánh được dấy lên để bênh vực Lời Đức Chúa Trời, khi họ còn sống và thậm chí cả sau khi những nhà cải chánh ấy qua đời.
Just consider how modern Seventh-day Adventist historians and theologians treat the subject of William Miller. It is as if they dug up his bones and cast them into the Mississippi River.
Hãy thử nghĩ xem các sử gia và thần học gia Cơ Đốc Phục Lâm hiện đại bàn về nhân vật William Miller như thế nào. Cứ như thể họ đã đào xương cốt của ông lên rồi ném xuống sông Mississippi.
“William Miller was disturbing Satan’s kingdom, and the arch-enemy sought not only to counteract the effect of the message, but to destroy the messenger himself. As Father Miller made a practical application of Scripture truth to the hearts of his hearers, the rage of professed Christians was kindled against him, even as the anger of the Jews was excited against Christ and his apostles. Church-members stirred up the baser classes, and upon several occasions enemies plotted to take his life as he should leave the place of meeting. But holy angels were in the throng, and one of these, in the form of a man, took the arm of this servant of the Lord, and led him in safety from the angry mob. His work was not yet done, and Satan and his emissaries were disappointed in their purpose.” Spirit of Prophecy, volume 4, 219.
William Miller đã khuấy động vương quốc của Sa-tan, và kẻ thù không đội trời chung không chỉ tìm cách làm mất tác dụng của sứ điệp mà còn muốn tiêu diệt chính sứ giả. Khi Cha Miller áp dụng thực tiễn lẽ thật Kinh Thánh vào lòng người nghe, cơn thịnh nộ của những người tự xưng là Cơ Đốc nhân bùng lên chống lại ông, giống như cơn giận của người Do Thái đã dấy lên chống lại Đấng Christ và các sứ đồ của Ngài. Các tín hữu trong Hội Thánh đã xúi giục những thành phần thấp kém, và trong nhiều dịp, kẻ thù đã mưu toan đoạt mạng ông khi ông rời nơi nhóm họp. Nhưng các thiên sứ thánh cũng ở trong đám đông, và một vị trong số đó, trong hình dạng một người nam, đã nắm lấy cánh tay của tôi tớ Chúa này và dẫn ông bình an thoát khỏi đám đông giận dữ. Công việc của ông chưa kết thúc, và Sa-tan cùng các tay sai của nó đã thất vọng trong ý đồ của chúng. Tinh thần Tiên tri, tập 4, trang 219.
Look at how those same two categories of Adventism (theologians and historians) have downplayed and covered up the validity of the rules of Miller, which Sister White informs us will be used by all who actually proclaim the three angel’s messages.
Hãy xem chính hai giới trong phong trào Cơ Đốc Phục Lâm (các nhà thần học và các sử gia) đã xem nhẹ và che đậy tính đúng đắn của các quy tắc của Miller như thế nào, những quy tắc mà, theo lời Bà White, sẽ được tất cả những ai thực sự rao giảng ba sứ điệp của ba thiên sứ sử dụng.
“Those who are engaged in proclaiming the third angel’s message are searching the Scriptures upon the same plan that Father Miller adopted. In the little book entitled Views of the Prophecies and Prophetic Chronology, Father Miller gives the following simple but intelligent and important rules for Bible study and interpretation:—
Những người đang dấn thân rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba đang khảo cứu Kinh Thánh theo cùng một phương pháp mà Cụ Miller đã áp dụng. Trong quyển sách nhỏ nhan đề “Những Quan Điểm về Các Lời Tiên Tri và Niên Đại Tiên Tri,” Cụ Miller nêu ra những quy tắc sau đây, đơn giản nhưng sáng suốt và quan trọng, cho việc nghiên cứu và giải nghĩa Kinh Thánh:-
“[Rules one through five quoted.]
[Các quy tắc từ 1 đến 5 được trích dẫn.]
“The above is a portion of these rules; and in our study of the Bible we shall all do well to heed the principles set forth.” Review and Herald, November 25, 1884.
"Những điều nêu trên là một phần của các quy tắc này; và trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, tất cả chúng ta đều nên lưu tâm đến các nguyên tắc đã được trình bày." Review and Herald, ngày 25 tháng 11 năm 1884.
Without reviewing the three threads of the line of prophetic history associated with the development and establishment of God’s Word it is impossible to see the significance of a major testimony to uphold William Miller as the messenger that was typified by Elijah in his presentation of the message, and as Moses in the promise of Miller being raised up in the resurrection of the righteous, and as Elisha in his willingness to leave his farm and serve the Elijah message. Sister White identifies all three of the biblical heroes as typifying William Miller, who is now treated by modern Adventist theologians and historians as if he was simply some “poor farm boy” from the eighteenth century.
Nếu không xem xét ba mạch của dòng lịch sử tiên tri gắn với sự phát triển và thiết lập Lời Đức Chúa Trời, thì không thể thấy được ý nghĩa của một lời chứng quan trọng nhằm khẳng định William Miller là sứ giả—được Ê-li làm hình bóng trong việc trình bày sứ điệp, như Môi-se trong lời hứa rằng Miller sẽ được sống lại trong sự phục sinh của người công chính, và như Ê-li-sê trong sự sẵn lòng rời bỏ nông trại của mình để phục vụ sứ điệp Ê-li. Bà White xác định cả ba vị anh hùng Kinh Thánh đều tiêu biểu cho William Miller, người mà ngày nay bị các nhà thần học và sử gia Cơ Đốc Phục Lâm hiện đại coi như chỉ là một “anh chàng nông dân nghèo” của thế kỷ mười tám.
William Tyndale was one of the many reformers raised up in this line of prophetic history. If I might say it this way, his ‘mission statement’ against the pope’s ambassadors he interacted with was, “I will cause the boy that drives the plow to know more of the Scriptures than you do.” William Miller was the farm boy, who drove the plow and fulfilled Tyndale’s prophecy.
William Tyndale là một trong nhiều nhà cải chánh được dấy lên trong dòng lịch sử tiên tri này. Nếu được nói như vậy, ‘tuyên bố sứ mệnh’ của ông khi đối đáp với các đại diện của giáo hoàng là: "Tôi sẽ khiến cho cậu bé cày ruộng biết Kinh Thánh nhiều hơn các ông." William Miller là cậu bé nhà nông, người đã cầm cày và ứng nghiệm lời tiên tri của Tyndale.
This introduction has been greatly simplified in terms of all the history that could be brought to bear in support of what we have presented up until now. We will now consider some signatures of Alpha and Omega in order to lead back to the consideration of Miller as a waymark and a messenger.
Phần dẫn nhập này đã được đơn giản hóa rất nhiều xét về toàn bộ lịch sử có thể được viện dẫn để ủng hộ những gì chúng tôi đã trình bày cho đến nay. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét một số dấu ấn của Alpha và Ômêga để đưa chúng ta trở lại với việc xem xét Miller như một cột mốc chỉ đường và một sứ giả.
The book of Daniel is the beginning of a book that consists of two books. The end of that book is the book of Revelation. Though they are two distinct books, together they represent one book.
Sách Đa-ni-ên là phần mở đầu của một bộ sách gồm hai quyển. Phần kết của bộ sách đó là Sách Khải Huyền. Tuy chúng là hai quyển riêng biệt, nhưng hợp lại chúng tạo thành một bộ sách.
Years ago, I had a public interaction with a well-known Seventh-day Adventist theologian who worked at the Biblical Research Institute of the General Conference of the Seventh-day Adventist Church. The theologian was attempting to correct my understanding of the last six verses of Daniel eleven, and also my understanding of the “daily” in the book of Daniel. In our interaction which took place over a period of time, for it consisted of his producing an article which I responded to, which he then answered back, and then of course I returned my thoughts, and so on and so forth. In the interaction he informed me that in the committee he worked in at the General Conference, he was considered the expert on the book of Daniel, and that a coworker of his was considered the resident expert on the book of Revelation. In our interactions he did not want to address points in the book of Revelation, but rather refer them to his colleague. He wanted to keep the discussion in the book of Daniel alone.
Nhiều năm trước, tôi đã có một cuộc trao đổi công khai với một thần học gia Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy nổi tiếng, người làm việc tại Viện Nghiên Cứu Kinh Thánh của Tổng Hội Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy. Vị thần học gia ấy tìm cách điều chỉnh sự hiểu biết của tôi về sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn mười một, và cả sự hiểu biết của tôi về “hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên. Cuộc trao đổi diễn ra trong một khoảng thời gian, vì nó gồm việc ông viết một bài mà tôi phản hồi, rồi ông lại hồi đáp, và dĩ nhiên tôi lại gửi tiếp ý kiến, cứ thế tiếp diễn. Trong quá trình đó, ông cho tôi biết rằng trong ủy ban nơi ông làm việc tại Tổng Hội, ông được xem là chuyên gia về sách Đa-ni-ên, và một đồng nghiệp của ông được coi là chuyên gia thường trực về sách Khải Huyền. Trong các trao đổi, ông không muốn đề cập đến những điểm trong sách Khải Huyền mà muốn chuyển chúng cho đồng nghiệp của mình. Ông muốn giữ cuộc thảo luận chỉ trong phạm vi sách Đa-ni-ên.
Sister White is clear that Daniel and Revelation are one book. At that level they represent the Bible, which is one book made up of two books, the old and the new. Sister White also comments on the Jewish church, that only considers the old book to be the one book, and she also comments on those who disregard the old book for they only understand or are only willing to understand the new book. Her inspired testimony is that if you only accept the new, then you reject the old, and vice versa. For the theologian to claim he was the expert of Daniel, but not of Revelation is repeating the Jewish concept of only accepting the Old Testament, and we know where that narrow view led the Jews. Taking either side of the issue; accepting the old and not the new, or accepting new, but not the old is to reject the entire testimony.
Bà White khẳng định rõ ràng rằng Đa-ni-ên và Khải Huyền là một quyển sách. Trong ý nghĩa đó, chúng đại diện cho Kinh Thánh, vốn là một quyển sách gồm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Bà White cũng nhận xét về Hội thánh Do Thái, rằng họ chỉ xem phần cũ là quyển sách duy nhất; và bà cũng nhận xét về những người xem thường phần cũ vì họ chỉ hiểu, hoặc chỉ sẵn lòng hiểu, phần mới. Lời chứng được soi dẫn của bà là: nếu chỉ chấp nhận phần mới thì tức là từ chối phần cũ, và ngược lại. Việc một nhà thần học tự nhận mình là chuyên gia về Đa-ni-ên nhưng không về Khải Huyền là lặp lại quan niệm của người Do Thái là chỉ chấp nhận Cựu Ước, và chúng ta biết quan điểm hẹp hòi đó đã dẫn người Do Thái đến đâu. Đứng về một phía nào trong vấn đề này—chấp nhận phần cũ mà không chấp nhận phần mới, hoặc chấp nhận phần mới mà không chấp nhận phần cũ—là phủ nhận toàn bộ lời chứng.
“The Saviour inquired of his disciples if they understood these things. They answered, ‘Yea, Lord. Then said he unto them, Therefore every scribe which is instructed unto the kingdom of Heaven is like unto a man that is an householder, which bringeth forth out of his treasure things new and old.’ In this parable, Jesus presented before his disciples the responsibility of those whose work it is to give to the world the light which they have received from him. The Old Testament was all the Scripture then in existence; but it was not written merely for the ancients; it was for all ages and for all people. Jesus would have the teachers of his doctrine diligently search the Old Testament for that light which establishes his identity as the Messiah foretold in prophecy, and reveals the nature of his mission to the world. The Old and the New Testament are inseparable, for both are the teachings of Christ. The doctrine of the Jews, who accept only the Old Testament, is not unto salvation, since they reject the Saviour whose life and ministry was a fulfillment of the law and the prophecies. And the doctrine of those who discard the Old Testament is not unto salvation, because it rejects that which is direct testimony of Christ. Skeptics begin with discounting upon the Old Testament, and it takes but another step to deny the validity of the New, and thus both are rejected.
Đấng Cứu Thế hỏi các môn đồ xem họ có hiểu những điều ấy không. Họ thưa: “Phải, lạy Chúa.” Ngài lại phán với họ: “Vậy nên, mọi thầy thông giáo được dạy dỗ về Nước Trời đều giống như một gia chủ, lấy từ kho tàng mình ra những vật mới và cũ.” Trong ẩn dụ này, Chúa Giê-su trình bày trước các môn đồ trách nhiệm của những người có công việc là trao cho thế gian ánh sáng mà họ đã nhận từ Ngài. Thời bấy giờ, toàn bộ Kinh Thánh hiện có chỉ là Cựu Ước; nhưng nó không chỉ được viết cho người xưa; nó dành cho mọi thời đại và mọi người. Chúa Giê-su muốn những người dạy giáo huấn của Ngài siêng năng tra xét Cựu Ước để tìm ánh sáng xác nhận Ngài là Đấng Mê-si-a đã được các lời tiên tri báo trước, và tỏ bày bản chất sứ mạng của Ngài đối với thế gian. Cựu Ước và Tân Ước không thể tách rời, vì cả hai đều là lời dạy của Đấng Christ. Giáo lý của người Do Thái, những người chỉ chấp nhận Cựu Ước, thì không đưa đến sự cứu rỗi, vì họ khước từ Đấng Cứu Thế, Đấng mà đời sống và chức vụ của Ngài là sự ứng nghiệm của luật pháp và các lời tiên tri. Và giáo lý của những ai loại bỏ Cựu Ước cũng không đem đến sự cứu rỗi, vì nó khước từ điều vốn là lời chứng trực tiếp về Đấng Christ. Những kẻ hoài nghi khởi đầu bằng việc hạ thấp giá trị Cựu Ước, và chỉ cần thêm một bước nữa là phủ nhận tính hiệu lực của Tân Ước, và như thế cả hai đều bị bác bỏ.
“The Jews have little influence over the Christian world in showing them the importance of the commandments, including the binding law of the Sabbath, because in bringing forth the old treasures of truth, they throw aside the new ones in the personal teachings of Jesus. On the other hand, the strongest reason why Christians fail to influence the Jews to accept the teachings of Christ as the language of divine wisdom, is because, in bringing forth the treasures of his word, they treat with contempt the riches of the Old Testament, which are the earlier teachings of the Son of God, through Moses. They reject the law proclaimed from Sinai, and the Sabbath of the fourth commandment, instituted in the garden of Eden. But the minister of the gospel, who follows the teachings of Christ, will gain a thorough knowledge of both the Old and the New Testament, that he may present them in their true light to the people an inseparable whole—the one depending upon and illuminating the other. Thus, as Jesus instructed his disciples, they will bring forth from their treasure ‘things new and old.’” Spirit of Prophecy, volume 2, 255.
Người Do Thái có ít ảnh hưởng đối với thế giới Cơ Đốc trong việc cho họ thấy tầm quan trọng của các điều răn, bao gồm cả luật ngày Sa-bát có tính ràng buộc, vì khi đưa ra những kho tàng lẽ thật cũ, họ gạt bỏ những điều mới mẻ trong các lời dạy cá nhân của Chúa Giê-su. Mặt khác, lý do mạnh mẽ nhất khiến các Cơ Đốc nhân không thể tác động đến người Do Thái để họ chấp nhận các lời dạy của Đấng Christ như ngôn ngữ của sự khôn ngoan thiêng liêng, là vì, khi đưa ra các kho tàng từ lời của Ngài, họ khinh thường những của báu của Cựu Ước, vốn là những lời dạy sớm hơn của Con Đức Chúa Trời, qua Môi-se. Họ khước từ luật pháp được công bố từ Si-na-i, và ngày Sa-bát của điều răn thứ tư, được thiết lập trong vườn Ê-đen. Nhưng người truyền giảng Phúc Âm, người theo các lời dạy của Đấng Christ, sẽ đạt được sự hiểu biết tường tận về cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, để có thể trình bày chúng trong ánh sáng chân thật của chúng trước dân chúng như một tổng thể không thể tách rời—bên này nương vào và soi sáng cho bên kia. Vì thế, như Chúa Giê-su đã dạy các môn đồ, họ sẽ lấy ra từ kho tàng của mình “những điều mới và cũ.” Tinh thần Tiên tri, tập 2, trang 255.
The previous counsel has another application for Laodicean Adventists. To profess to believe the Bible in its entirety, both the Old and the New Testaments, yet reject the Spirit of Prophecy is the identical ditch of accepting only one testimony. Two witnesses are required to establish truth, so it is impossible to establish truth with one witness, and if any attempt to do so they are rejecting both witnesses, they are basing their faith upon what is referred to as ‘half-truths.’
Lời khuyên trước đó còn có một sự áp dụng khác cho những người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê. Tuyên xưng rằng mình tin Kinh Thánh trọn vẹn, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, nhưng lại khước từ Thần Linh của Lời Tiên Tri, cũng là rơi vào cùng một cái hố của việc chỉ chấp nhận một lời chứng. Phải có hai nhân chứng mới xác lập được lẽ thật, nên không thể xác lập lẽ thật chỉ với một nhân chứng; và nếu ai cố làm như vậy thì họ đang khước từ cả hai nhân chứng, đặt đức tin của mình trên những điều được gọi là “nửa sự thật.”
I will now repeat a question that was in one of the initial articles that have been coming out since July, 2023. The question is, “What new light has come out of Adventism since 1863?” The answer is simply, “None.”
Bây giờ tôi sẽ nhắc lại một câu hỏi đã có trong một trong những bài viết đầu tiên được đăng kể từ tháng 7 năm 2023. Câu hỏi là: "Kể từ năm 1863, đã có ánh sáng mới nào xuất phát từ Cơ Đốc Phục Lâm không?" Câu trả lời rất đơn giản: "Không có."
“The books of Daniel and the Revelation are one. One is a prophecy, the other a revelation; one a book sealed, the other a book opened. John heard the mysteries which the thunders uttered, but he was commanded not to write them.” Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 971.
"Các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền là một. Một bên là lời tiên tri, bên kia là sự khải thị; một là sách đã niêm phong, bên kia là sách đã mở ra. Giăng đã nghe những điều mầu nhiệm mà các tiếng sấm phán ra, nhưng ông được truyền không chép lại chúng." Chú Giải Kinh Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 7, trang 971.
The Alpha and Omega therefore identifies that Daniel is the first and Revelation the last. Daniel represents the beginning and Revelation represents the end of Adventism.
Vì vậy, Anpha và Ômêga cho thấy rằng Đa-ni-ên là đầu tiên và Khải Huyền là sau cùng. Đa-ni-ên đại diện cho sự khởi đầu và Khải Huyền đại diện cho sự kết thúc của phái Cơ Đốc Phục Lâm.
“Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 9, 8.
"Khải Huyền là một quyển sách được niêm phong, nhưng cũng là một quyển sách mở. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những giáo huấn của quyển sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri được tiếp nối như trong sách Đa-ni-ên. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng chúng cần được coi trọng. Chúa không lặp lại những điều không mấy hệ trọng." Manuscript Releases, tập 9, 8.
In the beginning of Adventism, in the very verses that are the central pillar of Adventism, the verses that were unsealed in 1798; Jesus introduced Himself as “Palmoni,” the Wonderful Numberer. At the end of Adventism, Jesus introduces Himself as “Alpha and Omega,” the wonderful linguist—the Word of God. For this reason, the beginning of Adventism and the first angel’s message was “hung upon time.” At the end of Adventism, the third angel’s message will be hung upon His Word.
Vào buổi đầu của Cơ Đốc Phục Lâm, trong chính những câu Kinh Thánh là trụ cột trung tâm của Cơ Đốc Phục Lâm, những câu đã được mở ấn vào năm 1798, Chúa Giê-su xưng danh Ngài là “Palmoni”, Đấng định số diệu kỳ. Vào thời cuối của Cơ Đốc Phục Lâm, Chúa Giê-su xưng mình là “Alpha và Omega”, bậc thầy ngôn ngữ diệu kỳ—Ngôi Lời của Đức Chúa Trời. Vì lý do này, buổi đầu của Cơ Đốc Phục Lâm và sứ điệp của thiên sứ thứ nhất đã được “treo trên thời gian”. Ở thời cuối của Cơ Đốc Phục Lâm, sứ điệp của thiên sứ thứ ba sẽ được “treo” trên Lời của Ngài.
The beginning and ending of Adventism take place during the history of the sixth kingdom of Bible prophecy, therefore they occur during the beginning and ending of the United States. The prophetic history of the United States is the history of the two horns of Republicanism and Protestantism. At the conclusion of that history those two horns will have changed from a lamb to a dragon. Republicanism will change to a democracy and Protestantism will change to apostate Protestantism. When the cup of probationary time for the United States begins to come to its close, as is happening right now, the two horns of apostate Republicanism and apostate Protestantism will form an image to the beast, thus merging church and state into one horn that speaks as a dragon. But God will not be left without a witness, for in the process of bringing a conclusion to the United States, He will raise up the genuine horn of Protestantism to protest both the image of the beast in the United States, and thereafter the image of the beast that confronts the entire world. The raising up of the Protestant horn at the end of the United States will be accomplished within the same historical structure as was the Protestant horn raised up in the beginning of the United States. A former covenant people will be passed by, and a new people will become the new covenant people. There is nothing new under the sun.
Khởi đầu và kết thúc của phong trào Phục Lâm diễn ra trong lịch sử của vương quốc thứ sáu theo lời tiên tri Kinh Thánh; vì thế, chúng diễn ra vào thời kỳ khởi đầu và kết thúc của Hoa Kỳ. Lịch sử tiên tri của Hoa Kỳ là lịch sử của hai sừng: chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành. Đến hồi kết của lịch sử ấy, hai sừng đó sẽ biến đổi từ chiên con thành rồng. Chủ nghĩa cộng hòa sẽ chuyển thành dân chủ, và Tin Lành sẽ chuyển thành Tin Lành bội đạo. Khi chén của thời kỳ ân điển dành cho Hoa Kỳ bắt đầu đến hồi cạn, như đang diễn ra ngay bây giờ, hai sừng của chủ nghĩa cộng hòa bội đạo và Tin Lành bội đạo sẽ dựng nên một ảnh tượng của con thú, qua đó hợp nhất giáo hội và nhà nước thành một sừng duy nhất nói như rồng. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ không thiếu một nhân chứng, vì trong tiến trình đưa Hoa Kỳ đến hồi kết, Ngài sẽ dấy lên chiếc sừng chân chính của Tin Lành để phản kháng cả ảnh tượng của con thú tại Hoa Kỳ, rồi sau đó ảnh tượng của con thú đối đầu với cả thế giới. Việc dấy lên chiếc sừng Tin Lành vào lúc kết thúc của Hoa Kỳ sẽ được thực hiện trong cùng một khuôn khổ lịch sử như khi chiếc sừng Tin Lành được dấy lên vào lúc khởi đầu của Hoa Kỳ. Một dân giao ước trước kia sẽ bị bỏ qua, và một dân mới sẽ trở thành dân giao ước mới. Chẳng có gì mới dưới mặt trời.
When we use the time prophecies understood and presented in the Millerite history to evaluate the Alpha and Omega, we find they are one in the same. Every time prophecy begins with a history when the prophecy is proclaimed, and that history always typifies the history when the prophecy is fulfilled.
Khi chúng ta sử dụng các lời tiên tri về thời gian, được hiểu và trình bày trong lịch sử Millerite, để đánh giá Alpha và Omega, chúng ta thấy rằng chúng là một và cùng một. Mỗi lời tiên tri về thời gian đều bắt đầu với một bối cảnh lịch sử khi lời tiên tri được công bố, và bối cảnh đó luôn là kiểu mẫu cho lịch sử khi lời tiên tri được ứng nghiệm.
The history of the twenty-three hundred year prophecy began on the third decree in 457 BC and ended at the third angel’s message on October 22, 1844. Leading up to, but before the arrival of the third decree the work of erecting the temple and Jerusalem was accomplished. In like manner the history, leading up to the arrival of the third angel, the foundational truths of the Millerite temple was established.
Lịch sử của lời tiên tri 2.300 năm bắt đầu với sắc lệnh thứ ba vào năm 457 TCN và kết thúc với sứ điệp của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Trong giai đoạn dẫn đến, nhưng trước khi sắc lệnh thứ ba đến, công việc xây dựng đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem đã được hoàn tất. Tương tự, trong phần lịch sử dẫn đến sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba, các lẽ thật nền tảng của đền thờ thuộc phái Miller đã được thiết lập.
In 1798, the twenty-five hundred and twenty year prophecy that began in 723 BC with the scattering of the northern ten tribes was fulfilled. That prophecy identified two periods of twelve hundred and sixty years, marking the trampling down of the literal temple and literal Jerusalem by literal pagan Rome, that was followed by twelve hundred and sixty years of papal Rome trampling down the spiritual city and temple. The prophecy began with the destruction of the northern kingdom and the scattering of the kingdom’s citizens. Half way through the prophecy in 538, marks the end of the trampling down of God’s people by pagan Rome, the fourth kingdom of Bible prophecy and produces the scattering of God’s church into the wilderness of the Dark Ages. The end of that time prophecy in 1798 marks the end of the fifth kingdom of Bible prophecy. The scattering of the northern ten tribes, and of the Christian church that fled into the wilderness represents the gathering of those destined to become the horn of Protestantism. Waymarks are often represented by opposites and a scattering can represent a gathering, just as Elijah represents John the Baptist. In the same prophetic confrontation Elijah does not die, and John the Baptist does.
Năm 1798, lời tiên tri 2.520 năm khởi đầu vào năm 723 TCN với sự tản lạc của mười chi phái miền bắc đã được ứng nghiệm. Lời tiên tri ấy chỉ ra hai giai đoạn 1.260 năm, đánh dấu việc đền thờ theo nghĩa đen và Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen bị La Mã ngoại giáo theo nghĩa đen giày xéo, sau đó là 1.260 năm La Mã giáo hoàng giày xéo thành và đền thờ thuộc linh. Lời tiên tri bắt đầu với sự hủy diệt của vương quốc miền bắc và sự tản lạc của dân của vương quốc. Vào giữa lộ trình của lời tiên tri, năm 538 đánh dấu sự chấm dứt việc La Mã ngoại giáo—vương quốc thứ tư trong lời tiên tri Kinh Thánh—giày xéo dân của Đức Chúa Trời, và dẫn đến sự tản lạc của Hội Thánh của Đức Chúa Trời vào đồng vắng của Thời Kỳ Tăm Tối. Sự kết thúc của lời tiên tri thời kỳ ấy vào năm 1798 đánh dấu sự chấm dứt của vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh. Sự tản lạc của mười chi phái miền bắc, và của Hội Thánh Cơ Đốc chạy trốn vào đồng vắng, tượng trưng cho sự nhóm lại của những người được định trở nên sừng của phong trào Tin Lành. Các dấu mốc thường được thể hiện bằng những điều đối nghịch, và một sự tản lạc có thể tượng trưng cho một sự nhóm lại, cũng như Ê-li tượng trưng cho Giăng Báp-tít. Trong cùng cuộc đối đầu mang tính tiên tri ấy, Ê-li không chết, còn Giăng Báp-tít thì chết.
In 677 BC the southern tribe of Judah, (also identified as the glorious land in the Scriptures) was scattered for twenty-five hundred and twenty years, ending on October 22, 1844. That prophecy was identifying the trampling down of God’s people, who Daniel identifies as the “host” in Daniel 8:13, 14.
Vào năm 677 trước Công nguyên, chi phái Giu-đa ở miền nam (cũng được gọi là đất vinh hiển trong Kinh Thánh) đã bị tản lạc suốt hai nghìn năm trăm hai mươi năm, kết thúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Lời tiên tri đó xác định sự chà đạp dân sự của Đức Chúa Trời, mà Đa-ni-ên gọi là “đạo binh” trong Đa-ni-ên 8:13, 14.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:13, 14.
Bấy giờ tôi nghe một vị thánh nói, và một vị thánh khác nói với vị thánh đang nói: Bao lâu nữa thì khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây nên cảnh hoang tàn sẽ còn kéo dài, để cả đền thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Người nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:13, 14.
The twenty-three hundred year prophecy which ended at the same time as the twenty-five hundred and twenty year prophecy that began in 677 BC was identifying the trampling down of the sanctuary as identified in Daniel 8:13, 14. The prophecy of the scattering of Judah in 677 BC was preceded by three attacks from Nebuchadnezzar and that prophecy ended on the arrival of the third message on October 22, 1844.
Lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm, vốn kết thúc cùng thời điểm với lời tiên tri hai nghìn năm trăm hai mươi năm bắt đầu vào năm 677 TCN, đã xác định việc nơi thánh bị giày đạp, như được nêu trong Đa-ni-ên 8:13, 14. Trước lời tiên tri về sự tản lạc của Giu-đa vào năm 677 TCN là ba cuộc tấn công của Nê-bu-cát-nết-sa, và lời tiên tri ấy kết thúc khi sứ điệp thứ ba đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The two twenty-five hundred and twenty year prophecies ending respectively in 1798 and 1844 identify the forty-six years of building the Millerite temple foundation. Moses was forty-six days in receiving instructions on building the temple, Herod’s temple remodeling in the time of Christ took forty-six years, which ended the year of Christ’s baptism. From the baptism He went to the wilderness for forty days, and when He returned, he cleansed the temple the first time and the quibbling Jew’s wanted to know by what authority He did such a thing.
Hai lời tiên tri 2.520 năm, kết thúc lần lượt vào các năm 1798 và 1844, chỉ ra thời kỳ bốn mươi sáu năm xây dựng nền móng đền thờ của phong trào Millerite. Môi-se đã mất bốn mươi sáu ngày để nhận chỉ dẫn về việc xây dựng đền thờ. Việc trùng tu Đền thờ của Hêrôđê vào thời Đấng Christ kéo dài bốn mươi sáu năm, và kết thúc vào năm Đấng Christ chịu báp-tem. Sau lễ báp-tem, Ngài vào hoang mạc bốn mươi ngày, và khi trở lại, Ngài thanh tẩy đền thờ lần thứ nhất, còn những người Do Thái hay bắt bẻ muốn biết Ngài dựa vào thẩm quyền nào để làm điều như vậy.
And the Jews’ passover was at hand, and Jesus went up to Jerusalem, And found in the temple those that sold oxen and sheep and doves, and the changers of money sitting: And when he had made a scourge of small cords, he drove them all out of the temple, and the sheep, and the oxen; and poured out the changers’ money, and overthrew the tables; And said unto them that sold doves, Take these things hence; make not my Father’s house an house of merchandise. And his disciples remembered that it was written, The zeal of thine house hath eaten me up. Then answered the Jews and said unto him, What sign shewest thou unto us, seeing that thou doest these things? Jesus answered and said unto them, Destroy this temple, and in three days I will raise it up. Then said the Jews, Forty and six years was this temple in building, and wilt thou rear it up in three days? But he spake of the temple of his body. When therefore he was risen from the dead, his disciples remembered that he had said this unto them; and they believed the scripture, and the word which Jesus had said. John 2:13–22.
Lễ Vượt Qua của người Do Thái gần đến, Đức Chúa Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem, và thấy trong đền thờ có những người bán bò, chiên và bồ câu, cùng những người đổi tiền đang ngồi. Ngài bện mấy sợi dây nhỏ làm roi, đuổi tất cả ra khỏi đền thờ, cả chiên lẫn bò; đổ tung tiền của những người đổi tiền và lật đổ các bàn. Ngài nói với những kẻ bán bồ câu: Hãy mang những thứ này ra khỏi đây; đừng biến nhà Cha ta thành nơi buôn bán. Các môn đồ của Ngài nhớ lại rằng có chép: “Lòng nhiệt thành vì nhà Chúa thiêu đốt tôi.” Bấy giờ người Do Thái nói với Ngài: Ông sẽ cho chúng tôi thấy dấu lạ nào để chứng tỏ ông làm những điều này? Đức Chúa Giê-su đáp: Hãy phá đền thờ này, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này xây mất bốn mươi sáu năm, mà ông sẽ dựng lại trong ba ngày sao? Nhưng Ngài nói về đền thờ là thân thể của Ngài. Vì vậy, khi Ngài từ kẻ chết sống lại, các môn đồ nhớ lại rằng Ngài đã nói điều ấy với họ; và họ tin Kinh Thánh cùng lời Đức Chúa Giê-su đã phán. Giăng 2:13-22.
The Millerite temple was erected in forty-six years from 1798 at the conclusion of the first twenty-five hundred and twenty year prophecy and ended forty-six years later at the fulfillment of the second twenty-five hundred and twenty year prophecy in 1844. Those forty-six years began with the arrival of the first angel and ended with the arrival of the third angel, for Christ said His temple would be raised up in three days. If you are unwilling to see these facts it is because of two primary problems beyond the problems that may exist in an unwilling and unconverted heart. The first problem is you are unwilling to approach the prophetic Word from the perspective that history repeats. You are not a historicist. The other problem is an inability to apply symbolic words that have been recorded within the Word of God by the Word of God. The beginnings of all these prophecies identify the end, and they always identify much more than simply histories which repeat.
Đền thờ của phái Millerite được dựng nên trong bốn mươi sáu năm kể từ năm 1798, vào lúc kết thúc lời tiên tri 2.520 năm thứ nhất, và kết thúc bốn mươi sáu năm sau, khi lời tiên tri 2.520 năm thứ hai được ứng nghiệm vào năm 1844. Bốn mươi sáu năm ấy bắt đầu với sự xuất hiện của thiên sứ thứ nhất và kết thúc với sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba, vì Đấng Christ đã phán rằng đền thờ của Ngài sẽ được dựng lại trong ba ngày. Nếu bạn không muốn thấy những sự thật này thì đó là vì hai vấn đề chủ yếu, ngoài những vấn đề có thể tồn tại trong một tấm lòng không sẵn lòng và chưa hoán cải. Vấn đề thứ nhất là bạn không sẵn lòng tiếp cận Lời tiên tri từ quan điểm rằng lịch sử lặp lại. Bạn không phải là người theo trường phái lịch sử. Vấn đề còn lại là không thể áp dụng các lời mang tính biểu tượng đã được ghi chép trong Lời Đức Chúa Trời bởi chính Lời Đức Chúa Trời. Khởi đầu của tất cả những lời tiên tri này chỉ ra phần kết, và chúng luôn chỉ ra nhiều hơn là chỉ sự lặp lại của lịch sử.
The Bible says we are a temple for the Holy Spirit and the body temple is made up of forty-six chromosomes. The scientists who study those forty-six chromosomes inform us that the twenty-three male chromosomes and the twenty-three female chromosomes are wrapped around a protein that is shaped as a cross.
Kinh Thánh nói rằng chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần và đền thờ là thân thể được cấu tạo bởi bốn mươi sáu nhiễm sắc thể. Các nhà khoa học nghiên cứu bốn mươi sáu nhiễm sắc thể đó cho chúng ta biết rằng hai mươi ba nhiễm sắc thể nam và hai mươi ba nhiễm sắc thể nữ được quấn quanh một loại protein có hình dạng cây thánh giá.
In Daniel twelve there are three connected time prophecies, the first is referencing the scattering of the power of the holy people, which represents the “seven times” of Leviticus twenty-six. The scattering of the power of the holy people that was fulfilled by them was twenty-five hundred and twenty years, yet in Daniel twelve it only references the last half of that period. It portrays Daniel as not understanding what was meant by the pronouncement.
Trong sách Đa-ni-ên đoạn mười hai có ba lời tiên tri về thời kỳ có liên hệ với nhau; lời thứ nhất đề cập đến việc làm tan tác quyền lực của dân thánh, điều này tượng trưng cho “bảy lần” trong Lê-vi Ký hai mươi sáu. Sự làm tan tác quyền lực của dân thánh đã được ứng nghiệm nơi họ là 2.520 năm, nhưng trong Đa-ni-ên đoạn mười hai chỉ đề cập đến nửa sau của thời kỳ đó. Điều này cho thấy Đa-ni-ên không hiểu ý nghĩa của lời tuyên bố ấy.
And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished. And I heard, but I understood not: then said I, O my Lord, what shall be the end of these things? Daniel 12:7, 8.
Và tôi nghe người đàn ông mặc vải lanh, đang đứng trên mặt nước sông; ông giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời rằng điều ấy sẽ là một thời kỳ, những thời kỳ, và nửa thời kỳ; và khi việc làm tan tác quyền lực của dân thánh được hoàn tất, thì mọi điều này sẽ chấm dứt. Tôi đã nghe, nhưng không hiểu; bấy giờ tôi nói: Ôi Chúa của con, kết cuộc của những điều này sẽ như thế nào? Daniel 12:7, 8.
Daniel twelve is illustrating the message that is unsealed at the time of the end, which was 1798. In the passage Daniel represents William Miller, the primary symbol of the wise in that history. Miller was first led to the twenty-five hundred and twenty year prophecy of Leviticus twenty-six, and in verses seven and eight he represents the wise who must reconcile the truth that the twenty-five hundred and twenty year scattering is most definitely identified as God’s scattering of His people.
Đa-ni-ên đoạn mười hai minh họa sứ điệp được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng, tức năm 1798. Trong đoạn này, Đa-ni-ên đại diện cho William Miller, biểu tượng chính của những người khôn ngoan trong thời kỳ lịch sử ấy. Miller trước hết được dẫn dắt đến lời tiên tri hai nghìn năm trăm hai mươi năm trong Lê-vi Ký đoạn 26, và trong các câu 7 và 8 Đa-ni-ên đại diện cho những người khôn ngoan, là những người phải dung hòa với lẽ thật rằng thời kỳ tản lạc hai nghìn năm trăm hai mươi năm rõ ràng được xác định là việc Đức Chúa Trời làm cho dân Ngài tản lạc.
And if ye will not yet for all this hearken unto me, then I will punish you seven times more for your sins. And I will break the pride of your power; and I will make your heaven as iron, and your earth as brass. Leviticus 26:18, 19.
Dẫu vậy, nếu các ngươi vẫn không chịu nghe theo Ta, thì Ta sẽ trừng phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi các ngươi. Ta sẽ bẻ gãy sự kiêu căng của quyền thế các ngươi; Ta sẽ làm trời của các ngươi như sắt, và đất của các ngươi như đồng. Lê-vi Ký 26:18, 19.
The “pride” of ancient Israel was when they were allowed to reject God as their king and choose a human king. Their pride, which precludes a fall (Proverbs 16:18) was their desire to be like all the idolatrous kingdoms around them. Removing first the northern kingdom and then the southern kingdom was the scattering of the power (king) in 723 BC and 677 BC respectively.
“Sự ‘kiêu ngạo’ của Israel cổ đại là khi họ được phép từ chối Đức Chúa Trời làm vua của mình và chọn một vị vua loài người. Sự kiêu ngạo của họ, thứ ngăn chặn sự sa ngã (Châm ngôn 16:18), là ước muốn được giống như tất cả các vương quốc thờ hình tượng xung quanh họ. Việc trước hết loại bỏ vương quốc phương bắc rồi đến vương quốc phương nam chính là sự phân tán quyền lực (vua) vào các năm 723 TCN và 677 TCN tương ứng.”
Miller represented the wise who understood the increase of knowledge that was unsealed in the previous verses of Daniel twelve, and in verses seven and eight he is represented as not understanding the connection of twelve hundred and sixty years with the twenty-five hundred and twenty years of the scattering of God’s people. Daniel is representing God’s people at the end of Adventism, as well as Miller at the beginning of Adventism. At the end of Adventism, the same dilemma exists, for as Adventism set aside Miller’s understanding of the “seven times” they were forced to only identify the twelve hundred and sixty years as the Dark Ages. The wise at the end had a similar problem to resolve as Daniel and Miller illustrate. Why is the terminology of Leviticus twenty-six employed to illustrate three and a half times instead of seven times?
Miller đại diện cho những người khôn ngoan, những người hiểu sự gia tăng thông biết đã được mở ấn trong các câu trước của Đa-ni-ên đoạn mười hai, và trong các câu bảy và tám, ông được mô tả là không hiểu mối liên hệ giữa 1.260 năm với 2.520 năm của sự tản lạc dân Đức Chúa Trời. Đa-ni-ên đại diện cho dân Đức Chúa Trời vào cuối thời kỳ Cơ Đốc Phục Lâm, cũng như Miller đại diện cho họ vào buổi đầu của Cơ Đốc Phục Lâm. Ở cuối thời kỳ Cơ Đốc Phục Lâm, nan đề tương tự vẫn tồn tại, vì khi Cơ Đốc Phục Lâm gạt bỏ sự hiểu biết của Miller về "bảy thời", họ buộc phải chỉ coi 1.260 năm là Thời kỳ Tăm Tối. Những người khôn ngoan ở thời cuối cũng có một vấn đề tương tự cần giải quyết như Đa-ni-ên và Miller minh họa. Tại sao thuật ngữ của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu lại được dùng để minh họa ba thời rưỡi thay vì bảy thời?
Miller never fully reconciled this dilemma, but in 1856 the last “new prophetic light” was presented in a series of six articles that were never concluded identifying the seven times as representing three and a half years of pagan Rome trampling down God’s literal Israel, followed by three and a half years of papal Rome trampling down spiritual Israel. Seven years later Adventism outright rejected all of the light of the seven times, preparing the dilemma for the wise at the time of the end in 1989, when, as described in Daniel eleven, verse forty, the countries representing the former Soviet Union were swept away by the papacy and the United States.
Miller chưa bao giờ giải quyết trọn vẹn nan đề này, nhưng vào năm 1856, “ánh sáng tiên tri mới” cuối cùng đã được trình bày trong một loạt sáu bài viết chưa bao giờ được hoàn tất, trong đó “bảy lần” được xác định là tượng trưng cho ba năm rưỡi La Mã ngoại giáo chà đạp Israel thuộc thể của Đức Chúa Trời, tiếp theo là ba năm rưỡi La Mã giáo hoàng chà đạp Israel thuộc linh. Bảy năm sau, Phục Lâm thẳng thừng bác bỏ toàn bộ ánh sáng về “bảy lần,” chuẩn bị nan đề ấy cho những người khôn ngoan vào thời kỳ cuối cùng, năm 1989, khi, như được mô tả trong Đa-ni-ên mười một, câu bốn mươi, các quốc gia đại diện cho Liên Xô cũ đã bị chế độ giáo hoàng và Hoa Kỳ quét sạch.
The first light given to Miller was rejected in 1863, and the last light on the subject was given by Hiram Edson in those six articles. Those articles were discontinued and seven years (times) later the power of modern Israel was set aside in order to imitate the idolatrous churches that had a few years before been correctly identified as the daughters of Babylon. The seven times of Leviticus twenty-six as a prophetic doctrine became the stone of stumbling, and the pride of ancient Israel as represented by their desire to have Saul rule over them as king was repeated. Jesus represents the end with the beginning.
Ánh sáng đầu tiên ban cho Miller đã bị bác bỏ vào năm 1863, và ánh sáng sau cùng về chủ đề này được Hiram Edson trình bày trong sáu bài viết đó. Những bài viết ấy bị ngừng lại, và bảy năm (bảy lần) sau, quyền lực của Israel hiện đại bị gạt sang một bên để bắt chước các giáo hội thờ hình tượng, là những hội thánh vài năm trước đó đã được xác định đúng là các con gái của Babylon. “Bảy lần” của Lê-vi Ký chương hai mươi sáu, với tư cách là một giáo lý tiên tri, đã trở thành hòn đá vấp phạm, và sự kiêu ngạo của Israel xưa—được thể hiện qua mong muốn để Sa-lơ cai trị họ làm vua—đã lặp lại. Chúa Giê-su thể hiện sự kết thúc qua sự khởi đầu.
The book of Daniel also identifies a twelve hundred and ninety year prophecy along with a thirteen hundred and thirty-five year prophecy that both begin at the taking away of “the daily” in 508. The taking away of “the daily” represents the removal of pagan Rome’s resistance to the rise of the papal power in 538. There was a thirty-year transition period before the papal power was placed upon the throne of the earth in 538, then the remaining twelve hundred and sixty years ends in 1798. The thirty years of transition from one kingdom to the next identifies the final years of papal rule that lead to the sixth kingdom of Bible prophecy being placed on the throne of the earth in 1798. The beginning of the twelve hundred and ninety year prophecy identifies a transition from one kingdom of Bible prophecy unto the next kingdom of Bible prophecy, as does the ending of that prophecy.
Sách Đa-ni-ên cũng chỉ ra một lời tiên tri 1.290 năm cùng với một lời tiên tri 1.335 năm, cả hai đều bắt đầu từ việc dẹp bỏ “the daily” vào năm 508. Việc dẹp bỏ “the daily” tượng trưng cho việc loại bỏ sự kháng cự của La Mã ngoại giáo đối với sự trỗi dậy của quyền lực giáo hoàng vào năm 538. Đã có một giai đoạn chuyển tiếp kéo dài 30 năm trước khi quyền lực giáo hoàng được đặt lên ngai của thế gian vào năm 538; sau đó 1.260 năm còn lại kết thúc vào năm 1798. Ba mươi năm chuyển tiếp từ vương quốc này sang vương quốc kế tiếp xác định những năm cuối cùng của sự thống trị của giáo hoàng, dẫn đến việc vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh được đặt lên ngai của thế gian vào năm 1798. Khởi đầu của lời tiên tri 1.290 năm chỉ ra một sự chuyển tiếp từ một vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh sang vương quốc kế tiếp trong lời tiên tri Kinh Thánh, và phần kết của lời tiên tri đó cũng như vậy.
The thirteen hundred and thirty-five year prophecy that began at the removal of “the daily” in 508 ends in 1843.
Lời tiên tri một nghìn ba trăm ba mươi lăm năm, bắt đầu từ việc loại bỏ "the daily" vào năm 508, kết thúc vào năm 1843.
And from the time that the daily sacrifice shall be taken away, and the abomination that maketh desolate set up, there shall be a thousand two hundred and ninety days. Blessed is he that waiteth, and cometh to the thousand three hundred and five and thirty days. Daniel 12:11, 12.
Và từ lúc của lễ hằng ngày bị dẹp bỏ, và sự gớm ghiếc gây nên hoang tàn được dựng lên, thì sẽ có một nghìn hai trăm chín mươi ngày. Phước thay cho ai chờ đợi và đạt đến một nghìn ba trăm ba mươi lăm ngày. Đa-ni-ên 12:11, 12.
The prophecy of thirteen hundred and thirty-five years ended in 1843, and Daniel says those that “waited” when that prophecy would be fulfilled would be blessed. Sister White says it this way.
Lời tiên tri về một nghìn ba trăm ba mươi lăm năm kết thúc vào năm 1843, và Daniel nói rằng những ai “chờ đợi” cho đến khi lời tiên tri ấy được ứng nghiệm sẽ được phước. Bà White nói như thế này.
“Blessed are the eyes which saw the things that were seen in 1843 and 1844.
Phúc thay cho đôi mắt đã thấy những điều đã được thấy vào những năm 1843 và 1844.
“The message was given. And there should be no delay in repeating the message, for the signs of the times are fulfilling; the closing work must be done. A great work will be done in a short time. A message will soon be given by God’s appointment that will swell into a loud cry. Then Daniel will stand in his lot, to give his testimony.” Manuscript Releases, volume 21, 437.
“Sứ điệp đã được ban ra. Và không được chậm trễ trong việc nhắc lại sứ điệp, vì các dấu chỉ của thời cuộc đang ứng nghiệm; công cuộc kết thúc phải được hoàn tất. Một công việc lớn sẽ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Một sứ điệp sẽ sớm được ban theo sự chỉ định của Đức Chúa Trời và sẽ dâng lên thành tiếng kêu lớn. Bấy giờ Đa-ni-ên sẽ đứng nơi phần của mình để làm chứng.” Bản Thảo Được Công Bố, tập 21, trang 437.
Therefore, the beginning of the thirteen hundred and thirty-five year prophecy identifies a transition from the religion of paganism unto the religion of papalism, thus identifying a transition from Protestantism unto Millerite Protestantism.
Do đó, khởi đầu của lời tiên tri kéo dài một nghìn ba trăm ba mươi lăm năm xác định một sự chuyển đổi từ ngoại giáo sang giáo quyền La Mã, qua đó xác định một sự chuyển đổi từ Tin Lành sang Tin Lành Millerite.
Those Adventists that reject the foundational truths of Adventism, reject all the time prophecies the Millerites presented, even the twenty-three hundred years of Daniel 8:14. They may very well deny this fact, but it can be logically shown that this fact is true, but my point now is different, so I will leave that off for now as we attempt to bring this article to a conclusion.
Những người Cơ Đốc Phục Lâm bác bỏ các chân lý nền tảng của Cơ Đốc Phục Lâm thì cũng bác bỏ tất cả các lời tiên tri về thời gian mà những người theo Miller đã trình bày, thậm chí cả khoảng thời gian hai nghìn ba trăm năm trong Đa-ni-ên 8:14. Rất có thể họ sẽ phủ nhận thực tế này, nhưng có thể chứng minh một cách hợp lý rằng điều đó là sự thật; tuy nhiên, hiện giờ điều tôi muốn trình bày lại khác, nên tôi sẽ tạm gác điều ấy để chúng ta cố gắng đưa bài viết này đến phần kết luận.
The scattering of the “glorious land” of Judah in 677 BC represents the trampling down of the “host” in Daniel 8:13, 14, and points to the establishment of the modern glorious land, the United States. The twenty-three hundred years of the same verses began in 457 BC, and represents the trampling down of the “sanctuary.”
Việc tản lạc của "đất vinh hiển" Giu-đa vào năm 677 TCN tượng trưng cho sự chà đạp "đạo quân" trong Đa-ni-ên 8:13, 14, và chỉ đến việc thành lập đất vinh hiển hiện đại, tức là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hai nghìn ba trăm năm của cùng những câu ấy bắt đầu vào năm 457 TCN, và tượng trưng cho sự chà đạp "nơi thánh."
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:13, 14.
Bấy giờ tôi nghe một vị thánh nói, và một vị thánh khác nói với vị thánh đang nói: Bao lâu nữa thì khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây nên cảnh hoang tàn sẽ còn kéo dài, để cả đền thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Người nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:13, 14.
677 BC and 457 BC are dates connected by the relationship of God’s people and God’s sanctuary. God brought both the host and the sanctuary back together at the same time on October 22, 1844. The two hundred and twenty years between 677 BC and 457 BC symbolize a period when God establishes a waymark representing an increase of light. On October 22, 1844 the light of the third angel arrived, the light of the sanctuary began to shine and a host was there to proclaim the light.
677 TCN và 457 TCN là những mốc thời gian có liên hệ với nhau qua mối quan hệ giữa dân của Đức Chúa Trời và đền thánh của Ngài. Đức Chúa Trời đã đưa cả đạo binh lẫn đền thánh trở lại với nhau cùng một lúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Hai trăm hai mươi năm giữa 677 TCN và 457 TCN tượng trưng cho một giai đoạn khi Đức Chúa Trời thiết lập một mốc chỉ đường biểu thị sự gia tăng ánh sáng. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, ánh sáng của thiên sứ thứ ba đã đến, ánh sáng của đền thánh bắt đầu chiếu soi, và có một đạo binh ở đó để rao truyền ánh sáng.
In the prophetic line which identifies the three-fold warfare that Satan and Christ engaged in, the King James Bible of 1611 was produced. Exactly two hundred and twenty years later in 1831, William Miller published his message for the first time:
Trong tuyến tiên tri xác định cuộc chiến ba phương diện mà Sa-tan và Đấng Christ đã tham gia, bản Kinh Thánh King James năm 1611 đã ra đời. Chính xác hai trăm hai mươi năm sau, vào năm 1831, William Miller lần đầu tiên công bố sứ điệp của mình:
“For nine years William Miller was convinced that he ought to give his message to the churches; but he waited, hoping that some recognized authority would proclaim the glad news of a soon-coming Saviour. In thus waiting, he but proved the truth of the message; there was a name that they lived, but they were fast dying. In 1831 Miller gave his first discourse on the prophecies.” Steven Haskell, The Seer of Patmos, 77.
Trong chín năm, William Miller tin chắc rằng ông cần phải trình bày sứ điệp của mình cho các hội thánh; nhưng ông chờ đợi, hy vọng rằng một vị có thẩm quyền được công nhận nào đó sẽ công bố tin mừng về một Cứu Chúa sắp đến. Bằng cách chờ đợi như vậy, ông chỉ càng chứng minh tính chân thật của sứ điệp; họ có tiếng là sống, nhưng đang chết dần. Năm 1831, Miller đã trình bày bài giảng đầu tiên của mình về các lời tiên tri. Steven Haskell, The Seer of Patmos, 77.
God protected the sacred and correct original texts used to produce the Bible. He then produced His Bible in 1611. He then raised up a messenger that would employ the rules located, derived and established within the Bible to produce the message of the first angel. In 1831, Miller’s message was formalized as was the message in Christ’s history formalized by John the Baptist, as the message has been formalized in every reformatory movement. The message of Miller, the first angel’s message announcing the opening of the judgment is directly upheld by the application of the prophetic time period of two hundred and twenty years. It was the message of warning at the beginning of the sixth kingdom of Bible prophecy—the United States.
Đức Chúa Trời đã gìn giữ các bản văn gốc thánh khiết và chân xác được dùng để biên soạn nên Kinh Thánh. Sau đó, Ngài đã cho xuất bản Kinh Thánh của Ngài vào năm 1611. Rồi Ngài dấy lên một sứ giả, người sẽ vận dụng các quy tắc được tìm thấy, rút ra và xác lập trong Kinh Thánh để trình bày sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Vào năm 1831, sứ điệp của Miller đã được chính thức hóa, như sứ điệp trong lịch sử của Đấng Christ đã được Giăng Báp-tít chính thức hóa, và như sứ điệp đã được chính thức hóa trong mọi phong trào cải cách. Sứ điệp của Miller—tức sứ điệp của thiên sứ thứ nhất công bố sự mở ra của cuộc phán xét—được xác chứng trực tiếp bởi việc áp dụng thời kỳ tiên tri hai trăm hai mươi năm. Đó là sứ điệp cảnh báo vào lúc khởi đầu của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh—Hoa Kỳ.
In 1996, the ministry of Future for America began, and the message of the third angel that had been unsealed in 1989, the message identifying the healing of the deadly wound of the papacy and the soon coming Sunday law was published in a magazine titled, The Time of the End. The message at the end of Adventism had been formalized just as the message at the beginning had been formalized. In the beginning the message was hung upon time and represented a further development of the truths contained within God’s Word. In 1996, two hundred and twenty years after the birth of the United States in 1776, the message at the end of Adventism was formalized and represented a further development of the three angels’ messages.
Năm 1996, Mục vụ Future for America bắt đầu, và sứ điệp của thiên sứ thứ ba đã được khai mở vào năm 1989—sứ điệp xác định sự chữa lành vết thương chí tử của chế độ giáo hoàng và luật ngày Chủ nhật sắp đến—đã được công bố trong một tạp chí mang tựa Thời Kỳ Cuối Cùng. Sứ điệp ở giai đoạn cuối của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đã được hệ thống hóa, cũng như sứ điệp ở buổi đầu đã được hệ thống hóa. Ngay từ ban đầu, sứ điệp gắn liền với các mốc thời gian và thể hiện một bước phát triển sâu hơn của các lẽ thật chứa trong Lời của Đức Chúa Trời. Năm 1996, hai trăm hai mươi năm sau khi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ ra đời vào năm 1776, sứ điệp ở giai đoạn cuối của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đã được hệ thống hóa và thể hiện một bước phát triển tiếp theo của các sứ điệp của ba thiên sứ.
As we address the parallel history of the Republican horn and the Protestant horn in the history of the sixth kingdom of Bible prophecy it must be understood who the Protestant horn is and who it is not.
Khi chúng ta bàn đến lịch sử song song của sừng Cộng hòa và sừng Tin Lành trong lịch sử của vương quốc thứ sáu theo lời tiên tri của Kinh Thánh, cần phải hiểu rõ sừng Tin Lành là ai và không phải là ai.
Study to show thyself approved unto God, a workman that needeth not to be ashamed, rightly dividing the word of truth. But shun profane and vain babblings: for they will increase unto more ungodliness. 2 Timothy 2:15, 16.
Hãy chuyên tâm để cho thấy mình được chấp thuận trước mặt Đức Chúa Trời, như người làm công không phải hổ thẹn, trình bày đúng đắn lời của lẽ thật. Nhưng hãy tránh những lời nói phàm tục và vô ích, vì chúng sẽ càng làm gia tăng sự vô đạo. 2 Ti-mô-thê 2:15–16.