It has been a long process for me to get to this point in the study of Panium, and the title “Eleven, Eleven” is meant to emphasize that the Lion of the tribe of Judah coordinated both the book of Daniel and the book of Revelation to set forth the internal and external lines of the history of the sealing of God’s people in the eleventh chapter and eleventh verse. Just before probation closes a command to unseal the prophecy in Revelation that was sealed until the time when the internal and external prophetic histories represented by the two lines of eleven—eleven, found in the books of Daniel and Revelation became present truth.

Tôi đã trải qua một quá trình dài để đạt đến điểm này trong việc nghiên cứu về Panium, và tựa đề “Mười một, mười một” nhằm nhấn mạnh rằng Sư tử của chi phái Giu-đa đã phối hợp cả sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền để trình bày các tuyến nội và ngoại của lịch sử về việc đóng ấn dân của Đức Chúa Trời trong chương mười một, câu mười một. Ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại, có một mệnh lệnh mở ấn lời tiên tri trong Khải Huyền, vốn đã bị niêm ấn cho đến thời điểm khi các lịch sử tiên tri nội và ngoại, được đại diện bởi hai tuyến mười một–mười một trong sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, trở thành lẽ thật hiện tại.

And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:10, 11.

Ngài lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri của sách này, vì thì giờ đã gần. Ai bất nghĩa, cứ làm điều bất nghĩa nữa; ai ô uế, cứ ô uế nữa; ai công bình, cứ làm điều công bình nữa; ai thánh khiết, cứ nên thánh khiết nữa. Khải Huyền 22:10, 11.

The “time is at hand” just before the close of probation, and the “time is at hand” when the “Revelation of Jesus Christ” is unsealed.

"Thì giờ đã gần" ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển, và "thì giờ đã gần" khi "Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ" được mở niêm phong.

The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to shew unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:1–3.

Sự mạc khải của Đức Chúa Giê-xu Christ, là điều Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để bày tỏ cho các tôi tớ Ngài những điều phải mau chóng xảy ra; Ngài đã sai thiên sứ của Ngài để tỏ điều ấy cho tôi tớ Ngài là Giăng, người đã làm chứng về lời của Đức Chúa Trời, về lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ, và về mọi điều mình đã thấy. Phước cho người đọc, cho những ai nghe các lời của lời tiên tri này, và giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 1:1-3.

When the Lion of the tribe of Judah unseals the “Revelation of Jesus Christ” as He has been doing since the arrival of the message of the Midnight Cry in July of 2023, that unsealing includes the revelation that He is “Palmoni,” the Wonderful Numberer, or the Numberer of Secrets. Failure to accept this truth is to fail the testing process which seals the one hundred and forty-four thousand.

Khi Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn "Khải Thị của Đức Chúa Giê-su Christ" như Ngài đã làm kể từ khi thông điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm đến vào tháng Bảy năm 2023, thì việc mở ấn ấy bao gồm sự tỏ ra rằng Ngài là "Palmoni", Đấng Đếm Số Kỳ Diệu, hay Đấng Đếm các điều kín nhiệm. Không chấp nhận lẽ thật này là thất bại trong tiến trình thử nghiệm dùng để đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn người.

I indeed baptize you with water unto repentance: but he that cometh after me is mightier than I, whose shoes I am not worthy to bear: he shall baptize you with the Holy Ghost, and with fire: Whose fan is in his hand, and he will thoroughly purge his floor, and gather his wheat into the garner; but he will burn up the chaff with unquenchable fire. Matthew 3:11, 12.

Tôi quả thật làm phép báp-tem cho các ngươi bằng nước để ăn năn; nhưng Đấng đến sau tôi thì quyền năng hơn tôi, tôi chẳng đáng xách giày cho Ngài; chính Ngài sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa. Tay Ngài cầm nia, Ngài sẽ làm sạch sân đạp lúa của mình, thu lúa vào kho; còn trấu thì Ngài sẽ đốt bằng lửa chẳng hề tắt. Ma-thi-ơ 3:11, 12.

“Just how soon this refining process will begin I cannot say, but it will not be long deferred. He whose fan is in His hand will cleanse His temple of its moral defilement. He will thoroughly purge His floor.” Testimonies to Ministers, 372, 373.

“Tôi không thể nói rõ quá trình thanh luyện này sẽ bắt đầu sớm đến mức nào, nhưng nó sẽ không bị trì hoãn lâu. Đấng cầm nia trong tay sẽ thanh tẩy đền thờ của Ngài khỏi sự ô uế về đạo đức. Ngài sẽ thanh tẩy triệt để sân lúa của Ngài.” Testimonies to Ministers, 372, 373.

The lines of prophecy which identify the time of the sealing as a prophetic testing process are more than abundant. It is clear that the testing process is based upon the students aptitude and ability to apply the correct or incorrect methodology for studying God’s prophetic Word. This truth is also abundantly set forth within the inspired record.

Các dòng tiên tri xác định thời kỳ của sự đóng ấn như một tiến trình thử nghiệm tiên tri là hết sức phong phú. Rõ ràng quá trình thử nghiệm dựa trên năng khiếu và khả năng của các học viên trong việc áp dụng phương pháp đúng hay sai để nghiên cứu Lời tiên tri của Đức Chúa Trời. Lẽ thật này cũng được trình bày một cách dồi dào trong những ghi chép được soi dẫn.

As for these four children, God gave them knowledge and skill in all learning and wisdom: and Daniel had understanding in all visions and dreams. Now at the end of the days that the king had said he should bring them in, then the prince of the eunuchs brought them in before Nebuchadnezzar. And the king communed with them; and among them all was found none like Daniel, Hananiah, Mishael, and Azariah: therefore stood they before the king. And in all matters of wisdom and understanding, that the king enquired of them, he found them ten times better than all the magicians and astrologers that were in all his realm. Daniel 1:17–20.

Đối với bốn người trẻ này, Đức Chúa Trời ban cho họ kiến thức và khả năng trong mọi học vấn và sự khôn ngoan; còn Daniel thì hiểu biết mọi khải tượng và giấc mộng. Đến cuối những ngày vua đã định để đưa họ vào, quan trưởng thái giám dẫn họ vào trước mặt Nebuchadnezzar. Vua trò chuyện với họ; và giữa tất cả, không ai sánh bằng Daniel, Hananiah, Mishael và Azariah; vì vậy họ đứng hầu trước mặt vua. Trong mọi việc về sự khôn ngoan và hiểu biết mà vua hỏi đến, vua thấy họ giỏi gấp mười lần tất cả các thuật sĩ và chiêm tinh gia trong khắp vương quốc của mình. Daniel 1:17-20.

A premier rule of prophetic interpretation is that truth is established upon the testimony of two, and those who fail to have confidence in the principle are setting themselves up for failure. An element of the testing process during the sealing time, involves the recognition of the connection of the internal and external histories represented in chapter eleven and verse eleven by Daniel and John.

Một nguyên tắc hàng đầu trong việc giải thích lời tiên tri là chân lý được xác lập dựa trên lời chứng của hai người, và những ai không đặt lòng tin vào nguyên tắc này đang tự chuốc lấy thất bại. Một yếu tố của quá trình thử thách trong thời kỳ ấn chứng bao gồm việc nhận biết mối liên hệ giữa lịch sử bên trong và bên ngoài, như được trình bày ở chương mười một, câu mười một bởi Đa-ni-ên và Giăng.

“Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 9, 8.

"Khải Huyền là một quyển sách được niêm phong, nhưng cũng là một quyển sách mở. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những giáo huấn của quyển sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri được tiếp nối như trong sách Đa-ni-ên. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng chúng cần được coi trọng. Chúa không lặp lại những điều không mấy hệ trọng." Manuscript Releases, tập 9, 8.

The books of Daniel and Revelation represent two witnesses, and the one hundred and forty-four thousand are represented as two witnesses in Revelation chapter eleven. In verse eleven of the chapter the two witnesses, represented by Elijah and Moses are resurrected as typified by both John in the boiling oil and Daniel in the lion’s den. The one hundred and forty-four thousand are represented by Daniel and John, and also by Elijah and Moses. To succeed in the testing process which produces the one hundred and forty-four thousand a student must understand that truth is established upon two witnesses, and that the books of Daniel and Revelation represent two witnesses, and that the one hundred and forty-four thousand have been typified as Elijah and Moses and also Daniel and John.

Các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền tượng trưng cho hai nhân chứng, và một trăm bốn mươi bốn nghìn được trình bày như hai nhân chứng trong Khải Huyền chương mười một. Trong câu mười một của chương ấy, hai nhân chứng, được đại diện bởi Ê-li và Môi-se, được sống lại, như được tiêu biểu bởi cả Giăng trong chảo dầu sôi và Đa-ni-ên trong hang sư tử. Một trăm bốn mươi bốn nghìn được tượng trưng bởi Đa-ni-ên và Giăng, và cũng bởi Ê-li và Môi-se. Để thành công trong quá trình thử luyện tạo nên một trăm bốn mươi bốn nghìn, người học phải hiểu rằng lẽ thật được thiết lập dựa trên hai nhân chứng, rằng các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền tượng trưng cho hai nhân chứng, và rằng một trăm bốn mươi bốn nghìn đã được tiêu biểu như Ê-li và Môi-se cũng như Đa-ni-ên và Giăng.

These truths are only a brief sampling of prophetic truths associated with the internal and external history represented by “eleven, eleven” in both Daniel and Revelation. As Palmoni, Christ guided in the alignment of the two passages, and also that eleven, plus eleven equals twenty-two, which in turn is a tithe or tenth of two hundred and twenty, which is a symbol of the combination of divinity with humanity. Palmoni established upon more than two witnesses that “two hundred and twenty” represents the combination of divinity and humanity, which is in turn a description of the incarnation of Christ when He took upon Himself fallen flesh. In doing so He set forth the example for mankind that if they are willing to meet the requirements of the gospel, Christ is willing to combine His divinity with our humanity. Divinity and humanity are therefore two witnesses.

Những lẽ thật này chỉ là một phần minh họa ngắn gọn về các lẽ thật tiên tri liên hệ với lịch sử bên trong và bên ngoài được biểu thị bằng "mười một, mười một" trong cả sách Đa-ni-ên và Khải Huyền. Với tư cách là Palmoni, Đấng Christ đã hướng dẫn việc liên kết hai đoạn Kinh Thánh ấy, và cũng chỉ ra rằng mười một cộng mười một bằng hai mươi hai, mà hai mươi hai lại là một phần mười của hai trăm hai mươi, là biểu tượng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính. Palmoni đã xác lập dựa trên hơn hai nhân chứng rằng "hai trăm hai mươi" tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, điều này cũng chính là mô tả về sự nhập thể của Đấng Christ khi Ngài mang lấy xác thịt sa ngã. Qua đó, Ngài nêu gương cho nhân loại rằng nếu họ sẵn lòng đáp ứng các điều kiện của Tin Lành, thì Đấng Christ sẵn sàng kết hợp thần tính của Ngài với nhân tính của chúng ta. Vì vậy, thần tính và nhân tính là hai nhân chứng.

The “Revelation of Jesus Christ” that opened up just before probation closes includes that Jesus is the “Word” of God.

"Khải Huyền của Đức Chúa Giê-xu Christ", được mở ra ngay trước khi thời kỳ ân điển khép lại, bao gồm việc Đức Chúa Giê-xu là "Ngôi Lời" của Đức Chúa Trời.

In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. The same was in the beginning with God. All things were made by him; and without him was not anything made that was made. In him was life; and the life was the light of men. And the light shineth in darkness; and the darkness comprehended it not. John 1:1–5.

Ban đầu đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ngôi Lời ấy ở với Đức Chúa Trời ngay từ ban đầu. Mọi sự đều do Ngài mà thành; ngoài Ngài thì chẳng có gì đã được tạo thành. Trong Ngài có sự sống; và sự sống ấy là ánh sáng của loài người. Ánh sáng chiếu soi trong nơi tối tăm, mà bóng tối chẳng hiểu thấu. Giăng 1:1-5.

The Bible is the “Word” of God which, just as Christ represents the combination of divinity with humanity. The Bible represents the two witnesses of the Old and New Testaments, who are also Moses and Elijah in Revelation chapter eleven.

Kinh Thánh là "Lời" của Đức Chúa Trời, và cũng như Đấng Christ, bày tỏ sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính. Kinh Thánh tượng trưng cho hai nhân chứng của Cựu Ước và Tân Ước, cũng chính là Môi-se và Ê-li-a trong Khải Huyền chương mười một.

“Concerning the two witnesses the prophet declares further: ‘These are the two olive trees, and the two candlesticks standing before the God of the earth.’ ‘Thy word,’ said the psalmist, ‘is a lamp unto my feet, and a light unto my path.’ Revelation 11:4; Psalm 119:105. The two witnesses represent the Scriptures of the Old and the New Testament.” The Great Controversy, 267.

Về hai chứng nhân ấy, nhà tiên tri còn nói thêm: “Ấy là hai cây ô-liu, và hai chân đèn đứng trước mặt Đức Chúa Trời của đất.” “Lời Chúa,” thi thiên gia nói, “là ngọn đèn cho chân tôi, là ánh sáng cho đường lối tôi.” Khải Huyền 11:4; Thi Thiên 119:105. Hai chứng nhân ấy tượng trưng cho Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Cuộc Đại Tranh Chiến, 267.

The two witnesses are the two olive trees, the two candlesticks and the Old and New Testaments, which is represented in the paragraph as “Thy word.” The “Revelation of Jesus Christ” that is unsealed by the Lion of the tribe of Judah just before the close of probation is “the final increase of knowledge” which tests those who are candidates to be one of the one hundred and forty-four thousand. The “final increase of knowledge” is also the message of the Midnight Cry in the parable of the ten virgins.

Hai chứng nhân là hai cây ô-liu, hai chân đèn, và Cựu Ước cùng Tân Ước, được gọi trong đoạn văn là "Lời Ngài". "Sự khải thị về Đức Chúa Giê-su Christ" được Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển chính là "sự gia tăng cuối cùng của sự hiểu biết", một phép thử cho những ai là ứng viên để trở thành một trong một trăm bốn mươi bốn ngàn. "Sự gia tăng cuối cùng của sự hiểu biết" cũng là sứ điệp của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm trong dụ ngôn mười trinh nữ.

“‘Then answered I, and said unto him, What are these two olive trees upon the right side of the candlestick and upon the left side thereof? And I answered again, and said unto him, What be these two olive branches which through the two golden pipes empty the golden oil out of themselves? And he answered me and said, Knowest thou not what these be? And I said, No, my lord. Then said he, These are the two anointed ones, that stand by the Lord of the whole earth. Zechariah 4:11–14. These empty themselves into the golden bowls, which represent the hearts of the living messengers of God, who bear the Word of the Lord to the people in warnings and entreaties. The Word itself must be as represented, the golden oil, emptied from the two olive trees that stand by the Lord of the whole earth. This is the baptism by the Holy Spirit with fire. This will open the soul of unbelievers to conviction. The wants of the soul can be met only by the working of the Holy Spirit of God. Man can of himself do nothing to satisfy the longings and meet the aspirations of the heart.” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 4, 1180.

Rồi tôi đáp và nói với người ấy: Hai cây ô-liu này là gì—một ở bên hữu chân đèn và một ở bên tả nó? Tôi lại đáp và nói với người ấy: Còn hai nhánh ô-liu này là gì—những nhánh qua hai ống vàng mà tuôn đổ dầu vàng từ chính mình? Người đáp với tôi và nói: Ngươi không biết những điều ấy là gì sao? Tôi thưa: Không, thưa ngài. Người nói: Ấy là hai người được xức dầu, đứng bên Chúa của toàn cõi đất. Xa-cha-ri 4:11-14. Chúng tự đổ mình vào các bát vàng, là biểu tượng cho tấm lòng của những sứ giả sống động của Đức Chúa Trời, những người mang Lời của Chúa đến cho dân chúng bằng những lời cảnh báo và nài xin. Bản thân Lời phải đúng như đã được mô tả: dầu vàng, được rót ra từ hai cây ô-liu đứng bên Chúa của toàn cõi đất. Ấy là phép báp-têm bởi Đức Thánh Linh và bằng lửa. Điều này sẽ mở linh hồn của những người chưa tin để họ chịu sự cáo trách. Những nhu cầu của linh hồn chỉ có thể được đáp ứng bởi sự tác động của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tự mình, con người chẳng thể làm gì để thỏa mãn những khát khao và đáp ứng những ước vọng của lòng. Chú Giải Kinh Thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 4, 1180.

The Word of God is both the Bible and Christ, and the Bible and Christ represent two witnesses, as do the one hundred and forty-four thousand. The two witnesses in turn represent a combination of divinity with humanity. They also represent internal and external prophetic histories. As witnesses, they provided evidence that divinity combined with humanity does not sin. They also represent the connection between divinity and humanity. Whether a ladder, conduit, pipes, angels or any of the other symbols of the communication link between God and man, the message conveyed to man is always life or death.

Lời Đức Chúa Trời vừa là Kinh Thánh vừa là Đấng Christ, và Kinh Thánh cùng Đấng Christ tượng trưng cho hai nhân chứng, cũng như một trăm bốn mươi bốn ngàn. Hai nhân chứng đến lượt mình tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính. Họ cũng tượng trưng cho lịch sử tiên tri nội tại và ngoại tại. Với tư cách là nhân chứng, họ đưa ra bằng chứng rằng thần tính kết hợp với nhân tính thì không phạm tội. Họ cũng tượng trưng cho mối liên kết giữa thần tính và nhân tính. Dù là chiếc thang, kênh dẫn, đường ống, các thiên sứ hay bất kỳ biểu tượng nào khác của mối thông giao giữa Đức Chúa Trời và con người, thông điệp được truyền đạt cho con người luôn là sự sống hoặc sự chết.

The anointed ones standing by the Lord of the whole earth, have the position once given to Satan as covering cherub. By the holy beings surrounding his throne, the Lord keeps up a constant communication with the inhabitants of the earth. The golden oil represents the grace with which God keeps the lamps of believers supplied, that they shall not flicker and go out. Were it not that this holy oil is poured from heaven in the messages of God’s Spirit, the agencies of evil would have entire control over men.

Những người được xức dầu đứng bên Chúa của toàn cõi đất có địa vị từng được ban cho Sa-tan như một chê-ru-bim che phủ. Qua các hữu thể thánh vây quanh ngai Ngài, Chúa duy trì sự liên lạc thường xuyên với cư dân trên đất. Dầu vàng tượng trưng cho ân điển, nhờ đó Đức Chúa Trời giữ cho những ngọn đèn của người tin luôn được cung ứng, để chúng không chập chờn rồi tắt. Nếu không vì dầu thánh này được tuôn đổ từ trời trong các sứ điệp của Thánh Linh Đức Chúa Trời, thì các thế lực của sự ác sẽ nắm trọn quyền kiểm soát loài người.

“God is dishonored when we do not receive the communications which he sends us. Thus we refuse the golden oil which he would pour into our souls to be communicated to those in darkness. When the call shall come, ‘Behold, the bridegroom cometh; go ye out to meet him,’ those who have not received the holy oil, who have not cherished the grace of Christ in their hearts, will find, like the foolish virgins, that they are not ready to meet their Lord. They have not, in themselves, the power to obtain the oil, and their lives are wrecked. But if God’s Holy Spirit is asked for, if we plead, as did Moses, ‘Show me thy glory,’ the love of God will be shed abroad in our hearts. Through the golden pipes, the golden oil will be communicated to us. ‘Not by might, nor by power, but by my Spirit, saith the Lord of Hosts.’ By receiving the bright beams of the Sun of Righteousness, God’s children shine as lights in the world.” Review and Herald, July 20, 1897.

Đức Chúa Trời bị xúc phạm khi chúng ta không tiếp nhận những thông điệp mà Ngài gửi cho chúng ta. Như vậy, chúng ta khước từ dầu vàng mà Ngài muốn đổ vào linh hồn chúng ta để truyền đến cho những người ở trong bóng tối. Khi tiếng gọi vang lên: “Kìa, chàng rể đến; hãy ra đón Ngài,” những ai chưa nhận dầu thánh, chưa trân quý ân điển của Đấng Christ trong lòng mình, sẽ thấy, như những trinh nữ dại, rằng họ không sẵn sàng để gặp Chúa mình. Tự họ không có năng lực để có được dầu ấy, và đời sống họ bị hủy hoại. Nhưng nếu chúng ta xin Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta nài xin như Môi-se: “Xin cho con thấy vinh quang của Ngài,” thì tình yêu của Đức Chúa Trời sẽ tuôn tràn trong lòng chúng ta. Qua những ống dẫn bằng vàng, dầu vàng sẽ được chuyển đến cho chúng ta. “Không phải bởi quyền thế, cũng không phải bởi sức mạnh, nhưng bởi Thánh Linh Ta, Đức Giê-hô-va Vạn Quân phán.” Khi tiếp nhận những tia sáng rực rỡ từ Mặt Trời Công Chính, con cái Đức Chúa Trời tỏa sáng như những đèn soi trong thế gian. Review and Herald, ngày 20 tháng 7 năm 1897.

The outpouring of the Holy Spirit occurs during the internal and external histories marked by Daniel and Revelation 11:11. There are “at least” four prophetic characters represented in verses eleven and twelve of Daniel chapter eleven that need to be identified. There are also four that need to be identified in verses thirteen through fifteen, and four in verse sixteen. We are now living in that very history, so it behooves us, as students of prophecy to sort out who the symbolic characters of verses eleven through sixteen are, for they represent a line of prophecy that covers the hidden history of verse forty of the same chapter.

Sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh diễn ra trong bối cảnh các lịch sử bên trong và bên ngoài được đánh dấu bởi Đa-ni-ên 11:11 và Khải Huyền 11:11. Có “ít nhất” bốn nhân vật tiên tri được trình bày trong các câu 11 và 12 của Đa-ni-ên chương 11 cần được xác định. Cũng có bốn nhân vật cần được xác định trong các câu 13 đến 15, và bốn nhân vật trong câu 16. Chúng ta hiện đang sống trong chính giai đoạn lịch sử đó, vì vậy, với tư cách là những người nghiên cứu lời tiên tri, chúng ta cần phân định những nhân vật tượng trưng trong các câu 11 đến 16 là ai, vì họ đại diện cho một mạch tiên tri bao trùm lịch sử ẩn giấu của câu 40 trong cùng chương.

It also seems relevant to identify the personalities represented in the history of verse forty which has been unsealing since 1989.

Cũng có vẻ thích đáng khi nhận diện những nhân vật được mô tả trong lịch sử của câu bốn mươi, vốn đã được khai mở kể từ năm 1989.

And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:9, 10.

Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác, chẳng ai trong bọn ác hiểu biết; còn người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:9, 10.

Verse forty begins at the time of the end in 1798 with Napoleon of France taking the pope into captivity. Napoleon’s justification was based upon the broken Treaty of Tolentino in 1797. Napoleon and the pope’s battle had previously been typified in the history which fulfilled verses six and seven of Daniel chapter eleven. The broken marriage treaty and the defeat of the northern king by the southern king in fulfillment of verses six and seven were repeated in the history of 1798, and in doing so they represent the prediction of God’s Word in verses six and seven, and the fulfillment of those verses in the beginning of the warfare between Ptolemy Philadelphus, the second and king of Egypt, and Antiochus Theos, third king of Syria. Ptolemy represented the southern king and Antiochus represented the northern king.

Câu bốn mươi bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng năm 1798, khi Napoléon của Pháp bắt giáo hoàng làm tù binh. Sự biện minh của Napoléon dựa trên Hiệp ước Tolentino bị phá vỡ năm 1797. Cuộc đối đầu giữa Napoléon và giáo hoàng trước đó đã được báo trước trong lịch sử vốn ứng nghiệm các câu sáu và bảy của Đa-ni-ên chương mười một. Hiệp ước hôn nhân bị phá vỡ và việc vua phương bắc bị vua phương nam đánh bại theo ứng nghiệm các câu sáu và bảy đã được lặp lại trong lịch sử năm 1798; qua đó, chúng thể hiện lời dự ngôn của Lời Đức Chúa Trời ở các câu sáu và bảy, và sự ứng nghiệm của những câu ấy trong buổi đầu cuộc chiến giữa Ptolemy Philadelphus, vị thứ hai và là vua Ai Cập, và Antiochus Theos, vua thứ ba của Syria. Ptolemy tượng trưng cho vua phương nam, còn Antiochus tượng trưng cho vua phương bắc.

The prediction of the verses, brought together with the fulfillment of that prediction in the history of Ptolemy and Antiochus—which in turn typified and the history of Napoleon and the pope in 1798 provide three lines which typify the history of Putin and Zelenskyy in verses eleven and twelve. Thus, understanding that the time of the end in 1798 represents the history of Napoleon and the pope is incomplete if it ends there. We must understand what verses six and seven predict about Napoleon and the pope, and also what the history of Ptolemy and Antiochus teaches of that same period. When we understand those lines of truth, we may then understand that those previous historical fulfillments are identifying the beginning history of verse forty, and in so doing, they are also identifying the ending of verse forty when Putin, who has been typified by Napoleon and Ptolemy—Putin who has been predicted in verses six and seven, fulfills verses eleven and twelve.

Lời tiên đoán của các câu, khi được đặt cùng với sự ứng nghiệm của lời tiên đoán ấy trong lịch sử của Ptolemy và Antiochus (mà đến lượt mình lại làm hình bóng), và với lịch sử của Napoleon và giáo hoàng vào năm 1798, cung cấp ba mạch làm hình bóng cho lịch sử của Putin và Zelenskyy trong các câu mười một và mười hai. Vì vậy, việc hiểu rằng thời kỳ cuối cùng vào năm 1798 đại diện cho lịch sử của Napoleon và giáo hoàng là chưa trọn vẹn nếu dừng lại ở đó. Chúng ta phải hiểu các câu sáu và bảy tiên đoán điều gì về Napoleon và giáo hoàng, và cũng phải hiểu lịch sử của Ptolemy và Antiochus dạy điều gì về cùng thời kỳ ấy. Khi hiểu những mạch lẽ thật ấy, chúng ta có thể nhận ra rằng những sự ứng nghiệm lịch sử trước đó đang xác định phần lịch sử mở đầu của câu bốn mươi, và qua đó, chúng cũng xác định phần kết thúc của câu bốn mươi khi Putin, người đã được Napoleon và Ptolemy làm hình bóng và đã được dự đoán trong các câu sáu và bảy, ứng nghiệm các câu mười một và mười hai.

An important observation concerning the prophetic relationship between the dragon and the beast as John would identify them, or as “the daily and the abomination of desolation” as Daniel would represent them is that they are prophetically very similar. John says it this way.

Một nhận xét quan trọng liên quan đến mối quan hệ tiên tri giữa con rồng và con thú theo cách Gioan xác định chúng, hoặc “lễ thường nhật” và “sự gớm ghiếc gây nên sự hoang tàn” theo cách Đa-ni-ên trình bày, là chúng rất giống nhau về phương diện tiên tri. Gioan nói như sau.

And they worshipped the dragon which gave power unto the beast: and they worshipped the beast, saying, Who is like unto the beast? who is able to make war with him? Revelation 13:4.

Và họ thờ lạy con rồng, là kẻ đã ban quyền cho con thú; họ cũng thờ lạy con thú mà nói rằng: Ai giống như con thú? Ai có thể giao chiến với nó? Khải Huyền 13:4.

To worship the dragon is to worship the beast, for both represent the religion of paganism. Like unto John, Daniel uses “the little horn” of Daniel chapter eight verses nine through twelve to represent both pagan and papal Rome, though he clearly distinguishes between the two by identifying the little horn of pagan Rome in the masculine sense, and the little horn of papal Rome in the feminine sense. In chapter seven Daniel identifies pagan Rome as “diverse” from the kingdoms before it, and Daniel further identifies that papal Rome was also “diverse.” Rome, whether pagan or papal is diverse. The male symbol of Rome representing pagan Rome is upheld by Ahab and Herod. Both were married to symbols of the papacy. The woman is churchcraft and the man is statecraft, so at the prophetic level when the Word of God speaks of a man and woman becoming one, it is confirming the reality that pagan Rome and papal Rome are very similar in the prophetic sense, for they are one flesh.

Thờ phượng con rồng là thờ phượng con thú, vì cả hai đều tượng trưng cho tôn giáo ngoại giáo. Tương tự như John, Daniel dùng “sừng nhỏ” của Daniel chương tám, câu chín đến mười hai để đại diện cho cả La Mã ngoại giáo lẫn La Mã giáo hoàng, dù ông phân biệt rõ ràng giữa hai bên bằng cách xác định sừng nhỏ của La Mã ngoại giáo theo nghĩa giống đực, và sừng nhỏ của La Mã giáo hoàng theo nghĩa giống cái. Trong chương bảy, Daniel nhận định La Mã ngoại giáo là “khác biệt” với các vương quốc trước đó, và Daniel còn cho biết La Mã giáo hoàng cũng “khác biệt”. La Mã, dù ngoại giáo hay giáo hoàng, đều khác biệt. Biểu tượng nam của La Mã, đại diện cho La Mã ngoại giáo, được thể hiện qua Ahab và Herod. Cả hai đều kết hôn với các biểu tượng của giáo triều. Người nữ là quyền lực giáo hội, còn người nam là quyền lực nhà nước, nên ở cấp độ tiên tri, khi Lời Đức Chúa Trời nói về việc người nam và người nữ trở nên một, điều đó xác nhận thực tế rằng La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng rất giống nhau về mặt tiên tri, vì họ là một thịt.

France’s relationship to the papacy in 1798 typifies the relationship of the United States with the papacy when the ten kings burn Rome with fire and eat her flesh.

Mối quan hệ của Pháp với chế độ giáo hoàng vào năm 1798 tiêu biểu cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và chế độ giáo hoàng khi mười vua thiêu đốt Rôma bằng lửa và ăn thịt nó.

And the ten horns which thou sawest upon the beast, these shall hate the whore, and shall make her desolate and naked, and shall eat her flesh, and burn her with fire. Revelation 17:16.

Và mười sừng mà ngươi đã thấy trên con thú, chúng sẽ ghét dâm phụ, và sẽ làm cho nó hoang vu và trần truồng, sẽ ăn thịt nó và đốt nó bằng lửa. Khải Huyền 17:16.

France’s relationship to the papacy when it placed the papacy in power in 538, typifies the work of the United States in healing the papacies’ deadly wound at the soon coming Sunday law.

Mối quan hệ của Pháp với quyền giáo hoàng khi Pháp đặt quyền giáo hoàng lên nắm quyền vào năm 538 là điển hình cho công việc của Hoa Kỳ trong việc chữa lành vết thương chí tử của quyền giáo hoàng qua đạo luật Chủ nhật sắp tới.

And I beheld another beast coming up out of the earth; and he had two horns like a lamb, and he spake as a dragon. And he exerciseth all the power of the first beast before him, and causeth the earth and them which dwell therein to worship the first beast, whose deadly wound was healed. And he doeth great wonders, so that he maketh fire come down from heaven on the earth in the sight of men, And deceiveth them that dwell on the earth by the means of those miracles which he had power to do in the sight of the beast; saying to them that dwell on the earth, that they should make an image to the beast, which had the wound by a sword, and did live. Revelation 13:11–14.

Và tôi thấy một con thú khác từ đất đi lên; nó có hai sừng như chiên con, và nói như rồng. Nó thi hành mọi quyền lực của con thú thứ nhất trước mặt nó, và khiến những người sống trên đất thờ lạy con thú thứ nhất, con thú có vết thương chí tử đã được chữa lành. Nó làm những dấu lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trời giáng xuống đất trước mặt loài người, và dùng những phép lạ mà nó có quyền làm trước mặt con thú để lừa dối những người ở trên đất; bảo những người cư trú trên đất làm một hình tượng cho con thú đã bị thương bởi gươm mà vẫn sống. Khải Huyền 13:11-14.

The “time of the end” in 1798 in fulfillment of verse forty identifies the spiritual king of the north being removed by the spiritual king of the south. That prophetic history is the ending history of the twelve hundred and sixty years of papal rule, and therefore the prophetic characteristics of the beginning of that prophetic history is represented at the ending. In 538 the fourth kingdom of Bible prophecy gave way to the fifth kingdom of Bible prophecy and in 1798 the fifth kingdom of Bible prophecy gave way to the sixth kingdom of Bible prophecy.

“Thời kỳ cuối cùng” vào năm 1798, ứng nghiệm câu bốn mươi, xác định rằng vua phương bắc thuộc linh bị vua phương nam thuộc linh lật đổ. Lịch sử tiên tri đó là giai đoạn kết thúc của một nghìn hai trăm sáu mươi năm cai trị của giáo hoàng, vì vậy các đặc trưng tiên tri của phần mở đầu của lịch sử ấy được thể hiện ở phần kết thúc. Năm 538, vương quốc thứ tư trong lời tiên tri Kinh Thánh nhường chỗ cho vương quốc thứ năm, và năm 1798, vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh nhường chỗ cho vương quốc thứ sáu.

538 is also a middle waymark of the curse of the “seven times” of Leviticus twenty-six against the northern kingdom of Israel that began in 723 BC, when Assyria took Ephraim into captivity. 1798 therefore possesses not only the prophetic attributes of 538, but also of 723 BC. In 723 BC the ten tribes of Israel were being overthrown by Assyria, and twelve hundred and sixty years later in 538 pagan Rome was being overthrown by papal Rome, who was in turn overthrown by France in 1798 at the conclusion of the “seven times.”

Năm 538 cũng là một cột mốc ở giữa của lời rủa "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu đối với vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên, lời rủa bắt đầu vào năm 723 TCN, khi A-si-ri đưa Êpraim vào cảnh lưu đày. Vì vậy, năm 1798 mang không chỉ những đặc điểm tiên tri của năm 538, mà còn của năm 723 TCN. Vào năm 723 TCN, mười chi phái của Y-sơ-ra-ên đang bị A-si-ri lật đổ, và một nghìn hai trăm sáu mươi năm sau, vào năm 538, La Mã ngoại giáo bị La Mã giáo hoàng lật đổ, rồi đến lượt mình bị Pháp lật đổ vào năm 1798, khi "bảy lần" kết thúc.

In 1798 France, the king of the south, took the papacy off the throne. In 538 France, the premiere symbol of the disintegration of pagan Rome into ten kingdoms placed the papacy on the throne. At the Sunday law the United States repeats the role of France in 538, and when the ten kings burn the papacy with fire and eat her flesh the United States repeats the role of France in 1798.

Năm 1798, Pháp, tức vua phương nam, đã phế truất giáo hoàng quyền khỏi ngai. Năm 538, Pháp, biểu tượng tiêu biểu cho sự tan rã của La Mã ngoại giáo thành mười vương quốc, đã đặt giáo hoàng quyền lên ngai. Khi có luật Chủ nhật, Hoa Kỳ lặp lại vai trò của Pháp vào năm 538, và khi mười vua đốt giáo hoàng quyền bằng lửa và ăn thịt nó, Hoa Kỳ lặp lại vai trò của Pháp vào năm 1798.

The judgment of “seven times” against the northern and southern kingdoms of Israel was brought about by kingdoms which came out of the north.

Sự phán xét "bảy lần" đối với các vương quốc phía bắc và phía nam của Israel đã do những vương quốc đến từ phương bắc gây ra.

Israel is a scattered sheep; the lions have driven him away: first the king of Assyria hath devoured him; and last this Nebuchadrezzar king of Babylon hath broken his bones. Jeremiah 50:17.

Y-sơ-ra-ên là một con chiên tản lạc; các sư tử đã xua đuổi nó: trước hết vua A-si-ri đã nuốt chửng nó; và sau cùng, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bẻ gãy xương cốt nó. Giê-rê-mi 50:17.

Assyria came out of the north and conquered the ten tribes in 723 BC and Babylon took Judah captive in 677 BC. Though Israel was the northern kingdom in relation to Judah, still both kingdoms were conquered by enemies from the north, thus making both Israel and Judah southern kingdoms in relation to the enemy who took them into captivity. 723 BC represents the king of the north conquering a southern tenfold kingdom. 538 represents a transition from paganism to papalism and also a northern kingdom conquering a tenfold kingdom. 1798 represents a northern king being defeated by a southern king who represents a tenfold kingdom.

A-si-ri kéo đến từ phương bắc và chinh phục mười chi phái vào năm 723 TCN, còn Ba-by-lôn đưa Giu-đa vào cảnh lưu đày vào năm 677 TCN. Tuy Israel là vương quốc phía bắc so với Giu-đa, nhưng cả hai vương quốc đều bị các kẻ thù từ phương bắc chinh phục, khiến cả Israel lẫn Giu-đa trở thành các vương quốc phía nam so với kẻ thù đã đưa họ vào cảnh lưu đày. Năm 723 TCN biểu thị vua phương bắc chinh phục một vương quốc mười phần ở phương nam. Năm 538 đánh dấu sự chuyển tiếp từ ngoại giáo sang chế độ giáo hoàng, đồng thời cũng là một vương quốc phương bắc chinh phục một vương quốc mười phần. Năm 1798 biểu thị một vua phương bắc bị một vua phương nam, người đại diện cho một vương quốc mười phần, đánh bại.

And the same hour was there a great earthquake, and the tenth part of the city fell, and in the earthquake were slain of men seven thousand: and the remnant were affrighted, and gave glory to the God of heaven. Revelation 11:13.

Ngay giờ đó, có một trận động đất lớn; một phần mười của thành sụp đổ, và trong trận động đất có bảy ngàn người bị giết; những người còn lại thì hoảng sợ và tôn vinh Đức Chúa Trời trên trời. Khải Huyền 11:13.

The period of transition associated with 538, when Rome changed from pagan to papal, is also the change in Daniel chapter eight from masculine to the feminine, which symbolically is from statecraft to churchcraft. The prophecy of “seven times” bears the signature of “truth” for the first letter (723 BC) illustrates the twenty-second and last letter of the Hebrew alphabet (1798), while the thirteenth and middle letter represents rebellion (538). Daniel identifies that the “transgression” that is symbolized by the expression “the transgression of desolation” was the combination of church and state, with the church in control of the relationship. That “transgression” represents 538, which is the middle and metaphorically the thirteenth letter of the three primary waymarks in the period of the seven times against the ten northern tribes of Israel.

Giai đoạn chuyển tiếp gắn liền với năm 538, khi La Mã chuyển từ ngoại giáo sang giáo hoàng, cũng là sự thay đổi trong Đa-ni-ên chương tám từ giống đực sang giống cái, biểu tượng cho sự chuyển từ quyền lực nhà nước sang quyền lực giáo hội. Lời tiên tri về “bảy thời” mang dấu ấn của “chân lý”, vì chữ cái thứ nhất (723 TCN) minh họa chữ cái thứ hai mươi hai và cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ (1798), trong khi chữ cái thứ mười ba, ở giữa, tượng trưng cho sự phản loạn (538). Đa-ni-ên xác định rằng “sự bội nghịch” được biểu tượng bằng cụm từ “sự bội nghịch gây hoang tàn” chính là sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, trong đó giáo hội nắm quyền kiểm soát mối quan hệ. “Sự bội nghịch” ấy tượng trưng cho năm 538, là mốc ở giữa và, theo ẩn dụ, là chữ cái thứ mười ba trong ba mốc chính trong giai đoạn “bảy thời” chống lại mười chi phái phương bắc của Y-sơ-ra-ên.

In 1798, the “time of the end” as set forth in verse forty of Daniel chapter eleven, atheistic France, the king of the south delivered the deadly wound to the papacy, the king of the north. In 1989 the papacy retaliated against the atheistic king of the south, who had then become the Soviet Union. The retaliation included a secret alliance between the United States and the Vatican. The sweeping away of the Soviet Union in 1989 ends the written prophetic message of verse forty, and the next verse, verse forty-one, represents the Sunday law in the United States. Thus, from the collapse of the Soviet Union in 1989 until the Sunday law in the next verse we have been living in the hidden history of verse forty.

Vào năm 1798, trong “thời kỳ cuối cùng” như được nêu trong câu bốn mươi của sách Đa-ni-ên chương mười một, nước Pháp vô thần, tức vua phương nam, đã giáng cho giáo hoàng quyền, tức vua phương bắc, một vết thương chí tử. Năm 1989, giáo hoàng quyền trả đũa chống lại vị vua phương nam vô thần, khi đó đã trở thành Liên Xô. Sự trả đũa này bao gồm một liên minh bí mật giữa Hoa Kỳ và Vatican. Sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1989 kết thúc sứ điệp tiên tri được ghi chép trong câu bốn mươi, và câu kế tiếp, tức câu bốn mươi mốt, đại diện cho luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ. Vì vậy, từ sự sụp đổ của Liên Xô năm 1989 cho đến luật ngày Chủ nhật trong câu kế tiếp, chúng ta đã sống trong lịch sử bị ẩn giấu của câu bốn mươi.

Verse forty begins by identifying a king of the south and north in 1798, and then in 1989 a king of the south and north, as well as a third power represented by the chariots, ships and horsemen.

Câu bốn mươi mở đầu bằng việc xác định vua phương Nam và vua phương Bắc vào năm 1798, rồi đến năm 1989 lại xác định vua phương Nam và vua phương Bắc, cũng như một thế lực thứ ba được đại diện bởi các chiến xa, tàu thuyền và kỵ binh.

And at the time of the end shall the king of the south push at him: and the king of the north shall come against him like a whirlwind, with chariots, and with horsemen, and with many ships; and he shall enter into the countries, and shall overflow and pass over. Daniel 11:40.

Vào thời kỳ cuối cùng, vua phương nam sẽ tấn công người ấy; còn vua phương bắc sẽ kéo đến chống lại người ấy như cơn lốc, với chiến xa, kỵ binh và nhiều tàu thuyền; và ông sẽ tiến vào các xứ, tràn ngập và vượt qua. Đa-ni-ên 11:40.

At the “time of the end” in 1798 a literal general of Napoleon entered the Vatican and literally took the pope and incarcerated him. In 1989 the retaliation for 1798 took place. There had been prophetic transitions which took place in the history between 1798 and 1989 that are important to note. Atheistic France, the king of the south in the 1798 time period was the first spiritual king of the south, and Putin’s Russia is destined to be its last. France is identified in Revelation eleven, which is directly identified by Sister White as atheistic France. One of the two symbols which identify France in chapter eleven is Egypt, which Sister White identifies as a symbol of atheism. In the chapter the beast who ascends out of the bottomless pit was atheism that came into history during that time period.

Vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798, một vị tướng thực thụ của Napoleon đã tiến vào Vatican, bắt Giáo hoàng và tống giam ông. Năm 1989, sự đáp trả cho 1798 đã diễn ra. Trong lịch sử giữa 1798 và 1989 đã có những chuyển tiếp tiên tri cần được lưu ý. Nước Pháp vô thần, tức vua phương Nam trong giai đoạn 1798, là vị vua phương Nam thuộc linh đầu tiên, và nước Nga của Putin được định sẽ là vị vua thuộc linh cuối cùng. Nước Pháp được nhận diện trong Khải Huyền đoạn 11, điều mà Bà White trực tiếp xác định là nước Pháp vô thần. Một trong hai biểu tượng nhận diện Pháp trong đoạn 11 là Ai Cập, mà Bà White xác định là biểu tượng của chủ nghĩa vô thần. Trong đoạn này, con thú bước lên từ vực không đáy chính là chủ nghĩa vô thần đã đi vào lịch sử trong thời kỳ ấy.

Atheism comes into history beginning with France in the 1798 time period and by 1989 the spiritual king of atheism has become the Soviet Union. The sweeping away of the Soviet Union in 1989 in fulfillment of a secret alliance between Pope John Paul II and Ronald Reagan had been typified in verse ten of Daniel chapter eleven, and a second witness to verse ten is found in Isaiah’s passage of the two curses of twenty-five hundred and twenty years against the northern and southern kingdoms of Israel as set forth in chapters seven through eleven.

Chủ nghĩa vô thần bước vào lịch sử, khởi đầu với nước Pháp vào khoảng năm 1798, và đến năm 1989 thì vua thuộc linh của chủ nghĩa vô thần đã trở thành Liên Xô. Việc Liên Xô bị quét sạch vào năm 1989, như sự ứng nghiệm của một liên minh bí mật giữa Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Ronald Reagan, đã được biểu trưng trong câu mười của chương mười một sách Đa-ni-ên, và một nhân chứng thứ hai cho câu mười được tìm thấy trong đoạn của sách Ê-sai về hai lời rủa sả kéo dài hai nghìn năm trăm hai mươi năm đối với các vương quốc miền bắc và miền nam của Israel, như được trình bày từ chương bảy đến chương mười một.

1989 therefore becomes the point of reference for resolving the prophetic riddles of the last days. It was then that verse forty was unsealed. It can now be recognized that verse forty begins in 1798 and ends at the Sunday law of verse forty-one.

Do đó, năm 1989 trở thành điểm tham chiếu để giải đáp những ẩn đố tiên tri của những ngày sau rốt. Chính khi ấy, câu bốn mươi đã được mở ấn. Giờ đây có thể nhận ra rằng câu bốn mươi bắt đầu vào năm 1798 và kết thúc tại luật Chủ nhật của câu bốn mươi mốt.

At the Sunday law the United States will speak as a dragon and end its rule as the sixth kingdom of Bible prophecy. It began its time to reign in 1798, when the fifth kingdom received a deadly wound. In 1798 the United States passed the Alien and Sedition Acts, thus typifying the end of the sixth kingdom at it’s very beginning. Verse forty is therefore the history of the United States as the sixth kingdom of Bible prophecy.

Khi có luật Chủ nhật, Hoa Kỳ sẽ nói như rồng và kết thúc sự cai trị của mình với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Nó bắt đầu thời kỳ trị vì vào năm 1798, khi vương quốc thứ năm nhận một vết thương chí tử. Năm 1798, Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ngoại kiều và Phản loạn, qua đó tượng trưng cho sự kết thúc của vương quốc thứ sáu ngay từ lúc nó vừa bắt đầu. Vì vậy, câu bốn mươi chính là lịch sử của Hoa Kỳ với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh.

1798 is the first letter of the Hebrew alphabet, the Sunday law is the twenty-second and last letter of the Hebrew alphabet and 1989 is the waymark in the middle that represents the rebellion symbolized by the number thirteen and the thirteenth letter of the Hebrew alphabet. 1989 represents the rebellion of Reagan’s secret alliance with the antichrist of Bible prophecy. 1989 introduces the first of the last eight presidents that reign during a period of escalating rebellion against the Constitution. 1989 began a testing process among Seventh-day Adventists that is designed to produce two classes of worshippers. The faithful are the few the unfaithful are the many. 1989 represents the center waymark of verse forty, and it represents the rebellion symbolized by the thirteenth letter. Verse forty bears the signature of “truth.”

1798 là chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái Do Thái, luật ngày Chủ nhật là chữ cái thứ hai mươi hai và là chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Do Thái, và 1989 là cột mốc ở giữa, đại diện cho sự phản nghịch được biểu trưng bởi con số mười ba và chữ cái thứ mười ba của bảng chữ cái Do Thái. 1989 đại diện cho sự phản nghịch của liên minh bí mật của Reagan với Phản Kitô trong lời tiên tri Kinh Thánh. 1989 khởi đầu cho vị tổng thống đầu tiên trong số tám vị tổng thống cuối cùng nắm quyền trong một giai đoạn mà sự phản nghịch chống lại Hiến pháp ngày càng leo thang. 1989 đã bắt đầu một quá trình thử thách trong hàng ngũ các tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm nhằm tạo ra hai nhóm người thờ phượng. Người trung tín thì ít, kẻ bất trung thì nhiều. 1989 đại diện cho cột mốc trung tâm của câu bốn mươi, và nó đại diện cho sự phản nghịch được biểu trưng bởi chữ cái thứ mười ba. Câu bốn mươi mang dấu ấn của “chân lý”.

Verse forty has kings of the north and the south who are different in the history at the end of the verse. It also has the United States, who according to John is the false prophet who works with the dragon and beast to lead the world to Armageddon. The king of the south in verse forty is the dragon, the king of the north is the beast; the chariots, ships and horsemen are the false prophet. The fulfillment of verse forty in 1989 becomes an important prophetic attribute for understanding verses eleven through fifteen. If you are not right on 1989, you cannot logically be right about the history we are in today.

Câu 40 có nói về vua phương bắc và vua phương nam, nhưng ở phần cuối câu, trong bối cảnh lịch sử, họ là những nhân vật khác. Đồng thời cũng nhắc đến Hoa Kỳ, mà theo Giăng là tiên tri giả, kẻ hợp tác với con rồng và con thú để dẫn dắt thế giới đến Armageddon. Vua phương nam trong câu 40 là con rồng, vua phương bắc là con thú; các chiến xa, tàu thuyền và kỵ binh là tiên tri giả. Sự ứng nghiệm của câu 40 vào năm 1989 trở thành một yếu tố tiên tri quan trọng để hiểu các câu 11 đến 15. Nếu bạn không đúng về năm 1989, bạn không thể hợp lý khi cho rằng mình đúng về lịch sử chúng ta đang sống ngày nay.

From 1989 unto the Sunday law three proxy wars for the papacy are represented in verses ten through fifteen. These verses must be considered as one continuous history for the same “Antiochus Magnus” is found in the three battles represented in the historical fulfillment of verses ten through fifteen.

Từ năm 1989 cho đến đạo luật Chủ nhật, ba cuộc chiến ủy nhiệm cho chế độ Giáo hoàng được mô tả trong các câu mười đến mười lăm. Những câu này phải được xem như một mạch lịch sử liên tục, vì cùng một “Antiochus Magnus” xuất hiện trong ba trận chiến được thể hiện trong sự ứng nghiệm lịch sử của các câu mười đến mười lăm.

All three battles are one prophetic line, for Antiochus Magnus was in each of the three battles. Verse ten, and Isaiah 8:8 provide two witnesses to the fulfillment of verse forty in 1989. Verse forty is the point of reference in verse ten and Isaiah 8:8. The “chariots, ships and horsemen” represent the two horns of the earth beast in chapter thirteen of Revelation. At the end, when the United States “speaks as a dragon” the two horns are no longer Republicanism and Protestantism. At that time the so-called Protestants will join with Catholicism, and the Constitutional Republic will be changed into a dictatorship. In that time period the two horns of the earth beast will be economic and military strength. In chapter thirteen of Revelation the United States forces the world to accept the mark of the beast in order to buy and sell, and also upon threat of death. Those two horns are Daniel’s “ships” representing economic power and his “horsemen and chariots” representing military strength.

Cả ba trận chiến đều là một dòng tiên tri, vì Antiochus Magnus đều có mặt trong cả ba trận. Câu mười và Ê-sai 8:8 cung cấp hai chứng nhân cho sự ứng nghiệm của câu bốn mươi vào năm 1989. Câu bốn mươi là điểm tham chiếu trong câu mười và Ê-sai 8:8. "Xe chiến, tàu thuyền và kỵ binh" đại diện cho hai sừng của con thú từ đất trong chương mười ba của sách Khải Huyền. Vào thời cuối cùng, khi Hoa Kỳ "nói như rồng", hai sừng ấy không còn là chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành nữa. Khi đó, những người được gọi là Tin Lành sẽ liên kết với Công giáo, và nền cộng hòa hiến định sẽ bị biến thành một chế độ độc tài. Trong giai đoạn ấy, hai sừng của con thú từ đất sẽ là sức mạnh kinh tế và quân sự. Trong chương mười ba của sách Khải Huyền, Hoa Kỳ buộc thế giới chấp nhận dấu của con thú để có thể mua và bán, và cũng dưới mối đe dọa tử hình. Hai sừng ấy chính là "tàu thuyền" của Đa-ni-ên tượng trưng cho sức mạnh kinh tế và "kỵ binh và xe chiến" của ông tượng trưng cho sức mạnh quân sự.

1989 establishes that when applying the historical fulfillment of the battles of Raphia and Panium in verses eleven through fifteen, the same prophetic methodology that was employed to understand 1989 and the collapse of the Soviet Union must be used for Antiochus Magnus was in all three battles represented in verses ten through fifteen. Antiochus represents the power of chariots, ships and horsemen, who in 1989 was Ronald Reagan, the first of eight presidents, of which the last was also the sixth and is now the eighth that is of the seven.

Năm 1989 khẳng định rằng, khi áp dụng sự ứng nghiệm lịch sử của các trận Raphia và Panium trong các câu mười một đến mười lăm, cần phải sử dụng cùng một phương pháp luận tiên tri đã được dùng để hiểu năm 1989 và sự sụp đổ của Liên Xô, vì Antiochus Magnus có mặt trong cả ba trận chiến được mô tả trong các câu mười đến mười lăm. Antiochus đại diện cho quyền lực của chiến xa, tàu thuyền và kỵ binh, mà vào năm 1989 được đại diện bởi Ronald Reagan, vị đầu tiên trong tám vị tổng thống, trong đó vị cuối cùng cũng là vị thứ sáu và nay là vị thứ tám, tức là thuộc về bảy vị.

According to Isaiah twenty-three the papal power, (the whore who commits fornication with the kings of the earth) would be hidden during the reign of the United States as the sixth kingdom of Bible prophecy. In 1989 the United States, that had been typified by Antiochus Magnus was the proxy power of the papacy in its warfare against the beast of atheism that delivered it a deadly wound in 1798.

Theo Ê-sai đoạn 23, giáo quyền (dâm phụ phạm tà dâm với các vua trên đất) sẽ bị che giấu trong thời kỳ thống trị của Hoa Kỳ như vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Năm 1989, Hoa Kỳ, vốn đã được tượng trưng bởi Antiochus Magnus, là quyền lực ủy nhiệm của giáo quyền trong cuộc chiến của giáo quyền chống lại con thú của chủ nghĩa vô thần, kẻ đã giáng cho giáo quyền một vết thương chí tử vào năm 1798.

The three battles of verse ten through fifteen represent warfare between the king of the north, who as the hidden whore of Tyre, employs proxy powers as she moves towards the restoration of her power and the defeat of the king of atheism—the king of the south. The historical fulfillments of the three battles of verses ten through fifteen instruct us that in the first and last battles Antiochus Magnus won, but the middle battle he lost. The prophetic characteristics of the 1989 Ronald Reagan years with Pope John Paul II and the collapse of the Soviet Union will have a counterpart in the last of the three battles, for these verses are what is unsealed just before probation closes. As verse forty was unsealed in 1798 and then again in 1989, the verse was unsealed at the end, beginning in July 2023.

Ba trận chiến từ câu 10 đến câu 15 tượng trưng cho cuộc chiến giữa vua phương bắc, kẻ, với tư cách là gái điếm ẩn giấu của Tyre, sử dụng các thế lực ủy nhiệm khi bà ta tiến tới việc phục hồi quyền lực của mình và đánh bại vua của chủ nghĩa vô thần — vua phương nam. Sự ứng nghiệm trong lịch sử của ba trận chiến ở các câu 10 đến 15 dạy chúng ta rằng trong trận đầu và trận cuối, Antiochus Đại Đế đã thắng, nhưng trận ở giữa thì ông thua. Những đặc điểm tiên tri của giai đoạn 1989 dưới thời Ronald Reagan, với Giáo hoàng Gioan Phaolô II và sự sụp đổ của Liên Xô, sẽ có một đối ứng trong trận cuối cùng của ba trận chiến, vì những câu này là điều được mở ấn ngay trước khi thời kỳ thử thách kết thúc. Như câu 40 đã được mở ấn vào năm 1798 và rồi một lần nữa vào năm 1989, câu ấy đã được mở ấn vào thời kỳ cuối, bắt đầu từ tháng 7 năm 2023.

The Revelation of Jesus Christ is unsealed just before probation closes and it includes the preeminent truth that Jesus is the first and the last, and as such always illustrates the end with the beginning. Probation closes for Adventism at the Sunday law, and just before the close of probation the Revelation of Jesus Christ is unsealed. The message which concludes at the closed door of the Sunday law is the message of the Midnight Cry, which led to the closed door of October 22, 1844 in Millerite history. The unsealing of 1798 in the beginning of verse forty which is also the beginning of the United States as the sixth kingdom of Bible prophecy typified the unsealing of 1989 in the middle of verse forty and the start of the progressive ending of the United States. The unsealing in 1798 which typified 1989 represents two witnesses to the unsealing of the message of the Midnight Cry in 2023. The line, with its three waymarks 1798, 1989 and 2023 identifies the internal work of purifying ten virgins and the external line of the sixth kingdom of Bible prophecy.

Sự Khải Thị của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển kết thúc, và nó bao hàm lẽ thật tối thượng rằng Đức Chúa Giê-su là Đầu Tiên và Cuối Cùng, và vì thế luôn minh họa sự kết thúc bằng sự khởi đầu. Đối với Cơ Đốc Phục Lâm, thời kỳ ân điển kết thúc tại luật Chúa nhật, và ngay trước khi thời kỳ ân điển kết thúc, Sự Khải Thị của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn. Thông điệp kết thúc tại cánh cửa đóng của luật Chúa nhật là thông điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm, vốn đã dẫn đến cánh cửa đóng ngày 22 tháng 10 năm 1844 trong lịch sử Millerite. Sự mở ấn năm 1798 ở phần đầu của câu bốn mươi, vốn cũng là sự khởi đầu của Hoa Kỳ như vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh, đã làm hình bóng cho sự mở ấn năm 1989 ở giữa câu bốn mươi và sự khởi đầu của việc kết thúc dần dần của Hoa Kỳ. Sự mở ấn năm 1798, vốn làm hình bóng cho năm 1989, cùng với năm 1989, là hai nhân chứng cho sự mở ấn của thông điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm vào năm 2023. Tuyến, với ba mốc của nó 1798, 1989 và 2023, xác định công tác bên trong thanh luyện mười trinh nữ và tuyến bên ngoài của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh.

The battle set forth in verse eleven which was fulfilled at the Battle of Raphia when Antiochus was defeated by Ptolemy, represents a defeat of the papal proxy power, who in this current battle is the Nazi’s of the Ukraine allied with the Western European globalist nations that make up the EU, NATO and are in lock step with the political and economic globalists of the United Nations. If Antiochus Magnus was at all three battles and represents the papal proxy power against the king of the south, how can it be the United States in 1989, then the Ukrainians as typified by the Battle of Raphia and then the United States again at the Battle of Panium? Verse ten is the key to verses eleven through fifteen for its fulfillment in 1989 provides an illustration of the prophetic characteristics of the first of the three proxy wars. What is the prophetic justification for identifying Antiochus as the papal proxy power, while not applying the United States to each of the three battles?

Trận chiến được nêu trong câu mười một, đã được ứng nghiệm tại Trận Raphia khi Antiochus bị Ptolemy đánh bại, tượng trưng cho sự thất bại của thế lực ủy nhiệm của giáo hoàng, mà trong trận chiến hiện tại là bọn Quốc xã ở Ukraine, liên minh với các quốc gia Tây Âu theo chủ nghĩa toàn cầu hợp thành EU, NATO và bước đều, ăn khớp chặt chẽ với các lực lượng toàn cầu chủ nghĩa về chính trị và kinh tế của Liên Hợp Quốc. Nếu Antiochus Magnus có mặt trong cả ba trận và đại diện cho thế lực ủy nhiệm của giáo hoàng chống lại vua phương nam, thì làm sao đối tượng đó có thể là Hoa Kỳ vào năm 1989, rồi là người Ukraine như được minh họa bởi Trận Raphia, và rồi lại là Hoa Kỳ tại Trận Panium? Câu mười là chìa khóa cho các câu mười một đến mười lăm, vì sự ứng nghiệm của nó vào năm 1989 cung cấp một minh họa về các đặc tính tiên tri của trận thứ nhất trong ba cuộc chiến ủy nhiệm. Cơ sở tiên tri nào biện minh cho việc xác định Antiochus là thế lực ủy nhiệm của giáo hoàng, trong khi không áp dụng Hoa Kỳ cho cả ba trận chiến?

In the history of the Ukrainian war, which has been typified by the battle of Raphia the United States employed the Nazi’s of the Ukraine as their proxy power in the very history where they are forming and image of the papacy, the power who always and only uses proxy powers to do her dirty work.

Trong lịch sử của cuộc chiến Ukraine, vốn được điển hình hóa bởi trận Raphia, Hoa Kỳ đã sử dụng những phần tử Quốc xã ở Ukraine làm quyền lực ủy nhiệm của họ, ngay trong chính bối cảnh lịch sử nơi họ đang hình thành một hình ảnh về chế độ giáo hoàng, quyền lực luôn luôn và chỉ sử dụng các quyền lực ủy nhiệm để làm công việc bẩn thỉu cho mình.

To answer the question of proxy powers in verses ten through fifteen involves a prophetic study of the characteristics of Antiochus as a symbol. The Diadochi Wars were a series of conflicts from 323–281 BC among the Diadochi (Greek for “successors”), the generals and successors of Alexander the Great, who fought for control of his vast empire after his death in 323 BC. The first Antiochus was Antiochus I Soter, the son of Seleucus I Nicator, one of Alexander’s Diadochi (successors), who founded the Seleucid Empire.

Để trả lời câu hỏi về các thế lực ủy nhiệm trong các câu mười đến mười lăm, cần một nghiên cứu tiên tri về các đặc điểm của Antiochus như một biểu tượng. Các cuộc Chiến tranh Diadochi là một loạt xung đột diễn ra từ năm 323–281 TCN giữa các Diadochi (tiếng Hy Lạp nghĩa là ‘những người kế vị’), tức các tướng lĩnh và những người kế vị của Alexander Đại đế, những người đã tranh giành quyền kiểm soát đế chế rộng lớn của ông sau khi ông qua đời vào năm 323 TCN. Antiochus đầu tiên là Antiochus I Soter, con trai của Seleucus I Nicator, một trong các Diadochi (những người kế vị) của Alexander, người đã sáng lập Đế quốc Seleucid.

The name Antiochus can be understood to mean one who stands in place of, in order to support. Antiochus is a symbol of Rome, and papal Rome is the antichrist, which possesses a similar symbolism as does Antiochus. Antiochus as a name represented the son of the founder of the Seleucid Empire, and in that sense, Antiochus stood in the place of his father, he stood as his proxy. Sister White identifies both Satan and the pope as the antichrist, and states that the pope is Satan’s representative on earth. It became a prominent dynastic name in the Seleucid Empire, partly due to its association with Antiochus I Soter and the city of Antioch, named after either Seleucus I’s father or son. The pope is the proxy for Satan, and symbolically the name Antiochus represents a proxy for his father, the founder of the northern kingdom who located its capital in Babylon.

Tên Antiochus có thể được hiểu là người đứng thay để hậu thuẫn. Antiochus là một biểu tượng của La Mã, và La Mã giáo hoàng là kẻ chống Chúa Kitô, mang tính biểu tượng tương tự như Antiochus. Là một tên gọi, Antiochus chỉ người con trai của vị sáng lập Đế quốc Seleucid; theo nghĩa đó, Antiochus đứng thay cha mình, như người đại diện của ông. Bà White xác định cả Satan lẫn giáo hoàng là kẻ chống Chúa Kitô, và cho rằng giáo hoàng là đại diện của Satan trên đất. Nó trở thành một tên triều đại nổi bật trong Đế quốc Seleucid, một phần do mối liên hệ của nó với Antiochus I Soter và thành phố Antioch, được đặt theo tên cha hoặc con trai của Seleucus I. Giáo hoàng là người đại diện cho Satan, và về mặt biểu tượng, tên Antiochus biểu thị một người đại diện thay cho cha ông, vị sáng lập vương quốc phương bắc, người đã đặt kinh đô của nó tại Babylon.

After Alexander the Great’s death in 323 BC, his empire fragmented among the Diadochi (successors). In the Partition of Babylon (323 BC), Seleucus was initially appointed as the commander of the Companion cavalry (a prestigious military post) under Perdiccas, the regent of Alexander’s empire. By 321 BC, Seleucus was appointed satrap (governor) of Babylonia during the Partition of Triparadisus, following Perdiccas’ death and further negotiations among the Diadochi. In 316 BC, Antigonus I Monophthalmus, another Diadoch, forced Seleucus to flee Babylon due to Antigonus’ growing power. Seleucus sought refuge with Ptolemy I Soter in Egypt. In 312 BC, Seleucus returned to Babylon with a small force provided by Ptolemy. He defeated Antigonus’ forces and retook Babylon, marking the establishment of his power base. This event is often considered the founding of the Seleucid Empire, with 312 BC as the start of the Seleucid Era in historical reckoning.

Sau khi Alexander Đại đế qua đời vào năm 323 TCN, đế quốc của ông bị chia cắt giữa các Diadochi (những người kế vị). Trong cuộc phân chia Babylon (323 TCN), Seleucus ban đầu được bổ nhiệm làm chỉ huy kỵ binh Bạn hữu (một chức vụ quân sự danh giá) dưới quyền Perdiccas, nhiếp chính của đế quốc Alexander. Đến năm 321 TCN, trong cuộc phân chia tại Triparadisus, sau cái chết của Perdiccas và những thương lượng tiếp theo giữa các Diadochi, Seleucus được bổ nhiệm làm satrap (tổng trấn) của Babylonia. Năm 316 TCN, Antigonus I Monophthalmus, một Diadoch khác, do quyền lực ngày càng lớn mạnh, đã buộc Seleucus phải chạy trốn khỏi Babylon. Seleucus tìm nơi lánh nạn bên Ptolemy I Soter ở Ai Cập. Năm 312 TCN, Seleucus trở lại Babylon với một lực lượng nhỏ do Ptolemy cung cấp. Ông đánh bại quân của Antigonus và tái chiếm Babylon, đánh dấu việc thiết lập căn cứ quyền lực của mình. Sự kiện này thường được coi là sự thành lập Đế quốc Seleucid, với năm 312 TCN được xem là khởi đầu của Kỷ nguyên Seleucid trong cách tính niên đại lịch sử.

The name Seluecus is derived from Greek and comes from the root selas (σέλας), meaning “light,” “radiance,” or “flame.” The name suggests brilliance or illumination, fitting for a prominent figure like Seleucus I Nicator, the founder of the Seleucid Empire and who typifies the father who had been the light bearer in heaven.

Tên Seluecus có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp và bắt nguồn từ gốc selas (σέλας), có nghĩa là “ánh sáng”, “hào quang” hoặc “ngọn lửa”. Cái tên này gợi ý sự rực rỡ hoặc sự chiếu sáng, phù hợp với một nhân vật kiệt xuất như Seleucus I Nicator, người sáng lập Đế quốc Seleucid và tiêu biểu cho hình ảnh người cha từng là người mang ánh sáng trên thiên đường.

“To secure worldly gains and honors, the church was led to seek the favor and support of the great men of earth; and having thus rejected Christ, she was induced to yield allegiance to the representative of Satan—the bishop of Rome.” The Great Controversy, 50.

"Để mưu cầu lợi lộc và vinh dự trần thế, Hội thánh đã bị dẫn dắt tìm kiếm sự ưu ái và hậu thuẫn của những người quyền thế trên thế gian; và như thế, khi khước từ Đấng Christ, Hội thánh đã bị xúi giục phải thần phục kẻ đại diện của Sa-tan—giám mục Rôma." Cuộc Tranh Chấp Vĩ Đại, 50.

Antiochus Magnus represents the proxy of papal power, as the pope represents the proxy of Satan. The symbolism of Antiochus allows for differing proxy powers, just as there have been many popes. Reagan was the proxy of 1989, the Ukraine became the proxy of the United States in 2014 and Trump is the proxy at the Battle of Panium. Reagan was the first, Trump is the last and Zelenskyy is the rebellion in the middle.

Antiochus Magnus đại diện cho quyền lực ủy nhiệm của Giáo hoàng, cũng như Giáo hoàng đại diện cho quyền lực ủy nhiệm của Satan. Biểu tượng của Antiochus cho phép tồn tại các quyền lực ủy nhiệm khác nhau, cũng như đã có nhiều Giáo hoàng. Reagan là đại diện ủy nhiệm của năm 1989, Ukraine trở thành đại diện ủy nhiệm của Hoa Kỳ vào năm 2014 và Trump là đại diện ủy nhiệm tại Trận Panium. Reagan là người đầu tiên, Trump là người cuối cùng và Zelenskyy là sự nổi loạn ở giữa.