The dry bones that are laying dead in the street, who hear the “voice” of the one who is crying in the wilderness, do so because the Comforter has come, in fulfillment of Jesus’ promise to send him. In the first disappointment of the Millerites, the Millerites came to understand that they were in the tarrying time of the virgin’s parable.
Những bộ xương khô đang nằm chết ngoài đường mà lại nghe “tiếng” của người kêu lên trong đồng vắng là vì Đấng An Ủi đã đến, ứng nghiệm lời hứa của Chúa Giê-su là sẽ sai Đấng ấy đến. Trong lần thất vọng đầu tiên của những người theo Miller, họ đã hiểu ra rằng mình đang ở trong thời kỳ trì hoãn của dụ ngôn về các trinh nữ.
“The disappointed ones saw from the Bible that they were in the tarrying time, and that they must patiently wait the fulfillment of the vision. The same evidence which led them to look for their Lord in 1843, led them to expect him in 1844.” Spiritual Gifts, volume 1, 153.
"Những người thất vọng thấy từ Kinh Thánh rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn, và rằng họ phải kiên nhẫn chờ đợi sự ứng nghiệm của khải tượng. Chính những bằng chứng ấy đã khiến họ trông đợi Chúa của họ vào năm 1843, cũng khiến họ mong đợi Ngài vào năm 1844." Spiritual Gifts, tập 1, 153.
Those who have been typified by the Millerites repeat the experience of the first disappointment, and when they do, they must understand that they too, are in the tarrying time of the virgin’s parable. It is only the influence of the Comforter that allows them to see this truth. That recognition, brought about by the Comforter, is represented by the first prophecy that Ezekiel was instructed to proclaim to the valley of dry, dead bones.
Những người được phái Miller làm hình mẫu lặp lại kinh nghiệm của sự thất vọng thứ nhất, và khi họ làm như vậy, họ phải hiểu rằng họ cũng đang ở trong thời kỳ trì hoãn của dụ ngôn về các trinh nữ. Chỉ có tác động của Đấng An Ủi mới cho phép họ nhận ra lẽ thật này. Sự nhận biết đó, do Đấng An Ủi mang lại, được tượng trưng bởi lời tiên tri thứ nhất mà Ê-xê-chi-ên được truyền phải tuyên phán cho thung lũng những bộ xương khô, chết.
Again he said unto me, Prophesy upon these bones, and say unto them, O ye dry bones, hear the word of the Lord. Thus saith the Lord God unto these bones; Behold, I will cause breath to enter into you, and ye shall live: And I will lay sinews upon you, and will bring up flesh upon you, and cover you with skin, and put breath in you, and ye shall live; and ye shall know that I am the Lord. So I prophesied as I was commanded: and as I prophesied, there was a noise, and behold a shaking, and the bones came together, bone to his bone. And when I beheld, lo, the sinews and the flesh came up upon them, and the skin covered them above: but there was no breath in them. Ezekiel 37:4–8.
Ngài lại phán với tôi: Hãy nói tiên tri về các xương này, và nói với chúng rằng: Hỡi các xương khô, hãy nghe lời của Chúa. Chúa là Đức Chúa Trời phán với các xương này rằng: Kìa, Ta sẽ khiến hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, khiến thịt mọc lên trên các ngươi, lấy da phủ các ngươi, và đặt hơi thở trong các ngươi; các ngươi sẽ sống, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa. Vậy tôi đã nói tiên tri theo như được truyền dạy; và đang khi tôi nói tiên tri, có tiếng động, và kìa có sự rung chuyển, các xương ráp lại với nhau, xương nào vào xương nấy. Khi tôi nhìn, kìa, gân và thịt mọc lên trên chúng, và da phủ lên trên; nhưng trong chúng chưa có hơi thở. Ezekiel 37:4-8.
The “noise” represents the Holy Spirit. At that point the virgins need to recognize that they are in the tarrying time. The biblical instructions of what the disappointed must do when they recognize they are in the tarrying time is abundant. Jeremiah teaches they must never return to the “assembly of mockers,” which in the message to Philadelphia, is the synagogue of Satan. They must also separate the precious from the vile. The precious contrasted with the vile has a dual meaning.
“Tiếng ồn” tượng trưng cho Đức Thánh Linh. Khi ấy các trinh nữ cần nhận ra rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn. Những chỉ dẫn trong Kinh Thánh về việc những người thất vọng phải làm gì khi họ nhận ra mình đang ở trong thời kỳ trì hoãn là rất dồi dào. Giê-rê-mi dạy rằng họ không bao giờ được trở lại với “hội kẻ nhạo báng”, mà trong sứ điệp gửi cho Philadelphia là hội đường của Sa-tan. Họ cũng phải tách điều quý ra khỏi điều hèn mạt. Sự đối lập giữa điều quý và điều hèn mạt mang ý nghĩa kép.
I learned for myself this prophetic distinction years ago, when I made an application of William Miller’s dream. I correctly defined the jewels as truths of God’s word, and the spurious jewels as corrupted doctrines. Thereafter, it was pointed out to me that James White had also made an application of William Miller’s dream, and in his application, he identified the jewels as God’s faithful people, and the spurious jewels as the false professors of truth. When I investigated what James White had taught about the dream, I realized we were both correct. The jewels can represent God’s faithful, and the counterfeit jewels, the unfaithful, but the jewels can also represent the truths of God’s word and the counterfeit jewels can be false doctrines. James White applied Miller’s dream to the history that James White was then living in, but I had approached the dream as the history of the last days. Together the two applications identify that men become what they believe, and should they choose to hold to erroneous doctrines, they will be swept out the window by the dirt brush man, along with the doctrines they have become associated with. We are what we eat.
Tôi tự mình học được sự phân biệt mang tính tiên tri này từ nhiều năm trước, khi tôi áp dụng giấc mơ của William Miller. Tôi đã định nghĩa đúng rằng những viên ngọc là các lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, còn những viên ngọc giả là các giáo lý bị xuyên tạc. Sau đó, người ta chỉ cho tôi rằng James White cũng đã áp dụng giấc mơ của William Miller, và trong cách áp dụng của ông, ông xác định những viên ngọc là dân sự trung tín của Đức Chúa Trời, còn những viên ngọc giả là những kẻ xưng nhận lẽ thật cách giả dối. Khi tôi tìm hiểu những gì James White đã dạy về giấc mơ ấy, tôi nhận ra rằng cả hai chúng tôi đều đúng. Các viên ngọc có thể tượng trưng cho những người trung tín của Đức Chúa Trời, còn các viên ngọc giả cho những kẻ bất trung; nhưng các viên ngọc cũng có thể tượng trưng cho các lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, và các viên ngọc giả có thể là những giáo lý sai lầm. James White đã áp dụng giấc mơ của Miller cho bối cảnh lịch sử mà chính ông đang sống khi đó, còn tôi thì xem giấc mơ ấy như lịch sử của thời kỳ sau rốt. Cả hai cách áp dụng này cùng cho thấy rằng con người trở thành điều họ tin; và nếu họ chọn bám giữ các giáo lý sai lầm, họ sẽ bị người cầm chổi rác quét ra ngoài cửa sổ, cùng với các giáo lý mà họ đã gắn bó. Chúng ta là những gì chúng ta ăn.
When the disappointed find they are in the tarrying time, according to Jeremiah they are to separate the precious from the vile.
Khi những người thất vọng nhận ra rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn, theo lời Giê-rê-mi, họ phải tách điều quý ra khỏi điều đê tiện.
“How is it that men who are at war with the government of God come into possession of the wisdom which they sometimes display? Satan himself was educated in the heavenly courts, and he has a knowledge of good as well as of evil. He mingles the precious with the vile, and this is what gives him power to deceive. But because Satan has robed himself in garments of heavenly brightness, shall we receive him as an angel of light? The tempter has his agents, educated according to his methods, inspired by his spirit, and adapted to his work. Shall we co-operate with them? Shall we receive the works of his agents as essential to the acquirement of an education?” Ministry of Healing, 440.
"Làm sao những người đang gây chiến với chính quyền của Đức Chúa Trời lại có được sự khôn ngoan mà đôi khi họ bày tỏ? Chính Sa-tan đã được giáo dục trong triều đình thiên thượng, và hắn biết cả điều thiện lẫn điều ác. Hắn trộn lẫn điều quý báu với điều xấu xa, và chính điều này ban cho hắn quyền lực để lừa dối. Nhưng vì Sa-tan đã khoác lên mình y phục của sự sáng láng thiên thượng, lẽ nào chúng ta lại tiếp nhận hắn như một thiên sứ của ánh sáng? Kẻ cám dỗ có những tay sai của hắn, được giáo dục theo phương pháp của hắn, được tinh thần của hắn thúc đẩy, và được đào luyện để phù hợp với công việc của hắn. Chúng ta có nên cộng tác với họ chăng? Chúng ta có nên xem các tác phẩm của những tay sai ấy là điều thiết yếu để đạt được học vấn không?" Chức vụ Chữa Lành, 440.
The precious and vile represents truth and error. It also represents two classes of men.
Điều cao quý và điều thấp hèn tượng trưng cho chân lý và sai lầm. Nó cũng tượng trưng cho hai hạng người.
“‘Nevertheless the foundation of God standeth sure, having this seal, The Lord knoweth them that are His. And, Let everyone that nameth the name of Christ depart from iniquity. But in a great house there are not only vessels of gold and of silver, but also of wood and of earth; and some to honor, and some to dishonor.’ The ‘great house’ represents the Church. In the Church will be found the vile as well as the precious. The net cast into the sea gathers both good and bad.” Review and Herald, February 5, 1901.
'Dẫu vậy, nền tảng của Đức Chúa Trời vẫn đứng vững, có ấn này: Chúa biết những kẻ thuộc về Ngài. Và: Hễ ai xưng danh Đấng Christ thì phải lìa khỏi điều gian ác. Nhưng trong một nhà lớn không chỉ có những đồ dùng bằng vàng và bằng bạc, mà còn cả bằng gỗ và bằng đất; cái thì dùng vào sự tôn quý, cái thì dùng vào sự hèn mọn.' Chữ 'nhà lớn' tượng trưng cho Hội thánh. Trong Hội thánh sẽ có cả cái xấu xa lẫn cái quý báu. Chiếc lưới thả xuống biển gom cả cá tốt lẫn cá xấu. Review and Herald, ngày 5 tháng 2 năm 1901.
Jeremiah was instructed that if he would return, he needed to separate from the foolish virgins, and he must also separate from the erroneous teachings of the foolish virgins. The one hundred and forty-four thousand are those who come into perfect unity. Jeremiah is representing the work that those called to be sealed by Ezekiel’s second message of the four winds must accomplish, if they are to be God’s “mouth,” when the vision speaks. The vision spoke in Millerite history when the judgment arrived, and it speaks in the history of the one hundred and forty-four thousand when the earth beast speaks, and the judgment of the third woe arrives. Then those who have accomplished the work identified by Jeremiah are lifted up as God’s watchmen.
Giê-rê-mi được chỉ dạy rằng nếu ông trở lại, ông cần phải tách biệt khỏi những trinh nữ dại, và ông cũng phải tách biệt khỏi các giáo lý sai lầm của những trinh nữ dại. Một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người đạt đến sự hiệp nhất trọn vẹn. Giê-rê-mi đại diện cho công việc mà những người được kêu gọi để được đóng ấn bởi sứ điệp thứ hai của Ê-xê-chi-ên về bốn luồng gió phải hoàn thành, nếu họ muốn trở thành “miệng” của Đức Chúa Trời khi khải tượng lên tiếng. Khải tượng đã lên tiếng trong lịch sử Millerite khi sự phán xét đến, và nó sẽ lên tiếng trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn khi con thú từ đất lên tiếng, và khi sự phán xét của tai họa thứ ba đến. Bấy giờ những người đã hoàn thành công việc được Giê-rê-mi xác định sẽ được tôn lên làm những người lính canh của Đức Chúa Trời.
When the Lord sends the Comforter to awaken the disappointed from their death, He identifies a work of purification they must accomplish if they are to be His spokesmen in the Sunday law crisis. Isaiah agrees with Jeremiah’s counsel.
Khi Chúa sai Đấng An Ủi đến để đánh thức những người thất vọng khỏi sự chết của họ, Ngài chỉ ra một công việc thanh tẩy mà họ phải hoàn thành để có thể làm người phát ngôn cho Ngài trong cuộc khủng hoảng về luật ngày Chủ nhật. Ê-sai đồng ý với lời khuyên của Giê-rê-mi.
How beautiful upon the mountains are the feet of him that bringeth good tidings, that publisheth peace; that bringeth good tidings of good, that publisheth salvation; that saith unto Zion, Thy God reigneth! Thy watchmen shall lift up the voice; with the voice together shall they sing: for they shall see eye to eye, when the Lord shall bring again Zion. Break forth into joy, sing together, ye waste places of Jerusalem: for the Lord hath comforted his people, he hath redeemed Jerusalem. Isaiah 52:7–9.
Đẹp thay trên các núi là bước chân của người đem tin mừng, rao truyền bình an; người đem tin mừng về điều tốt lành, công bố sự cứu rỗi; người nói với Si-ôn: Đức Chúa Trời của ngươi trị vì! Các lính canh của ngươi sẽ cất tiếng; họ sẽ đồng thanh hát ca, vì họ sẽ thấy tận mắt, khi Chúa đưa Si-ôn trở về. Hỡi những nơi hoang tàn của Giê-ru-sa-lem, hãy vỡ òa vui mừng, hãy cùng nhau ca hát: vì Chúa đã an ủi dân Ngài, Ngài đã chuộc Giê-ru-sa-lem. Ê-sai 52:7-9.
Those that “bringeth good tidings” and who “publish peace and salvation” lift up “their voices together,” for they “shall see eye to eye.”
Những người "mang tin mừng" và "loan báo bình an và sự cứu rỗi" cất "tiếng nói đồng thanh," vì họ "sẽ nhìn nhau mắt đối mắt."
“A few others were shown me as joining their influence with those I have mentioned, and together they do what they can to draw off from the body and cause confusion; and their influence brings the truth of God into disrepute. Jesus and holy angels are bringing up and uniting God’s people into one faith, that they may all have one mind and one judgment. And while they are being brought into the unity of the faith, to see eye to eye upon the solemn, important truths for this time, Satan is at work to oppose their advancement. Jesus is at work through His instruments to gather and unite. Satan works through his instruments to scatter and divide. ‘For, lo, I will command, and I will sift the house of Israel among all nations, like as corn is sifted in a sieve, yet shall not the least grain fall upon the earth.’
Tôi được cho thấy vài người khác đang kết hợp ảnh hưởng của họ với những người tôi đã nhắc đến, và cùng nhau họ làm mọi điều có thể để lôi kéo người ta rời khỏi đoàn thể và gây rối loạn; và ảnh hưởng của họ khiến lẽ thật của Đức Chúa Trời bị mất uy tín. Chúa Giê-su và các thiên sứ thánh đang gây dựng và hiệp nhất dân của Đức Chúa Trời trong một đức tin, để hết thảy đều đồng một lòng một ý và chung một nhận định. Và trong khi họ đang được đem vào sự hiệp nhất của đức tin, để đồng thuận hoàn toàn về những lẽ thật trang trọng, quan trọng cho thời kỳ này, Sa-tan đang hoạt động để chống lại sự tiến triển của họ. Chúa Giê-su đang hành động qua các khí cụ của Ngài để quy tụ và hiệp nhất. Sa-tan hành động qua các khí cụ của hắn để làm tản mác và chia rẽ. 'Vì kìa, Ta sẽ truyền lệnh, và Ta sẽ sàng lọc nhà Y-sơ-ra-ên giữa muôn dân, như người ta sàng hạt trong cái rây; nhưng hạt nhỏ nhất cũng sẽ không rơi xuống đất.'
“God is now testing and proving His people. Character is being developed. Angels are weighing moral worth, and keeping a faithful record of all the acts of the children of men. Among God’s professed people are corrupt hearts; but they will be tested and proved. That God who reads the hearts of everyone, will bring to light hidden things of darkness where they are often least suspected, that stumbling blocks which have hindered the progress of truth may be removed, and God have a clean and holy people to declare His statutes and judgments.
Hiện nay Đức Chúa Trời đang thử thách và chứng nghiệm dân sự của Ngài. Phẩm cách đang được tôi luyện. Các thiên sứ đang cân đo giá trị đạo đức và ghi chép trung thực mọi hành động của con cái loài người. Giữa vòng những người tự xưng là dân của Đức Chúa Trời có những tấm lòng bại hoại; nhưng họ sẽ bị thử thách và chứng nghiệm. Chính Đức Chúa Trời, Đấng thấu suốt lòng dạ mỗi người, sẽ đem ra ánh sáng những điều kín giấu trong bóng tối ở những nơi người ta thường ít ngờ tới, để những dịp vấp phạm đã cản trở đà tiến của lẽ thật được dẹp bỏ, và để Đức Chúa Trời có một dân sự tinh sạch và thánh khiết rao truyền các luật lệ và phán quyết của Ngài.
“The Captain of our salvation leads His people on step by step, purifying and fitting them for translation, and leaving in the rear those who are disposed to draw off from the body, who are not willing to be led, and are satisfied with their own righteousness. ‘If therefore the light that is in thee be darkness, how great is that darkness!’ No greater delusion can deceive the human mind than that which leads men to indulge a self-confident spirit, to believe that they are right and in the light, when they are drawing away from God’s people, and their cherished light is darkness.” Testimonies, volume 1, 332, 333.
Vị Chỉ Huy của sự cứu rỗi chúng ta dẫn dắt dân Ngài từng bước một, thanh luyện và chuẩn bị họ cho sự biến hóa, và để lại phía sau những kẻ có khuynh hướng tách rời khỏi thân thể, những kẻ không sẵn lòng để được dẫn dắt và thỏa mãn với sự công chính của riêng mình. “Vậy nếu sự sáng ở trong ngươi trở nên tối tăm, thì sự tối tăm ấy lớn là dường nào!” Không có ảo tưởng nào có thể mê hoặc tâm trí con người lớn hơn điều khiến người ta chiều theo một tinh thần tự tin nơi chính mình, tin rằng họ là đúng và ở trong sự sáng, trong khi họ đang xa rời dân của Đức Chúa Trời, và ánh sáng mà họ trân quý lại là tối tăm. Lời Chứng, tập 1, trang 332, 333.
The phrase “bringeth good tidings” is repeated twice in the passage of Isaiah to identify the history of the Midnight Cry, as does the verses that lead to Isaiah’s description of the unity that is accomplished when the precious is separated from the vile.
Cụm từ "đem tin mừng" được lặp lại hai lần trong đoạn sách Ê-sai để chỉ ra lịch sử của Tiếng Kêu Nửa Đêm, cũng như các câu dẫn tới lời mô tả của Ê-sai về sự hiệp nhất đạt được khi điều quý giá được tách khỏi điều xấu xa.
Awake, awake; put on thy strength, O Zion; put on thy beautiful garments, O Jerusalem, the holy city: for henceforth there shall no more come into thee the uncircumcised and the unclean. Shake thyself from the dust; arise, and sit down, O Jerusalem: loose thyself from the bands of thy neck, O captive daughter of Zion. Isaiah 52:1, 2.
Hãy tỉnh dậy, hãy tỉnh dậy; hãy mặc lấy sức mạnh của ngươi, hỡi Si-ôn; hãy mặc lấy y phục đẹp đẽ của ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem, thành thánh; vì từ nay về sau, kẻ không chịu cắt bì và kẻ ô uế sẽ chẳng còn vào ngươi nữa. Hãy rũ bụi khỏi mình; hãy trỗi dậy, và ngồi xuống, hỡi Giê-ru-sa-lem; hãy cởi các xiềng xích nơi cổ ngươi, hỡi con gái Si-ôn bị giam cầm. Ê-sai 52:1, 2.
Jeremiah represents those in the first disappointment, that recognize they are in the tarrying time. Isaiah commands those same persons to “awake, awake.” They awake and ultimately arrive to a point where there will no longer be any uncircumcised and unclean in God’s church, for they will have accomplished the work of separating the precious and the vile. “The Lord would have his church purified, before his judgments shall fall more signally upon the world.”
Giê-rê-mi đại diện cho những người trong sự thất vọng thứ nhất, những người nhận ra rằng họ đang ở thời kỳ trì hoãn. Ê-sai truyền cho chính những người ấy: “Hãy tỉnh thức, hãy tỉnh thức.” Họ tỉnh thức và rốt cuộc đi đến chỗ trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời sẽ không còn kẻ không cắt bì và ô uế nữa, vì họ đã hoàn tất công việc tách biệt điều quý báu khỏi điều xấu xa. “Chúa muốn Hội Thánh của Ngài được tinh sạch, trước khi các sự phán xét của Ngài giáng xuống cách rõ rệt hơn trên thế gian.”
“We are rapidly nearing the close of this earth’s history. The end is very near, much nearer than many suppose, and I feel burdened to urge upon our people the necessity of seeking the Lord earnestly. Many are asleep, and what can be said to arouse them from their carnal slumber? The Lord would have his church purified, before his judgments shall fall more signally upon the world.
Chúng ta đang nhanh chóng tiến gần đến hồi kết của lịch sử thế gian này. Sự kết thúc đã rất gần, gần hơn nhiều so với điều nhiều người tưởng, và tôi cảm thấy gánh nặng phải thúc giục dân chúng ta về sự cần thiết phải tìm kiếm Chúa cách tha thiết. Nhiều người đang ngủ mê; có thể nói gì để đánh thức họ khỏi giấc ngủ thuộc xác thịt? Chúa muốn Hội Thánh của Ngài được tinh sạch, trước khi các sự phán xét của Ngài giáng xuống thế gian cách rõ rệt hơn.
“‘Who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: and he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness.’
'Ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Và ai sẽ đứng vững khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, như thuốc tẩy của thợ giặt; Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và người tẩy luyện bạc; Ngài sẽ làm tinh sạch các con trai Lê-vi, tẩy luyện họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Chúa một của lễ trong sự công chính.'
“Christ will remove every pretentious cloak. No mingling of the true with the spurious can deceive him. ‘He is like a refiner’s fire,’ separating the precious from the vile, the dross from the gold.
Đấng Christ sẽ lột bỏ mọi tấm áo che đậy giả hình. Không sự pha trộn nào giữa thật và giả mạo có thể lừa dối Ngài. “Ngài như lửa của thợ luyện kim,” tách biệt điều quý giá khỏi điều xấu xa, tạp chất khỏi vàng.
“Like the Levites, God’s chosen people are set apart by him for his special work. Every true Christian bears priestly credentials. He is honored with the sacred responsibility of representing to the world the character of his Heavenly Father. He is to heed well the words, ‘Be ye therefore perfect, even as your Father which is in heaven is perfect.’
Giống như người Lê-vi, dân tuyển của Đức Chúa Trời được Ngài biệt riêng ra cho công việc đặc biệt của Ngài. Mỗi Cơ Đốc nhân chân thật đều mang tư cách tư tế. Người ấy được vinh dự mang lấy trách nhiệm thiêng liêng là đại diện trước thế gian bày tỏ bản tính của Cha ở trên trời. Người ấy phải lưu tâm đến lời này: 'Vậy, hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn.'
“‘But unto you that fear my name shall the Sun of Righteousness arise with healing in his wings; and ye shall go forth, and grow up as calves of the stall. And ye shall tread down the wicked; for they shall be ashes under the soles of your feet in the day that I shall do this, saith the Lord of hosts.
'Nhưng đối với các ngươi là những người kính sợ danh Ta, Mặt Trời của Sự Công Chính sẽ mọc lên với sự chữa lành nơi cánh của Ngài; và các ngươi sẽ đi ra và lớn lên như những bò con nuôi chuồng. Và các ngươi sẽ giày đạp kẻ ác; vì chúng sẽ là tro bụi dưới lòng bàn chân các ngươi trong ngày Ta làm điều này, Đức Giê-hô-va vạn quân phán.
“‘Remember ye the law of Moses my servant, which I commanded unto him in Horeb for all Israel, with the statutes and the judgments. Behold, I will send you Elijah the prophet before the coming of the great and dreadful day of the Lord: and he shall turn the heart of the fathers to the children, and the heart of the children to their fathers, lest I come and smite the earth with a curse.’” Review and Herald, November 8, 1906.
"'Hãy nhớ luật pháp của Môi-se, đầy tớ Ta, điều Ta đã truyền cho người tại Hô-rếp cho cả Y-sơ-ra-ên, cùng với các điều lệ và các phán quyết. Kìa, Ta sẽ sai tiên tri Ê-li đến với các ngươi trước khi ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va đến; và người sẽ làm cho lòng của những người cha hướng về con cái, và lòng của con cái hướng về cha mình, kẻo Ta đến mà giáng lời nguyền rủa trên đất.'" Review and Herald, ngày 8 tháng 11, 1906.
Those that hold to false doctrines will be separated in the history that begins with the “voice” crying in the wilderness. Those who refuse to allow the creative power of God to produce a personal sanctified experience, will be separated from the “gold” in the history that begins with the “voice” crying in the wilderness. They will remain as Laodiceans, right at the point where Laodicea transcends into Philadelphia.
Những người theo các giáo lý sai lạc sẽ bị tách biệt trong lịch sử khởi đầu với "tiếng" kêu trong đồng vắng. Những ai từ chối để quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời tạo nên một kinh nghiệm thánh hóa cá nhân sẽ bị tách khỏi "vàng" trong lịch sử khởi đầu với "tiếng" kêu trong đồng vắng. Họ sẽ vẫn là những người Laodicea, ngay tại điểm Laodicea bước sang Philadelphia.
The work of separating the precious from the vile is almost totally the work of the messenger of the covenant who comes suddenly to purify the sons of Levi, but we must participate.
Công việc tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn hạ hầu như hoàn toàn là công việc của sứ giả của giao ước, Đấng đến cách thình lình để tinh sạch các con cái Lê-vi, nhưng chúng ta cũng phải dự phần.
Wherefore, my beloved, as ye have always obeyed, not as in my presence only, but now much more in my absence, work out your own salvation with fear and trembling. For it is God which worketh in you both to will and to do of his good pleasure. Do all things without murmurings and disputings: That ye may be blameless and harmless, the sons of God, without rebuke, in the midst of a crooked and perverse nation, among whom ye shine as lights in the world. Philippians 2:12–15.
Vậy, anh em yêu dấu của tôi, như anh em vẫn luôn vâng lời, không phải chỉ khi tôi có mặt, nhưng bây giờ lại càng hơn khi tôi vắng mặt, hãy ra sức thực hiện sự cứu rỗi của chính mình với lòng kính sợ và run rẩy. Vì chính Đức Chúa Trời là Đấng đang hành động trong anh em, khiến anh em vừa muốn vừa làm theo ý muốn tốt lành của Ngài. Hãy làm mọi việc không cằn nhằn và tranh cãi, để anh em được không chỗ trách và trong sạch, là con cái Đức Chúa Trời không chỗ trách cứ, ở giữa một thế hệ quanh co và bại hoại, giữa đó anh em chiếu sáng như những vì sao trong thế gian. Phi-líp 2:12-15.
Jeremiah was told to separate the precious from the vile if he desired to be God’s spokesman in the coming judgment. The fact that Jeremiah was hearing God’s counsel to him, demonstrated the presence of the Comforter was already available if he chose to take up the work.
Giê-rê-mi được bảo phải phân biệt điều quý ra khỏi điều hèn nếu ông muốn trở thành người phát ngôn của Đức Chúa Trời trong cuộc phán xét sắp tới. Thực tế là Giê-rê-mi đang nghe lời khuyên của Đức Chúa Trời dành cho ông chứng tỏ rằng Đấng An Ủi đã hiện diện và sẵn sàng, nếu ông chọn đảm nhận công việc ấy.
“The work of gaining salvation is one of copartnership, a joint operation. There is to be co-operation between God and the repentant sinner. This is necessary for the formation of right principles in the character. Man is to make earnest efforts to overcome that which hinders him from attaining to perfection. But he is wholly dependent upon God for success. Human effort of itself is not sufficient. Without the aid of divine power it avails nothing. God works and man works. Resistance of temptation must come from man, who must draw his power from God. On the one side there is infinite wisdom, compassion, and power; on the other, weakness, sinfulness, absolute helplessness.
Công cuộc đạt được ơn cứu rỗi là một sự cộng tác, một hoạt động chung. Có sự cộng tác giữa Đức Chúa Trời và tội nhân ăn năn. Điều này là cần thiết cho việc hình thành những nguyên tắc đúng đắn trong nhân cách. Con người phải hết lòng cố gắng để vượt qua những gì cản trở mình đạt đến sự trọn lành. Nhưng con người lại hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời để được thành công. Nỗ lực của con người tự nó thì không đủ. Không có sự trợ giúp của quyền năng Đức Chúa Trời thì chẳng ích gì. Đức Chúa Trời làm việc và con người cũng làm việc. Sự chống lại cám dỗ phải xuất phát từ con người, và con người phải nhận sức mạnh từ Đức Chúa Trời. Một bên là sự khôn ngoan, lòng thương xót và quyền năng vô hạn; bên kia là sự yếu đuối, tội lỗi, sự bất lực tuyệt đối.
“God wishes us to have the mastery over ourselves. But He cannot help us without our consent and co-operation. The divine Spirit works through the powers and faculties given to man. Of ourselves, we are not able to bring the purposes and desires and inclinations into harmony with the will of God; but if we are ‘willing to be made willing,’ the Saviour will accomplish this for us, ‘Casting down imaginations, and every high thing that exalteth itself against the knowledge of God, and bringing into captivity every thought to the obedience of Christ.’ 2 Corinthians 10:5.” Acts of the Apostles, 482.
"Đức Chúa Trời muốn chúng ta có quyền làm chủ chính mình. Nhưng Ngài không thể giúp chúng ta nếu không có sự ưng thuận và hợp tác của chúng ta. Thần Linh của Đức Chúa Trời hành động qua những năng lực và khả năng đã được ban cho con người. Tự sức mình, chúng ta không thể làm cho các mục đích, ước muốn và khuynh hướng của mình hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời; nhưng nếu chúng ta 'sẵn lòng để được làm cho sẵn lòng,' thì Đấng Cứu Rỗi sẽ hoàn thành điều này cho chúng ta, 'đánh đổ các lý luận và mọi sự cao ngạo tự cất mình lên nghịch cùng sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, và bắt hết mọi ý tưởng làm tù để vâng phục Đấng Christ.' 2 Cô-rinh-tô 10:5." Công Vụ Các Sứ Đồ, 482.
The three and a half days of Revelation eleven, when the dry bones are dead in the street, is a symbol of a “wilderness,” and a “wilderness” represents the “seven times” of Leviticus twenty-six. At the end of the scattering of the three and a half days, those called to be among the one hundred and forty-four thousand are to “awake” and “shake off the dust.” Sister White says “The Lord would have his church purified, before his judgments shall fall more signally upon the world.”
Ba ngày rưỡi trong Khải Huyền đoạn mười một, khi những xương khô nằm chết ngoài đường, là biểu tượng của một "đồng vắng", và "đồng vắng" tượng trưng cho "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Đến cuối kỳ tản lạc của ba ngày rưỡi ấy, những người được kêu gọi ở trong số một trăm bốn mươi bốn ngàn sẽ "thức dậy" và "rũ bụi". Bà White nói: "Chúa muốn Hội Thánh của Ngài được tinh sạch, trước khi những sự phán xét của Ngài giáng xuống cách rõ rệt hơn trên thế gian."
In connection with a “purified church” she references Jeremiah’s separation process that removes the “precious from the vile.” She also connects it with Malachi chapter three, where a messenger prepares the way for the messenger of the covenant. The messenger that prepares the way is Isaiah’s “voice crying in the wilderness.” The messenger of the covenant is Christ, who is preparing to enter into covenant with the one hundred and forty-four thousand, who “like” “the Levites,” “are set apart by him for his special work.” She then identifies them as priests, and quotes Jesus who says, “Be ye therefore perfect, even as your Father which is in heaven is perfect.”
Liên quan đến một "hội thánh được tinh sạch," bà dẫn chiếu đến tiến trình phân rẽ của Giê-rê-mi-a, tiến trình loại bỏ "điều quý khỏi điều hèn." Bà cũng liên kết điều đó với Ma-la-chi chương ba, nơi một sứ giả dọn đường cho sứ giả của giao ước. Sứ giả dọn đường ấy là "tiếng kêu trong đồng vắng" của Ê-sai. Sứ giả của giao ước là Đấng Christ, Đấng đang chuẩn bị bước vào giao ước với một trăm bốn mươi bốn nghìn người, những người "giống như" "người Lê-vi," "được Ngài biệt riêng ra cho công việc đặc biệt của Ngài." Bà sau đó xác định họ là các thầy tế lễ, và trích lời Chúa Giê-su: "Vậy hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn."
There is a purification process that is marked at the end of the period of the tarrying time, for the Lord has a special work for the one hundred and forty-four thousand to accomplish, and He will have a purified church before “his judgments shall fall more signally upon the world.” His judgments are already in the world, but at the Sunday law, “God’s destructive judgments” begin to fall.
Có một quá trình thanh luyện được ghi dấu vào cuối thời kỳ chậm trễ, vì Chúa có một công tác đặc biệt cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người phải hoàn thành, và Ngài sẽ có một Hội Thánh đã được thanh luyện trước khi "các sự phán xét của Ngài sẽ giáng xuống thế gian cách rõ rệt hơn." Những sự phán xét của Ngài hiện đã ở trong thế gian, nhưng đến khi có luật Chủ nhật, "những sự phán xét hủy diệt của Đức Chúa Trời" bắt đầu giáng xuống.
Those judgments are a “time of mercy for those who have never known the truth.” But there is no mercy in those judgments for those who would not enter into the necessary purification process. The “judgments,” which “fall more signally” identify judgments that are signs. They represent a signal, and the Holy Spirit uses the chaos and confusion accomplished by those judgments, to mark a distinction between those who keep “the spurious rest day” and those who “conscientiously keep the Sabbath of the Lord,” for this is the only way the “world can be warned.” The judgments that are signals are the backdrop that the Holy Spirit uses to direct God’s children that are still in Babylon, to recognize the ensign of the one hundred and forty-four thousand.
Những sự phán xét đó là một “thời kỳ thương xót cho những ai chưa từng biết lẽ thật.” Nhưng không có sự thương xót nào trong những sự phán xét ấy dành cho những người không chịu bước vào tiến trình thanh luyện cần thiết. Những “sự phán xét,” vốn “giáng xuống một cách rõ rệt hơn,” là những phán xét mang tính dấu hiệu. Chúng là một tín hiệu, và Đức Thánh Linh dùng sự hỗn loạn và rối ren do những sự phán xét đó gây ra để đánh dấu sự phân biệt giữa những người giữ “ngày nghỉ giả mạo” và những người “giữ ngày Sa-bát của Chúa cách trung tín,” vì đây là cách duy nhất “thế gian có thể được cảnh báo.” Những sự phán xét mang tính tín hiệu ấy là bối cảnh mà Đức Thánh Linh dùng để hướng dẫn các con cái của Đức Chúa Trời còn ở trong Ba-by-lôn nhận ra tiêu kỳ của một trăm bốn mươi bốn ngàn.
But Sister White doesn’t simply reference Malachi chapter three, she also includes the closing verses of the book of Malachi chapter four, and once again references the “voice” that was to prepare the way for the messenger of the covenant. Those closing verses are not about the preparation for the messenger of the covenant, they are about remembering the law of Moses, and the turning of the hearts of the fathers to the children and vice versa. The “voice” first prepares for Christ, as the messenger of the covenant, to suddenly come to His temple and purify His disappointed people who have been awakened, that they might accomplish the work of the ensign. Then Malachi addresses another aspect of the work of the “voice.”
Nhưng Bà White không chỉ trích dẫn chương ba của Ma-la-chi, bà còn đưa vào những câu kết của chương bốn trong sách Ma-la-chi, và một lần nữa nhắc đến “tiếng” sẽ dọn đường cho sứ giả của giao ước. Những câu kết đó không nói về sự chuẩn bị cho sứ giả của giao ước; chúng nói về việc ghi nhớ luật pháp của Môi-se, và việc khiến lòng cha quay về với con và lòng con quay về với cha. “Tiếng” trước hết dọn đường để Đấng Christ, như sứ giả của giao ước, bất ngờ đến đền thờ của Ngài và thanh luyện dân Ngài, những người thất vọng đã được thức tỉnh, hầu cho họ có thể hoàn thành công việc của cờ xí. Rồi Ma-la-chi đề cập đến một khía cạnh khác của công việc của “tiếng”.
He “shall turn the heart of the fathers to the children, and the heart of the children to their fathers,” and He will do this work in relation to the law given at Horeb. Elijah, who is also Isaiah’s “voice,” will identify the sins of God’s people. It is part of the purification process. There is only one definition of sin, that being the transgression of the law given at Horeb. John the Baptist was Elijah, and his work included that very element.
Ngài "sẽ khiến lòng các người cha quay về với con cái, và lòng con cái quay về với cha mình", và Ngài sẽ làm công việc này liên quan đến luật pháp đã được ban tại Hô-rếp. Ê-li, cũng là "tiếng nói" của Ê-sai, sẽ chỉ ra tội lỗi của dân Đức Chúa Trời. Đó là một phần của tiến trình thanh tẩy. Chỉ có một định nghĩa về tội lỗi, ấy là sự vi phạm luật pháp đã được ban tại Hô-rếp. Giăng Báp-tít chính là Ê-li, và công việc của ông có bao gồm chính yếu tố ấy.
In those days came John the Baptist, preaching in the wilderness of Judaea, And saying, Repent ye: for the kingdom of heaven is at hand. For this is he that was spoken of by the prophet Esaias, saying, The voice of one crying in the wilderness, Prepare ye the way of the Lord, make his paths straight. And the same John had his raiment of camel’s hair, and a leathern girdle about his loins; and his meat was locusts and wild honey. Then went out to him Jerusalem, and all Judaea, and all the region round about Jordan, And were baptized of him in Jordan, confessing their sins. But when he saw many of the Pharisees and Sadducees come to his baptism, he said unto them, O generation of vipers, who hath warned you to flee from the wrath to come?
Trong những ngày ấy, Giăng Báp-tít đến rao giảng trong hoang mạc xứ Giu-đê, và nói: Hãy ăn năn, vì Nước Trời đã đến gần. Vì ông chính là người mà tiên tri Ê-sai đã nói đến: Tiếng của một người kêu trong hoang mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, sửa cho thẳng các lối của Ngài. Chính Giăng ấy mặc áo bằng lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da quanh hông; thức ăn của ông là châu chấu và mật ong rừng. Bấy giờ, dân Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê và khắp vùng chung quanh sông Giô-đanh đều đến với ông, và chịu ông làm phép báp-têm trong sông Giô-đanh, xưng thú tội lỗi mình. Nhưng khi thấy nhiều người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến dự phép báp-têm, ông nói với họ: Hỡi dòng dõi rắn độc, ai đã cảnh báo các ngươi để trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến?
Bring forth therefore fruits meet for repentance: And think not to say within yourselves, We have Abraham to our father: for I say unto you, that God is able of these stones to raise up children unto Abraham. And now also the ax is laid unto the root of the trees: therefore every tree which bringeth not forth good fruit is hewn down, and cast into the fire. I indeed baptize you with water unto repentance: but he that cometh after me is mightier than I, whose shoes I am not worthy to bear: he shall baptize you with the Holy Ghost, and with fire: Whose fan is in his hand, and he will thoroughly purge his floor, and gather his wheat into the garner; but he will burn up the chaff with unquenchable fire. Matthew 3:1–12.
Vậy hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nhủ trong lòng rằng: “Chúng ta có Áp-ra-ham làm cha,” vì ta nói với các ngươi: Đức Chúa Trời có thể từ những hòn đá này dựng nên con cái cho Áp-ra-ham. Hiện nay rìu đã đặt kề gốc cây; vậy hễ cây nào không sinh trái tốt thì bị đốn và quăng vào lửa. Phần ta, ta làm báp-tem cho các ngươi bằng nước để ăn năn; nhưng Đấng đến sau ta thì quyền năng hơn ta, ta không đáng xách dép cho Ngài; Ngài sẽ làm báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa. Cái nia ở trong tay Ngài; Ngài sẽ rê sạch sân lúa mình, thu lúa vào kho; còn trấu thì sẽ bị đốt bằng lửa không hề tắt. Ma-thi-ơ 3:1-12.
John the Baptist came to the “wilderness” of the three and a half days of Revelation eleven, for all the prophets are speaking more of the last days, than the days in which they lived. He brought a message to repent from sin, for the kingdom of heaven was at hand, just as the Revelation of Jesus Christ is opened up when “the time is at hand.” John the Baptist illustrates the work of the “voice,” for according to Jesus, he was also Elijah that was to come.
Giăng Báp-tít đã đến với “đồng vắng” của ba ngày rưỡi trong Khải Huyền đoạn mười một, vì mọi đấng tiên tri nói về những ngày sau rốt nhiều hơn là về những ngày họ đang sống. Ông đem đến sứ điệp kêu gọi ăn năn tội lỗi, vì Nước Trời đã đến gần, cũng như Khải Huyền của Đức Chúa Jêsus Christ được mở ra khi “thì giờ đã gần.” Giăng Báp-tít minh họa công việc của “tiếng kêu,” vì theo lời Đức Chúa Jêsus, ông cũng là Ê-li phải đến.
For all the prophets and the law prophesied until John. And if ye will receive it, this is Elias, which was for to come. He that hath ears to hear, let him hear. Matthew 11:13–15.
Vì hết thảy các đấng tiên tri và Luật pháp đã nói tiên tri cho đến Giăng. Và nếu các ngươi muốn nhận điều ấy, thì ấy là Ê-li, là người phải đến. Ai có tai mà nghe, hãy nghe. Ma-thi-ơ 11:13-15.
Jesus identifies that the prophetic identity of John the Baptist was a test. He states directly, “if ye will receive it”. Then Jesus encourages His disciples to receive it by saying, “He that hath ears to hear, let him hear.” Let him hear what? Let him hear who the voice is that comes to the final wilderness of the Bible, and prepares the way for the messenger of the covenant to prepare the one hundred and forty-four thousand to do a special work during a time of the signal judgments of God.
Chúa Giê-su xác định rằng căn tính tiên tri của Giăng Báp-tít là một phép thử. Ngài nói thẳng: "nếu anh em chịu nhận lấy điều ấy". Rồi Chúa Giê-su khích lệ các môn đồ tiếp nhận điều ấy bằng cách nói: "Ai có tai để nghe, hãy nghe." Nghe điều gì? Hãy nghe xem tiếng nói ấy là ai, tiếng nói đến với hoang mạc cuối cùng trong Kinh Thánh, và dọn đường cho sứ giả của giao ước để chuẩn bị cho một trăm bốn mươi bốn ngàn người thực hiện một công tác đặc biệt trong thời kỳ những sự phán xét báo hiệu của Đức Chúa Trời.
John wore “a raiment of camel’s hair, and a leathern girdle about his loins; and his meat was locusts and wild honey.” His “meat” was the message of Islam, for the word “locusts” represents Islam, and honey is the word of God, that was sweet in his mouth. The sweet message he ate was about the “wild” Arabian ass, the very first symbol of Islam in the Scriptures. The sweet message of the wild Arabian ass of Islam, which is also represented by “locusts” was also woven into his raiment, for camel’s are another symbol of Islam. It is not a wresting of the word “locusts” to use it as a symbol of Islam, even if the food John ate was referencing the locust tree, and not the insects. The word “locusts” is a symbol of Islam, and John was not representing the eating of any physical food, his diet was a symbol of the prophetic message he had eaten.
John mặc "một y phục bằng lông lạc đà, và một thắt lưng bằng da quanh hông; và thức ăn của ông là châu chấu và mật ong rừng." "Thức ăn" của ông là thông điệp của Hồi giáo, vì từ "châu chấu" tượng trưng cho Hồi giáo, và mật ong là lời của Đức Chúa Trời, lời ấy đã ngọt trong miệng ông. Sứ điệp ngọt ngào mà ông ăn là về con lừa Ả Rập hoang dã, biểu tượng đầu tiên của Hồi giáo trong Kinh Thánh. Sứ điệp ngọt ngào về con lừa Ả Rập hoang dã của Hồi giáo, vốn cũng được biểu trưng bằng "châu chấu", cũng được dệt vào y phục của ông, vì lạc đà cũng là một biểu tượng khác của Hồi giáo. Việc dùng từ "châu chấu" làm biểu tượng cho Hồi giáo không phải là bóp méo ý nghĩa của từ này, dẫu cho món ăn mà John đã ăn ám chỉ cây châu chấu chứ không phải loài côn trùng. Từ "châu chấu" là một biểu tượng của Hồi giáo, và John không hề nói đến việc ăn bất kỳ thức ăn vật chất nào; chế độ ăn của ông là biểu tượng cho sứ điệp tiên tri mà ông đã ăn.
His girdle was the “prophecy” represented in Habakkuk. That prophecy brings together the first disappointment, the tarrying time of the virgins, and the foundations of Adventism as represented upon the sacred charts. Habakkuk was the prophetic girdle that bound all those truths together.
Dây lưng của ông là “lời tiên tri” được thể hiện trong sách Habakkuk. Lời tiên tri ấy kết nối nỗi thất vọng đầu tiên, thời kỳ trì hoãn của các trinh nữ, và những nền tảng của phong trào Phục Lâm như được trình bày trên các biểu đồ thiêng liêng. Habakkuk là dây lưng tiên tri đã gắn kết tất cả những lẽ thật ấy lại với nhau.
For the vision is yet for an appointed time, but at the end it shall speak, and not lie: though it tarry, wait for it; because it will surely come, it will not tarry. Behold, his soul which is lifted up is not upright in him: but the just shall live by his faith. Habakkuk 2:3, 4.
Vì khải tượng còn đợi đến kỳ đã định, nhưng đến cuối cùng nó sẽ tỏ ra và không sai dối; dẫu nó chậm trễ, hãy chờ đợi nó, vì chắc chắn nó sẽ đến, sẽ không chậm trễ. Kìa, linh hồn kẻ kiêu ngạo không ngay thẳng trong người ấy; nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin của mình. Ha-ba-cúc 2:3, 4.
The prophetic message that bound together as a girdle the messages that make up the warning of the “voice,” is the parable of the virgins in relation to the vision that tarried, but would speak. The vision of the Midnight Cry produces a distinction between the vile, whose “soul is lifted up” and the precious, who are justified by faith. Justification by faith is the girdle the “voice” wears.
Sứ điệp tiên tri, vốn buộc các sứ điệp hợp thành lời cảnh báo của “tiếng nói” lại với nhau như một đai lưng, chính là dụ ngôn về các trinh nữ liên quan đến khải tượng đã trì hoãn nhưng sẽ phán. Khải tượng về Tiếng Kêu Nửa Đêm tạo ra sự phân biệt giữa những kẻ đê tiện, những kẻ có “linh hồn được nâng lên”, và những người quý báu, là những người được xưng công chính bởi đức tin. Sự xưng công chính bởi đức tin là đai lưng mà “tiếng nói” thắt.
And righteousness shall be the girdle of his loins, and faithfulness the girdle of his reins. Isaiah 11:5.
Và sự công chính sẽ là đai thắt lưng của Ngài, và sự trung tín sẽ là đai thắt nơi hông Ngài. Ê-sai 11:5.
When the “voice crying in the wilderness” of the disappointment arrived, after the disappointment of July 18, 2020, his message was the same message that it had been since September 11, 2001. That message from Elijah to come, to the waiting disappointed dead dry bones is, that Islam is the “signal judgments,” that provide the backdrop for God’s other children in Babylon to learn righteousness.
Khi “tiếng kêu trong đồng vắng” của sự thất vọng xuất hiện, sau sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020, thông điệp của ông vẫn y như từ ngày 11 tháng 9 năm 2001. Thông điệp ấy, từ Elijah sẽ đến, gửi đến những bộ xương khô chết đang chờ đợi trong thất vọng, là rằng Hồi giáo chính là những “phán xét báo hiệu”, tạo nên bối cảnh để những người con khác của Đức Chúa Trời ở Babylon học sự công chính.
The way of the just is uprightness: thou, most upright, dost weigh the path of the just. Yea, in the way of thy judgments, O Lord, have we waited for thee; the desire of our soul is to thy name, and to the remembrance of thee. With my soul have I desired thee in the night; yea, with my spirit within me will I seek thee early: for when thy judgments are in the earth, the inhabitants of the world will learn righteousness. Isaiah 26:7–9.
Đường của người công chính là ngay thẳng; Ngài, Đấng rất ngay thẳng, cân nhắc con đường của người công chính. Phải, trong đường lối các phán quyết của Ngài, lạy Chúa, chúng con đã trông đợi Ngài; ước ao của linh hồn chúng con là hướng về danh Ngài và sự tưởng nhớ đến Ngài. Linh hồn tôi đã ao ước Ngài trong đêm; vâng, với thần linh ở trong tôi, tôi sẽ tìm kiếm Ngài từ sớm; vì khi các phán quyết của Ngài ở trên đất, dân cư thế gian sẽ học biết sự công chính. Ê-sai 26:7-9.
John the Baptist, who was Elijah to come, is the “voice” in the “wilderness” of the three and a half days of Revelation chapter eleven. His work includes identifying the fourth and final generation of Adventism, whose souls are lifted up and who are trusting in the spiritual heritage of their fathers, but sense that the wrath of God is about to come. They are the fourth generation, for they have fully manifested into a generation that is just the opposite of Christ. They are the generation of vipers, but they still point to their father Abraham, to argue that they are actually the generation of the Lamb. The generation of the Lamb are Peter’s chosen generation, they are those who follow the Lamb whithersoever he goeth.
Giăng Báp-tít, người là Ê-li sẽ đến, là “tiếng” trong “đồng vắng” của ba ngày rưỡi trong Khải Huyền đoạn mười một. Công việc của ông bao gồm việc nhận diện thế hệ thứ tư và cuối cùng của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, những người có lòng kiêu ngạo và đang cậy vào di sản thuộc linh của tổ phụ mình, nhưng cảm nhận rằng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sắp giáng đến. Họ là thế hệ thứ tư, vì họ đã bộc lộ trọn vẹn thành một thế hệ hoàn toàn trái ngược với Đấng Christ. Họ là dòng dõi rắn độc, nhưng họ vẫn chỉ vào tổ phụ Áp-ra-ham để lập luận rằng thật ra họ là dòng dõi của Chiên Con. Dòng dõi của Chiên Con là “dòng dõi được chọn” của Phi-e-rơ; họ là những người theo Chiên Con bất cứ Ngài đi đâu.
John obviously presented the sins of those who came to hear his message, for they repented and were baptized. He also informed them that there is One who would follow him, that would thoroughly purge His floor. That Person is the messenger of the covenant, He is “the dirt brush man” who sweeps the counterfeit coins and jewels out the window and restores the original jewels, that then shine ten times brighter than they did when William Miller was directed by angels in the work of assembling the original jewels in the movement of the first angel.
Rõ ràng Giăng đã nêu ra tội lỗi của những người đến nghe sứ điệp của ông, vì họ đã ăn năn và chịu báp-têm. Ông cũng cho họ biết rằng có Một Đấng sẽ đến sau ông, Đấng sẽ làm sạch hoàn toàn sân đạp lúa của Ngài. Đấng ấy là sứ giả của giao ước; Ngài là "người quét bụi" quét những đồng tiền và châu báu giả ra ngoài cửa sổ và khôi phục những châu báu nguyên thủy, để rồi chúng chiếu sáng rực rỡ gấp mười lần so với khi William Miller được các thiên sứ hướng dẫn trong công việc thu góp những châu báu nguyên thủy trong phong trào của thiên sứ thứ nhất.
John the Baptist was direct in his denunciation of the Laodicean Adventist’s confidence in their father Abraham, for Elijah to come was to turn the hearts of the fathers to the children and vice versa. The principle of biblical application of the first and the last is represented in that work, but so too, is the remedy for those who find themselves in a scattered condition, in the enemies’ land, dead in the wilderness. They must recognize their sins, and the sins of their fathers and repent. In conjunction with recognizing their sins and the father’s sins, they must also admit that they had not been walking with the Lord during the period of the wilderness of three and a half days. Furthermore, they must admit that God was not walking with them during that history.
Giăng Báp-tít đã thẳng thừng lên án sự tin cậy nơi tổ phụ Áp-ra-ham của những người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, vì Ê-li sẽ đến để làm cho lòng cha quay về con cái, và ngược lại. Nguyên tắc Kinh Thánh về sự áp dụng “điều đầu và điều cuối” được thể hiện trong công việc ấy; đồng thời cũng có phương thuốc cho những ai thấy mình ở trong tình trạng bị tản lạc, trên đất của kẻ thù, chết giữa đồng vắng. Họ phải nhận biết tội lỗi của mình và tội lỗi của cha ông mình mà ăn năn. Cùng với việc nhận biết tội lỗi của mình và của cha ông, họ cũng phải thừa nhận rằng họ đã không bước đi với Chúa trong thời kỳ đồng vắng ba ngày rưỡi. Hơn nữa, họ phải thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã không đồng đi với họ trong giai đoạn lịch sử ấy.
And they that are left of you shall pine away in their iniquity in your enemies’ lands; and also in the iniquities of their fathers shall they pine away with them. If they shall confess their iniquity, and the iniquity of their fathers, with their trespass which they trespassed against me, and that also they have walked contrary unto me; And that I also have walked contrary unto them, and have brought them into the land of their enemies; if then their uncircumcised hearts be humbled, and they then accept of the punishment of their iniquity: Then will I remember my covenant with Jacob, and also my covenant with Isaac, and also my covenant with Abraham will I remember; and I will remember the land. Leviticus 26:39–42.
Những người còn sót lại trong các ngươi sẽ hao mòn vì tội ác của mình trong các xứ của kẻ thù các ngươi; họ cũng sẽ hao mòn cùng với cha ông mình vì tội ác của cha ông mình. Nếu họ xưng nhận tội ác của mình và tội ác của cha ông mình, cùng sự vi phạm mà họ đã phạm nghịch với ta, và rằng họ đã bước đi trái nghịch với ta; và rằng chính ta cũng đã bước đi trái nghịch với họ và đã đưa họ vào xứ của kẻ thù họ; bấy giờ, nếu lòng chưa chịu cắt bì của họ được hạ mình, và họ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình, thì ta sẽ nhớ đến giao ước của ta với Gia-cốp, cũng sẽ nhớ đến giao ước của ta với Y-sác, và giao ước của ta với Áp-ra-ham ta cũng sẽ nhớ đến; và ta sẽ nhớ đến xứ. Lê-vi Ký 26:39-42.
The curse was because they didn’t remember the sabbaths of the land.
Lời nguyền là vì họ đã không nhớ đến các ngày Sa-bát của đất đai.
John the Baptist, who was Elijah to come, typified the “voice” in the wilderness of Revelation eleven’s three and a half days. He would direct the dead dry bones to “remember” Moses’ law at Horeb, and if they did, then the messenger of the covenant would “remember” the covenant of their fathers. But only if they confessed their sins, the sins of their fathers, and more humbling, they were to specify the trespasses “they trespassed against” God.
Gioan Tẩy Giả, người là Êlia sẽ đến, đã tiêu biểu cho “tiếng nói” trong hoang địa của ba ngày rưỡi ở Khải Huyền chương mười một. Ông sẽ chỉ dẫn những bộ xương khô chết “nhớ” luật của Mô-sê tại Hô-rép, và nếu họ làm vậy, thì sứ giả của giao ước sẽ “nhớ” giao ước của các tổ phụ họ. Nhưng chỉ khi họ xưng thú tội lỗi của họ, tội lỗi của cha ông họ, và khiêm nhường hơn nữa, họ phải nêu rõ những sự vi phạm “họ đã vi phạm chống lại” Thiên Chúa.
They would also need to admit that they had been walking “contrary” to God, and that God had been walking “contrary” to them.
Họ cũng cần phải thừa nhận rằng họ đã đi "ngược lại" với Đức Chúa Trời, và rằng Đức Chúa Trời đã đi "ngược lại" với họ.
They would also need to recognize that they were the dead dry bones in the street of Revelation eleven, for they had to admit that God had brought them into the enemy’s land, and the enemy’s land is death.
Họ cũng cần phải nhận ra rằng họ chính là những bộ xương khô chết nằm trên đường phố trong Khải Huyền đoạn mười một, vì họ phải thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã đem họ vào đất của kẻ thù, và đất của kẻ thù là sự chết.
According to John the Baptist, they would also need to answer the question of who the “voice” crying in the “wilderness” is, for John asked, “Who hath warned you to flee from the wrath to come?”
Theo Gioan Tẩy Giả, họ cũng cần phải trả lời câu hỏi ai là "tiếng" kêu trong "hoang mạc", vì Gioan đã hỏi: "Ai đã cảnh báo các ngươi để trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến?"
We will continue these subjects in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục các chủ đề này trong bài viết tiếp theo.
“The minister of God is commanded: ‘Cry aloud, spare not, lift up thy voice like a trumpet, and show My people their transgression, and the house of Jacob their sins.’ The Lord says of these people: ‘They seek Me daily, and delight to know My ways, as a nation that did righteousness.’ Here is a people who are self-deceived, self-righteous, self-complacent, and the minister is commanded to cry aloud and show them their transgressions. In all ages this work has been done for God’s people, and it is needed now more than ever before.” Testimonies, volume 5, 299.
“Người tôi tớ của Đức Chúa Trời được truyền: ‘Hãy kêu lớn tiếng, đừng nín lặng; hãy cất tiếng ngươi lên như kèn, và chỉ cho dân Ta sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp tội lỗi của họ.’ Chúa phán về những người này: ‘Chúng tìm kiếm Ta hằng ngày, và vui thích biết các đường lối của Ta, như một nước đã làm điều công bình.’ Đây là một dân tự lừa dối mình, tự cho mình là công chính, tự mãn, và người tôi tớ được truyền phải kêu lớn tiếng và chỉ cho họ các sự vi phạm của họ. Qua mọi thời đại công việc này đã được thực hiện cho dân của Đức Chúa Trời, và hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết.” Chứng ngôn, tập 5, 299.