The Battle of Panium was essentially spiritual warfare. Just before the Sunday law the eighth president, who is the seventh (fifth) since Ronald Reagan at the time of the end in 1989, who is also the last Republican president, and who is the richest president, and who also stirs up all the realm of globalism, will lead apostate Protestantism in defeating the Greek religion of Pan, which is the “woke-ism” of globalism. In verses eleven and twelve, the history that begins at the Ukraine War in 2014 concludes at the Sunday law in verse sixteen. Verse fifteen is the Battle of Panium, and the Battle of Panium leads to the battle of Actium, which is the Third World War.
Trận chiến Panium về bản chất là chiến tranh thuộc linh. Ngay trước luật ngày Chủ nhật, vị tổng thống thứ tám—người thứ bảy (thứ năm) kể từ Ronald Reagan ở “thời kỳ kết thúc” năm 1989, đồng thời là vị tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa cuối cùng, là tổng thống giàu nhất, và cũng khuấy động toàn bộ cục diện của chủ nghĩa toàn cầu—sẽ dẫn dắt giới Tin Lành bội đạo đánh bại tôn giáo Hy Lạp thờ Pan, vốn là “woke-ism” của chủ nghĩa toàn cầu. Trong các câu 11 và 12, lịch sử bắt đầu từ Chiến tranh Ukraine năm 2014 kết thúc ở luật ngày Chủ nhật trong câu 16. Câu 15 là Trận chiến Panium, và Trận chiến Panium dẫn đến Trận chiến Actium, tức Thế chiến thứ ba.
At the hour of “the great earthquake”, which is the Sunday law of verse sixteen, Islam of the third Woe attacks the United States, angering the nations, and producing national ruin. It is the Battle of Panium that precedes that attack. At the Sunday law the threefold union of the dragon, the beast and false prophet is established.
Vào giờ của “trận động đất lớn”, tức là luật Chủ nhật của câu mười sáu, Hồi giáo thuộc tai họa thứ ba tấn công Hoa Kỳ, khiến các quốc gia phẫn nộ và gây ra sự bại vong quốc gia. Chính Trận Panium đi trước cuộc tấn công đó. Vào thời điểm luật Chủ nhật, liên minh ba bên giữa con rồng, con thú và tiên tri giả được thiết lập.
“By the decree enforcing the institution of the Papacy in violation of the law of God, our nation will disconnect herself fully from righteousness. When Protestantism shall stretch her hand across the gulf to grasp the hand of the Roman power, when she shall reach over the abyss to clasp hands with Spiritualism, when, under the influence of this threefold union, our country shall repudiate every principle of its Constitution as a Protestant and republican government, and shall make provision for the propagation of papal falsehoods and delusions, then we may know that the time has come for the marvelous working of Satan and that the end is near.” Testimonies, volume 5, 451.
"Bởi sắc lệnh buộc thi hành thiết chế của chế độ giáo hoàng, vốn vi phạm luật của Đức Chúa Trời, quốc gia chúng ta sẽ hoàn toàn tự tách mình khỏi sự công chính. Khi Tin Lành vươn tay qua vực ngăn để nắm lấy tay quyền lực La Mã, khi nó với tay qua vực thẳm để bắt tay với Thuyết cầu hồn, khi, dưới ảnh hưởng của liên minh ba bên này, đất nước chúng ta chối bỏ mọi nguyên tắc của Hiến pháp của mình với tư cách là một chính quyền Tin Lành và cộng hòa, và tạo điều kiện cho việc truyền bá những điều dối trá và mê hoặc của giáo quyền La Mã, thì chúng ta có thể biết rằng thời điểm đã đến cho công việc lạ lùng của Sa-tan và rằng sự kết thúc đã gần." Testimonies, tập 5, 451.
At that point, the papacy’s deadly wound is fully healed, and she rules supremely until she finally comes to her end with none to help. It is when Rome conquers the third obstacle that she rules, as represented by pagan Rome in Daniel chapter eight, verse nine, and in chapter eleven, verses sixteen through nineteen. When papal Rome removed the three horns, she ruled supremely for twelve hundred and sixty years, as did pagan Rome rule supremely for three hundred and sixty years once it conquered Egypt, the third obstacle at the Battle of Actium in 31 BC.
Vào thời điểm đó, vết thương chí tử của quyền giáo hoàng được chữa lành hoàn toàn, và quyền lực này cai trị tối thượng cho đến khi cuối cùng nó đi đến kết cuộc mà không ai trợ giúp. Chính khi Rô-ma chinh phục chướng ngại thứ ba thì nó mới cai trị, như được biểu trưng bởi Rô-ma ngoại giáo trong Đa-ni-ên chương tám, câu chín, và trong chương mười một, các câu mười sáu đến mười chín. Khi Giáo quyền Rô-ma nhổ bỏ ba sừng, nó đã cai trị tối thượng trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm, cũng như Rô-ma ngoại giáo đã cai trị tối thượng trong ba trăm sáu mươi năm sau khi chinh phục Ai Cập, chướng ngại thứ ba, tại trận Actium vào năm 31 trước Công nguyên.
In grammar, the suffix “ium” is added to the end of a word to form a noun that denotes a place, a state, or a collection of something. It is commonly used in the formation of technical and scientific terms, particularly in chemistry and biology. For example: “stadium” refers to a place for athletic competitions or other events, “aquarium” refers to a place where aquatic organisms or plants are kept for display and “gymnasium” refers to a place for physical exercise or training. In scientific terminology, “ium” is often used to indicate a chemical element or compound, particularly when the element or compound has been isolated or discovered. For example: “sodium” refers to a chemical element with the symbol Na, “calcium” refers to a chemical element with the symbol Ca.
Trong ngữ pháp, hậu tố "ium" được thêm vào cuối một từ để tạo thành danh từ chỉ một nơi chốn, một trạng thái hoặc một tập hợp nào đó. Nó thường được dùng trong việc hình thành các thuật ngữ kỹ thuật và khoa học, đặc biệt trong hóa học và sinh học. Ví dụ: "stadium" chỉ một nơi dành cho các cuộc thi thể thao hoặc các sự kiện khác, "aquarium" chỉ một nơi nơi các sinh vật hoặc thực vật thủy sinh được nuôi giữ để trưng bày, và "gymnasium" chỉ một nơi để tập luyện thể chất. Trong thuật ngữ khoa học, "ium" thường được dùng để chỉ một nguyên tố hoặc hợp chất hóa học, đặc biệt khi nguyên tố hoặc hợp chất đó đã được tách riêng hoặc phát hiện. Ví dụ: "sodium" chỉ một nguyên tố hóa học có ký hiệu Na, "calcium" chỉ một nguyên tố hóa học có ký hiệu Ca.
The beginning of pagan Rome ruling supremely was accomplished at the Battle of Actium, and the Battle of Panium opened the door to the war represented by Actium, for “line upon line” Actium represents the Sunday law when the papacy again rules the world supremely.
Sự khởi đầu của việc La Mã ngoại giáo cai trị tối thượng đã diễn ra tại Trận Actium, và Trận Panium đã mở ra cánh cửa cho cuộc chiến mà Actium đại diện, vì theo “dòng trên dòng” Actium đại diện cho luật ngày Chủ nhật khi chế độ giáo hoàng một lần nữa cai trị tối thượng trên thế giới.
Actium was a sea battle, and Panium was a ground battle, thus the connection of the two battles represents a battle that is worldwide encompassing land and sea. Actium, the most famous sea battle of ancient history, also represents a worldwide war, for the “waters which thou sawest, where the whore sitteth, are peoples, and multitudes, and nations, and tongues.” Panium represents a spiritual war that is combined with a political war at the soon coming Sunday law.
Actium là một trận hải chiến, còn Panium là một trận chiến trên bộ; do đó, mối liên hệ giữa hai trận chiến này tượng trưng cho một cuộc chiến mang tính toàn cầu, bao trùm cả đất liền lẫn biển cả. Actium, trận hải chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử cổ đại, cũng tượng trưng cho một cuộc chiến tranh toàn cầu, vì “những dòng nước mà ngươi đã thấy, nơi dâm phụ ngồi, tức là các dân, các đoàn dân đông, các quốc gia và các thứ tiếng.” Panium tượng trưng cho một cuộc chiến thuộc linh kết hợp với cuộc chiến chính trị khi luật Chủ nhật sắp được ban hành.
The word “pan” as a noun, has multiple meanings depending on the context, but in Greek mythology, Pan is the god of shepherds, flocks, rustic music, and wilderness. He is often depicted as a half-man, half-goat figure, known for his love of music and nature.
Từ "pan" khi dùng như một danh từ có nhiều nghĩa tùy theo ngữ cảnh, nhưng trong thần thoại Hy Lạp, Pan là vị thần của những người chăn cừu, đàn gia súc, âm nhạc mục đồng và vùng hoang dã. Ông thường được miêu tả như một hình tượng nửa người nửa dê, nổi tiếng vì tình yêu dành cho âm nhạc và thiên nhiên.
“As the crowning act in the great drama of deception, Satan himself will personate Christ. The church has long professed to look to the Saviour’s advent as the consummation of her hopes. Now the great deceiver will make it appear that Christ has come. In different parts of the earth, Satan will manifest himself among men as a majestic being of dazzling brightness, resembling the description of the Son of God given by John in the Revelation. Revelation 1:13–15.” The Great Controversy, 624.
"Như hành động cao điểm trong vở kịch lừa dối vĩ đại, chính Sa-tan sẽ mạo nhận là Đấng Christ. Hội Thánh từ lâu vẫn tuyên xưng trông đợi sự tái lâm của Đấng Cứu Thế như sự thành tựu trọn vẹn của niềm hy vọng mình. Giờ đây, kẻ đại lừa dối sẽ khiến người ta tưởng rằng Đấng Christ đã đến. Ở những nơi khác nhau trên đất, Sa-tan sẽ hiện mình ra giữa loài người như một hữu thể oai nghi, rực rỡ chói lòa, giống với mô tả về Con Đức Chúa Trời do Giăng ghi lại trong sách Khải Huyền. Khải Huyền 1:13-15." Cuộc Đại Tranh Chấp, 624.
Pan is the shepherd-god, and will personate the True Shepherd. Satan’s personation of Christ begins at the Sunday law for at “the decree” “we may” then “know that the time has come for the marvelous working of Satan and that the end is near”.
Pan là vị thần chăn chiên, và sẽ mạo danh Đấng Chăn Chiên Chân Thật. Sự mạo danh Đấng Christ của Sa-tan bắt đầu khi có luật Chủ nhật, vì khi có "sắc lệnh" "chúng ta có thể" rồi "biết rằng thời điểm cho sự hoạt động lạ lùng của Sa-tan đã đến và rằng sự kết thúc đã gần".
The word “pan” can also refer to a shallow, wide-rimmed cooking vessel used for frying, baking, or cooking food. The final war is centered upon spiritual Jerusalem, the holy mountain that is lifted up as an ensign, and the mountain that God’s other flock that are still in Babylon flee unto. At that time all nations will come against spiritual Jerusalem, which is identified as a “cup” (pan).
Từ "pan" cũng có thể chỉ một dụng cụ nấu nướng nông, miệng rộng, dùng để chiên, nướng hoặc nấu thức ăn. Trận chiến cuối cùng xoay quanh Giê-ru-sa-lem thuộc linh, tức ngọn núi thánh được giương lên như một cờ hiệu, và là ngọn núi mà bầy chiên khác của Đức Chúa Trời, những người vẫn còn ở Ba-by-lôn, sẽ chạy đến. Bấy giờ muôn dân sẽ kéo đến chống lại Giê-ru-sa-lem thuộc linh, vốn được xem là một "chén" (pan).
The burden of the word of the Lord for Israel, saith the Lord, which stretcheth forth the heavens, and layeth the foundation of the earth, and formeth the spirit of man within him. Behold, I will make Jerusalem a cup of trembling unto all the people round about, when they shall be in the siege both against Judah and against Jerusalem. And in that day will I make Jerusalem a burdensome stone for all people: all that burden themselves with it shall be cut in pieces, though all the people of the earth be gathered together against it. Zechariah 12:1—3.
Sấm ngôn lời Đức Chúa về Ít-ra-ên: Đức Chúa — Đấng giăng ra các tầng trời, đặt nền cho đất, và nắn nên thần linh của con người trong lòng họ — phán rằng: Này, Ta sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem thành chén làm mọi dân chung quanh run rẩy, khi họ vây hãm cả Giu-đa lẫn Giê-ru-sa-lem. Trong ngày ấy, Ta sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem trở nên hòn đá nặng nề cho mọi dân; hễ ai gánh vác nó sẽ bị cắt nát, dẫu cho mọi dân trên đất có nhóm lại nghịch cùng nó. Xa-cha-ri 12:1-3.
Jerusalem is also the caldron, for it is the pan where the drama is carried out. A “caldron” is a cooking pan.
Jerusalem cũng là cái vạc, vì đó là cái chảo nơi vở kịch diễn ra. "caldron" là một cái chảo nấu ăn.
Then said he unto me, Son of man, these are the men that devise mischief, and give wicked counsel in this city: Which say, It is not near; let us build houses: this city is the caldron, and we be the flesh. Therefore prophesy against them, prophesy, O son of man. And the Spirit of the Lord fell upon me, and said unto me, Speak; Thus saith the Lord; Thus have ye said, O house of Israel: for I know the things that come into your mind, every one of them. Ye have multiplied your slain in this city, and ye have filled the streets thereof with the slain. Therefore thus saith the Lord God; Your slain whom ye have laid in the midst of it, they are the flesh, and this city is the caldron: but I will bring you forth out of the midst of it. Ye have feared the sword; and I will bring a sword upon you, saith the Lord God. And I will bring you out of the midst thereof, and deliver you into the hands of strangers, and will execute judgments among you. Ye shall fall by the sword; I will judge you in the border of Israel; and ye shall know that I am the Lord. This city shall not be your caldron, neither shall ye be the flesh in the midst thereof; but I will judge you in the border of Israel: And ye shall know that I am the Lord: for ye have not walked in my statutes, neither executed my judgments, but have done after the manners of the heathen that are round about you. Ezekiel 11:2–12.
Bấy giờ Ngài phán với ta: Hỡi con người, đây là những kẻ bày mưu tai ác và đưa ra mưu kế gian ác trong thành này; chúng nói: “Chẳng gần đâu; hãy xây nhà! Thành này là cái vạc, còn chúng ta là thịt.” Vậy, hãy nói tiên tri nghịch lại chúng, hãy nói tiên tri, hỡi con người. Và Thần của Đức Giê-hô-va giáng trên ta và phán với ta rằng: Hãy nói: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Israel, các ngươi đã nói như thế; vì ta biết mọi điều đến trong lòng các ngươi, từng điều một. Các ngươi đã gia tăng số kẻ bị giết trong thành này, và đã làm đầy các đường phố của nó những kẻ bị giết. Vì vậy, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ bị các ngươi giết và để ở giữa nó, chính họ là thịt, và thành này là cái vạc; còn các ngươi, ta sẽ đem ra khỏi giữa nó. Các ngươi đã sợ gươm; ta sẽ khiến gươm đến trên các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy. Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi giữa thành, phó các ngươi vào tay người ngoại bang, và sẽ thi hành án phạt giữa các ngươi. Các ngươi sẽ ngã bởi gươm; ta sẽ xét xử các ngươi nơi biên giới Israel; và các ngươi sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va. Thành này sẽ không phải là cái vạc cho các ngươi, các ngươi cũng chẳng phải là thịt ở giữa nó; nhưng ta sẽ xét xử các ngươi nơi biên giới Israel. Và các ngươi sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va; vì các ngươi đã không bước theo các luật lệ của ta, cũng không thi hành các phán quyết của ta, nhưng đã làm theo các tập tục của các dân ngoại ở chung quanh các ngươi. Ê-xê-chi-ên 11:2-12.
In English, “pan” as a prefix means “universal,” “all” or “across”. For example, “panorama” refers to a wide or comprehensive view of an area, “pantheism” refers to the belief that the universe is divine, and “Pan-American” refers to something involving all the countries of the Americas. Thus “pan” identifies a worldwide war.
Trong tiếng Anh, “pan” khi là một tiền tố có nghĩa là “phổ quát”, “tất cả” hoặc “bao khắp”. Ví dụ, “panorama” chỉ một cái nhìn rộng hoặc toàn diện về một khu vực, “pantheism” chỉ niềm tin rằng vũ trụ là thiêng liêng, và “Pan-American” chỉ điều gì đó liên quan đến tất cả các quốc gia của châu Mỹ. Do đó “pan” dùng để chỉ một cuộc chiến tranh trên toàn thế giới.
“Satan is diverting minds with unimportant questions, in order that they shall not with clear and distinct vision see matters of vast importance. The enemy is planning to ensnare the world.
Sa-tan đang đánh lạc hướng tâm trí bằng những câu hỏi không quan trọng, để họ không nhìn thấy một cách rõ ràng và phân minh những vấn đề vô cùng quan trọng. Kẻ thù đang mưu toan sa bẫy cả thế giới.
“The so-called Christian world is to be the theater of great and decisive actions. Men in authority will enact laws controlling the conscience, after the example of the Papacy. Babylon will make all nations drink of the wine of the wrath of her fornication. Every nation will be involved.” Selected Messages, book 3, 392.
"Cái gọi là thế giới Kitô giáo sẽ là nơi diễn ra những hành động vĩ đại và mang tính quyết định. Những người nắm quyền sẽ ban hành các luật lệ nhằm kiểm soát lương tâm, theo gương chế độ Giáo hoàng. Ba-by-lôn sẽ khiến mọi dân tộc uống rượu của cơn thạnh nộ vì sự tà dâm của nó. Mọi quốc gia sẽ bị cuốn vào." Selected Messages, quyển 3, tr. 392.
The word “act” as a noun means “a formal written decision or statute enacted by a legislative body.”
Từ "act" khi là danh từ có nghĩa là "một quyết định chính thức bằng văn bản hoặc một đạo luật do một cơ quan lập pháp ban hành."
“When our nation shall so abjure the principles of its government as to enact a Sunday law, Protestantism will in this act join hands with popery.” Testimonies, volume 5, 712.
"Khi quốc gia chúng ta từ bỏ các nguyên tắc của chính quyền mình đến mức ban hành một luật về ngày Chủ nhật, thì Tin Lành, trong hành động này, sẽ bắt tay với giáo quyền La Mã." Chứng Ngôn, quyển 5, trang 712.
The so-called Christian world is a theater of great actions, or acts, and every nation (pan) will be involved. The word “act” can also refer to a division or segment of a play, movie, or other performance, typically characterized by a particular set of events or actions. The word “act” as a verb, means to perform a specific action or behave in a certain way. It can also refer to pretending or playing a role, as in acting in a play or film.
Cái gọi là thế giới Kitô giáo là một sân khấu của những hành động vĩ đại, hay các hồi, và mọi quốc gia (pan) sẽ có liên quan. Từ "act" cũng có thể chỉ một phần hoặc đoạn của một vở kịch, bộ phim, hoặc buổi biểu diễn khác, thường được đặc trưng bởi một tập hợp các sự kiện hoặc hành động nhất định. Từ "act" khi là động từ có nghĩa là thực hiện một hành động cụ thể hoặc cư xử theo một cách nào đó. Nó cũng có thể chỉ việc giả vờ hoặc đóng một vai, như khi diễn trong một vở kịch hoặc bộ phim.
“The world is a theater. The actors, its inhabitants, are preparing to act their part in the last great drama. God is lost sight of. With the great masses of mankind there is no unity, except as men confederate to accomplish their selfish purposes. God is looking on. His purposes in regard to his rebellious subjects will be fulfilled. The world has not been given into the hands of men, though God is permitting the elements of confusion and disorder to bear sway for a season. A power from beneath is working to bring about the last great scenes in the drama,—Satan coming as Christ, and working with all deceivableness of unrighteousness in those who are binding themselves together in secret societies. Those who are yielding to the passion for confederation are working out the plans of the enemy. The cause will be followed by the effect.
Thế giới là một sân khấu. Các diễn viên, tức những cư dân của nó, đang chuẩn bị diễn vai của mình trong vở kịch lớn cuối cùng. Đức Chúa Trời bị người ta quên lãng. Trong khối quần chúng nhân loại không có sự hiệp nhất, ngoại trừ khi người ta liên kết nhau để hoàn thành những mục đích ích kỷ của mình. Đức Chúa Trời đang nhìn xem. Những mục đích của Ngài đối với những kẻ phản nghịch sẽ được thành tựu. Thế giới không hề được trao vào tay loài người, dẫu Đức Chúa Trời đang cho phép những yếu tố hỗn loạn và rối ren nắm quyền trong một thời gian. Một quyền lực từ bên dưới đang hoạt động để đưa đến những cảnh lớn cuối cùng của vở kịch—Sa-tan đến như Đấng Christ, và hành động với mọi sự lừa dối của sự gian ác nơi những kẻ đang ràng buộc nhau trong các hội kín. Những ai chiều theo ham muốn liên minh đang thực hiện các kế hoạch của kẻ thù. Nguyên nhân sẽ kéo theo hệ quả.
“Transgression has almost reached its limit. Confusion fills the world, and a great terror is soon to come upon human beings. The end is very near. We who know the truth should be preparing for what is soon to break upon the world as an overwhelming surprise.” Review and Herald, September 10, 1903.
“Sự gian ác đã gần đạt đến mức tột cùng. Sự hỗn loạn bao trùm thế giới, và một nỗi kinh hoàng lớn sắp giáng xuống loài người. Hồi kết đã rất gần. Chúng ta, những người biết lẽ thật, nên chuẩn bị cho điều sắp ập xuống thế giới như một sự bất ngờ choáng ngợp.” Review and Herald, ngày 10 tháng 9 năm 1903.
Panium and Actium represent the Third World War. In that war there will be supernatural manifestations as represented by the Greek goat-god Pan. The war will be associated with the enforcement of the Sunday law as an “act.” And the war is identified as “the last scenes in the great drama”, for it is not only the legal act of enforcing Sunday legislation, it is also the climax of the gospel drama in the closing hours of human probation. In advance of the battle where Panium and Actium prophetically join, in verse sixteen of Daniel chapter eleven, God’s last-day army will already be raised up, and their banner, which is an ensign, will then be lifted up. The primary meaning of “ensign” is the banner of an army.
Panium và Actium đại diện cho Thế chiến Thứ Ba. Trong cuộc chiến đó sẽ có những hiện tượng siêu nhiên, như được tượng trưng bởi vị thần dê Hy Lạp Pan. Cuộc chiến sẽ gắn liền với việc thi hành luật ngày Chủ nhật như một "hành động". Và cuộc chiến ấy được xác định là "những cảnh cuối cùng trong vở kịch vĩ đại", vì nó không chỉ là hành động pháp lý của việc thi hành luật pháp về ngày Chủ nhật, mà còn là cao trào của vở kịch Phúc Âm trong những giờ phút khép lại của thời kỳ thử thách của loài người. Trước trận chiến nơi Panium và Actium kết hợp theo lời tiên tri, trong câu mười sáu của Daniel chương mười một, đạo quân ngày sau rốt của Đức Chúa Trời đã được dấy lên sẵn, và lá cờ của họ, tức là một kỳ hiệu, bấy giờ sẽ được giương cao. Ý nghĩa chính của "ensign" là lá cờ của một đạo quân.
Act and Pan are Actium and Panium, and the Wonderful Linguist controlled the geography, the names, and the history of both battles, for it is the history immediately before the soon coming Sunday law. The Battle of Panium took place in 200 BC, and verse sixteen identifies Rome conquering Jerusalem in 63 BC.
Act và Pan tương ứng với Actium và Panium, và Nhà ngôn ngữ học kỳ diệu đã chi phối địa lý, các tên gọi và lịch sử của cả hai trận chiến, vì đó là giai đoạn lịch sử ngay trước khi luật Chủ nhật sắp tới được ban hành. Trận Panium diễn ra vào năm 200 TCN, và câu mười sáu xác định rằng La Mã chinh phục Giê-ru-sa-lem vào năm 63 TCN.
Between the history in the last days that is represented by the period from 200 BC to 63 BC, the formation of the image of the beast in the United States will be accomplished, as represented by the history of 161 BC to 158 BC. Before the period where the final movements of erecting an image of the beast in the United States, there will be an event represented by the revolt of Modein in 167 BC. The revolt is typified by the revolt against the forced religion of Greece, and the revolt will lead to a waymark represented by the rededication of the temple in 164 BC.
Trong lịch sử thời kỳ sau rốt được tượng trưng bởi giai đoạn từ năm 200 TCN đến 63 TCN, sự hình thành hình tượng của con thú tại Hoa Kỳ sẽ được hoàn tất, như được tượng trưng bởi lịch sử từ năm 161 TCN đến 158 TCN. Trước giai đoạn diễn ra những bước cuối cùng để dựng nên hình tượng của con thú tại Hoa Kỳ, sẽ có một sự kiện được tượng trưng bởi cuộc khởi nghĩa ở Modein vào năm 167 TCN. Cuộc khởi nghĩa này tiêu biểu cho sự phản kháng đối với tôn giáo cưỡng bức của Hy Lạp, và cuộc khởi nghĩa ấy sẽ dẫn đến một cột mốc được tượng trưng bởi lễ tái cung hiến Đền Thờ vào năm 164 TCN.
164 BC is commemorated by Judaism because of the miracle of a day’s worth of holy oil lasting for eight days. Thus 164 BC, which precedes 161 BC, identifies a satanic miracle that was accomplished for the apostate people of God. The miracle is represented as one day producing eight days, and that first day’s oil was what supplied the entire eight days. The miracle was brought upon the one part that was of the seven, and this waymark is set within the very history where the enigma of the eighth that is of the seven being accomplished upon both the apostate Republican horn and the apostate Protestant horn.
Năm 164 TCN được Do Thái giáo tưởng niệm vì phép lạ dầu thánh đủ cho một ngày nhưng đã kéo dài tám ngày. Vì vậy, năm 164 TCN, vốn trước năm 161 TCN, đánh dấu một phép lạ của Sa-tan được thực hiện cho dân của Đức Chúa Trời đã bội đạo. Phép lạ ấy được mô tả như một ngày sinh ra tám ngày, và chính dầu của ngày thứ nhất đã cung cấp cho trọn tám ngày. Phép lạ đã giáng trên một phần vốn thuộc về bảy, và cột mốc này được đặt ngay trong chính lịch sử, nơi bí ẩn về kẻ thứ tám là của bảy được hoàn tất trên cả sừng Cộng hòa bội đạo lẫn sừng Tin Lành bội đạo.
The manifestation of satanic miracles before the soon coming Sunday law is associated with the Greek god Pan. When the Battle of Panium is waged and won by Trump and apostate Protestantism, “Pandora’s box” will have been opened, and there will be no way to solve the problems that are then released upon mankind for, “a great terror is soon to come upon human beings. The end is very near. We who know the truth should be preparing for what is soon to break upon the world as an overwhelming surprise.”
Sự xuất hiện của những phép lạ Sa-tan trước luật ngày Chủ nhật sắp tới có liên hệ với thần Pan của Hy Lạp. Khi Trận Panium được Trump và phong trào Tin Lành bội đạo phát động và giành phần thắng, “chiếc hộp Pandora” sẽ bị mở ra, và sẽ không còn cách nào để giải quyết những vấn đề khi ấy giáng xuống nhân loại, vì “một nỗi kinh hoàng lớn sắp ập đến trên loài người. Hồi kết đã rất gần. Chúng ta, những người biết chân lý, nên chuẩn bị cho điều sắp bùng nổ trên thế giới như một sự bất ngờ choáng ngợp.”
The one hundred and forty-four thousand are those that have been sealed by the sanctifying power of God’s Word which was provided through the unsealing of the Revelation of Jesus Christ. That Revelation includes several specific lines of truth, and it provides sanctified instruction of Who Jesus is. As the Word of God, He is the Wonderful Linguist who has controlled all human language, since through His power He brought about the various languages when He rained down confusion at the tower of Babel. He is the Wonderful Numberer that has hidden secrets with the numbers set forth in His Word, and within His entire creation. He is the controller of history, for history is “His”-story. He created the earth and He controlled the geographical form of planet earth after the Flood, and therefore the various prophetic geographies that make up the “truths” found in His Word. The one hundred and forty-four thousand represent among other things, those who manifest faith that He created all things.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người đã được ấn chứng bởi quyền năng thánh hóa của Lời Đức Chúa Trời, vốn được ban qua sự mở ấn của Sự Mặc Khải về Đức Chúa Giê-xu Christ. Sự mặc khải ấy bao gồm nhiều mạch lẽ thật cụ thể và ban cho sự dạy dỗ đã được thánh hóa về Đức Chúa Giê-xu là ai. Là Lời của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Ngôn Ngữ Diệu Kỳ, Đấng đã cai quản mọi ngôn ngữ loài người, vì bởi quyền năng Ngài, Ngài đã làm nảy sinh các thứ tiếng khác nhau khi Ngài đổ sự rối loạn xuống tháp Ba-bên. Ngài là Đấng Sắp Đặt Con Số Diệu Kỳ, Đấng đã ẩn giấu những bí mật trong các con số được trình bày trong Lời Ngài, và trong toàn thể công cuộc sáng tạo của Ngài. Ngài là Đấng tể trị lịch sử, vì lịch sử là “câu chuyện của Ngài”. Ngài đã dựng nên trái đất và đã điều khiển hình thái địa lý của địa cầu sau cơn Đại Hồng Thủy, và vì thế những địa lý mang tính tiên tri cấu thành các “lẽ thật” được tìm thấy trong Lời Ngài. Một trăm bốn mươi bốn nghìn, ngoài những điều khác, đại diện cho những người bày tỏ đức tin rằng Ngài đã dựng nên muôn vật.
In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. The same was in the beginning with God. All things were made by him; and without him was not any thing made that was made. John 1:1–3.
Ban đầu đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Ngài đã ở với Thiên Chúa ngay từ ban đầu. Muôn vật nhờ Ngài mà được dựng nên; ngoài Ngài thì chẳng có gì đã được dựng nên. Gioan 1:1-3.
The story of Pandora’s box is a myth from ancient Greek mythology. It is primarily recounted in “Works and Days” by the Greek poet Hesiod and in various other classical sources. It is obviously a paraphrase of the experience of Eve in the Garden of Eden. The name “Pandora” comes from ancient Greek mythology. It is derived from the Greek words’ “pan” meaning “all,” “dora’ meaning “gifts.” Pandora means “all-gifted.” Eve is the symbol of the Church, and all gifts are found within God’s Church.
Câu chuyện về chiếc hộp của Pandora là một huyền thoại trong thần thoại Hy Lạp cổ đại. Nó chủ yếu được kể trong "Works and Days" của nhà thơ Hy Lạp Hesiod và trong nhiều nguồn cổ điển khác. Rõ ràng đó là một sự phỏng theo trải nghiệm của Eve trong Vườn Địa Đàng. Tên "Pandora" bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp cổ đại. Nó được ghép từ các từ trong tiếng Hy Lạp "pan" nghĩa là "tất cả", "dora" nghĩa là "quà tặng". Pandora có nghĩa là "được ban mọi quà tặng". Eve là biểu tượng của Giáo hội, và mọi quà tặng đều được tìm thấy trong Giáo hội của Thiên Chúa.
In Greek mythology, Pandora was the first mortal woman created by the gods. According to the myth, she was crafted by Hephaestus at the command of Zeus, the king of the gods, as part of a plan to punish humanity. Each of the gods contributed gifts to Pandora, including beauty, grace, intelligence, and charm. Zeus gave her a jar (in later retellings, it became a box) and instructed her never to open it under any circumstances. Eve was told she could eat of every tree except of “the tree in the midst of the Garden.”
Trong thần thoại Hy Lạp, Pandora là người phụ nữ phàm trần đầu tiên được các vị thần tạo ra. Theo thần thoại, nàng được Hephaestus chế tác theo lệnh của Zeus, vua của các vị thần, như một phần của kế hoạch trừng phạt nhân loại. Mỗi vị thần đều ban tặng cho Pandora những món quà, bao gồm vẻ đẹp, duyên dáng, trí tuệ và sự quyến rũ. Zeus đã trao cho nàng một chiếc bình (trong những lần kể lại sau này, nó trở thành một chiếc hộp) và dặn nàng không bao giờ được mở nó trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Eve được bảo rằng nàng có thể ăn mọi cây, ngoại trừ "cây ở giữa Vườn."
Pandora, overcome by curiosity, eventually succumbed to temptation and opened the jar. Upon doing so, all the evils, pains, and diseases that had previously been kept inside were released into the world, spreading suffering and misery among humanity. However, one thing remained in the jar: hope. In some versions of the myth, Pandora quickly closed the jar, preventing hope from escaping, while in others, hope also emerged, providing humanity with a glimmer of optimism and resilience in the face of adversity.
Pandora, bị tò mò lấn át, cuối cùng đã không cưỡng lại được cám dỗ và mở chiếc bình. Vừa mở ra, mọi điều ác, nỗi đau và bệnh tật vốn bị giam giữ bên trong đã được thả ra thế gian, gieo rắc đau khổ và bất hạnh cho nhân loại. Tuy nhiên, vẫn còn một thứ ở lại trong bình: hy vọng. Trong một số phiên bản của thần thoại, Pandora nhanh chóng đóng bình lại, ngăn không cho hy vọng thoát ra, trong khi ở những phiên bản khác, hy vọng cũng xuất hiện, mang đến cho nhân loại một tia lạc quan và sự kiên cường trước nghịch cảnh.
The Battle of Panium joins the Battle of Actium at the soon coming Sunday law, and the soon coming Sunday law was typified by the test in the Garden of Eden. In the garden the test was simply for Adam and Eve, but in the last days the test needed to confront all mankind around the entire world. The first test of believing or disbelieving God’s word in the Garden typifies the last test of the Sunday law. Eve failed that first test and opened the floodgates of woe upon mankind, as represented in the myth of Pandora.
Trận chiến Panium nối với Trận chiến Actium tại thời điểm luật ngày Chủ nhật sắp đến, và luật ngày Chủ nhật sắp đến được tượng trưng bởi bài thử thách trong Vườn Ê-đen. Trong vườn, thử thách ấy chỉ dành cho A-đam và Ê-va, nhưng vào những ngày sau rốt, thử thách đó phải đối diện với toàn thể nhân loại trên khắp thế giới. Sự thử thách đầu tiên về việc tin hay không tin lời Đức Chúa Trời trong Vườn Ê-đen tiêu biểu cho thử thách cuối cùng của luật ngày Chủ nhật. Ê-va đã thất bại trong thử thách đầu tiên ấy và mở toang cánh cửa tai ương đổ xuống nhân loại, như được mô tả trong thần thoại Pandora.
When the Battle of Panium joins the Battle of Actium, the test represented in the Garden of Eden will open upon all mankind. The hope that is then provided for the world is the ensign that is lifted up for all the world (panorama) to see.
Khi Trận Panium kết hợp với Trận Actium, sự thử thách được biểu trưng trong Vườn Ê-đen sẽ mở ra cho toàn thể nhân loại. Niềm hy vọng khi ấy được ban cho thế giới chính là cờ hiệu được giương lên cho cả thế giới (toàn cảnh) nhìn thấy.
All ye inhabitants of the world, and dwellers on the earth, see ye, when he lifteth up an ensign on the mountains; and when he bloweth a trumpet, hear ye. Isaiah 18:3.
Hỡi hết thảy cư dân thế gian và những người ở trên đất, hãy xem, khi người ấy giương một cờ hiệu trên các núi; và khi người ấy thổi kèn, hãy nghe. Ê-sai 18:3.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“The world is a theater; the actors, its inhabitants, are preparing to act their part in the last great drama. With the great masses of mankind, there is no unity, except as men confederate to accomplish their selfish purposes. God is looking on. His purposes in regard to His rebellious subjects will be fulfilled. The world has not been given into the hands of men, though God is permitting the elements of confusion and disorder to bear sway for a season. A power from beneath is working to bring about the last great scenes in the drama,—Satan coming as Christ, and working with all deceivableness of unrighteousness in those who are binding themselves together in secret societies. Those who are yielding to the passion for confederation are working out the plans of the enemy. The cause will be followed by the effect.
Thế gian là một sân khấu; các diễn viên, tức cư dân của nó, đang chuẩn bị đóng phần vai của mình trong vở kịch lớn cuối cùng. Đối với đại đa số nhân loại, chẳng có sự hiệp nhất nào, trừ khi người ta liên kết với nhau để thực hiện những mục đích ích kỷ của mình. Đức Chúa Trời đang nhìn xem. Các mục đích của Ngài đối với những kẻ bội nghịch Ngài sẽ được thành tựu. Thế giới không được giao vào tay loài người, dẫu Đức Chúa Trời vẫn cho phép những yếu tố của hỗn loạn và vô trật tự tạm thời chi phối trong một thời kỳ. Một quyền lực từ bên dưới đang hoạt động để đưa đến những cảnh lớn cuối cùng trong vở kịch—Sa-tan đến như Đấng Christ, và hành động với mọi sự dối gạt của gian ác nơi những kẻ đang ràng buộc với nhau trong các hội kín. Những ai đang chiều theo sự ham mê kết liên đang thực hiện các kế hoạch của kẻ thù. Nguyên nhân sẽ dẫn đến hậu quả.
“Never did this message apply with greater force than it applies today. More and more the world is setting at naught the claims of God. Men have become bold in transgression. The wickedness of the inhabitants of the world has almost filled up the measure of their iniquity. This earth has almost reached the place where God will permit the destroyer to work his will upon it. The substitution of the laws of men for the law of God, the exaltation, by merely human authority, of Sunday in place of the Bible Sabbath, is the last act in the drama. When this substitution becomes universal, God will reveal Himself. He will arise in His majesty to shake terribly the earth. He will come out of His place to punish the inhabitants of the world for their iniquity, and the earth shall disclose her blood, and shall no more cover her slain.
Chưa bao giờ sứ điệp này có sức nặng lớn như hôm nay. Càng ngày, thế giới càng xem thường những điều Đức Chúa Trời đòi hỏi. Con người đã trở nên liều lĩnh trong việc phạm tội. Sự gian ác của cư dân thế gian gần như đã làm đầy chén bất nghĩa của họ. Trái đất này hầu như đã đến chỗ Đức Chúa Trời sẽ cho phép kẻ hủy diệt thi hành ý muốn của hắn trên nó. Sự thay thế luật pháp của loài người cho luật pháp của Đức Chúa Trời, sự tôn cao ngày Chủ nhật, chỉ bởi thẩm quyền của con người, thay cho ngày Sa-bát trong Kinh Thánh, là màn cuối cùng của vở kịch. Khi sự thay thế này trở thành điều phổ biến khắp thế giới, Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ chính Ngài. Ngài sẽ đứng dậy trong oai nghi của Ngài để làm rung chuyển dữ dội trái đất. Ngài sẽ ra khỏi nơi Ngài ở để trừng phạt dân cư trên thế giới vì sự bất nghĩa của họ; đất sẽ phơi bày máu đổ và không còn che giấu những kẻ bị sát hại nữa.
“We are standing on the threshold of the crisis of the ages. In quick succession the judgments of God will follow one another,—fire, and flood, and earthquake, with war and bloodshed. We are not to be surprised at this time by events both great and decisive; for the angel of mercy cannot remain much longer to shelter the impenitent.
Chúng ta đang ở ngưỡng cửa cuộc khủng hoảng của mọi thời đại. Một cách dồn dập, những phán xét của Đức Chúa Trời sẽ lần lượt giáng xuống—lửa, lũ lụt và động đất, cùng với chiến tranh và đổ máu. Chúng ta không nên ngạc nhiên vào lúc này trước những biến cố vừa lớn lao vừa mang tính quyết định; vì thiên sứ của lòng thương xót không thể ở lại lâu hơn nữa để che chở cho những kẻ không ăn năn.
“The crisis is stealing gradually upon us. The sun shines in the heavens, passing over its usual round, and the heavens still declare the glory of God. Men are still eating and drinking, planting and building, marrying and giving in marriage. Merchants are still buying and selling. Men are jostling one against another, contending for the highest place. Pleasure lovers are still crowding to theaters, horse races, gambling hells. The highest excitement prevails, yet probation’s hour is fast closing, and every case is about to be eternally decided. Satan sees that his time is short. He has set all his agencies at work that men may be deceived, deluded, occupied, and entranced until the day of probation shall be ended, and the door of mercy forever shut.
Cơn khủng hoảng đang lặng lẽ dần dần ập đến với chúng ta. Mặt trời chiếu sáng trên bầu trời, đi theo vòng quay thường lệ; và các tầng trời vẫn rao truyền vinh quang của Đức Chúa Trời. Người ta vẫn ăn uống, trồng trọt và xây cất, cưới vợ gả chồng. Các thương nhân vẫn mua bán. Người ta chen lấn xô đẩy nhau, tranh giành địa vị cao nhất. Những kẻ ham lạc thú vẫn ùn ùn kéo đến rạp hát, trường đua ngựa, các sòng bạc. Sự sôi động tột bậc vẫn ngự trị, thế mà thời kỳ ân điển đang nhanh chóng khép lại, và số phận của mỗi người sắp được định đoạt đời đời. Sa-tan thấy thì giờ của nó chẳng còn bao nhiêu. Nó đã huy động hết thảy mọi phương tiện và tay sai của mình để loài người bị lừa dối, mê muội, bận bịu và mê hoặc cho đến khi thời kỳ ân điển chấm dứt, và cánh cửa thương xót vĩnh viễn khép lại.
“Transgression has almost reached its limit. Confusion fills the world, and a great terror is soon to come upon human beings. The end is very near. We who know the truth should be preparing for what is soon to break upon the world as an overwhelming surprise.
Tội lỗi đã gần đến cực điểm. Sự hỗn loạn tràn ngập thế giới, và một nỗi kinh hoàng lớn sắp giáng xuống loài người. Sự kết thúc đã rất gần. Chúng ta, những người biết sự thật, nên chuẩn bị cho điều sắp ập xuống thế giới như một cú sốc choáng ngợp.
“In this time of prevailing iniquity we may know that the last great crisis is at hand. When the defiance of God’s law is almost universal, when His people are oppressed and afflicted by their fellow men, the Lord will interpose.
Trong thời kỳ tội ác lan tràn này, chúng ta có thể biết rằng cuộc khủng hoảng lớn sau cùng đã kề cận. Khi sự thách thức luật pháp của Đức Chúa Trời gần như phổ biến khắp nơi, khi dân Ngài bị người đồng loại áp bức và gây đau khổ, Chúa sẽ ra tay can thiệp.
“We are standing upon the threshold of great and solemn events. Prophecies are fulfilling. Strange, eventful history is being recorded in the books of heaven. Everything in our world is in agitation. There are wars, and rumors of wars. The nations are angry, and the time of the dead has come, that they should be judged. Events are changing to bring about the day of God which hasteth greatly. Only a moment of time, as it were, yet remains. But while already nation is rising against nation, and kingdom against kingdom, there is not now a general engagement. As yet the four winds are held until the servants of God shall be sealed in their foreheads. Then the powers of earth will marshal their forces for the last great battle.” Christian Service, 50, 51.
Chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa của những biến cố trọng đại và hệ trọng. Những lời tiên tri đang ứng nghiệm. Lịch sử kỳ lạ, đầy biến cố đang được ghi chép trong các sách ở thiên đàng. Mọi sự trong thế giới của chúng ta đều đang náo động. Có chiến tranh, và những tin đồn về chiến tranh. Các dân tộc đang giận dữ, và thời kỳ của kẻ chết đã đến, để họ được phán xét. Các biến cố đang biến chuyển để đưa đến ngày của Đức Chúa Trời, ngày đang rất mau đến. Chỉ còn, như thể, một khoảnh khắc nữa mà thôi. Nhưng mặc dù dân này dấy lên nghịch cùng dân kia, và nước này nghịch cùng nước nọ, hiện giờ vẫn chưa có một cuộc giao chiến toàn diện. Hiện tại bốn luồng gió vẫn còn bị giữ lại, cho đến khi các tôi tớ của Đức Chúa Trời được đóng ấn trên trán họ. Bấy giờ các quyền lực trên đất sẽ tập hợp lực lượng của mình cho trận chiến vĩ đại cuối cùng. Christian Service, 50, 51.